Kế hoạch 117/KH-UBND năm 2025 thực hiện Kế hoạch 24-KH/TU về thực hiện Kết luận 149-KL/TW đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới do tỉnh Bắc Ninh ban hành
| Số hiệu | 117/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 29/10/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 29/10/2025 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Bắc Ninh |
| Người ký | Lê Xuân Lợi |
| Lĩnh vực | Văn hóa - Xã hội |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 117/KH-UBND |
Bắc Ninh, ngày 29 tháng 10 năm 2025 |
Căn cứ Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới (sau đây gọi tắt là Kết luận số 149-KL/TW);
Căn cứ Quyết định số 1745/QĐ-TTg ngày 15/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Thực hiện Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, cụ thể như sau:
1. Mục đích
Quán triệt, triển khai và cụ thể hóa những nội dung của Kết luận số 149-KL/TW; Quyết định số 1745/QĐ-TTg ngày 15/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác dân số và phát triển trong tình hình mới.
Tạo sự đồng thuận và quyết tâm chính trị cao trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị và Nhân dân trên địa bàn tỉnh về công tác dân số.
2. Yêu cầu
Việc tổ chức triển khai thực hiện phải đảm bảo phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ của Nhân dân đối với công tác dân số.
Huy động, phát huy hiệu quả các nguồn lực để triển khai thực hiện hiệu quả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về công tác dân số; kịp thời bổ sung, cập nhật các nhiệm vụ mới, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ về công tác dân số trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tạo nền tảng cho những năm tiếp theo.
Việc triển khai thực hiện Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy phải bảo đảm thường xuyên, liên tục, hiệu quả, gắn liền với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số và phát triển, gắn với các chương trình, đề án, kế hoạch về công tác dân số đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, phù hợp với thực tiễn từng địa phương, đơn vị. Xác định việc chỉ đạo, thực hiện công tác dân số là nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền các cấp, đặc biệt là người đứng đầu.
1. Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số.
2. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế, thúc đẩy các cặp vợ chồng sinh đủ hai con; giảm tỷ số giới tính khi sinh, đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên.
3. Tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.
4. Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần; bảo đảm phát triển con người một cách toàn diện, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
5. Nâng cao hiệu quả truyền thông - giáo dục sức khỏe, dân số.
Các cấp chính quyền, các sở, ngành, nhất là người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị tiếp tục tăng cường chỉ đạo, quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhất là quan điểm chuyển trọng tâm từ “kế hoạch hóa gia đình” sang “dân số và phát triển” đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong tình hình mới; đồng thời tạo sự đồng thuận, thống nhất trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện có hiệu quả các mục tiêu về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, đưa công tác dân số là một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền các cấp; đưa các nội dung về công tác dân số vào chiến lược, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị.
Phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và cơ chế phối hợp liên ngành; phân công trách nhiệm cụ thể đối với từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về công tác dân số và phát triển.
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua, các cuộc vận động về công tác dân số, đặc biệt là cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 02 con, không lựa chọn giới tính khi sinh, toàn dân phát huy và chăm sóc người cao tuổi, nâng cao chất lượng dân số.
Phối hợp và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội, Nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác dân số; gắn công tác dân số với thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng môi trường sống lành mạnh, nâng cao sức khỏe và đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân.
Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo kết quả thực hiện theo quy định.
2. Đổi mới nội dung truyền thông, vận động về công tác dân số
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 117/KH-UBND |
Bắc Ninh, ngày 29 tháng 10 năm 2025 |
Căn cứ Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới (sau đây gọi tắt là Kết luận số 149-KL/TW);
Căn cứ Quyết định số 1745/QĐ-TTg ngày 15/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Thực hiện Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, cụ thể như sau:
1. Mục đích
Quán triệt, triển khai và cụ thể hóa những nội dung của Kết luận số 149-KL/TW; Quyết định số 1745/QĐ-TTg ngày 15/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác dân số và phát triển trong tình hình mới.
Tạo sự đồng thuận và quyết tâm chính trị cao trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị và Nhân dân trên địa bàn tỉnh về công tác dân số.
2. Yêu cầu
Việc tổ chức triển khai thực hiện phải đảm bảo phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ của Nhân dân đối với công tác dân số.
Huy động, phát huy hiệu quả các nguồn lực để triển khai thực hiện hiệu quả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về công tác dân số; kịp thời bổ sung, cập nhật các nhiệm vụ mới, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ về công tác dân số trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tạo nền tảng cho những năm tiếp theo.
Việc triển khai thực hiện Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy phải bảo đảm thường xuyên, liên tục, hiệu quả, gắn liền với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số và phát triển, gắn với các chương trình, đề án, kế hoạch về công tác dân số đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, phù hợp với thực tiễn từng địa phương, đơn vị. Xác định việc chỉ đạo, thực hiện công tác dân số là nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền các cấp, đặc biệt là người đứng đầu.
1. Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số.
2. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế, thúc đẩy các cặp vợ chồng sinh đủ hai con; giảm tỷ số giới tính khi sinh, đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên.
3. Tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.
4. Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần; bảo đảm phát triển con người một cách toàn diện, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
5. Nâng cao hiệu quả truyền thông - giáo dục sức khỏe, dân số.
Các cấp chính quyền, các sở, ngành, nhất là người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị tiếp tục tăng cường chỉ đạo, quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhất là quan điểm chuyển trọng tâm từ “kế hoạch hóa gia đình” sang “dân số và phát triển” đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong tình hình mới; đồng thời tạo sự đồng thuận, thống nhất trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện có hiệu quả các mục tiêu về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, đưa công tác dân số là một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền các cấp; đưa các nội dung về công tác dân số vào chiến lược, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị.
Phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và cơ chế phối hợp liên ngành; phân công trách nhiệm cụ thể đối với từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về công tác dân số và phát triển.
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua, các cuộc vận động về công tác dân số, đặc biệt là cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 02 con, không lựa chọn giới tính khi sinh, toàn dân phát huy và chăm sóc người cao tuổi, nâng cao chất lượng dân số.
Phối hợp và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội, Nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác dân số; gắn công tác dân số với thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng môi trường sống lành mạnh, nâng cao sức khỏe và đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân.
Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo kết quả thực hiện theo quy định.
2. Đổi mới nội dung truyền thông, vận động về công tác dân số
Tổ chức các chiến dịch tuyên truyền sâu rộng các nội dung Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị, Quyết định số 1745/QĐ-TTg ngày 15/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền qua báo chí, phát thanh, truyền hình, các nền tảng số, mạng xã hội và phương tiện điện tử khác; cụ thể hóa nội dung tuyên truyền cho từng nhóm đối tượng, người dân, doanh nghiệp; kế hoạch tuyên truyền phải có mục tiêu, có tiêu chí đánh giá cụ thể.
Đổi mới toàn diện công tác truyền thông, đặc biệt phát huy lợi thế của truyền thông số, truyền thông xã hội với tiêu chí đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức, phương pháp truyền thông sát với thực tiễn và phù hợp với từng đối tượng, địa bàn để chuyển tải các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và kiến thức về dân số tới cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân.
Đẩy mạnh truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi về bình đẳng giới, nêu cao vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội; chú trọng truyền thông về thực trạng, nguyên nhân và hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh, tạo dư luận xã hội phê phán các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi và khuyến khích người dân giám sát, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về dân số. Tuyên truyền nâng cao đạo đức nghề nghiệp, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ y tế, chấm dứt tình trạng lạm dụng khoa học công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức, tạo chuyển biến rõ nét ở những địa phương có tỷ số giới tính khi sinh cao.
Tập trung tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng, hiệu quả của việc thực hiện các dịch vụ nâng cao chất lượng dân số. Vận động thanh niên thực hiện tư vấn và khám sức khoẻ trước hôn nhân; phụ nữ mang thai thực hiện tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh; trẻ sơ sinh thực hiện tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh tật bẩm sinh.
Vận động và phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng tham gia tuyên truyền; lồng ghép nội dung dân số và phát triển vào hương ước, quy ước của cộng đồng, tiêu chuẩn thôn, làng, tổ dân phố, khu dân cư văn hóa, gia đình văn hóa.
Quan tâm biểu dương, tôn vinh, khen thưởng, khích lệ, động viên kịp thời bằng nhiều hình thức đối với các tổ chức, cá nhân, địa phương, gia đình có thành tích trong công tác dân số, đặc biệt là bảo đảm các chỉ tiêu về duy trì mức sinh thay thế, mất cân bằng giới tính khi sinh.
3. Thực hiện hiệu quả các chính sách, quy định pháp luật về dân số
Tiếp tục triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân số; thực hiện rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách theo quy định của Trung ương phù hợp với mục tiêu về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bổ dân cư, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới.
Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định, chính sách của tỉnh về công tác dân số cho phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn nhằm duy trì mức sinh thay thế; thu hẹp khoảng cách mất cân bằng giới tính khi sinh để sớm đưa về mức cân bằng tự nhiên; nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi để tăng tuổi thọ bình quân, tăng số năm sống khỏe mạnh, bảo đảm thích ứng với xu hướng già hóa dân số và nâng cao chất lượng dân số của tỉnh trong giai đoạn tới.
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Pháp luật về thực hiện các chính sách về Dân số.
4. Triển khai đồng bộ các giải pháp về công tác dân số
Đẩy mạnh phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số với các giải pháp: Củng cố, phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản; tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh, sơ sinh, mạng lưới chăm sóc người cao tuổi; từng bước phát triển mạng lưới chuyên ngành lão khoa, phát triển mô hình chăm sóc sức khoẻ toàn diện bà mẹ, trẻ em và người dân; đẩy mạnh xã hội hoá, đổi mới phương thức cung cấp các dịch vụ dân số.
Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục về dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, giới, giới tính, tăng cường các hoạt động giáo dục thể chất, nâng cao thể lực cho trẻ em ở các cấp học.
Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang dân số và phát triển.
Xây dựng kế hoạch hành động của tỉnh thực hiện chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030; các chương trình, đề án về dân số và phát triển phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh.
Củng cố và duy trì bộ máy làm công tác dân số các cấp bảo đảm thống nhất, liên tục và đồng bộ phù hợp với quá trình triển khai sắp xếp đơn vị hành chính và chính quyền địa phương 2 cấp;
Tiếp tục củng cố hệ thống thông tin thống kê chuyên ngành dân số: Hình thành hệ thống lưu trữ, kết nối liên thông, thống nhất thông tin số liệu dân số theo chỉ đạo của trung ương. Cung cấp thông tin, số liệu dân số đáp ứng nhu cầu sử dụng của mọi cơ quan, tổ chức trong toàn xã hội, phục vụ việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Bố trí nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số; huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng triển khai thực hiện chương trình dân số và phát triển; xã hội hóa các dịch vụ dân số. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho công tác dân số, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể thao... nhằm nâng cao chất lượng dân số, đời sống mọi mặt của Nhân dân, nhất là đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
1. Các Sở, ban, ngành, đoàn thể; Ủy ban nhân dân xã, phường
Tổ chức phổ biến, tuyên truyền, quán triệt nội dung Kết luận số 149-KL/TW, Quyết định số 1745/QĐ-TTg ngày 15/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thực hiện Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới đến toàn bộ cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động bằng các hình thức phù hợp với từng cấp, ngành, địa phương.
Lồng ghép các mục tiêu dân số và phát triển, cụ thể hóa nhiệm vụ công tác Dân số và Phát triển trong chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị, địa phương;
Tham mưu xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ, chương trình về dân số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh; định kỳ, đột xuất báo cáo kết quả thực hiện về UBND tỉnh và Bộ Y tế theo quy định.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan lập dự toán kinh phí chi tiết, tổng hợp gửi Sở Tài chính báo cáo UBND tỉnh, trình HĐND tỉnh đảm bảo theo đúng quy định.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác truyền thông, giáo dục về dân số; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang dân số và phát triển.
Phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách theo quy định của Trung ương và phù hợp với sự thay đổi về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số, phân bổ dân cư đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới.
Chủ trì, phối hợp triển khai các hoạt động truyền thông về công tác dân số trong tình hình mới, triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng dân số; củng cố, phát triển mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; dịch vụ tầm soát, chẩn đoán, điều trị bệnh tật trước sinh và sơ sinh; dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn tại các cơ sở y tế.
Phát triển mạng lưới chăm sóc người cao tuổi; từng bước phát triển mạng lưới chuyên ngành lão khoa, thành lập khoa lão khoa (hoặc đơn nguyên lão khoa) tại các bệnh viện; phối hợp với các sở, ngành, địa phương có liên quan phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi và tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng; các loại hình câu lạc bộ chăm sóc, rèn luyện sức khoẻ của người cao tuổi.
Triển khai có hiệu quả công tác phòng bệnh, nâng cao sức khỏe bà mẹ, trẻ em và người dân; đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ dân số.
Thường xuyên phối hợp, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương, các tổ chức chính trị xã hội trong triển khai các biện pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy vai trò nòng cốt của các lực lượng chuyên trách và sự tham gia tích cực của người dân trong thực hiện công tác dân số.
Phối hợp với Công an tỉnh và các đơn vị liên quan xây dựng, kết nối, đồng bộ dữ liệu chuyên ngành dân số theo hướng dẫn của cấp trên.
3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy, Sở Y tế, Báo và Phát thanh, truyền hình Bắc Ninh, các cơ quan báo chí, Trung tâm cung ứng dịch vụ công các xã, phường tổ chức các chương trình, chuyên mục tuyên truyền sâu rộng về công tác dân số và phát triển; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số trong tình hình mới.
Chỉ đạo các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh bổ sung, lồng ghép các tiết học về dân số, sức khỏe sinh sản, vị thành niên trong nhà trường, đảm bảo phù hợp với từng cấp học, lứa tuổi nhằm hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số, sức khỏe sinh sản nhằm góp phần nâng cao chất lượng dân số; lồng ghép tuyên truyền về thực trạng, nguyên nhân, hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính khi sinh trong cán bộ, giáo viên và học sinh.
Mở rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, dạy nghề gắn với thị trường lao động nhằm phát huy lợi thế thời kỳ cơ cấu dân số vàng.
Phối hợp với Sở Y tế và các sở, ngành liên quan, quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số các cấp bảo đảm thống nhất, đồng bộ, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và các Sở, ngành liên quan xây dựng, triển khai các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ về dân số và phát triển.
Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và các Sở, ngành liên quan triển khai các chương trình, đề án, dự án về công tác dân số tại khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Phối hợp với Sở Y tế, các sở, ngành, đơn vị liên quan rà soát dự toán, tổng hợp kinh phí thực hiện các nội dung của Kế hoạch, báo cáo UBND tỉnh, trình HĐND tỉnh bố trí kinh phí theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành.
Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và các cơ quan liên quan hoàn thành xây dựng, kết nối đồng bộ dữ liệu về con người theo hướng dẫn, phân cấp của Trung ương phục vụ hoạch định chính sách về dân số của tỉnh.
Chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về thực hiện các chính sách về Dân số.
11. Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ
Nghiên cứu đưa các nội dung về vấn đề dân số và phát triển vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng đối với các lớp học, ngành học tại trường; phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về dân số và phát triển cho đội ngũ báo cáo viên cấp tỉnh, cấp xã. Phối hợp với Sở Y tế tổ chức các chuyên đề, hội thảo nghiên cứu đề xuất các giải pháp liên quan đến lĩnh vực dân số và phát triển trong tình hình mới.
12. Ủy ban nhân dân các xã, phường
Khẩn trương tổ chức nghiên cứu, học tập và quán triệt, tuyên truyền sâu rộng Kết luận số 149-KL/TW tới cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong thực hiện Kết luận gắn với đặc thù của địa phương.
Chỉ đạo các phòng, ban và các tổ chức đoàn thể tiếp tục đổi mới, đa dạng nội dung, hình thức tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về công tác dân số trong tình hình mới; xác định việc thực hiện chính sách dân số và phát triển là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội, đưa các mục tiêu về dân số vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Kiện toàn Ban chỉ đạo Chăm sóc sức khoẻ Nhân dân sau khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp để chỉ đạo, thực hiện tốt công tác dân số tại địa phương.
Phối hợp với Sở Y tế triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình, mục tiêu về dân số; thường xuyên rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về công tác dân số; thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả triển khai thực hiện công tác dân số ở địa phương.
Bố trí ngân sách địa phương để triển khai có hiệu quả các hoạt động liên quan đến công tác dân số tại địa phương.
13. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh
Kịp thời phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Kết luận số 149-KL/TW; Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về thực hiện Kết luận số 149-KL/TW theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị.
Giám sát việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số trong tình hình mới trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể, tổ chức chính trị- xã hội; quan tâm phát động và tổ chức thực hiện các phong trào thi đua, cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, môi trường sống lành mạnh, nâng cao sức khỏe và đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân.
Trên cơ sở nội dung kế hoạch này, yêu cầu các Sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị; UBND các xã, phường triển khai thực hiện và báo cáo kết quả thực hiện trước ngày 10/12 hằng năm về UBND tỉnh (qua Sở Y tế) để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh, Bộ Y tế./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh