Quyết định 4214/QĐ-UBND năm 2026 phê duyệt Đề án phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2030
| Số hiệu | 4214/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 18/09/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 18/09/2026 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Đà Nẵng |
| Người ký | Hồ Quang Bửu |
| Lĩnh vực | Bảo hiểm |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 4214/QĐ-UBND |
Đà Nẵng, ngày 18 tháng 9 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2030
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 ngày 26/6/2024;
Căn cứ Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc;
Căn cứ Nghị định số 159/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội tự nguyện;
Căn cứ Nghị quyết số 403/NQ-CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 176/QĐ-BNV ngày 12/02/2026 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Kế hoạch tuyên truyền Bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026-2030;
Căn cứ Quyết định số 472/QĐ-BTC ngày 16/03/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 403/NQ- CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội đến năm 2030;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nội vụ tại Tờ trình số8685 /TTr-SNV ngày 14/9/2026 và ý kiến thống nhất của các thành viên UBND thành phố.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án Phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2030.
Điều 2. Giao các Sở, ngành và các cơ quan, đơn vị liên quan căn cứ nhiệm vụ được phân công tại Đề án chủ động triển khai thực hiện các nội dung công việc nhằm góp phần hoàn thành chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 4. Chánh Văn phòng UBND thành phố; Giám đốc Sở Nội vụ; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
ĐỀ ÁN
PHÁT
TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số 4214/QĐ-UBND ngày 18 tháng 9 năm 2026 của UBND
thành phố Đà Nẵng)
Phần I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ ÁN
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo đảm đời sống cho người lao động khi giảm hoặc mất thu nhập do các rủi ro trong quá trình lao động và khi hết tuổi lao động. Mở rộng diện bao phủ BHXH là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng, công tác phát triển người tham gia BHXH đã đạt được nhiều kết quả tích cực; công tác tuyên truyền, vận động, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực BHXH được quan tâm triển khai; nhận thức của người dân, người lao động và người sử dụng lao động về vai trò, ý nghĩa của chính sách BHXH từng bước được nâng lên; số người tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có xu hướng tăng qua các năm.
Tuy nhiên, tỷ lệ người tham gia BHXH trên địa bàn thành phố vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển. Một bộ phận người lao động trong khu vực phi chính thức, lao động tự do, lao động làm việc không có quan hệ lao động ổn định, hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, người lao động trên các nền tảng số chưa tham gia hoặc chưa tiếp cận đầy đủ chính sách BHXH. Tình trạng chậm đóng, trốn đóng BHXH tại một số đơn vị sử dụng lao động vẫn còn xảy ra. Việc khai thác cơ sở dữ liệu dân cư để phát triển đối tượng tham gia BHXH chưa đồng bộ và hiệu quả.
Luật BHXH số 41/2024/QH15 đã có nhiều quy định mới theo hướng mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, tăng quyền lợi của người tham gia và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tham gia BHXH tự nguyện, đây là cơ hội quan trọng để thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh phát triển đối tượng tham gia BHXH, đồng thời đặt ra yêu cầu phải có các giải pháp đồng bộ, quyết liệt và phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bên cạnh đó, Chính phủ đã giao chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH đến năm 2030 cho các địa phương tương đối cao so với hiện nay[1].
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 4214/QĐ-UBND |
Đà Nẵng, ngày 18 tháng 9 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2030
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 ngày 26/6/2024;
Căn cứ Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc;
Căn cứ Nghị định số 159/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội tự nguyện;
Căn cứ Nghị quyết số 403/NQ-CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 176/QĐ-BNV ngày 12/02/2026 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Kế hoạch tuyên truyền Bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026-2030;
Căn cứ Quyết định số 472/QĐ-BTC ngày 16/03/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 403/NQ- CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội đến năm 2030;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nội vụ tại Tờ trình số8685 /TTr-SNV ngày 14/9/2026 và ý kiến thống nhất của các thành viên UBND thành phố.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án Phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2030.
Điều 2. Giao các Sở, ngành và các cơ quan, đơn vị liên quan căn cứ nhiệm vụ được phân công tại Đề án chủ động triển khai thực hiện các nội dung công việc nhằm góp phần hoàn thành chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 4. Chánh Văn phòng UBND thành phố; Giám đốc Sở Nội vụ; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
ĐỀ ÁN
PHÁT
TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số 4214/QĐ-UBND ngày 18 tháng 9 năm 2026 của UBND
thành phố Đà Nẵng)
Phần I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ ÁN
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo đảm đời sống cho người lao động khi giảm hoặc mất thu nhập do các rủi ro trong quá trình lao động và khi hết tuổi lao động. Mở rộng diện bao phủ BHXH là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng, công tác phát triển người tham gia BHXH đã đạt được nhiều kết quả tích cực; công tác tuyên truyền, vận động, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực BHXH được quan tâm triển khai; nhận thức của người dân, người lao động và người sử dụng lao động về vai trò, ý nghĩa của chính sách BHXH từng bước được nâng lên; số người tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có xu hướng tăng qua các năm.
Tuy nhiên, tỷ lệ người tham gia BHXH trên địa bàn thành phố vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển. Một bộ phận người lao động trong khu vực phi chính thức, lao động tự do, lao động làm việc không có quan hệ lao động ổn định, hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, người lao động trên các nền tảng số chưa tham gia hoặc chưa tiếp cận đầy đủ chính sách BHXH. Tình trạng chậm đóng, trốn đóng BHXH tại một số đơn vị sử dụng lao động vẫn còn xảy ra. Việc khai thác cơ sở dữ liệu dân cư để phát triển đối tượng tham gia BHXH chưa đồng bộ và hiệu quả.
Luật BHXH số 41/2024/QH15 đã có nhiều quy định mới theo hướng mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, tăng quyền lợi của người tham gia và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tham gia BHXH tự nguyện, đây là cơ hội quan trọng để thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh phát triển đối tượng tham gia BHXH, đồng thời đặt ra yêu cầu phải có các giải pháp đồng bộ, quyết liệt và phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bên cạnh đó, Chính phủ đã giao chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH đến năm 2030 cho các địa phương tương đối cao so với hiện nay[1].
Để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu được giao, cần thiết phải xây dựng Đề án phát triển đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 nhằm huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương trong tổ chức thực hiện.
Việc xây dựng và triển khai Đề án là yêu cầu khách quan, cấp thiết, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân và xây dựng thành phố Đà Nẵng phát triển bền vững.
II. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Căn cứ pháp lý
a) Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách BHXH.
b) Nghị quyết số 125/NQ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách BHXH.
c) Luật BHXH số 41/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội.
d) Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc.
đ) Nghị định số 159/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện.
e) Nghị quyết số 403/NQ-CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH đến năm 2030.
g) Quyết định số 176/QĐ-BNV ngày 12/02/2026 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Kế hoạch tuyên truyền BHXH giai đoạn 2026-2030.
h) Quyết định số 472/QĐ-BTC ngày 16/03/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 403/NQ-CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH đến năm 2030.
2. Căn cứ thực tiễn
a) Kết quả thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn thành phố giai đoạn 2021-2025.
b) Tình hình kinh tế - xã hội, quy mô dân số, diện tích, bối cảnh và tiềm năng phát triển đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn.
c) Chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH đến năm 2030 do Chính phủ giao cho thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian thực hiện
a) Đối tượng thực hiện
- Người lao động và người sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật.
- Người tham gia BHXH tự nguyện và các đối tượng có tiềm năng tham gia BHXH tự nguyện, nhất là lao động khu vực phi chính thức, lao động tự do, chủ hộ kinh doanh và các nhóm đối tượng khác theo quy định của pháp luật.
- Các sở, ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan, đơn vị có liên quan
b) Phạm vi thực hiện: Đề án được triển khai trên phạm vi toàn thành phố Đà Nẵng.
c) Thời gian thực hiện: Từ năm 2026 đến hết năm 2030.
Phần II
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BHXH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN 2021-2025
I. VỀ CÔNG TÁC BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
Trên cơ sở Luật, Nghị định và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành về chính sách BHXH, các cơ quan, đơn vị đã tham mưu HĐND, UBND tỉnh, thành phố ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn. Nổi bật:
1. HĐND tỉnh Quảng Nam ban hành Nghị quyết số 41/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 về hỗ trợ thêm mức đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện, giai đoạn 2022-2025
2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và BHXH thành phố ký kết chương trình phối hợp số 03/CTPH-MTTQ-BHXH ngày 10/7/2023 về thực hiện công tác BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) giai đoạn 2023-2025; Kế hoạch số 01/KH-MTTQ-BHXH ngày 22/4/2024 về việc triển khai công tác tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT.
3. HĐND tỉnh, thành phố hằng năm ban hành Nghị quyết giao chỉ tiêu tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH.
II. VỀ CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, QUÁN TRIỆT TUYÊN TRUYỀN, NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ CHÍNH SÁCH BHXH
1. Ban Tuyên giáo Thành ủy, Tỉnh ủy (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy) tham mưu tổ chức hội nghị và hướng dẫn quán triệt, triển khai Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về cải cách chính sách BHXH và các Kế hoạch của Thành ủy, Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; hướng dẫn các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thông tin, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; ý nghĩa, vai trò, lợi ích và tính ưu việt của BHXH đối với việc ổn định chính trị - xã hội, đời sống người lao động và Nhân dân. Đồng thời, thông qua công tác điểm báo hằng tuần, hội nghị giao ban công tác tuyên giáo và công tác báo chí hằng quý, hội nghị báo cáo viên hằng tháng đã chỉ đạo, định hướng các cơ quan báo chí, ban tuyên giáo/tuyên huấn các địa phương và đảng ủy trực thuộc Thành ủy, đăng tải tin, bài, phóng sự tuyên truyền trên Trang thông tin điện tử thành phố, đơn vị, báo đài về công tác cải cách chính sách BHXH. Bên cạnh đó, đã kịp thời nắm bắt thông tin và định hướng dư luận xã hội, chỉ đạo lực lượng Ban Chỉ đạo các cấp theo dõi, đấu tranh quan điểm, thông tin sai trái, thù địch liên quan đến công tác cải cách chính sách BHXH và tăng cường công tác phát triển người tham gia BHXH.
2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và BHXH thành phố ký kết chương trình phối hợp, trong đó, nội dung chủ yếu tập trung vào công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về BHXH, BHYT; vận động các nguồn lực xã hội hoá để tặng sổ BHXH, thẻ BHYT cho người dân có thu nhập, người có hoàn cảnh khó khăn, đáp ứng yêu cầu thực hiện lộ trình BHXH, BHYT toàn dân; xây dựng các mô hình phát triển, vận động hiệu quả bền vững thành viên, hội viên và Nhân dân tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình; kiểm tra, giám sát và phản biện việc triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các phường, xã phối hợp cơ quan BHXH cùng cấp xây dựng kế hoạch công tác phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương; vận động các tổ chức, cá nhân hỗ trợ tạo điều kiện cho người có thu nhập thấp, người có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận, tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH tự nguyện.
3. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Sở Nội vụ) tập trung triển khai phổ biến chính sách BHXH đến các đơn vị sử dụng lao động, người lao động thông qua các hình thức như: Tổ chức hội nghị tập huấn, tuyên truyền; phát hành tờ rơi, sổ tay; phổ biến các quy định pháp luật thông qua hộp thư điện tử của doanh nghiệp, cập nhật các văn bản, chính sách pháp luật trên trang thông tin điện tử.
4. Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố in ấn tài liệu tuyên truyền chính sách pháp luật về BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)[2]; qua đó, tuyên truyền, phổ biến đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân về các chính sách, quy định mới của pháp luật liên quan đến chế độ BHXH, BHYT, BHTN, góp phần nâng cao nhận thức, chấp hành và thực hiện đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm trong tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.
5. Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức các hội nghị phổ biến pháp luật lao động, BHXH, BHYT, BHTN cho doanh nghiệp và người lao động tại các Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu công nghệ thông tin tập trung; phối hợp Công đoàn Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng ký Chương trình phối hợp giai đoạn 2023-2028 về triển khai nội dung tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN tại doanh nghiệp.
6. Cơ quan BHXH thành phố thực hiện đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, từ các phương tiện truyền thống như: báo chí, truyền hình, phát thanh đến các nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng di động, với nội dung tuyên truyền được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào những lợi ích thiết thực với thông điệp gần gũi, dễ nhớ, dễ hiểu; chú trọng đến việc truyền tải thông tin một cách chính xác, kịp thời và có sức lan tỏa mạnh mẽ, tạo sự đồng thuận và ủng hộ của toàn xã hội; trong đó, các hoạt động, hình thức, nội dung, phương pháp tuyên truyền cụ thể từng nhóm đối tượng: (1) Tổ chức các hội nghị tuyên truyền, tập huấn, đối thoại, tư vấn, giải đáp trực tiếp về chính sách BHXH, BHYT theo các kế hoạch, chương trình phối hợp[3]; (2) Tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông, từ các sản phẩm infographic, motion graphics, video truyền thông do BHXH Việt Nam sản xuất với nội dung ngắn gọn, súc tích, thông điệp gần gũi, dễ nhớ… đăng tải lên Cổng thông tin điện tử BHXH thành phố, Fanpage, Zalo; (3) Phối hợp với các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương để tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng[4]. (4) Phối hợp với các cơ quan thông tin, văn hóa tại địa phương xây dựng chuyên mục, câu chuyện truyền thanh, tiểu phẩm truyền thanh, truyền thông về chính sách BHXH, BHYT với trên 86.700 lượt trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở. (5) Tuyên truyền qua các sản phẩm truyền thông[5]. Ngoài ra, BHXH thành phố phối hợp với các cơ quan, đơn vị thực hiện các hoạt động tư vấn về chính sách BHXH như: (1) Công tác tiếp nhận, xử lý thông tin, thực hiện hỗ trợ, tư vấn, giải đáp về chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN theo quy định tại Quyết định số 681/QĐ-BHXH ngày 09/7/2021 của BHXH Việt Nam; kịp thời hỗ trợ, tư vấn, giải đáp thông qua điện thoại, trực tiếp tại cơ quan, tiếp công dân, xử lý phản ánh khiếu nại trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Zalo OA của đơn vị, các trang mạng xã hội của cá nhân viên chức, các hội nghị tuyên truyền, hội nghị khách hàng... (2) Cổng thông tin điện tử BHXH thành phố đăng tải đầy đủ các thủ tục hành chính, biểu mẫu, văn bản hướng dẫn liên quan đến việc tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính; bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính, Cổng thông tin điện tử BHXH thành phố triển khai thực hiện bảng tra cứu thủ tục hành chính bằng QR-Code và hướng dẫn tổ chức, công dân nộp hồ sơ Dịch vụ công trực tuyến bằng phương thức sử dụng trình quét mã vạch trên ứng dụng Zalo. (3) Tăng cường tuyên truyền hướng dẫn đối tượng đến giao dịch thực hiện việc đăng ký đặt lịch hẹn giao dịch trên Cổng thông tin điện tử BHXH thành phố hoặc liên hệ Tổng đài 1022 để thực hiện đặt lịch.
7. Liên đoàn Lao động thành phố chỉ đạo các cấp công đoàn cụ thể hóa các nhiệm vụ tuyên truyền chính sách BHXH, tham gia phối hợp giải quyết các kiến nghị của người lao động, đoàn viên về chính sách BHXH, cụ thể: (1) Thực hiện in sổ tay và cấp phát đến 1.800 công đoàn cơ sở để làm cẩm nang tuyên truyền trong đoàn viên, người lao động; đưa các nội dung pháp luật BHXH trên Cổng thông tin điện tử của ngành. (2) Tổ chức 02 hội thi tìm hiểu pháp luật lao động, công đoàn, thu hút 160 cán bộ công đoàn tham gia; tổ chức lồng ghép nội dung Luật BHXH trong 05 hội thi An toàn, vệ sinh lao động, 02 hội thi cán bộ công đoàn giỏi để chuyển tải đến đoàn viên, người lao động. (3) Tổ chức 28 buổi đối thoại tư vấn pháp luật cho 3.500 người lao động; trả lời, tư vấn pháp luật qua điện thoại, email cho 455 lượt người lao động; phối hợp tổ chức các buổi tư vấn, đối thoại về pháp luật lao động, công đoàn, BHXH thu hút hơn 85.000 lượt người tham gia.
III. VỀ NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHÍNH SÁCH BHXH
1. Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành và các địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH: (1) UBND thành phố ban hành các quy chế phối hợp thực hiện pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn, theo đó, công tác phối hợp quản lý, tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN được phân công cụ thể cho các sở, ban, ngành thực hiện đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý và tổ chức triển khai thực hiện; (2) BHXH thành phố và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Sở Nội vụ) thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình nợ BHXH, BHYT, BHTN của các đơn vị sử dụng lao động và tham mưu UBND thành phố có biện pháp chỉ đạo công tác thu và thu hồi nợ; đồng thời, thường xuyên phối hợp kiểm tra, giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện chế độ BHXH, BHTN tại các doanh nghiệp; (3) BHXH thành phố và BHXH cấp cơ sở ký kết và triển khai đồng bộ Quy chế phối hợp liên ngành với các sở, ban, ngành, hội đoàn thể, cơ quan liên quan, trong đó, tập trung vào công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHTN; (4) Công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về BHXH được các đơn vị phối hợp thực hiện đầy đủ, thường xuyên theo kế hoạch, qua công tác thanh tra kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là các hành vi trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi tiền đóng BHXH, BHTN.
2. Công tác phối hợp, chia sẻ, kết nối thông tin, cơ sở dữ liệu có liên quan nhằm quản lý đối tượng tham gia BHXH và thực thi chính sách BHXH tại địa phương: BHXH thành phố đẩy mạnh liên thông và chia sẻ cơ sở dữ liệu với các sở, ngành liên quan và các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT như: Kết nối với Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch để liên thông cấp giấy khai sinh và thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi; kết nối dữ liệu với Bộ Y tế trong quản lý hồ sơ khám chữa bệnh điện tử, quản lý, phân tích số liệu ngành y tế; kết nối dữ liệu với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (trước đây) để thực hiện dịch vụ liên thông đăng ký điều chỉnh đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN và báo cáo tình hình thay đổi lao động trên Cổng dịch vụ công quốc gia... nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, đồng thời đáp ứng các yêu cầu trong hoạt động quản lý, qua đó góp phần tạo nền tảng quan trọng trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm - một trong sáu cơ sở dữ liệu quốc gia quan trọng cần ưu tiên triển khai tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử. Bên cạnh đó, trên cơ sở dữ liệu thông tin do cơ quan Thuế cung cấp, BHXH thành phố chỉ đạo BHXH cấp cơ sở thực hiện rà soát, khai thác phát triển đối tượng theo quy trình để các doanh nghiệp đăng ký tham gia BHXH, BHYT cho người lao động theo quy định của pháp luật; đồng thời thông báo và tiến hành kiểm tra, trực tiếp làm việc với các đơn vị chưa đăng ký tham gia BHXH và tham gia chưa đầy đủ.
IV. VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TẠI ĐỊA PHƯƠNG
Thực hiện Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 03/8/2018 và Nghị quyết số 69/NQ-CP ngày 19/5/2022 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH. UBND tỉnh/ thành phố chỉ đạo cho các sở, ngành, địa phương xây dựng các kế hoạch để cụ thể hóa triển khai thực hiện công tác BHXH, BHYT trên địa bàn; thực hiện giao chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH, BHYT hằng năm cho từng cấp; đưa chỉ tiêu BHXH, BHYT vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các cấp ủy đảng, chính quyền tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về BHXH, BHYT; đổi mới nội dung, phương pháp thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để cán bộ, đảng viên, Nhân dân hiểu rõ sự cần thiết, vai trò, lợi ích, ý nghĩa của chính sách BHXH, BHYT, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT. Các sở, ban, ngành, địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT, BHTN; công khai tình trạng trốn đóng, nợ đọng, chiếm dụng BHXH, BHYT của các doanh nghiệp trên địa bàn; xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH và gian lận, trục lợi từ quỹ BHXH, BHYT, BHTN.
Hằng năm, Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT các cấp thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm; đồng thời, nhân rộng các mô hình hay, hiệu quả trong triển khai thực hiện; biểu dương và đề nghị khen thưởng kịp thời các đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT; thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của cơ quan BHXH tại địa phương; phát huy có hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát, phản biện xã hội, phối hợp tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT.
V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH
Các đơn vị, địa phương thực hiện đồng bộ các chính sách, giải pháp. Kết quả thực hiện đến hết tháng 6/2026 cụ thể như sau:
Số người tham gia BHXH là 574.353 người, tăng 13.216 người (2,26%) so với tháng 5/2026; tăng 11.534 người (2,08%) so với cuối năm 2025. Trong đó: Số người tham gia BHXH bắt buộc là 523.703 người; số người tham gia BHXH tự nguyện là 50.650 người; tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH là 41,57%.
VI. THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Thuận lợi
a) Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, UBND thành phố thường xuyên quan tâm công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chỉ tiêu, mục tiêu về BHXH; thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mang lại hiệu quả tích cực; ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, người sử dụng lao động, người lao động về tham gia BHXH được nâng cao, qua đó góp phần phát triển người tham gia BHXH.
b) Các đơn vị, địa phương tăng cường công tác quản lý nhà nước về BHXH; vai trò của các tổ chức công đoàn trong việc tuyên truyền, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động về thụ hưởng chính sách BHXH được phát huy và đạt kết quả tích cực.
c) Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH được theo dõi, phát hiện và giải quyết nhanh chóng với sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị, hạn chế tình trạng kiến nghị, khiếu nại về BHXH, không để tình trạng đình công, gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
2. Khó khăn, hạn chế
a) Về quản lý đối tượng: Dữ liệu lao động giữa cơ quan BHXH, Thuế, Đăng ký kinh doanh và địa phương chưa đồng bộ; chưa có cơ sở dữ liệu tập trung về đối tượng tiềm năng.
b) Về thực hiện BHXH bắt buộc: Việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về BHXH tại một số đơn vị sử dụng lao động vẫn còn hạn chế; tình trạng vi phạm pháp luật BHXH vẫn còn diễn ra, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Một bộ phận người lao động chưa nắm bắt, tiếp cận đầy đủ, kịp thời các quy định về quyền lợi, nghĩa vụ và các chế độ liên quan đến BHXH, cá biệt có tình trạng giao kết hợp đồng dưới thời hạn để né tránh nghĩa vụ BHXH. Nhiều đơn vị sử dụng lao động ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh dẫn đến khó thu hồi nợ BHXH kéo dài; việc xử lý hình sự hành vi trốn đóng BHXH còn chưa được áp dụng.
c) Về phát triển BHXH tự nguyện: Khu vực lao động phi chính thức có thu nhập không ổn định, người dân tham gia BHXH còn thấp, chưa thấy được lợi ích dài hạn của BHXH; kinh phí hỗ trợ thêm mức đóng đối với người tham gia BHXH tự nguyện từ ngân sách còn thấp.
d) Về công tác tuyên truyền: Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thật sự chú trọng đến công tác truyền thông chính sách pháp luật về BHXH, coi đó là nhiệm vụ riêng của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Sở Nội vụ) và của cơ quan BHXH; chưa xây dựng quy chế phối hợp truyền thông giữa các cơ quan, đơn vị liên quan hoặc xây dựng nhưng chưa cụ thể quá trình thực hiện có nhiều bất cập nên hiệu quả mang lại chưa cao.
3. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế
a) Một số nơi, một số thời điểm, cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo dẫn đến hiệu quả thực hiện chính sách BHXH mang lại chưa cao, chưa hình thành cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các ngành trong phát triển đối tượng, công tác khai thác dữ liệu còn thủ công.
b) Công tác tuyên truyền chính sách BHXH là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, bộ phận làm công tác tuyên truyền tại BHXH cấp cơ sở kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên ngành nên chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền về BHXH còn hạn chế, chưa sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
c) Do điều kiện kinh tế, công việc nên người lao động chưa sắp xếp được thời gian tham dự các buổi tuyên truyền, tìm hiểu các quy định pháp luật về quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
d) Một bộ phận người sử dụng lao động chưa thực sự quan tâm tham dự hoặc cử người lao động tham dự các lớp tập huấn, hướng dẫn, phổ biến pháp luật lao động, BHXH.
đ) Thu nhập của một bộ phận người lao động chưa ổn định; tâm lý lựa chọn các hình thức tích lũy ngắn hạn thay vì tham gia BHXH.
Phần III
DỰ BÁO BỐI CẢNH, TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH ĐẾN NĂM 2030
I. DỰ BÁO BỐI CẢNH
1. Thuận lợi
a) Giai đoạn 2026 - 2030, thành phố Đà Nẵng bước vào thời kỳ phát triển mới sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội. Với quy mô dân số, diện tích tự nhiên, nguồn lao động và không gian phát triển được mở rộng, thành phố có điều kiện thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển thị trường lao động và mở rộng diện bao phủ BHXH.
b) Nền kinh tế thành phố tiếp tục phát triển theo hướng dịch vụ chất lượng cao, du lịch, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo. Việc hình thành Khu thương mại tự do Đà Nẵng, mở rộng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế mở Chu Lai và các trung tâm dịch vụ, du lịch sẽ tạo thêm nhiều việc làm, gia tăng số lượng người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
c) Luật BHXH số 41/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 với nhiều quy định mới theo hướng mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, tăng quyền lợi cho người tham gia, tạo điều kiện thuận lợi hơn đối với người tham gia BHXH tự nguyện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển nhanh diện bao phủ BHXH trên địa bàn thành phố.
d) Chuyển đổi số quốc gia, Đề án 06 của Chính phủ, việc kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dữ liệu thuế, đăng ký kinh doanh, lao động, việc làm và bảo hiểm tạo điều kiện thuận lợi để rà soát, xác định và quản lý các nhóm đối tượng tiềm năng tham gia BHXH.
2. Khó khăn, thách thức
a) Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, công tác phát triển người tham gia BHXH vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Địa bàn thành phố sau hợp nhất có quy mô rộng lớn, bao gồm cả khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, xã đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức còn cao, thu nhập của nhiều nhóm lao động chưa ổn định, ảnh hưởng đến khả năng tham gia BHXH.
b) Một bộ phận người lao động vẫn có tâm lý ưu tiên các hình thức tích lũy ngắn hạn, chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích lâu dài của BHXH. Tình trạng nhận BHXH một lần vẫn còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội bền vững.
c) Một số doanh nghiệp còn tình trạng chậm đóng, trốn đóng BHXH; việc quản lý lao động tại hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, lao động nền tảng số, lao động tự do còn nhiều khó khăn do biến động thường xuyên và thiếu cơ sở dữ liệu đầy đủ.
Từ những thuận lợi và khó khăn nêu trên, yêu cầu đặt ra đối với thành phố là phải có các giải pháp đồng bộ, quyết liệt, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị nhằm khai thác tối đa nguồn đối tượng tiềm năng, mở rộng nhanh và bền vững diện bao phủ BHXH trong giai đoạn 2026 - 2030.
II. NHÓM ĐỐI TƯỢNG TIỀM NĂNG
Căn cứ quy định của Luật BHXH số 41/2024/QH15, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu lao động và kết quả rà soát bước đầu trên địa bàn thành phố, các nhóm đối tượng tiềm năng phát triển người tham gia BHXH đến năm 2030 gồm:
1. Nhóm người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa tham gia hoặc tham gia chưa đầy đủ theo quy định của pháp luật.
2. Nhóm chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH số 41/2024/QH15.
3. Nhóm người quản lý doanh nghiệp, quản lý hợp tác xã không hưởng tiền lương thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
4. Nhóm lao động làm việc theo chế độ linh hoạt, làm việc không trọn thời gian nhưng có mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH theo quy định.
5. Nhóm người lao động làm việc tại hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, làng nghề, cơ sở dịch vụ, du lịch, thương mại chưa tham gia BHXH.
6. Nhóm tiểu thương, hộ kinh doanh cá thể tại các chợ, trung tâm thương mại, tuyến phố thương mại.
7. Nhóm người lao động hoạt động trên nền tảng số, kinh doanh trực tuyến, tài xế công nghệ, người làm việc thông qua các nền tảng cung cấp dịch vụ số.
8. Nhóm nông dân, ngư dân, lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn có khả năng tham gia BHXH tự nguyện.
9. Nhóm người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH.
10. Nhóm người đã hưởng BHXH một lần nhưng tiếp tục tham gia hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh.
11. Nhóm người lao động làm công việc giúp việc gia đình, phụ nữ nội trợ, lao động tự do, lao động phi chính thức có thu nhập ổn định.
12. Nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, người dân sinh sống tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa thuộc diện có khả năng tham gia BHXH tự nguyện.
Phần IV
MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VÀ NHIỆM VỤ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH ĐẾN NĂM 2030
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền để người dân hiểu rõ lợi ích, vai trò, ý nghĩa của chính sách BHXH góp phần mở rộng nhanh và bền vững diện bao phủ BHXH trên địa bàn thành phố; bảo đảm hoàn thành và phấn đấu vượt các chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH được Chính phủ giao đến năm 2030.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Phấn đấu đến năm 2030 có 856.525 người tham gia BHXH, trong đó bảo hiểm xã hội tự nguyện tối thiểu là 68.036 người.
b) Giảm tình trạng chậm đóng BHXH; nâng cao tỷ lệ chấp hành pháp luật về BHXH của người sử dụng lao động.
c) Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ và tổ chức thực hiện chính sách BHXH; phấn đấu mức độ hài lòng của người dân, người lao động và người sử dụng lao động đối với việc thực hiện chính sách BHXH đạt từ 90% trở lên.
II. CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
Chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH được thực hiện theo Quyết định số 3965/QĐ-UBND ngày 03/9/2026 của UBND thành phố về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo
a) Đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của địa phương.
b) Xác định kết quả phát triển đối tượng tham gia BHXH là một trong các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương.
c) Định kỳ 06 tháng tổ chức đánh giá kết quả thực hiện chỉ tiêu BHXH của các địa phương; công khai kết quả thực hiện trên hệ thống quản lý điều hành của thành phố.
2. Phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
a) Rà soát các đơn vị sử dụng lao động chưa tham gia hoặc tham gia chưa đầy đủ BHXH.
b) Khai thác dữ liệu từ cơ quan thuế, đăng ký kinh doanh, lao động việc làm.
c) Tăng cường thanh tra, kiểm tra chuyên ngành lĩnh vực BHXH.
d) Đôn đốc xử lý các đơn vị chậm đóng, trốn đóng.
3. Phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
a) Xây dựng cơ sở dữ liệu đối tượng tiềm năng.
b) Tập trung phát triển các nhóm: chủ hộ kinh doanh, tiểu thương, lao động tự do, lao động nền tảng số và người lao động bảo lưu thời gian đóng BHXH.
c) Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ thêm mức đóng BHXH tự nguyện từ ngân sách địa phương.
d) Xây dựng các mô hình vận động các tổ chức, cá nhân hỗ trợ kinh phí mua tặng sổ BHXH, thẻ BHYT tạo điều kiện cho người có thu nhập thấp, người có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận, tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH tự nguyện tại cộng đồng dân cư.
4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền
a) Đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền, chuyển mạnh từ tuyên truyền đại trà sang truyền thông theo từng nhóm đối tượng theo Quyết định số 176/QĐ-BNV ngày 12/2/2026 của Bộ Nội vụ về Kế hoạch tuyên truyền BHXH giai đoạn 2026-2030[6].
b) Xây dựng chuyên mục truyền thông thường xuyên; đa dạng hóa hình thức truyền thông trên nền tảng số, xây dựng mô hình truyền thông số về BHXH[7].
c) Xây dựng mạng lưới và bồi dưỡng kiến thức cho tuyên truyền viên BHXH tại cơ sở[8].
d) Tổ chức đối thoại trực tiếp, trực tuyến với người dân và đơn vị sử dụng lao động.
5. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số
a) Kết nối dữ liệu dân cư, thuế, đăng ký kinh doanh và dữ liệu BHXH để hình thành cơ sở dữ liệu tập trung về đối tượng thuộc diện tham gia BHXH.
b) Xây dựng hệ thống theo dõi, phân tích và quản lý đối tượng tiềm năng tham gia BHXH theo địa bàn xã, phường; cập nhật dữ liệu theo thời gian phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.
c) Ứng dụng phân tích dữ liệu để dự báo nguồn phát triển đối tượng.
6. Rà soát, xử lý giảm nợ BHXH
a) Rà soát, xây dựng danh sách các đơn vị nợ BHXH từ 03 tháng trở lên để đôn đốc, theo dõi, xử lý.
b) Công khai các đơn vị chậm đóng, trốn đóng BHXH theo quy định.
c) Tăng cường thanh tra, xử lý vi phạm đối với các đơn vị nợ kéo dài.
d) Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra đối với các trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.
7. Huy động nguồn lực xã hội
a) Tập trung huy động nguồn lực xã hội cùng với nguồn Ngân sách nhà nước hỗ trợ thêm mức đóng cho người nghèo, người cận nghèo, người đồng bào dân tộc thiểu số và người lao động khác có hoàn cảnh khó khăn.
b) Khuyến kích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đồng hành cùng chính quyền trong việc hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện và tặng sổ BHXH, thẻ BHYT cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn.
Phần V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN I. NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN
1. Việc tổ chức thực hiện Đề án phải bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của UBND thành phố; phát huy vai trò, trách nhiệm của các sở, ban, ngành, địa phương, cơ quan BHXH, các tổ chức chính trị - xã hội, người sử dụng lao động, người lao động và người dân.
2. Việc phân công nhiệm vụ phải gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị; bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ và rõ kết quả thực hiện.
3. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH là một trong những căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương và người đứng đầu theo quy định.
II. BẢO ĐẢM NGUỒN LỰC THỰC HIỆN
Nguồn kinh phí thực hiện được bố trí trong dự toán của các cơ quan, đơn vị, địa phương theo quy định của Luật ngân sách và các văn bản hướng dẫn; Nguồn kinh phí lồng ghép trong các chương trình, đề án, kế hoạch của các sở, ngành, đơn vị, địa phương; Nguồn huy động từ xã hội và các nguồn kinh phí hỗ trợ hợp pháp khác theo quy định (nếu có) để thực hiện.
III. PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ
1. Sở Nội vụ
a) Phối hợp tổ chức tuyên truyền các quy định về pháp luật lao động, BHXH, BHTN.
b) Tổng hợp tình hình, đánh giá kết quả thực hiện, đôn đốc, kiểm tra; tham mưu sơ kết, tổng kết Đề án theo quy định.
c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị tham mưu lồng ghép các chỉ tiêu phát triển BHXH vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của thành phố. Căn cứ tình hình thực tế, phối hợp với BHXH thành phố rà soát, tham mưu UBND thành phố điều chỉnh chỉ tiêu cho phù hợp.
d) Phối hợp với BHXH thành phố và các cơ quan liên quan rà soát, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về BHXH.
đ) Phối hợp tham mưu chính sách hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện theo từng thời kỳ.
2. BHXH thành phố Đà Nẵng
a) Phát huy vai trò là cơ quan thực hiện chính sách BHXH và cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn thành phố.
b) Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đối tượng tiềm năng tham gia BHXH, thường xuyên, rà soát cập nhật và phân loại theo địa bàn, lĩnh vực, ngành nghề để triển khai các giải pháp phát triển cho phù hợp.
c) Chủ trì rà soát, khai thác và phát triển các nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
d) Tổ chức các hoạt động truyền thông, đối thoại, tư vấn chính sách BHXH; đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng truyền thông số, truyền thông trên mạng xã hội cho đội ngũ làm công tác BHXH các cấp.
đ) Thực hiện kiểm tra chuyên ngành đóng BHXH theo thẩm quyền.
e) Định kỳ cung cấp số liệu phục vụ công tác quản lý, điều hành và đánh giá kết quả thực hiện Đề án.
g) Chủ trì xây dựng hệ thống chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Đề án.
h) Công khai danh sách doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng BHXH trên Cổng thông tin điện tử.
i) Nghiên cứu, lựa chọn một số xã, phường, khu dân cư để xây dựng mô hình điểm phát triển BHXH; tổ chức sơ kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình hiệu quả trên địa bàn thành phố.
k) Tăng cường tư vấn, đối thoại đối với người lao động trước khi thực hiện thủ tục hưởng BHXH một lần.
l) Phối hợp với các Sở ngành liên quan triển khai mô hình "Gia đình nông dân, tiểu thương và đối tượng tiềm năng khác tham gia BHXH tự nguyện".
3. Thanh tra thành phố
a) Chủ trì hoặc phối hợp thanh tra việc chấp hành pháp luật BHXH tại các đơn vị sử dụng lao động theo kế hoạch.
b) Phối hợp với cơ quan BHXH, Sở Nội vụ, Công an thành phố xử lý các hành vi vi phạm pháp luật BHXH.
c) Theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận thanh tra liên quan BHXH.
4. Sở Tài chính
a) Định kỳ hằng quý phối hợp cung cấp thông tin các doanh nghiệp thành lập mới để BHXH thành phố rà soát, phát triển đối tượng tham gia BHXH.
b) Chủ trì tham mưu bố trí kinh phí thực hiện Đề án theo quy định; Hướng dẫn quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí thực hiện Đề án (sau khi ưu tiên sử dụng nguồn huy động, nguồn hỗ trợ hợp pháp khác để thực hiện).
5. Sở Xây dựng
Phối hợp với cơ quan BHXH tuyên truyền, phổ biến chính sách BHXH đến các doanh nghiệp, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây dựng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành khi có yêu cầu.
6. Sở Nông nghiệp và Môi trường
a) Phối hợp rà soát, thống kê đối tượng làm nông, lâm, ngư nghiệp thuộc diện tiềm năng tham gia BHXH.
b) Phối hợp Hội Nông dân xây dựng mô hình phát triển BHXH tự nguyện.
7. Sở Dân tộc và Tôn giáo
a) Tăng cường tuyên truyền chính sách BHXH tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
b) Phối hợp phát triển BHXH tự nguyện đối với người đồng bào dân tộc thiểu số.
8. Sở Khoa học và Công nghệ
a) Chủ trì tham mưu các giải pháp chuyển đổi số phục vụ công tác phát triển người tham gia BHXH.
b) Hỗ trợ kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị.
c) Hỗ trợ, hướng dẫn ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý đối tượng tham gia BHXH.
9. Sở Công Thương
a) Phối hợp phát triển đối tượng tham gia BHXH là hộ kinh doanh, tiểu thương tại các chợ, trung tâm thương mại.
b) Chỉ đạo các đơn vị quản lý chợ phối hợp với cơ quan BHXH trong công tác tuyên truyền, vận động người tham gia BHXH tự nguyện.
10. Sở Giáo dục và Đào tạo
Phối hợp tuyên truyền, phổ biến kiến thức về BHXH trong các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý.
11. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
a) Phối hợp phát triển đối tượng tham gia BHXH là người hoạt động, làm việc trong ngành, lĩnh vực du lịch
b) Chỉ đạo các cơ quan báo chí, truyền thông đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách BHXH.
c) Lồng ghép nội dung tuyên truyền BHXH trong các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch.
12. Sở Y tế
a) Phối hợp phát triển đối tượng tham gia BHXH là người hoạt động, làm việc trong ngành, lĩnh vực y tế.
b) Lồng ghép nội dung tuyên truyền BHXH trong các hoạt động tuyên truyền về y tế.
c) Phối hợp BHXH thành phố và các cơ sở khám chưa bệnh có giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giải quyết triệt để nhất các khó khăn, vướng mắc, đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHXH, BHYT khi đi khám chữa bệnh, giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
13. Sở Tư pháp
a) Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu xây dựng, thẩm định các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của HĐND, UBND thành phố liên quan đến việc thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn thành phố.
b) Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương lồng ghép nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hằng năm; đưa các quy định mới của pháp luật về BHXH vào các chương trình tuyên truyền pháp luật cho người dân và doanh nghiệp.
c) Phối hợp với BHXH thành phố, Liên đoàn Lao động thành phố và các cơ quan liên quan tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, đối thoại chính sách về BHXH cho người lao động, người sử dụng lao động và các nhóm đối tượng tiềm năng tham gia BHXH.
d) Thông qua hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những khó khăn, bất cập trong việc thực hiện chính sách BHXH; tổng hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hoàn thiện các quy định có liên quan.
14. Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng, Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai thành phố Đà Nẵng
Phối hợp tuyên truyền, vận động doanh nghiệp hoạt động trong địa bàn quản lý thực hiện đầy đủ chính sách BHXH theo quy định.
15. Công an thành phố
a) Phối hợp hỗ trợ khai thác, xác thực dữ liệu dân cư phục vụ công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH.
b) Hỗ trợ xác minh thông tin đối tượng tham gia BHXH khi cần thiết.
c) Phối hợp xác minh doanh nghiệp có dấu hiệu trốn đóng BHXH, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH theo quy định.
16. Thuế thành phố Đà Nẵng
a) Hỗ trợ, cung cấp, trao đổi thông tin, dữ liệu về doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định của pháp luật phục vụ công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH
b) Phối hợp rà soát các đơn vị sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trên cơ sở thông tin được cung cấp theo quy định của pháp luật
c) Phối hợp tuyên truyền chính sách BHXH cho Doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân nộp thuế.
17. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội
a) Phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH; vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia BHXH, nhất là BHXH tự nguyện thông qua các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước và các hoạt động tại khu dân cư.
b) Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH; kịp thời tổng hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân, đoàn viên, hội viên để phản ánh với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
c) Lồng ghép nội dung tuyên truyền, vận động tham gia BHXH vào việc triển khai các cuộc vận động, phong trào thi đua do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chủ trì thực hiện tại cơ sở.
18. Đề nghị Liên đoàn Lao động thành phố
a) Tuyên truyền, vận động người lao động tham gia BHXH.
b) Giám sát việc thực hiện chính sách BHXH tại doanh nghiệp.
c) Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động liên quan đến BHXH.
d) Phối hợp giải quyết các tranh chấp, khiếu nại liên quan đến BHXH.
19. Đề nghị Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố
a) Phối hợp tuyên truyền, vận động hội viên, phụ nữ tích cực tham gia BHXH.
b) Lồng ghép tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về BHXH trong các lớp tập huấn, hội nghị, sinh hoạt chi, tổ phụ nữ nhằm nâng cao nhận thức, khuyến khích cán bộ, hội viên, phụ nữ tự nguyện tham gia BHXH.
20. Đề nghị Hội Nông dân thành phố
a) Tuyên truyền, vận động hội viên tham gia BHXH tự nguyện.
b) Phối hợp rà soát, phát triển đối tượng tham gia BHXH tại khu vực nông nghiệp, nông thôn.
21. Đề nghị Thành đoàn Đà Nẵng
Tuyên truyền, vận động thanh niên khởi nghiệp, thanh niên lao động tự do tham gia BHXH.
22. Đề nghị Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại miền Trung - Tây Nguyên; các Hội, Hiệp hội doanh nghiệp thành phố
a) Phối hợp với cơ quan BHXH trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách BHXH.
b) Vận động doanh nghiệp thực hiện đầy đủ trách nhiệm tham gia BHXH cho người lao động.
c) Phối hợp tổ chức các hội nghị đối thoại giữa doanh nghiệp và cơ quan BHXH.
23. UBND các xã, phường, đặc khu
a) Xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án trên địa bàn.
b) Chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả phát triển người tham gia BHXH trên địa bàn quản lý.
c) Tổ chức rà soát, cập nhật đối tượng tiềm năng; Thành lập Tổ vận động phát triển người tham gia BHXH tại địa phương.
d) Giao chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH đến từng thôn, tổ dân phố.
đ) Tăng cường kiểm tra tình hình sử dụng lao động tại hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ trên địa bàn; kịp thời phát hiện các trường hợp thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa tham gia để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.
e) Phân công đầu mối theo dõi, quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về lao động về người giúp việc gia đình trên địa bàn, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của người sử dụng lao động trả cho người giúp việc gia đình khoản tiền BHXH theo quy định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia BHXH.
g) Định kỳ báo cáo kết quả thực hiện theo quy định.
IV. CHẾ ĐỘ BÁO CÁO, KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ
1. Định kỳ 06 tháng (trước ngày 05 tháng 6) và hằng năm (trước ngày 05 tháng 12), các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện chế độ báo cáo gửi về Sở Nội vụ để tổng hợp, báo cáo UBND thành phố.
2. Sở Nội vụ phối hợp với BHXH thành phố:
Tham mưu UBND thành phố tổ chức kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan, đơn vị có kết quả thực hiện thấp hoặc có nguy cơ không hoàn thành chỉ tiêu; tổ chức sơ kết giữa kỳ vào năm 2028 và tổng kết Đề án vào năm 2030, kịp thời tham mưu biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc; đồng thời xem xét trách nhiệm đối với các cơ quan, đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ được giao./.
[1] Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 403/NQ-CP giao UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: “chỉ đạo các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng kế hoạch và giải pháp triển khai thực hiện để đạt được chỉ tiêu được giao; trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng cân đối ngân sách, kết hợp huy động các nguồn lực xã hội, trình HĐND cùng cấp quyết định hỗ trợ thêm tiền đóng BHXH cho người tham gia BHXH tự nguyện” và Nghị quyết số 403/NQ-CP giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH của thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 là 856.525 người (trong đó chỉ tiêu về BHXH tự nguyện là 68.036 người)
[2] Năm 2023, biên soạn và phát hành 5.000 cuốn sổ tay “Một số tình huống pháp luật về lao động”, 10.000 tờ gấp “Chính sách BHYT có hiệu lực từ tháng 01/2023” và 10.000 tờ gấp “Một số điều cần biết về các chế độ BHXH”, năm 2025 biên soạn và phát hành 2000 cuốn sổ tay “Một số tình huống pháp luật liên quan pháp luật BHYT”.
[3] Tổ chức 3.100 cuộc hội nghị tuyên truyền truyền, đối thoại, giải đáp chính sách BHXH, BHYT và hướng dẫn cài đặt, sử dụng ứng dụng VssID-BHXH số, với sự tham gia của 175.000 công nhân, người lao động, hội viên Liên minh Hợp tác xã, chủ sử dụng lao động, cán bộ đoàn viên, thanh niên, sinh viên các trường đại học, cao đẳng…
[4] Thực hiện trên 3.000 tin, bài, phóng sự, chuyên đề, chuyên mục phát thanh, chương trình khách mời trường quay, tọa đàm, podcast, tư vấn trực tuyến, Infographic, phóng sự truyền hình...; phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực miền Trung - Tây Nguyên thực hiện 04 chương trình khách mời trường quay; 04 chương trình truyền hình thực tế “Chuyến xe buýt kỳ thú”; phối hợp Hội Nhà báo tổ chức 05 Cuộc thi sáng tạo tác phẩm báo chí tuyên truyền về BHXH, BHYT; phối hợp với Trung tâm Văn hóa tỉnh Quảng Nam xây dựng các “Câu chuyện truyền thanh” tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT; phối hợp với Cổng thông tin điện tử thành phố thực hiện 15 chương trình đối thoại trực tuyến với các chủ đề “BHXH - An tâm cho mọi gia đình” nhằm giải đáp các câu hỏi vướng mắc, tháo gỡ khó khăn liên quan đến trích nộp BHXH, giải quyết các chế độ chính sách BHXH, BHYT, BHTN.
[5] Thiết kế, in ấn trên 40.000 tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền về BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình, BHYT học sinh, sinh viên; những thiệt thòi khi rút BHXH một lần; “Bảng minh họa mức đóng, quyền lợi hưởng BHXH tự nguyện”; hướng dẫn, hỗ trợ đăng ký, cài đặt, sử dụng ứng dụng VssID-BHXH; đặt hàng, mua sắm trên 2.000 sản phẩm truyền thông (áo polo, áo mưa, dù đi mưa, bình hoa...); treo hơn 12.000 băng rôn, phướn tại các tuyến đường, nơi tập trung đông dân cư…
[6] Xây dựng kế hoạch truyền thông chuyên biệt đối với từng nhóm đối tượng tiềm năng tham gia BHXH, bao gồm: Chủ hộ kinh doanh; Tiểu thương tại chợ; Người lao động khu vực phi chính thức; Lao động ngành du lịch, dịch vụ; Lao động trên nền tảng số; Nông dân, ngư dân; Người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH; Người đã hưởng BHXH một lần. Nội dung truyền thông phải tập trung vào quyền lợi, lợi ích thiết thực và các chế độ được hưởng phù hợp với từng nhóm đối tượng.
[7] Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác truyền thông BHXH; tăng cường truyền thông trên các nền tảng mạng xã hội, nền tảng số phổ biến như Zalo, Facebook, Youtube, TikTok; xây dựng các sản phẩm truyền thông số ngắn gọn, trực quan, dễ tiếp cận như infographic, video clip, motion graphic, podcast, hỏi - đáp trực tuyến.
[8] Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, cộng tác viên dân số, hội viên các tổ chức chính trị - xã hội, nhân viên thu BHXH, BHYT làm lực lượng tuyên truyền viên BHXH tại cộng đồng.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh