Quyết định 3696/QĐ-UBND năm 2026 về Kế hoạch phòng, chống bệnh dại trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2026-2030
| Số hiệu | 3696/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 28/08/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 28/08/2026 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Gia Lai |
| Người ký | Dương Mah Tiệp |
| Lĩnh vực | Lĩnh vực khác |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3696/QĐ-UBND |
Gia Lai, ngày 28 tháng 8 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG BỆNH DẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI, GIAI ĐOẠN 2026-2030
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Thú y ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Chăn nuôi ngày 19 tháng 11 năm 2018; Căn cứ Luật Phòng bệnh ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường ngày 11 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 165/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh;
Căn cứ Nghị định số 204/2026/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y;
Căn cứ Nghị định số 211/2026/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi;
Căn cứ Quyết định số 2151/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2022-2030”;
Căn cứ Quyết định số 1622/QĐ-BYT ngày 08 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn giám sát phòng, chống bệnh Dại trên người;
Căn cứ Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn;
Căn cứ Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Quy định về cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh động vật; Thông tư số 20/2026/TT-BNNMT ngày 03 tháng 4 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 12 năm 2022 quy định về cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh động vật;
Căn cứ Thông tư số 13/2026/TT-BYT ngày 16 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về hoạt động tiêm chủng;
Căn cứ Thông tư số 15/2026/TT-BYT ngày 17 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh;
Căn cứ Nghị quyết số 24/2025/NQ-HĐND ngày 9 tháng 12 năm 2025 của HĐND tỉnh Quy định về cơ chế hỗ trợ vaccine tiêm phòng; phòng, chống dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2026-2030;
Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 1294/TTr- SNNMT ngày tháng năm 2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Gia Lai (sau đây gọi tắt là Kế hoạch).
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Nông nghiệp và Môi trường, Y tế, Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ; Giám đốc Công an tỉnh; Chủ tịch UBND các xã, phường; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
KẾ HOẠCH
PHÒNG, CHỐNG BỆNH DẠI TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH GIA LAI, GIAI ĐOẠN 2026-2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3696/QĐ-UBND ngày 28/8/2026 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Gia Lai)
I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BỆNH DẠI GIAI ĐOẠN 2022-2025
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3696/QĐ-UBND |
Gia Lai, ngày 28 tháng 8 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG BỆNH DẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI, GIAI ĐOẠN 2026-2030
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Thú y ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Chăn nuôi ngày 19 tháng 11 năm 2018; Căn cứ Luật Phòng bệnh ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường ngày 11 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 165/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh;
Căn cứ Nghị định số 204/2026/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y;
Căn cứ Nghị định số 211/2026/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi;
Căn cứ Quyết định số 2151/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2022-2030”;
Căn cứ Quyết định số 1622/QĐ-BYT ngày 08 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn giám sát phòng, chống bệnh Dại trên người;
Căn cứ Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn;
Căn cứ Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Quy định về cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh động vật; Thông tư số 20/2026/TT-BNNMT ngày 03 tháng 4 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 12 năm 2022 quy định về cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh động vật;
Căn cứ Thông tư số 13/2026/TT-BYT ngày 16 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về hoạt động tiêm chủng;
Căn cứ Thông tư số 15/2026/TT-BYT ngày 17 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh;
Căn cứ Nghị quyết số 24/2025/NQ-HĐND ngày 9 tháng 12 năm 2025 của HĐND tỉnh Quy định về cơ chế hỗ trợ vaccine tiêm phòng; phòng, chống dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2026-2030;
Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 1294/TTr- SNNMT ngày tháng năm 2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Gia Lai (sau đây gọi tắt là Kế hoạch).
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Nông nghiệp và Môi trường, Y tế, Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ; Giám đốc Công an tỉnh; Chủ tịch UBND các xã, phường; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
KẾ HOẠCH
PHÒNG, CHỐNG BỆNH DẠI TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH GIA LAI, GIAI ĐOẠN 2026-2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3696/QĐ-UBND ngày 28/8/2026 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Gia Lai)
I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BỆNH DẠI GIAI ĐOẠN 2022-2025
Giai đoạn 2022-2025, UBND tỉnh Gia Lai và UBND tỉnh Bình Định (trước sắp xếp) đã ban hành các kế hoạch, chương trình phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn, giai đoạn 2022-2030.[1]
Trong giai đoạn 2022-2025, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 03 trường hợp chó mắc bệnh Dại tại khu vực Pleiku và Mang Yang (trước sắp xếp). Ngay sau khi phát hiện, cơ quan thú y, y tế đã phối hợp với chính quyền địa phương triển khai các biện pháp xử lý ổ dịch theo quy định như tiêm phòng bao vây, tiêu độc, khử trùng và hướng dẫn người có nguy cơ phơi nhiễm đến cơ sở y tế để điều trị dự phòng.
Tuy nhiên, công tác giám sát, phát hiện bệnh Dại trên động vật còn gặp nhiều khó khăn do phần lớn chó, mèo nghi mắc bệnh bị người dân tự xử lý, không truy vết hoặc không lấy được mẫu xét nghiệm; một số trường hợp người bị chó, mèo cắn, cào chưa kịp thời khai báo cho cơ quan thú y, y tế để phối hợp theo dõi, giám sát. Nhiều trường hợp chỉ được xác minh nguồn lây sau khi người bị phơi nhiễm phát bệnh hoặc tử vong, gây khó khăn cho việc đánh giá tình hình dịch bệnh trên đàn chó, mèo.
Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng bệnh Dại cho chó, mèo tăng từ 5,5% năm 2022 lên 41,3% năm 2025; ngân sách nhà nước và các nguồn xã hội hóa đã được huy động để tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm phòng vẫn thấp, chưa đạt mức cần thiết để tạo miễn dịch quần thể. Nguyên nhân chủ yếu là ý thức chấp hành của một bộ phận người dân còn hạn chế và công tác quản lý đàn chó, mèo tại một số địa phương chưa hiệu quả.
Về tình hình bệnh Dại trên người, giai đoạn 2022 - 2025, toàn tỉnh ghi nhận 41 trường hợp tử vong do bệnh Dại, trong đó phía Tây Gia Lai 36 trường hợp và phía Đông Gia Lai 05 trường hợp. Số trường hợp tử vong theo từng năm gồm: 07 trường hợp năm 2022, 14 trường hợp năm 2023, 11 trường hợp năm 2024 và 09 trường hợp năm 2025. Đáng lưu ý, 27/41 trường hợp tử vong, chiếm 65,8% là người dân tộc thiểu số và 17/41 trường hợp, chiếm 41,5%, là trẻ em dưới 15 tuổi; đây là các nhóm có nguy cơ cao, cần được ưu tiên trong giai đoạn 2026 - 2030.
Trong cùng giai đoạn, toàn tỉnh có 98.593 lượt người được tiêm vắc xin phòng Dại và 8.999 người được sử dụng huyết thanh kháng Dại sau phơi nhiễm. Số người tiêm vắc xin tăng qua từng năm, từ 12.398 người năm 2022 lên 24.204 người năm 2023; 29.285 người năm 2024 và 32.706 người năm 2025. Kết quả này cho thấy nguy cơ phơi nhiễm vẫn ở mức cao, đồng thời phản ánh nhu cầu tiếp cận dịch vụ điều trị dự phòng ngày càng tăng. Kết quả xác minh của ngành Y tế cho thấy các trường hợp tử vong đều có tiền sử bị chó hoặc mèo cắn, cào nhưng không tiêm hoặc tiêm không đầy đủ vắc xin phòng Dại. Phần lớn trường hợp tử vong thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức về phòng, chống bệnh Dại và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế; một số trường hợp còn chủ quan, điều trị không đúng phương pháp hoặc không hoàn thành lịch tiêm.
Thực trạng trên cho thấy công tác phòng, chống bệnh Dại ở người cần được tổ chức theo chuỗi liên tục từ phát hiện phơi nhiễm, xử lý vết thương, đánh giá nguy cơ, chỉ định vắc xin và huyết thanh kháng Dại, quản lý hoàn thành lịch tiêm đến điều tra ca bệnh, ca tử vong và phối hợp xử lý nguồn lây trên động vật. Trọng tâm là giảm rào cản về địa lý, chi phí, ngôn ngữ và nhận thức; bảo đảm người bị phơi nhiễm được tiếp cận điều trị dự phòng sớm, đúng, đủ và an toàn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế: (1) Địa bàn tỉnh rộng, dân số đông, có 135 xã, phường, nhiều dân tộc cùng sinh sống; nhận thức, tập quán trong quản lý, nuôi chó, mèo giữa các địa phương còn khác nhau. Tổng đàn chó lớn, khoảng 351.634 con tại 242.063 hộ nuôi, trong đó hình thức nuôi thả rông còn phổ biến, gây khó khăn cho công tác quản lý và tiêm phòng; (2) công tác đăng ký, quản lý đàn chó, mèo, nuôi nhốt và tiêm phòng tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; (3) một số địa phương chưa thực sự quyết liệt trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện; nguồn lực còn hạn chế, việc khai báo và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm có trường hợp chưa kịp thời; (4) mạng lưới điều trị dự phòng bệnh Dại trên người chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là tại vùng sâu, vùng xa; (5) lực lượng thú y cấp xã tại một số địa phương còn thiếu hoặc chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; (6) công tác tuyên truyền, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa đồng bộ; ý thức chấp hành quy định về quản lý, nuôi nhốt và tiêm phòng cho chó, mèo của một bộ phận người dân còn hạn chế.
Qua thực tiễn triển khai giai đoạn 2022-2025 cho thấy, để kiểm soát hiệu quả bệnh Dại cần có sự chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương và sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành nông nghiệp, y tế và các cơ quan liên quan; trong đó, trọng tâm là quản lý chặt đàn chó, mèo, nâng cao tỷ lệ tiêm phòng vắc xin Dại, tăng khả năng tiếp cận điều trị dự phòng và đẩy mạnh tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, cần củng cố mạng lưới y tế, thú y cơ sở, bảo đảm nguồn lực thực hiện; tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm và hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tình hình thực tiễn của tỉnh.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, chính quyền địa phương, tổ chức, cá nhân và người dân trong công tác phòng, chống bệnh Dại; kiểm soát hiệu quả bệnh Dại trên đàn chó, mèo nuôi và nguy cơ lây truyền sang người; bảo đảm người bị phơi nhiễm được phát hiện, tư vấn và điều trị dự phòng kịp thời, đầy đủ, an toàn; phấn đấu không có người tử vong vì bệnh Dại vào năm 2030, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và cộng đồng.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Đối với phòng, chống bệnh Dại ở động vật
- Quản lý được trên 90% số hộ nuôi và số chó, mèo nuôi; kiểm soát chó thả rông, chó chưa được tiêm phòng vắc xin Dại và các địa bàn có nguy cơ cao về bệnh Dại.
- Tiêm phòng vắc xin Dại cho đàn chó, mèo đạt tỷ lệ tối thiểu 80% tổng đàn trong giai đoạn 2026-2030.
- Trên 90% số xã, phường giám sát được chó, mèo mắc, nghi mắc bệnh Dại trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2026 - 2030.
- Phấn đấu đến năm 2030 xây dựng 08 vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại cấp xã tại các phường Quy Nhơn, Pleiku, Quy Nhơn Nam, Bình Định, Bồng Sơn, Diên Hồng, An Khê và xã Nhơn Châu.
b) Đối với phòng, chống bệnh Dại ở người
- 100% xã, phường thực hiện truyền thông nguy cơ và nâng cao nhận thức về bệnh Dại hằng năm tại cộng đồng và trường học; ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có ca bệnh, ca tử vong.
- 100% người bị chó, mèo hoặc động vật có vú cắn, cào, liếm trên vùng da tổn thương hoặc có nguy cơ phơi nhiễm khi đến cơ sở y tế được xử trí vết thương, tư vấn, điều trị dự phòng và lập danh sách theo dõi.
- Ít nhất 90% số người bị phơi nhiễm với bệnh Dại được điều trị dự phòng sau phơi nhiễm theo hướng dẫn chuyên môn; từng bước nâng tỷ lệ hoàn thành đầy đủ lịch tiêm và giảm tỷ lệ bỏ mũi.
- 100% người tiêm vắc xin phòng Dại do động vật cắn được quản lý và báo cáo trên hệ thống thông tin theo quy định.
- 100% trường hợp nghi mắc, mắc hoặc tử vong do bệnh Dại được thông tin, báo cáo, điều tra, xác minh và phối hợp xử lý theo quy định; 100% địa bàn có ca tử vong ở người hoặc động vật dương tính, nghi mắc bệnh Dại được rà soát người có nguy cơ phơi nhiễm.
- 100% điểm điều trị dự phòng bảo đảm nhân lực được tập huấn, điều kiện bảo quản vắc xin, dây chuyền lạnh, phương tiện cấp cứu, hệ thống ghi chép, báo cáo, quản lý lịch tiêm và phương án điều phối khi thiếu vắc xin hoặc huyết thanh kháng Dại.
- Phấn đấu đến năm 2030, tỉnh Gia Lai thuộc vùng nguy cơ thấp về bệnh Dại trên người và không có trường hợp tử vong vì bệnh Dại.
III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
1. Quản lý đàn chó, mèo
a) Chủ nuôi chó, mèo
Chủ nuôi chó, mèo có trách nhiệm đăng ký, khai báo nuôi chó, mèo với UBND cấp xã theo quy định; cam kết nuôi nhốt chó, mèo trong khuôn viên gia đình; chó, mèo khi đưa ra khỏi nhà phải được xích, rọ mõm và có người dắt đề phòng cắn người; nếu để chó, mèo thả rông cắn người thì phải chi trả những chi phí liên quan theo quy định; từng bước áp dụng việc đánh dấu để nhận diện (đeo vòng cổ) cho chó, mèo đã được tiêm vắc xin Dại. Chấp hành thực hiện tiêm vắc xin phòng Dại cho chó, mèo nuôi 01 lần/năm.
b) UBND xã, phường
- Tổ chức quản lý, chỉ đạo phòng, ban chuyên môn thống kê, tổng hợp, lập danh sách hộ nuôi chó, mèo, cập nhật số lượng chó, mèo nuôi tại địa phương. Định kỳ 02 lần/năm (trước ngày 30 tháng 6 và trước ngày 31 tháng 12), báo cáo cập nhật số liệu hộ nuôi, tổng đàn chó, mèo chi tiết đến cấp thôn, báo cáo Sở Nông nghiệp và Môi trường (qua Chi cục Chăn nuôi và Thú y) để theo dõi, giám sát theo quy định.
- Căn cứ tình hình thực tiễn tại địa phương để quyết định thành lập đội bắt chó thả rông, chó không đeo rọ mõm, nghi mắc Dại, cưỡng chế tiêm vắc xin Dại cho chó, mèo. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định pháp luật trong việc nuôi, quản lý chó mèo; kiểm tra, xử lý nghiêm đối với trường hợp không tuân thủ quy định trong việc nuôi, quản lý chó, mèo để xảy ra hậu quả nghiêm trọng theo quy định của pháp luật.
c) Sở Nông nghiệp và Môi trường
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác phòng, chống dịch bệnh động vật và quản lý đàn chó, mèo; tổ chức thực hiện hệ thống báo cáo trực tuyến về tình hình dịch bệnh, tổng đàn và kết quả tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
2. Tiêm phòng vắc xin Dại cho đàn chó, mèo
a) Yêu cầu chung về tiêm vắc xin Dại
- Đối tượng và phạm vi tiêm phòng: Toàn bộ đàn chó, mèo nuôi thuộc diện tiêm trên địa bàn cấp xã. Chó, mèo sau khi tiêm phòng vắc xin Dại phải được lập danh sách quản lý, theo dõi và áp dụng biện pháp nhận diện phù hợp (đeo vòng cổ hoặc hình thức nhận diện khác) để phục vụ công tác quản lý, giám sát.
- Thời điểm và tần suất: Hằng năm, ưu tiên tiêm vào trước thời điểm nắng nóng. Tổ chức tiêm vắc xin Dại cho đàn chó, mèo nuôi 1 lần/năm, đạt tỷ lệ tối thiểu 80% tổng đàn; thường xuyên rà soát, tiêm bổ sung cho đàn chó, mèo đã hết thời gian miễn dịch, mới nuôi phát sinh mà chưa được tiêm phòng theo quy định.
- Sử dụng vắc xin: Theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc xin hoặc theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
b) Tổ chức tiêm vắc xin Dại
- Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan và UBND các xã, phường hằng năm xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí mua vắc xin Dại cho chó, mèo thuộc đối tượng, địa bàn theo quy định tại Nghị quyết số 24/2025/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của HĐND tỉnh; tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất, bảo đảm tỷ lệ tiêm phòng theo Kế hoạch. Giao Chi cục Chăn nuôi và Thú y tham mưu, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện theo quy định.
- UBND cấp xã hằng năm xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí tổ chức tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo và tiêm phòng bao vây khi xảy ra ổ dịch trên địa bàn; bố trí lực lượng rà soát, thống kê đàn chó, mèo; tuyên truyền, vận động chủ nuôi thực hiện tiêm phòng và tự bảo đảm các chi phí thuộc trách nhiệm theo quy định. Phối hợp với Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công và các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tổ chức tiêm phòng, bảo đảm tỷ lệ theo quy định; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả tiêm phòng; thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng theo quy định.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp chủ vật nuôi không chấp hành quy định về tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo thuộc diện bắt buộc phải tiêm; áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người nuôi, phát huy hiệu quả công tác phòng, chống bệnh Dại.
- Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công cấp xã bố trí viên chức phụ trách từng xã, phường có trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho lực lượng tham gia bắt chó, mèo để tiêm vắc xin Dại; phối hợp, hướng dẫn, đôn đốc công tác tổ chức tiêm phòng, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện tiêm phòng tại địa phương.
- Người có chứng chỉ hành nghề thú y và cơ sở có đủ điều kiện hành nghề khám, chữa bệnh cho chó, mèo thực hiện tiêm phòng vắc xin Dại, cấp Giấy chứng nhận tiêm phòng và báo cáo kết quả tiêm phòng theo quy định, hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y và chính quyền địa phương.
3. Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm cho người
a) Yêu cầu chung đối với điều trị dự phòng sau phơi nhiễm
Tất cả người bị chó, mèo hoặc động vật có vú cắn, cào, liếm trên vùng da tổn thương, niêm mạc hoặc có nguy cơ phơi nhiễm phải được hướng dẫn rửa ngay vết thương bằng nước sạch và xà phòng liên tục ít nhất 15 phút, sát khuẩn phù hợp và đến cơ sở y tế sớm để được đánh giá nguy cơ. Việc chỉ định vắc xin, huyết thanh kháng Dại, lịch tiêm và xử trí chuyên môn thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Không trì hoãn điều trị dự phòng đối với trường hợp nguy cơ cao để chờ theo dõi hoặc kết quả xét nghiệm động vật. Việc theo dõi động vật được thực hiện phối hợp với cơ quan thú y và không thay thế đánh giá, chỉ định y tế. Không sử dụng thuốc nam, thuốc bắc, thuốc gia truyền hoặc biện pháp chưa được ngành y tế công nhận để thay thế vắc xin và huyết thanh kháng Dại.
Cơ sở điều trị dự phòng thực hiện tư vấn đầy đủ, lập và quản lý lịch tiêm, nhắc lịch, truy tìm người bỏ mũi, ghi nhận hoàn thành phác đồ, theo dõi và xử trí phản ứng sau tiêm chủng; chuyển gửi kịp thời trường hợp cần huyết thanh kháng Dại hoặc vượt khả năng của cơ sở.
b) Tổ chức điều trị dự phòng
Sở Y tế chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh hằng năm xây dựng kế hoạch nhu cầu, cung ứng, dự trữ và điều phối vắc xin, huyết thanh kháng Dại, vật tư và trang thiết bị; theo dõi tồn kho, hạn dùng, nhu cầu thực tế, cảnh báo nguy cơ thiếu hụt và tổ chức điều chuyển kịp thời giữa các cơ sở.
Sở Y tế chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh rà soát, kiện toàn và phát triển mạng lưới điểm điều trị dự phòng bệnh Dại phù hợp với tình hình dịch tễ, phân bố dân cư và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế; ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn nguy cơ cao. Các điểm điều trị dự phòng phải bảo đảm điều kiện hoạt động tiêm chủng, dây chuyền lạnh, phương tiện cấp cứu, nhân lực được tập huấn và các điều kiện chuyên môn theo quy định; công khai địa chỉ, thời gian hoạt động và thông tin liên hệ để người dân thuận tiện tiếp cận.
Việc hỗ trợ chi phí điều trị dự phòng đối với nhân viên thú y, y tế, người tham gia công tác phòng, chống bệnh Dại, người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác thuộc diện được hỗ trợ theo quy định, chính sách của cấp có thẩm quyền được thực hiện theo quy định của pháp luật và khả năng cân đối ngân sách của địa phương.
c) Điều trị dự phòng trước phơi nhiễm
Lập danh sách người có nguy cơ nghề nghiệp cao, gồm nhân viên thú y, người trực tiếp tham gia công tác phòng, chống dịch bệnh, người lấy, bảo quản, vận chuyển hoặc xét nghiệm bệnh phẩm, nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc trường hợp nghi mắc bệnh Dại và thành viên đội điều tra, xử lý ổ dịch; tổ chức đánh giá nguy cơ, tiêm dự phòng trước phơi nhiễm và tiêm nhắc theo hướng dẫn chuyên môn.
d) Quản lý thông tin và chất lượng điều trị dự phòng
Các cơ sở điều trị dự phòng cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin người phơi nhiễm, chỉ định vắc xin, huyết thanh, lịch tiêm, hoàn thành phác đồ, phản ứng sau tiêm và tình trạng nguồn cung lên hệ thống theo quy định. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật định kỳ phân tích tình hình dịch tễ, các yếu tố nguy cơ về bệnh dại để đề xuất các giải pháp phù hợp tùy thuộc tình hình thực tế.
4. Thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong phòng, chống bệnh Dại
a) Nội dung thông tin, tuyên truyền
- Tuyên truyền về đặc điểm và tính chất nguy hiểm của bệnh Dại, cách nhận biết người và động vật mắc bệnh Dại, nghi mắc bệnh Dại và biện pháp xử lý, phòng, chống bệnh Dại ở người và động vật; các quy định về quản lý nuôi chó, mèo và tiêm vắc xin Dại cho chó, mèo; các biện pháp phòng, chống bệnh Dại, xây dựng vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và xử lý các hành vi vi phạm quy định về phòng, chống bệnh Dại.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng về tính chất nguy hiểm của bệnh Dại và các biện pháp phòng, chống bệnh Dại ở người; hướng dẫn người bị chó, mèo cắn, cào hoặc có nguy cơ phơi nhiễm với vi rút Dại thực hiện xử lý vết thương đúng cách và đến cơ sở y tế để được tư vấn, điều trị dự phòng sau phơi nhiễm kịp thời theo quy định. Vận động cộng đồng tích cực tham gia phòng, chống bệnh Dại, phấn đấu đạt mục tiêu không còn người tử vong do bệnh Dại vào năm 2030.
b) Phương thức thông tin, tuyên truyền
- Truyền thông qua Báo và Phát thanh Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh cấp xã, bảng tin công cộng tại nơi đông người, các điểm sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt cộng đồng của người dân; thực hiện tuyên truyền các nội dung phòng, chống bệnh dại như đăng ký nuôi chó, mèo, tiêm phòng… thông qua các hội nhóm Zalo, mạng xã hội …
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền lưu động ở cơ sở; tuyên truyền, vận động thông qua các báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ y tế, thú y cơ sở; xây dựng, in ấn, phát miễn phí các tài liệu tuyên truyền (tờ rơi, pa nô, sách mỏng, sổ tay, poster...); truyền thông học đường về phòng, chống bệnh Dại; phát động hưởng ứng và tổ chức mít tinh Ngày “Thế giới phòng, chống bệnh Dại” hằng năm; tổ chức các hội thảo, hội nghị, tập huấn chuyên đề, các buổi tọa đàm, tổ chức sự kiện,...
5. Điều tra, ứng phó, xử lý ổ dịch Dại
Điều tra, xử lý dịch bệnh Dại trên người , trên động vật, bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về y tế và thú y, cụ thể như sau:
a) Chủ nuôi chó, mèo
Chủ nuôi chó, mèo có trách nhiệm báo cáo, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho chính quyền địa phương, cán bộ y tế, thú y gần nhất khi phát hiện động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết do Dại; cách ly theo dõi động vật có dấu hiệu nghi mắc bệnh Dại, tiêu hủy động vật mắc bệnh Dại theo hướng dẫn của cơ quan thú y và chính quyền địa phương; nghiêm cấm mua bán, giết mổ, sử dụng sản phẩm động vật nghi mắc bệnh Dại; không vứt xác động vật ra môi trường; thực hiện vệ sinh, khử trùng, tiêu độc, tiêu hủy bắt buộc động vật nghi mắc bệnh, mắc bệnh, chết do bệnh Dại.
b) Cơ quan thú y chủ trì, phối hợp với cơ quan y tế, chính quyền cơ sở
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y có trách nhiệm phối hợp, hướng dẫn UBND cấp xã, Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công triển khai các biện pháp ứng phó, xử lý ổ dịch Dại; thông tin với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh để giám sát, phòng, chống bệnh Dại trên người; tham mưu Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị UBND tỉnh/chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo triển khai chống dịch, quyết định công bố dịch, công bố hết dịch theo thẩm quyền.
- Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công phối hợp, hướng dẫn phòng chuyên môn liên quan của UBND cấp xã thuộc địa bàn phụ trách, thực hiện tiêu hủy động vật mắc bệnh; tiến hành điều tra ổ dịch và phối hợp lấy mẫu để xét nghiệm bệnh Dại; tổ chức tiêm vắc xin Dại để phòng, chống dịch bệnh; hướng dẫn thực hiện vệ sinh, khử trùng, tiêu độc, tiêu hủy bắt buộc động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết do bệnh Dại; theo dõi nuôi cách ly động vật nghi mắc Dại cắn người, tổ chức triển khai phòng, chống bệnh Dại theo quy định; phối hợp tham mưu Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định công bố dịch, công bố hết dịch theo quy định; thông tin kịp thời cho cơ quan y tế để giám sát, phòng, chống bệnh Dại.
c) Cơ quan y tế chủ trì, phối hợp với cơ quan thú y, chính quyền cơ sở
- Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh là đầu mối chuyên môn, tổ chức điều tra ngay khi tiếp nhận thông tin về trường hợp nghi mắc, mắc hoặc tử vong do bệnh Dại; phối hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, phối hợp cơ quan thú y và chính quyền địa phương xác minh nguồn phơi nhiễm, rà soát toàn bộ người có nguy cơ và hướng dẫn điều trị dự phòng.
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện tiếp nhận, chẩn đoán, chăm sóc và báo cáo trường hợp nghi mắc, mắc bệnh Dại; áp dụng các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm, bảo đảm an toàn cho nhân viên y tế, người chăm sóc và cộng đồng; hướng dẫn xử lý thi hài, khử khuẩn và mai táng theo quy định. Người tiếp xúc trực tiếp với nước bọt hoặc dịch tiết của người bệnh qua niêm mạc, vùng da tổn thương phải được đánh giá nguy cơ và xử trí theo hướng dẫn chuyên môn.
- Khi phát hiện nhiều người bị cùng một con vật cắn, cào hoặc con vật có biểu hiện nghi mắc bệnh Dại, cơ quan y tế thông báo ngay cho cơ quan thú y và UBND cấp xã để điều tra, giám sát và xử lý nguồn lây. Khi cơ quan thú y phát hiện động vật mắc, nghi mắc hoặc có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút Dại, cơ quan y tế tổ chức điều tra, xác minh thông tin truy tìm người phơi nhiễm, tư vấn và điều trị dự phòng kịp thời.
- Cơ quan y tế và thú y thực hiện chia sẻ thông tin, đối chiếu số liệu người bị động vật cắn, ca bệnh, ca tử vong, động vật nghi mắc, mắc bệnh và kết quả xét nghiệm; phối hợp truyền thông nguy cơ và triển khai các biện pháp đáp ứng phù hợp với tình hình dịch tễ.
d) UBND cấp xã
- Chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn liên quan tổ chức xử lý ổ dịch, tiêu hủy động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh Dại; thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh Dại theo quy định; lập chốt kiểm soát tạm thời trên các trục đường giao thông chính ra vào vùng dịch, vùng khống chế để ngăn chặn không đưa chó, mèo ra ngoài vùng dịch; phối hợp, điều tra xác định hộ nuôi có chó, mèo mắc, nghi mắc bệnh Dại; thành lập tổ giám sát, bắt và xử lý chó, mèo thả rông, chó, mèo chưa được tiêm vắc xin Dại trong vùng đang có ổ dịch Dại; đặt biển báo khu vực có dịch, hướng dẫn người, phương tiện tránh đi qua vùng dịch; tiêu độc khử trùng các phương tiện vận chuyển từ vùng dịch đi ra ngoài; xử lý động vật mắc bệnh trong vùng dịch theo quy định; xử lý các trường hợp vi phạm hành chính theo quy định.
- Căn cứ thực tế tình hình dịch bệnh Dại, các địa phương tổ chức tiêm phòng khẩn cấp vắc xin Dại chó, mèo bảo đảm đạt 80% tổng đàn trở lên.
6. Giám sát bệnh Dại trên động vật
a) Giám sát lâm sàng (giám sát bị động)
- Giám sát lâm sàng là nhằm phát hiện sớm ca bệnh Dại ở động vật thông qua cộng đồng, chủ vật nuôi, trưởng thôn, làng, tổ trưởng tổ dân phố và nhân viên thú y, y tế cơ sở. Khi phát hiện con vật vô cớ cắn, cào người hoặc tấn công động vật khác thì phải cách ly và báo cáo ngay cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan thú y nơi gần nhất.
- UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức xử lý ổ dịch, tiêu hủy động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh Dại; tổ chức các biện pháp phòng, chống bệnh Dại theo quy định.
- Chủ nuôi động vật có trách nhiệm thường xuyên theo dõi chó, mèo, nếu phát hiện động vật có biểu hiện nghi mắc bệnh Dại phải báo ngay cho chính quyền cơ sở, nhân viên thú y hoặc cơ quan thú y, y tế nơi gần nhất; thực hiện các biện pháp ứng phó, xử lý ổ dịch Dại.
- Thú y cấp xã, Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công có trách nhiệm tổ chức kiểm tra ngay khi nhận được thông tin; tổ chức điều tra, xác minh, lấy mẫu xét nghiệm, xử lý các trường hợp động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh Dại.
b) Giám sát lưu hành vi rút và giám sát sau tiêm phòng (giám sát chủ động)
- Hằng năm, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tham mưu, xây dựng kế hoạch, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, bố trí kinh phí tổ chức triển khai giám sát lưu hành vi rút, giám sát sau tiêm phòng vắc xin Dại ở động vật; kết quả giám sát có thể sử dụng để chứng minh vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại trên động vật.
- Hằng năm, triển khai giám sát chủ động bệnh Dại tại các địa bàn có tổng đàn chó, mèo lớn, khu vực có nguy cơ cao, các điểm buôn bán, giết mổ chó, mèo và các địa phương xây dựng vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại nhằm phát hiện sớm, xử lý kịp thời ổ dịch và đáp ứng yêu cầu đăng ký, thẩm định, công nhận vùng an toàn dịch bệnh theo quy định.
- Điều tra, xử lý khẩn cấp ổ dịch Dại động vật: Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 09/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025.
c) Tập huấn nâng cao năng lực giám sát
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y xây dựng tài liệu tập huấn về phòng, chống bệnh Dại cho hệ thống thú y cấp xã.
- Tập huấn các nội dung về quản lý đàn chó, mèo; kỹ năng bắt, xử lý chó, mèo thả rông; thực hiện đúng quy trình tiêm phòng và theo dõi sau tiêm, đảm bảo an toàn trong và sau khi tiêm vắc xin Dại; kỹ thuật thu thập, bảo quản và vận chuyển mẫu động vật nghi mắc bệnh Dại, bảo đảm an toàn cho người lấy mẫu và chất lượng của mẫu; kỹ năng điều tra, giám sát, chẩn đoán xác định bệnh Dại trên động vật, phân tích tình hình dịch tễ, xác định vùng có nguy cơ lây truyền bệnh Dại, để tiêm vắc xin Dại cho chó, mèo; phối hợp ngành y tế trong việc giám sát, lấy mẫu động vật để xét nghiệm bệnh Dại; kỹ năng truyền thông nguy cơ, truyền thông cộng đồng trong công tác phòng, chống bệnh Dại; kỹ năng, phương pháp xây dựng, triển khai kế hoạch xây dựng vùng an toàn dịch bệnh Dại.
7. Giám sát bệnh Dại trên người
a) Giám sát người bị phơi nhiễm và kết quả điều trị dự phòng
- Các cơ sở y tế ghi nhận, quản lý và báo cáo người bị động vật cắn, cào hoặc có nguy cơ phơi nhiễm theo địa bàn, thời gian, nhóm tuổi, dân tộc, loại động vật, mức độ vết thương, thời gian đến cơ sở y tế, chỉ định vắc xin, huyết thanh và kết quả hoàn thành lịch tiêm.
- Người bị phơi nhiễm được hướng dẫn xử trí vết thương, đến cơ sở y tế sớm và thực hiện điều trị dự phòng theo chỉ định. Các điểm tiêm bảo đảm khả năng tiếp cận vắc xin, quản lý lịch tiêm, nhắc lịch, theo dõi người bỏ mũi để tư vấn và báo cáo trên hệ thống theo quy định.
- Khi ghi nhận một con vật cắn nhiều người, cụm người phơi nhiễm hoặc động vật có dấu hiệu nghi mắc bệnh Dại, cơ sở y tế thông báo ngay cho cơ quan thú y và chính quyền địa phương để điều tra, theo dõi và xử lý.
b) Giám sát trường hợp nghi mắc, mắc và tử vong do bệnh Dại
- Cơ quan y tế dự phòng phối hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổ chức báo cáo, điều tra dịch tễ, xác minh trường hợp nghi mắc, mắc hoặc tử vong do bệnh Dại theo thời hạn quy định; lấy, bảo quản và vận chuyển mẫu xét nghiệm khi có chỉ định chuyên môn và đủ điều kiện an toàn.
- Đối với mỗi trường hợp tử vong, thực hiện rà soát tiền sử phơi nhiễm, thời gian đến cơ sở y tế, tình trạng tiêm vắc xin, sử dụng huyết thanh, lý do không tiêm, tiêm muộn hoặc bỏ mũi; xác định rào cản tiếp cận dịch vụ và đề xuất biện pháp khắc phục. Đồng thời phối hợp cơ quan thú y xác minh động vật gây phơi nhiễm, truy tìm những người có nguy cơ khác và xử lý ổ dịch theo chức năng của từng ngành.
- Tại khu vực có trường hợp nghi mắc, mắc hoặc tử vong, tổ chức truyền thông nguy cơ, hướng dẫn người dân khai báo phơi nhiễm; thực hiện vệ sinh, khử khuẩn, quản lý người tiếp xúc và xử lý thi hài theo quy định chuyên môn.
c) Nâng cao năng lực giám sát bệnh Dại trên người
- Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh tổ chức tập huấn, cập nhật kiến thức theo tài liệu chuyên môn của Bộ Y tế cho cán bộ y tế các tuyến về tư vấn, đánh giá nguy cơ, chỉ định vắc xin và huyết thanh, bảo quản và vận chuyển vắc xin, theo dõi an toàn sau tiêm, điều tra ca bệnh, lấy mẫu xét nghiệm, xử lý ổ dịch và truyền thông nguy cơ.
- Tăng cường giám sát hỗ trợ tại các điểm tiêm; kiểm tra điều kiện dây chuyền lạnh, cấp cứu, ghi chép, báo cáo và quản lý lịch tiêm; phân tích số liệu, xây dựng bản đồ nguy cơ bệnh Dại trên người, xác định địa bàn và nhóm đối tượng cần ưu tiên.
d) Chia sẻ thông tin và báo cáo liên ngành
- Sở Y tế và Sở Nông nghiệp và Môi trường thống nhất đầu mối, nội dung và phương thức chia sẻ thông tin. Định kỳ đối chiếu dữ liệu người bị động vật cắn, số người điều trị dự phòng, ca nghi mắc, mắc, tử vong, ổ dịch động vật và kết quả xét nghiệm; tăng tần suất trao đổi khi xuất hiện ổ dịch hoặc ca tử vong.
- Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh tổng hợp, phân tích và báo cáo kết quả giám sát; kịp thời cảnh báo nguy cơ, nguy cơ thiếu vắc xin, huyết thanh và đề xuất biện pháp đáp ứng.
8. Xây dựng vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại
- Tuyên truyền, vận động và tổ chức xây dựng vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại trên địa bàn tỉnh theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- UBND các phường: Quy Nhơn, Pleiku, Quy Nhơn Nam, Bình Định, Bồng Sơn, Diên Hồng, An Khê và UBND xã Nhơn Châu chủ động xây dựng kế hoạch, lộ trình và bố trí nguồn lực để triển khai các điều kiện, tiêu chí xây dựng vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại; tổ chức quản lý đàn chó, mèo, tiêm phòng, giám sát dịch bệnh, quản lý hồ sơ và thực hiện các nội dung có liên quan theo quy định; phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan chuyên môn hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận vùng an toàn dịch bệnh, phấn đấu hoàn thành trước năm 2030.
- Khuyến khích UBND các xã, phường còn lại căn cứ tình hình dịch tễ, mật độ dân cư, hoạt động du lịch và nguồn lực thực tế chủ động đăng ký, tổ chức xây dựng vùng an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại theo quy định.
9. Thành lập Đội bắt chó thả rông
- UBND các xã, phường căn cứ tình hình thực tế của địa phương thành lập hoặc kiện toàn Đội bắt chó thả rông để tổ chức kiểm tra, bắt giữ chó thả rông, chó không được quản lý theo quy định, đặc biệt tại khu vực công cộng, trường học, chợ, khu dân cư và các địa điểm có nguy cơ cao phát sinh, lây truyền bệnh Dại.
- Đội bắt chó thả rông có trách nhiệm phối hợp với lực lượng thú y, công an, các tổ chức đoàn thể và thôn, tổ dân phố trong việc tuyên truyền, kiểm tra, bắt giữ, xử lý chó thả rông; lập biên bản, thông báo cho chủ vật nuôi đến nhận lại và xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
- UBND các xã, phường bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương và huy động các nguồn kinh phí hợp pháp khác để bảo đảm hoạt động của Đội bắt chó thả rông; trang bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ chuyên dụng, bảo hộ lao động và các điều kiện cần thiết phục vụ công tác bắt giữ, quản lý, xử lý chó thả rông an toàn, đúng quy định.
- Việc tổ chức bắt giữ, quản lý và xử lý chó thả rông phải bảo đảm an toàn cho người, động vật, vệ sinh môi trường, an toàn dịch bệnh và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về chăn nuôi, thú y và các quy định có liên quan.
IV. NGUỒN KINH PHÍ THỰC HIỆN
1. Ngân sách nhà nước phân cấp theo nhiệm vụ chi:
a) Ngân sách tỉnh
- Bảo đảm kinh phí cho các hoạt động thuộc nhiệm vụ chi của cơ quan thú y cấp tỉnh bao gồm: Kinh phí mua vắc xin tiêm phòng cho đàn chó, mèo theo Nghị quyết số 24/2025/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của HĐND tỉnh về cơ chế hỗ trợ vắc xin tiêm phòng, phòng, chống dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030; giám sát lưu hành vi rút, giám sát sau tiêm phòng; tập huấn nâng cao năng lực cho người làm công tác thú y cấp xã; kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống bệnh Dại tại cấp xã; tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết; các nội dung khác để thực hiện công tác phòng, chống bệnh Dại theo quy định.
- Bảo đảm kinh phí cho các hoạt động thuộc nhiệm vụ chi của cơ quan y tế cấp tỉnh, gồm: truyền thông nguy cơ; đào tạo, tập huấn; giám sát người phơi nhiễm, điều tra trường hợp nghi mắc, mắc và tử vong; lấy, bảo quản, vận chuyển và xét nghiệm mẫu khi cần thiết; mua sắm vật tư, trang thiết bị, phương tiện cấp cứu, duy trì dây chuyền lạnh, hệ thống thông tin và quản lý dữ liệu; xây dựng bản đồ nguy cơ; kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết; mua, dự trữ và điều phối vắc xin, huyết thanh kháng Dại phục vụ nhiệm vụ phòng, chống dịch và hỗ trợ đối tượng theo chính sách được cấp có thẩm quyền ban hành; tiêm dự phòng trước phơi nhiễm cho lực lượng có nguy cơ nghề nghiệp cao theo quy định.
- Đảm bảo kinh phí để triển khai Chương trình thuộc nhiệm vụ chi của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục và Đào tạo, bao gồm: kinh phí tổ chức tuyên truyền, mít tinh, truyền thông, các cuộc thi tìm hiểu về bệnh Dại, in ấn, phát hành các tài liệu tuyên truyền về bệnh Dại.
- Xem xét, cấp hỗ trợ một phần kinh phí trong trường hợp ngân sách cấp xã gặp khó khăn, không thể cân đối nguồn ngân sách để thực hiện các nội dung của Kế hoạch.
- Hằng năm, các sở, ban, ngành có liên quan căn cứ nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch này, lập dự toán và tổng hợp chung vào dự toán của đơn vị gửi Sở Tài chính tổng hợp trình cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí kinh phí thực hiện; chính sách hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh Dại trên địa bàn tỉnh theo các quy định của pháp luật.
b) Ngân sách xã
- Ngân sách cấp xã bảo đảm kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống bệnh Dại thuộc trách nhiệm và nhiệm vụ chi của cấp xã theo phân cấp ngân sách và quy định của pháp luật; trong đó ưu tiên công tác quản lý đàn chó, mèo; chi trả công tiêm phòng và các chi phí phục vụ tiêm phòng thuộc trách nhiệm của cấp xã; hoạt động của Đội bắt chó thả rông; thông tin, tuyên truyền; xử lý ổ dịch và các nhiệm vụ cần thiết khác theo quy định.
- Bảo đảm kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống bệnh Dại thuộc trách nhiệm và nhiệm vụ chi của cấp xã theo phân cấp ngân sách và quy định của pháp luật, bao gồm những nội dung chính: Tổ chức quản lý đàn chó, mèo; tổ chức bắt, xử lý chó, mèo thả rông, chó, mèo không đeo rọ mõm, không tiêm vắc xin Dại; kinh phí chi trả công tiêm phòng và các khoản kinh phí phục vụ tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo trên địa bàn cấp xã; giám sát dịch bệnh Dại ở người và động vật; tổ chức phòng, chống bệnh Dại ở người và động vật khi có ổ dịch bệnh Dại xảy ra trên địa bàn; hỗ trợ chi trả công tiêu hủy chó, mèo mắc bệnh, công cho cán bộ y tế, thú y và các lực lượng tham gia công tác phòng, chống dịch; chi trả kinh phí lấy mẫu xét nghiệm khi nghi ngờ có bệnh Dại; đào tạo, tập huấn cho cán bộ y tế, thú y cấp xã; mua vật tư, hóa chất, dụng cụ, trang thiết bị triển khai Kế hoạch; thông tin, tuyên truyền; tổ chức tập huấn, xây dựng vùng an toàn dịch bệnh Dại; kinh phí chi trả cho đội bắt chó thả rông; kinh phí xây dựng các điểm tiêm phòng…
- Bảo đảm kinh phí hỗ trợ tiêu hủy chó, mèo mắc bệnh, chết do bệnh Dại và các khoản chi hỗ trợ khác trong công tác phòng, chống dịch được thực hiện theo quy định của pháp luật và chính sách của cấp có thẩm quyền.
- Trường hợp vượt khả năng cân đối ngân sách cấp xã, UBND cấp xã báo cáo Sở Nông nghiệp và Môi trường để rà soát, tổng hợp, phối hợp với Sở Tài chính tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.
- Hằng năm, UBND các xã, phường xây dựng và quyết định bố trí kinh phí cho các hoạt động của Kế hoạch tại địa phương; chính sách hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh Dại ở địa phương theo các quy định của pháp luật.
2. Kinh phí do chủ nuôi tự đảm bảo
Chủ nuôi chó, mèo có trách nhiệm tự bảo đảm kinh phí tiêm phòng vắc xin Dại (trừ các đối tượng quy định tại Nghị quyết 24/2025/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của HĐND tỉnh), chi phí đánh dấu nhận dạng đã tiêm phòng (vòng đeo cổ hoặc hình thức nhận diện khác) và các chi phí liên quan đến tiêm phòng cho đàn chó, mèo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương.
3. Nguồn tài trợ, đóng góp của các cá nhân và tổ chức; nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
Ngoài các nguồn kinh phí của địa phương, tăng cường kêu gọi các tổ chức, nhà tài trợ, xã hội hóa và các nguồn vốn hợp pháp khác để hỗ trợ. Phát huy hiệu quả trong hoạt động phòng, chống bệnh Dại tại địa phương.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành; UBND các xã, phường và các đoàn thể tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch này. Phối hợp Sở Y tế xây dựng quy chế phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường và Sở Y tế trong công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lây truyền từ động vật sang người.
- Chỉ đạo các cơ quan chức năng tổ chức triển khai có hiệu quả công tác quản lý chó, mèo nuôi, tiêm vắc xin Dại, giám sát bệnh Dại trên động vật và tổ chức phòng, chống bệnh Dại trên động vật. Hằng năm, xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí và gửi Sở Tài chính thẩm định, trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt để chủ động tổ chức thực hiện.
- Hằng năm, chủ động tổ chức giám sát lưu hành vi rút Dại; tổ chức điều tra, xác định nguyên nhân dịch bệnh; nghiên cứu đặc điểm dịch tễ về bệnh Dại động vật; tổ chức giám sát sau tiêm phòng để xác định tỷ lệ chó, mèo có kháng thể bảo hộ đối với bệnh Dại; xây dựng bản đồ dịch tễ. Tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công tác quản lý tổng đàn, tiêm phòng vắc xin, công tác giám sát trên chó, mèo tại các địa phương. Thành lập các Đoàn tổ chức kiểm tra; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm.
- Định kỳ hằng năm, tổng hợp, đánh giá và báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch theo quy định; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức tổng kết việc thực hiện Kế hoạch giai đoạn 2026-2030.
2. Sở Y tế
- Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường và các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống bệnh Dại ở người; hằng năm xây dựng kế hoạch chuyên môn, dự toán kinh phí và hướng dẫn các đơn vị triển khai phù hợp tình hình dịch tễ.
- Chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh và các cơ sở y tế kiện toàn mạng lưới điều trị dự phòng; bảo đảm điều kiện hoạt động tiêm chủng, năng lực cấp cứu, dây chuyền lạnh, nhân lực, vật tư, vắc xin, huyết thanh kháng Dại; xây dựng cơ chế dự trữ, điều phối.
- Chỉ đạo thực hiện xử trí, tư vấn và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm; quản lý lịch tiêm, theo dõi hoàn thành phác đồ, truy tìm người bỏ mũi; tổ chức tiêm dự phòng trước phơi nhiễm cho nhóm nguy cơ nghề nghiệp cao theo hướng dẫn chuyên môn và nguồn lực được phê duyệt.
- Tổ chức giám sát người bị phơi nhiễm, trường hợp nghi mắc, mắc và tử vong do bệnh Dại; điều tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm khi có chỉ định; phân tích nguyên nhân tử vong, xây dựng bản đồ nguy cơ và triển khai biện pháp đáp ứng tại địa bàn trọng điểm.
- Phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, thực hiện quy chế phối hợp phòng, chống bệnh lây truyền từ động vật sang người; thiết lập đầu mối chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra nguồn lây, truy tìm người phơi nhiễm, xử lý ổ dịch và đối chiếu số liệu định kỳ.
- Chỉ đạo xây dựng và triển khai truyền thông nguy cơ phù hợp từng nhóm đối tượng; ưu tiên trẻ em, người dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và địa bàn có ca bệnh, ca tử vong; công khai thông tin điểm điều trị dự phòng để người dân dễ tiếp cận.
- Tổ chức tập huấn, cập nhật kiến thức theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; kiểm tra, giám sát chất lượng điểm tiêm, an toàn tiêm chủng, ghi chép, báo cáo và quản lý dữ liệu; xử lý hoặc kiến nghị xử lý các tồn tại theo thẩm quyền.
- Định kỳ, tổng hợp, đánh giá và báo cáo kết quả thực hiện các chỉ tiêu phòng, chống bệnh Dại trên người; phối hợp rà soát, đề xuất chính sách hỗ trợ điều trị dự phòng và các giải pháp thuộc lĩnh vực y tế theo quy định.
3. Sở Tài chính
Phối hợp với các sở, ban, ngành và địa phương tổng hợp, tham mưu cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Kế hoạch theo khả năng cân đối ngân sách và phân cấp ngân sách hiện hành.
4. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí hoạt động trên địa bàn tỉnh và hệ thống thông tin cơ sở đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về tính chất nguy hiểm của bệnh Dại, trách nhiệm quản lý chó, mèo, tiêm phòng vắc xin và xử trí sau phơi nhiễm; nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành của người dân trong phòng, chống bệnh Dại.
5. Sở Giáo dục và Đào tạo
Phối hợp với Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND các xã, phường tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch truyền thông học đường về phòng, chống bệnh Dại.
6. Sở Khoa học và Công nghệ
Phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Y tế tổ chức nghiên cứu, triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ứng dụng trong công tác phòng, chống bệnh Dại tại địa phương.
7. Công an tỉnh
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Y tế và UBND các xã, phường tăng cường kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn các hành vi vận chuyển, buôn bán, giết mổ, kinh doanh chó, mèo và sản phẩm từ chó, mèo trái quy định; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định.
8. Ủy ban nhân dân các xã, phường
- Xây dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch phòng, chống bệnh Dại tại địa phương phù hợp với tình hình thực tế và các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Kế hoạch này; phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị, thôn, làng, tổ dân phố và các lực lượng liên quan, bảo đảm triển khai đến hộ nuôi chó, mèo. Chủ động cân đối, ưu tiên bố trí nguồn lực, kinh phí trong phạm vi dự toán được giao và theo phân cấp ngân sách, bảo đảm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn.
- Tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nhiệm vụ quản lý chó, mèo nuôi, tiêm phòng vắc xin Dại cho đàn chó, mèo; tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn đến các tổ chức, người dân các quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh Dại ở người và động vật, hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh Dại, chủ động áp dụng các biện pháp phòng, chống bệnh.
- Tổ chức giám sát, thành lập, kiểm tra, xử lý hoặc kiến nghị xử lý vi phạm theo thẩm quyền; giám sát, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện công tác quản lý đàn chó, mèo, tổ chức tiêm phòng, kết quả tiêm phòng, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
- Tổ chức thành lập Đội bắt chó thả rông; xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại theo kế hoạch. Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn.
- Phối hợp với Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công phụ trách địa bàn hằng năm, báo cáo thống kê: số lượng chó, mèo nuôi và kết quả tiêm phòng vắc xin Dại, kết quả tổ chức thực hiện Kế hoạch của địa phương gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp.
- Xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp, trao đổi, chia sẻ thông tin kịp thời giữa cơ quan Y tế, Thú y và UBND cấp xã khi ghi nhận trường hợp người bị chó, mèo cắn, cào hoặc khi phát hiện động vật nghi mắc, mắc bệnh Dại; bảo đảm kịp thời điều tra, truy tìm, tư vấn và hướng dẫn người phơi nhiễm thực hiện điều trị dự phòng, đồng thời tổ chức quản lý, xử lý động vật nghi mắc, mắc bệnh Dại và kiểm soát nguồn lây theo quy định.
9. Tổ chức, cá nhân nuôi chó, mèo
Tổ chức, cá nhân nuôi chó, mèo có trách nhiệm đăng ký, khai báo việc nuôi chó, mèo theo quy định; nuôi nhốt trong khuôn viên gia đình, bảo đảm vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường; khi đưa chó, mèo ra nơi công cộng phải thực hiện các biện pháp quản lý, bảo đảm an toàn theo quy định. Thực hiện tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo và tự bảo đảm kinh phí tiêm phòng, các chi phí thuộc trách nhiệm của chủ nuôi theo quy định.
Thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe vật nuôi; khi phát hiện chó, mèo có biểu hiện bất thường, mắc hoặc nghi mắc bệnh Dại phải cách ly, báo ngay cho UBND cấp xã, thú y cấp xã hoặc cơ quan chuyên ngành thú y để kiểm tra, hướng dẫn xử lý; không được vận chuyển, mua bán, giết mổ động vật mắc, nghi mắc bệnh Dại. Trường hợp động vật mắc bệnh Dại, chủ nuôi phải chấp hành việc tiêu hủy, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng và các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn và quy định của pháp luật.
Chủ nuôi có trách nhiệm chấp hành việc quản lý, cách ly, theo dõi động vật nghi mắc bệnh Dại; tiêm phòng cho chó, mèo thuộc diện tiêm trong ổ dịch, vùng dịch và các biện pháp xử lý khác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp chó, mèo cắn, cào gây thiệt hại cho người khác, chủ nuôi thực hiện trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
10. Tổ chức, cá nhân hành nghề chăm sóc, khám, chữa bệnh chó, mèo
- Thực hiện tiêm vắc xin phòng bệnh Dại, đánh dấu để nhận diện chó, mèo đã tiêm vắc xin, cấp sổ tiêm phòng và định kỳ hàng tháng báo cáo tổng hợp số liệu tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo đến cơ quan thú y địa phương; trong trường hợp khám và điều trị nếu phát hiện chó, mèo mắc, nghi mắc bệnh Dại phải báo cáo ngay cho cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương để xử lý kịp thời.
- Đối với các cơ sở phòng khám thú cưng, thú y hành nghề tư nhân: Định kỳ hàng tháng có báo cáo kết quả tiêm phòng vắc xin cho cơ quan quản lý theo quy định.
Yêu cầu các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan và UBND các xã, phường nghiêm túc tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch này. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, địa phương kịp thời phản ánh về Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh xem xét, giải quyết theo quy định./.
[1] - Quyết định số 2052 /QĐ-UBND ngày 29/6/2022 của UBND tỉnh Bình Định về việc ban hành “Chương trình phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Bình Định, giai đoạn 2022-2030”;
- Kế hoạch số 568 /KH-UBND ngày 25/3/2022 của UBND tỉnh Gia Lai (trước sắp xếp) về việc ban hành “Kế hoạch phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2022-2030”;
- Kế hoạch số 2354 /KH-UBND ngày 11/10/2024 của UBND tỉnh Gia Lai (trước sắp xếp) về việc ban hành “Kế hoạch Sửa đổi, bổ sung Kế hoạch số 568/KH-UBND ngày 25/3/2022 của UBND tỉnh về phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2022 - 2030”.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh