Kế hoạch 96/KH-UBND năm 2025 phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tỉnh An Giang năm 2026
| Số hiệu | 96/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 15/09/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 15/09/2025 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh An Giang |
| Người ký | Ngô Công Thức |
| Lĩnh vực | Doanh nghiệp |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 96/KH-UBND |
An Giang, ngày 15 tháng 09 năm 2025 |
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ TỈNH AN GIANG NĂM 2026
Thực hiện Công văn số 11472/BTC-DNTN ngày 28/7/2025 của Bộ Tài chính về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2026, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể tỉnh An Giang năm 2026 với nội dung cụ thể như sau:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2025
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2025
a) Về số lượng, doanh thu và thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác (HTX, LH HTX, THT)
Hợp tác xã: Ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 854 HTX đăng ký hoạt động, trong đó có 717 HTX nông nghiệp, 25 HTX thương mại dịch vụ, 54 HTX giao thông vận tải, 04 HTX khai khoáng, xây dựng, 12 HTX tiểu thủ công nghiệp, và 42 quỹ tín dụng nhân dân. Số HTX thành lập mới là 30 HTX, giải thể 04HTX.
Doanh thu bình quân của một HTX ước thực hiện năm 2025 là 4.010 triệu đồng/năm, đạt 100% so với kế hoạch, lợi nhuận bình quân đến cuối năm ước đạt 1.100 triệu đồng, đạt 100% so với kế hoạch.
Liên hiệp HTX: Đến cuối năm 2025, trên địa bàn tỉnh có 05 LHHTX.
Tổ hợp tác: ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 3.709 THT, với tổng số 77.393 thành viên. Doanh thu bình quân một THT 296 triệu đồng/năm, lợi nhuận bình quân là 55 triệu đồng/năm.
b) Về thành viên, lao động của HTX, LH HTX, THT
Tổng số thành viên HTX ước đến hết năm 2025 là 164.192 người giảm 13,2% so với năm 2024; tổng số lao động thường xuyên trong HTX đến hết năm 2025 là 17.863 lao động tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2024.
Tổng số thành viên Liên hiệp HTX năm 2025 là 53 HTX; tổng số lao động thường xuyên trong LH HTX năm 2025 là 30 lao động.
Tổng số thành viên THT đến năm 2025 khoảng 61.589 thành viên, tăng 0,27% so với năm 2024.
c) Về trình độ cán bộ quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác
Năm 2025, toàn tỉnh có 5.797 cán bộ quản lý HTX tăng 0,1% so với năm 2024, phần lớn các HTX thiếu cán bộ có năng lực quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh, cán bộ HTX có trình độ sơ cấp, trung cấp 75%; cao đẳng, đại học khoảng 25%. Do đó hoạt động của nhiều HTX còn lúng túng, kế hoạch sản xuất kinh doanh chưa sát thực tế, chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh trung, dài hạn.
a) Lĩnh vực nông nghiệp
Tổng số HTX nông nghiệp đến cuối năm 2025 là 717 HTX (chiếm tỷ lệ 83,96% tổng số hợp tác xã), với 47.613 thành viên;
Đa phần các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh hiệu quả hoạt động ở mức trung bình, một số ít HTX ở mức khá, tốt. Đến nay đã có một số HTX xây dựng được mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị ngành hàng chủ lực tỉnh, từ đó phát triển thành HTXNN kiểu mẫu, có tính lan tỏa, đáp ứng được yêu cầu, mong muốn của người dân và doanh nghiệp.
Hoạt động của các HTX nông nghiệp - thủy sản đã giải quyết tốt các quan hệ hợp tác, giúp đỡ nhau trong quá trình sản xuất, quản lý nguồn lợi thiên nhiên, tuy doanh thu và lợi nhuận của các HTX nông nghiệp không cao, nhưng đã giúp thành viên áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất, giảm lượng giống, nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công lao động làm tăng năng suất và thực hiện tốt các khâu dịch vụ hỗ trợ như: bơm tát, làm đất, thu hoạch, vật tư nông nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi và tiêu thụ sản phẩm giúp giảm chi phí, tăng thu nhập cho thành viên. HTX còn giúp thành viên tiết kiệm được thời gian để tự tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống. Tuy nhiên, đa số HTX gặp khó khăn về nhân sự và vốn nên chưa hỗ trợ được nhiều cho thành viên. Do ảnh hưởng của lạm phát tăng cao, giá cả nông sản thay đổi liên tục, giá phân bón tăng cao, thời tiết diễn biến thất thường làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp.
b) Lĩnh vực giao thông vận tải
Ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 54 HTX, chiếm 6,32% tổng số HTX toàn tỉnh, thu hút hơn 4.386 thành viên tham gia, có 9.402 phương tiện, góp phần giải quyết việc làm cho 6.717 lao động. Lãi bình quân của HTX: 407 triệu đồng/năm.
Các HTX đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, vận chuyển hành khách theo tuyến cố định, theo hợp đồng, vận chuyển khách du lịch và cho thuê xe.
Các lao động (tài xế, tài công) làm việc tại các HTX vận tải hầu hết đảm bảo đủ điều kiện hạng, bậc về bằng lái, chứng chỉ chuyên môn. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động kinh doanh vận tải nhìn chung là không cao do tính cạnh tranh luôn gay gắt, nhiều thời điểm trong năm cung luôn vượt cầu về phương tiện nên năng suất lao động của phương tiện thấp; mặt khác, do khó khăn về tài chính nên việc đổi mới phương tiện chưa theo kịp nhu cầu của thị trường, đối với các thành viên HTX vận tải gặp khó khăn và chậm hơn các thành phần kinh tế khác.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 96/KH-UBND |
An Giang, ngày 15 tháng 09 năm 2025 |
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ TỈNH AN GIANG NĂM 2026
Thực hiện Công văn số 11472/BTC-DNTN ngày 28/7/2025 của Bộ Tài chính về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2026, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể tỉnh An Giang năm 2026 với nội dung cụ thể như sau:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2025
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2025
a) Về số lượng, doanh thu và thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác (HTX, LH HTX, THT)
Hợp tác xã: Ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 854 HTX đăng ký hoạt động, trong đó có 717 HTX nông nghiệp, 25 HTX thương mại dịch vụ, 54 HTX giao thông vận tải, 04 HTX khai khoáng, xây dựng, 12 HTX tiểu thủ công nghiệp, và 42 quỹ tín dụng nhân dân. Số HTX thành lập mới là 30 HTX, giải thể 04HTX.
Doanh thu bình quân của một HTX ước thực hiện năm 2025 là 4.010 triệu đồng/năm, đạt 100% so với kế hoạch, lợi nhuận bình quân đến cuối năm ước đạt 1.100 triệu đồng, đạt 100% so với kế hoạch.
Liên hiệp HTX: Đến cuối năm 2025, trên địa bàn tỉnh có 05 LHHTX.
Tổ hợp tác: ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 3.709 THT, với tổng số 77.393 thành viên. Doanh thu bình quân một THT 296 triệu đồng/năm, lợi nhuận bình quân là 55 triệu đồng/năm.
b) Về thành viên, lao động của HTX, LH HTX, THT
Tổng số thành viên HTX ước đến hết năm 2025 là 164.192 người giảm 13,2% so với năm 2024; tổng số lao động thường xuyên trong HTX đến hết năm 2025 là 17.863 lao động tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2024.
Tổng số thành viên Liên hiệp HTX năm 2025 là 53 HTX; tổng số lao động thường xuyên trong LH HTX năm 2025 là 30 lao động.
Tổng số thành viên THT đến năm 2025 khoảng 61.589 thành viên, tăng 0,27% so với năm 2024.
c) Về trình độ cán bộ quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác
Năm 2025, toàn tỉnh có 5.797 cán bộ quản lý HTX tăng 0,1% so với năm 2024, phần lớn các HTX thiếu cán bộ có năng lực quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh, cán bộ HTX có trình độ sơ cấp, trung cấp 75%; cao đẳng, đại học khoảng 25%. Do đó hoạt động của nhiều HTX còn lúng túng, kế hoạch sản xuất kinh doanh chưa sát thực tế, chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh trung, dài hạn.
a) Lĩnh vực nông nghiệp
Tổng số HTX nông nghiệp đến cuối năm 2025 là 717 HTX (chiếm tỷ lệ 83,96% tổng số hợp tác xã), với 47.613 thành viên;
Đa phần các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh hiệu quả hoạt động ở mức trung bình, một số ít HTX ở mức khá, tốt. Đến nay đã có một số HTX xây dựng được mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị ngành hàng chủ lực tỉnh, từ đó phát triển thành HTXNN kiểu mẫu, có tính lan tỏa, đáp ứng được yêu cầu, mong muốn của người dân và doanh nghiệp.
Hoạt động của các HTX nông nghiệp - thủy sản đã giải quyết tốt các quan hệ hợp tác, giúp đỡ nhau trong quá trình sản xuất, quản lý nguồn lợi thiên nhiên, tuy doanh thu và lợi nhuận của các HTX nông nghiệp không cao, nhưng đã giúp thành viên áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất, giảm lượng giống, nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công lao động làm tăng năng suất và thực hiện tốt các khâu dịch vụ hỗ trợ như: bơm tát, làm đất, thu hoạch, vật tư nông nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi và tiêu thụ sản phẩm giúp giảm chi phí, tăng thu nhập cho thành viên. HTX còn giúp thành viên tiết kiệm được thời gian để tự tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống. Tuy nhiên, đa số HTX gặp khó khăn về nhân sự và vốn nên chưa hỗ trợ được nhiều cho thành viên. Do ảnh hưởng của lạm phát tăng cao, giá cả nông sản thay đổi liên tục, giá phân bón tăng cao, thời tiết diễn biến thất thường làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp.
b) Lĩnh vực giao thông vận tải
Ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 54 HTX, chiếm 6,32% tổng số HTX toàn tỉnh, thu hút hơn 4.386 thành viên tham gia, có 9.402 phương tiện, góp phần giải quyết việc làm cho 6.717 lao động. Lãi bình quân của HTX: 407 triệu đồng/năm.
Các HTX đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, vận chuyển hành khách theo tuyến cố định, theo hợp đồng, vận chuyển khách du lịch và cho thuê xe.
Các lao động (tài xế, tài công) làm việc tại các HTX vận tải hầu hết đảm bảo đủ điều kiện hạng, bậc về bằng lái, chứng chỉ chuyên môn. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động kinh doanh vận tải nhìn chung là không cao do tính cạnh tranh luôn gay gắt, nhiều thời điểm trong năm cung luôn vượt cầu về phương tiện nên năng suất lao động của phương tiện thấp; mặt khác, do khó khăn về tài chính nên việc đổi mới phương tiện chưa theo kịp nhu cầu của thị trường, đối với các thành viên HTX vận tải gặp khó khăn và chậm hơn các thành phần kinh tế khác.
c) Lĩnh vực khai khoáng, xây dựng
Năm 2025, toàn tỉnh có 4 HTX khai khoáng, xây dựng, chiếm khoảng 0,46% tổng số HTX toàn tỉnh. Tổng số thành viên là 73 thành viên. Giải quyết việc làm cho 41 lao động. Thu nhập bình quân của lao động làm việc thường xuyên trong HTX: 4,6 triệu đồng/tháng. Trong đó có 01 HTX khai thác cát sông tại xã Chợ Mới, hoạt động ở mức độ trung bình; tổng số thành viên 36 người; số lao động thường xuyên 20 lao động, mức thu nhập bình quân từ 4,5 - 5,5 triệu đồng/người/tháng.
Các HTX chấp hành tốt các quy định của pháp luật về xây dựng, an toàn lao động; hoạt động ổn định, ký kết được các hợp đồng xây dựng có giá trị với các ban quản lý đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách, đường giao thông nông thôn thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới của địa phương, nhà dân hoặc nhận thi công lại của các nhà thầu khác. Các HTX đều kinh doanh có lãi, tăng thu nhập cho thành viên và HTX cũng đã giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho một bộ phận lao động nông thôn. Bên cạnh đó, HTX xây dựng cũng gặp nhiều khó khăn do giá vật liệu xây dựng không ổn định và vốn ít, kinh nghiệm hạn chế.
d) Lĩnh vực thương mại - dịch vụ, du lịch
Năm 2025, toàn tỉnh có 25 HTX thương mại, với 412 thành viên và tạo việc làm cho 757 lao động. Thu nhập bình quân của lao động làm việc thường xuyên trong HTX: 4,75 triệu đồng/tháng.
Các HTX đã từng bước đổi mới phương thức kinh doanh, mở rộng thị trường, sản phẩm hàng hóa đa dạng; tăng cường liên kết với các HTX và doanh nghiệp để cung ứng hàng hóa, tạo việc làm, tăng thu nhập cho thành viên và người lao động. Các HTX đã tập hợp các mặt hàng tiêu biểu, đặc sản của tỉnh để phân phối cho thành viên và người tiêu dùng như: các sản phẩm đạt OCOP, các sản phẩm làm từ cây thốt nốt, các loại mắm và cá khô đặc sản, các loại rượu, bánh, lạp xưởng bò. Bên cạnh đó, một số HTX có quy mô còn nhỏ, kinh doanh rủi ro, thua lỗ, nợ khó đòi, khả năng mở rộng kinh doanh chưa cao nên gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh.
đ) Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 12 HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 1,4% HTX toàn tỉnh, thu hút 642 thành viên tham gia, giải quyết việc làm cho 419 lao động.
Doanh thu bình quân của HTX: 935 triệu đồng/năm; Lãi bình quân của HTX: 75 triệu đồng/năm; Thu nhập bình quân của lao động làm việc thường xuyên trong HTX: 3,85 triệu đồng/tháng.
Các HTX đã góp phần tạo việc làm cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn, duy trì được nghề truyền thống và mở rộng đa dạng sản phẩm phù hợp với thị hiếu của thị trường. HTX hoạt động chủ yếu thêu may, thủ công mỹ nghệ, sản xuất đường thốt nốt và nghề mộc. Hầu hết, các HTX hoạt động ổn định, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều lao động. Tuy nhiên, nhìn chung HTX quy mô hoạt động còn nhỏ lẻ, thiếu vốn đầu tư trang thiết bị sản xuất, chất lượng sản phẩm chưa cao, đầu ra còn khó khăn, tính cạnh tranh thấp, thị trường tiêu thụ chưa ổn định.
e) Lĩnh vực quỹ tín dụng nhân dân (QTDND)
Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 47 tổ chức tín dụng được tổ chức theo mô hình kinh tế tập thể (KTTT) (45 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trong đó có 42 QTDND đang hoạt động và 03 QTDND đang thực hiện thủ tục thanh lý; có 01 QTDND đang được áp dụng biện pháp giám sát tăng cường và 02 chi nhánh Ngân hàng Hợp tác xã (HTX)). Có 111.066 thành viên, giảm 16.653 thành viên so với thời điểm 31/12/2024. Nguyên nhân do trong năm 2025 các QTDND tiến hành rà soát cho ra khỏi thành viên đối với các thành viên không còn đủ điều kiện thanh gia thành viên theo quy định pháp luật.
Tổng số nhân sự đang làm việc thường xuyên tại QTDND là 610 nhân sự, trong đó số lượng lao động đồng thời là thành viên là 568 người (chiếm 93,11% tổng số nhân sự). So với thời điểm 31/12/2024, số lượng nhân sự giảm 12 nhân sự. Lý do là các QTDND triển khai áp dụng công nghệ vào hoạt động, từng bước nâng cao hiệu phục vụ khách hàng, cắt giảm các nhân sự trình độ yếu kém nhằm giảm thiểu chi phí nhân sự để nâng cao lợi nhuận trong kinh doanh.
Doanh thu bình quân của các QTDND trên địa bàn tỉnh đạt 4.903 triệu đồng, trong đó doanh thu đối với thành viên bình quân là 4.708 triệu đồng (chiếm 96,02% mức doanh thu bình quân khối QTDND) và doanh thu đối với thị trường bên ngoài thành viên là 195 triệu đồng (chiếm 3,98% mức doanh thu bình quân khối QTDND).
+ Về lãi bình quân các QTDND: Có 41/42 QTDND kinh doanh có lãi, riêng QTDND Phú Mỹ đang lỗ 1.165 triệu đồng. Lãi bình quân của các QTDND trên toàn tỉnh là 994 triệu đồng, bằng 57,38% lãi bình quân thời điểm 31/12/2024 (1.732 triệu đồng).
+ Thu nhập bình quân của nhân viên QTDND năm 2024 là 16,53 triệu đồng/người/tháng. Đến tháng 06 năm 2025, thu nhập bình quân của nhân viên QTDND là 15,77 triệu đồng/người/tháng. Nhìn chung, mức thu nhập này giúp nhân viên đảm bảo ổn định cuộc sống, an tâm công tác phục vụ hoạt động của đơn vị.
+ Ngân hàng HTX chi nhánh Kiên Giang đạt 1.111 tỷ đồng, dư nợ cho vay hỗ trợ thành viên QTDND đạt 61,7 tỷ đồng; Ngân hàng HTX chi nhánh An Giang đạt 830 tỷ đồng, dư nợ cho vay hỗ trợ thành viên QTDND đạt 39,9 tỷ đồng.
Thông qua việc huy động vốn cho vay tại chỗ đối với các thành viên trên tinh thần tương trợ lẫn nhau, giúp thành viên giải quyết nhu cầu về vốn mở rộng sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của thành viên trên địa bàn, hạn chế tình trạng vay nặng lãi, ổn định tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương, điển hình có một số HTX hoạt động tốt như: Quỹ tín dụng nhân dân Vĩnh Thanh Vân, Quỹ tín dụng nhân dân Vĩnh Hiệp - phường Rạch Giá, Quỹ tín dụng nhân dân Bình An. Tuy nhiên, dư nợ cho vay hiện nay của các QTDND đều giảm do phải thu hẹp địa bàn làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các quỹ tín dụng.
Toàn tỉnh có 05 LHHTX, vốn điều lệ là 1.600 triệu đồng, diện tích đất sản xuất là 39.720 ha với 53 HTX thành viên với 30 lao động.
- LHHTX tôm lúa An Biên, LHHTX nông nghiệp An Biên, LHHTX Giang Thành bước đầu đi vào hoạt động cơ bản đúng với phương hướng sản xuất kinh doanh đề ra.
- Liên hiệp HTX Thoại Sơn: Có 06 thành viên HTX nông nghiệp với diện tích hoạt động 7.500 ha. Hoạt động sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung gắn với chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến bao tiêu sản phẩm nhằm giúp nâng cao chất lượng, giá trị nông sản trên thị trường, mang lại thu nhập cho thành viên và người dân. Đồng thời, tạo điều kiện để các thành viên tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh thông qua việc tổ chức tốt quy mô sản xuất. Liên hiệp HTX được Tập đoàn Lộc Trời trang bị 32 bộ máy cày, 68 bộ máy cắt, 23 bộ cuộn rơm, 81 chẹt sắt và cung ứng dịch vụ Drone: sạ giống, bón phân, phun thuốc.
- Liên hiệp HTX Tri Tôn: Có 08 thành viên HTX nông nghiệp với diện tích hoạt động 15.772 ha. Hoạt động chủ yếu hỗ trợ cho các HTX thành viên thực hiện những công đoạn trong quy trình sản xuất và tiêu thụ lúa.
Tổ hợp tác (THT): ước năm 2025, thành lập mới 157THT, ước toàn tỉnh hiện có 3.709 THT với 77.393 thành viên, tổng diện tích canh tác là 154.239 ha.
Các THT trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, đời sống của các hộ dân, góp vốn xoay vòng giúp nhau phát triển kinh tế hộ, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất kinh doanh, tận dụng các nguồn lực đất đai, nguyên liệu, vốn, lao động hiện có tại địa phương, tạo ra cách làm ăn mới, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho các hộ dân góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần quan trọng vào giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội ở địa phương.
Tuy nhiên, còn một số THT thành lập tự phát gây khó khăn cho việc theo dõi, hướng dẫn tổ chức hoạt động và quản lý của địa phương. Tổ chức của các THT thiếu chặt chẽ, quan hệ hợp tác lỏng lẻo, không đảm bảo tính ổn định và bền vững, việc sản xuất với quy mô nhỏ, năng lực điều hành của đội ngũ quản lý còn hạn chế, đa số THT gặp khó khăn về việc tiếp cận nguồn vốn, khoa học - công nghệ, thị trường...
3. Đánh giá tác động của HTX, LH HTX, THT tới thành viên, kinh tế hộ thành viên
a) Về kinh tế
- Kinh tế tập thể trong tỉnh đến nay có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều HTX, LH HTX, THT phát triển đa dịch vụ, từng bước phát huy hiệu quả, góp phần xây dựng nông thôn mới, xóa đói, giảm nghèo tại địa phương, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong tỉnh. Đặc biệt, trong những năm gần đây, với yêu cầu tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, HTX, LH HTX, THT đã có bước phát triển mới về số lượng, hiệu quả hoạt động được nâng cao, với đủ các loại hình dịch vụ thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở khu vực nông thôn phát triển.
- HTX, LH HTX, THT có sự nhận thức đúng đắn về chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước về kinh tế hợp tác, cùng với việc lựa chọn mô hình sản xuất, kinh doanh phù hợp, phương pháp tổ chức hoạt động hiệu quả, quyền lợi của thành viên gắn liền với quyền lợi của HTX, phần lớn các HTX, LH HTX, THT hỗ trợ tích cực cho kinh tế hộ phát triển, đáp ứng nhu cầu của thành viên. Một số HTX đã mở rộng sản xuất, tạo thêm nhiều ngành nghề và tích cực tham gia các hoạt động xã hội trên địa bàn. Thông qua các hoạt động mua bán chung, thành viên HTX được hưởng nhiều lợi ích như: được cung ứng vật tư nông nghiệp với giá cả hợp lý, được nợ cuối vụ, sản phẩm được hỗ trợ đầu ra; giảm chi phí sử dụng các dịch vụ của HTX so với giá dịch vụ tư nhân bên ngoài (bơm tưới tiêu, làm đất, drone - máy bay phun xịt thuốc,…), nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng lợi nhuận cho thành viên, đáp ứng được nhu cầu hợp tác cơ bản và lợi ích của các thành viên khi tham gia HTX.
- HTX còn là cầu nối đưa Nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, tham gia tích cực phong trào xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Hội đồng quản trị HTX quan tâm nhiều hơn đến việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số trong công tác quản lý, điều hành và hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX; vận động thành viên áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, tuân thủ quy trình sản xuất sạch, hữu cơ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng giá trị và lợi nhuận cho sản phẩm làm ra tạo lòng tin, góp phần cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho thành viên và người lao động.
- Các Liên hiệp HTX phát triển theo hướng liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa quy mô lớn của địa phương; liên kết giữa các HTX thành viên, với các doanh nghiệp; thực hiện tốt khâu tổ chức sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm của HTX thành viên.
b) Về chính trị, văn hóa, xã hội
- Trong Chương trình xây dựng nông thôn mới có 19 tiêu chí, trong đó có 1 tiêu chí là phải xây dựng HTX sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tiêu chí này không chỉ nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn thời kỳ hội nhập. Thực tiễn xây dựng nông thôn mới thời gian qua cho thấy, kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX, nếu phát triển đúng hướng, sẽ là một yếu tố và động lực cơ bản góp phần tạo nền tảng thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới, ổn định về chính trị, xã hội.
- Các HTX, LH HTX, THT nông nghiệp đã phát huy được vai trò tập hợp, vận động, thay đổi cách nghĩ, cách làm cho bà con nông dân, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất và nhất là đã thực hiện tốt việc liên doanh, liên kết, bảo đảm đầu ra ổn định cho nông sản. Trên một số lĩnh vực, HTX đã mở rộng sản xuất, tạo thêm nhiều ngành nghề, phát triển kinh doanh tổng hợp, đầu tư trang thiết bị để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, đồng thời tham gia các hoạt động xã hội trên địa bàn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội ở địa phương.
- Có 46 HTX nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao, khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp; 20 HTX nông nghiệp ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, sản xuất; có 08 HTX nông nghiệp có sản phẩm được công nhận sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên và 02 HTX nông nghiệp có sản phẩm OCOP tiềm năng[1].
- Về thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm: Có khoảng 90 HTX nông nghiệp (chiếm 40% tổng số HTX nông nghiệp đang hoạt động), 02 liên hiệp HTX thực hiện liên kết với gần 30 doanh nghiệp.
II. KẾT QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ (KTTT, HTX)
1. Kết quả thi hành pháp luật và các văn bản về KTTT, HTX
Triển khai thi hành Luật Hợp tác xã năm 2023; Các văn bản dưới luật bao gồm: Kết luận số 70-KL/TW ngày 09/3/2020 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Nghị định số:113/2024/NĐ-CP, ngày 12/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã, Nghị định 92/2024/NĐ-CP, ngày 18/7/2024, về đăng ký tổ hợp tác, HTX, liên hiệp HTX, Thông tư số 09/2024/TT-BKHĐT, ngày 16/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành biểu mẫu thực hiện đăng ký tổ hợp tác, HTX, liên hiệp HTX và quy định về nội dung thông tin việc cập nhật, khai thác và quản lý Hệ thống thông tin quốc gia HTX; Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày 13/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 -2025; Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 03/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021 - 2025; Quyết định số 1318/QĐ-TTg ngày 22/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã giai đoạn 2021-2025; Quyết định số 340/QĐ-TTg ngày 12/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 20- NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 02/02/2023 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
Trên cơ sở Luật Hợp tác xã và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, tỉnh An Giang đã xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2023, các nghị định, quyết định có liên quan đến các địa phương.
2. Công tác quản lý nhà nước về KTTT, HTX
Công tác quản lý nhà nước về KTTT đã được tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện, chính quyền địa phương quan tâm đến tình hình KTTT, sự phối hợp chỉ đạo giữa các ngành và địa phương được tốt hơn; nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ KTTT được ban hành và chỉ đạo thực hiện nhanh, hiệu quả; công tác tư vấn, tuyên truyền, hỗ trợ thành lập HTX, THT được chú trọng và có chất lượng. Các đơn vị đã bố trí công chức kiêm nhiệm hoặc chuyên trách, tham mưu, theo dõi về phát triển KTTT.
Chức năng của Ban Chỉ đạo giúp Tỉnh ủy, UBND tỉnh nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc liên quan tới đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT tỉnh; phát triển và hỗ trợ tháo gỡ khó khăn trong hoạt động của các HTX đăng ký hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2023 và văn bản hướng dẫn hiện hành.
Thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 mô hình chính quyền hai cấp mới đi vào hoạt động, công tác quản lý nhà nước về KTTT ở một số ngành chuyên môn và UBND các địa phương có mặt còn hạn chế; công tác theo dõi báo cáo, thống kê số liệu, tình hình hoạt động của các HTX, THT ở một số nơi chưa đạt yêu cầu; công tác kiểm tra đối với các HTX về thực hiện pháp luật, chế độ quản lý tài chính của các HTX chưa thường xuyên, chưa kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của các HTX. Nguyên nhân công chức theo dõi KTTT ở địa phương phần lớn đều kiêm nhiệm nên chưa có kinh nghiệm, thời gian nghiên cứu, theo dõi, thống kê tình hình hoạt động của các HTX chưa kịp thời để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các HTX.
3. Kết quả triển khai chính sách hỗ trợ, ưu đãi hợp tác xã
3.1 Chính sách hỗ trợ thành lập mới, củng cố tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã:
Công tác hỗ trợ thành lập mới thường xuyên được tỉnh quan tâm và đầu tư hỗ trợ. Đến thời điểm hiện nay, đã hỗ trợ kinh phí thành lập mới cho 08 HTX với tổng số tiền 160 triệu đồng, sáp nhập cho 02 HTX với tổng kinh phí 20 triệu đồng. Ước đến cuối năm 2025, hỗ trợ thành lập mới 15 HTX, sáp nhập 02 HTX với tổng số tiền hỗ trợ 320 triệu đồng. Tổ chức tập huấn, tư vấn cho người dân có nhu cầu thành lập mới, sáp nhập HTX có 15 cuộc 350 người tham dự với tổng kinh phí là 135 triệu đồng.
3.2. Chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực, nhận thức cho khu vực KTTT:
Tính đến cuối tháng 7/2025, tỉnh đã tổ chức 44 lớp tập huấn, tuyên truyền với sự tham gia của 1.245 học viên, cụ thể:
- Mở 20 lớp tập huấn với 565 người tham dự tổng khi phí thực hiện ước khoảng 800 triệu đồng. (trong đó có 02 lớp củng cố sáp nhập có 85 người tham dự, 02 lớp tập huấn tại Vĩnh Thuận về kỹ năng quản lý, báo cáo tài chính HTX có 72 người tham dự, 02 lớp chứng chỉ nghề cho HTX giao thông vận 165 người tham dự, dự kiến 10 lớp chuyển đổi luật HTX 2023) giúp củng cố kiến thức cho các chức danh đang làm trong HTX, THT, tổ chức nâng cao chất lượng hoạt động KTTT, HTX.
- Tổ chức 05 lớp tuyên truyền Luật HTX năm 2023 và tập huấn quy trình thành lập HTX tại xã Ô Long Vĩ, xã Bình Mỹ (huyện Châu Phú), xã Đa Phước (huyện An Phú), xã Lương An Trà (huyện Tri Tôn) và xã Phú Long (huyện Phú Tân) thu hút 170 học viên tham dự. Nội dung tập huấn bao gồm các chuyên đề: Một số vấn đề cơ bản của Luật HTX năm 2023; các chủ trương, chính sách về phát triển KTTT; xác định mô hình kinh doanh và lập kế hoạch kinh doanh trong HTX; vai trò của Liên minh HTX tỉnh đối với HTX, liên hiệp HTX thành viên và quy trình thành lập HTX...;
- Phối hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ chức 09 lớp tuyên truyền Luật HTX 2023 có 351 học viên tham dự[2]. Đối tượng là nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi; tổ trưởng THT, chi tổ hội nghề nghiệp, chủ nhiệm câu lạc bộ nông dân. Tại lớp tập huấn, các học viên được cung cấp những nội dung về Luật HTX năm 2023; các chủ trương, chính sách có liên quan đến phát triển KTTT và cách thức xây dựng chi hội, tổ hội nông dân nghề nghiệp. Thông qua lớp tập huấn giúp các thành viên HTX, THT và nông dân hiểu rõ hơn về quyền và lợi ích tham gia HTX; quy trình vận hành HTX; các quy định, chính sách phát triển KTTT và cụ thể hóa Nghị quyết số 04-NQ/HNDTW ngày 05/8/2019 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Qua đó, góp phần đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức Hội cơ sở trong sạch, vững mạnh;
- Phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức 06 lớp tập huấn tuyên truyền và nâng cao năng lực phát triển KTTT, HTX do phụ nữ quản lý năm 2025 thu hút 223 học viên tham dự[3]. Đối tượng là Hội viên phụ nữ tham gia quản lý, điều hành HTX, THT, phụ nữ có nhu cầu thành lập HTX, THT. Nội dung tuyên truyền bao gồm 02 chuyên đề: Vai trò của HTX trong xây dựng nông thôn mới và một số chính sách hỗ trợ KTTT, HTX; các hoạt động hỗ trợ của Liên minh HTX tỉnh với HTX; Xây dựng mô hình HTX theo Luật HTX năm 2023, hướng dẫn các bước thành lập HTX; vai trò, lợi ích, ý nghĩa của việc tham gia KTTT, HTX. Qua đó, góp phần thực hiện hiệu quả Đề án “Hỗ trợ HTX do phụ nữ tham gia quản lý, tạo việc làm cho lao động nữ đến năm 2030”;
- Tổ chức 02 lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản trị HTX năm 2025 thu hút 96 học viên là đại diện Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc các HTX trên địa bàn tỉnh tham dự. Các học viên được triển khai nội dung các chuyên đề, bao gồm: Những nội dung cơ bản Luật HTX năm 2023 và các Nghị định hướng dẫn có liên quan; ứng dụng phần mềm kế toán HTX; xây dựng chiến lược và lập kế hoạch kinh doanh; một số điểm cần lưu ý đối với HTX thông qua công tác tư vấn, hỗ trợ kiểm toán nội bộ HTX; một số vấn đề cần lưu ý ký kết hợp đồng kinh tế giữa HTX với doanh nghiệp, giữa HTX với thành viên trong liên kết tiêu thụ sản phẩm; quản trị và điều hành HTX; các văn bản pháp lý, quy chế và quy định trong quản trị HTX và học tập kinh nghiệm thực tế mô hình HTX hoạt động hiệu quả (HTX Dịch vụ nông nghiệp Thanh Niên Phú Hòa, huyện Tân Hiệp và HTX Nông nghiệp Tân Hưng, huyện Châu Thành). Và tại tỉnh Long An (HTX Dịch vụ thương mại nông nghiệp Cây Trôm, huyện Vĩnh Hưng) và HTX nông nghiệp xanh Kiến Tường, thị xã Kiến Tường).
- Tổ chức 01 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán HTX, liên hiệp HTX với sự tham gia của 35 học viên là kế toán của các HTX trên địa bàn tỉnh. Với các nội dung: Nội dung cơ bản Luật HTX năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thực hiện; quản trị tài chính trong HTX; các quy chế quản lý trong HTX; hướng dẫn thực hiện Thông tư số 71//2024/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán HTX, liên hiệp HTX có hiệu thi hành từ ngày 07/10/2024, áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2025; ứng dụng phần mềm kế toán trong quản lý tài chính HTX, liên hiệp HTX.
- Tổ chức 01 lớp tập huấn nghiệp vụ kiểm soát cho Ban kiểm soát HTX với sự tham gia của 48 học viên là Trưởng ban kiểm soát và kiểm soát viên các HTX trên địa bàn tỉnh. Qua tập huấn các học viên được nghe triển khai các nội dung: Những nội dung cơ bản Luật HTX năm 2023; tổng quan về kiểm tra, kiểm soát nội bộ HTX; những vấn đề cơ bản về kiểm toán nội bộ; hướng dẫn các văn bản về công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ HTX; hệ thống sổ sách và chứng từ kế toán trong HTX.
- Phối hợp Trường Trung cấp Nghề và Đào tạo cán bộ HTX miền Nam làm việc với Ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn (trước sáp nhập) về khảo sát, đào tạo nghề thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2025.
- Phối hợp Trường Trung cấp Nghề và Đào tạo cán bộ HTX miền Nam tổ chức tập huấn “Nâng cao năng lực thương mại điện tử cho thành viên THT và đại diện các hộ sản xuất kinh doanh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại thị xã Tịnh Biên” cho 58 học viên là thành viên THT, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số và cán bộ làm công tác dân tộc trên địa bàn xã An Cư.
- Phối hợp Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường - Liên minh HTX Việt Nam tổ chức khảo sát trực tiếp “Đánh giá tình hình tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động trong khu vực HTX tại Việt Nam” cho 23 HTX được chọn ngẫu nhiên.
3.3. Chính sách xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường:
- Tham dự Hội chợ Festival Nghề muối - Bạc Liêu và Tổ chức 03 cuộc xúc tiến thương mại cho 45 HTX tham gia hội chợ xúc tiến thương mại tại thủ đô Hà Nội, Quảng Ninh và Hội chợ OCOP tại Thành phố Quy Nhơn do Liên minh HTX Việt Nam và các Bộ, Ngành tổ chức đã đạt và vượt kế hoạch năm. Sản phẩm tham gia hội chợ là sản phẩm chủ lực của tỉnh rất được ưu chuộng tại thị trường như: gạo, tôm khô, tôm, cua, cá bớp, xoài, đường thốt nốt, bánh, rau củ các loại… Liên minh HTX tỉnh đã kết nối cho 06 HTX tham dự Hội nghị trực tuyến kết nối với các doanh nghiệp, siêu thị, đơn vị thu mua do Liên minh HTX Việt Nam tổ chức.
- Tổ chức Hội nghị giới thiệu trưng bày sản phẩm của các HTX đạt chuẩn OCOP, hỗ trợ 08 điểm trưng bày và giới thiệu sản phẩm tại các địa phương, đồng thời hướng dẫn một số HTX có điều kiện về trang thiết bị, công nghệ thông tin đăng tải trực tiếp sản phẩm trên Cổng thông tin kết nối cung - cầu.
- Tham dự Lễ tôn vinh HTX tiêu biểu, trao giải thưởng Ngôi sao HTX 2025 và các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động vì HTX, năm Quốc tế HTX 2025. Dịp này, HTXNN Phú Thạnh (huyện Phú Tân) được Liên minh HTX Việt Nam bình chọn Ngôi sao HTX năm 2025.
- Phối hợp Liên minh HTX thành phố Hà Nội tổ chức xúc tiến thương mại, trưng bày, quảng bá sản phẩm và kết nối hợp tác, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại tỉnh An Giang, với sự góp mặt của đại diện 17 HTX thành phố Hà Nội và 20 HTX, liên hiệp HTX, THT và cơ sở sản xuất thành viên trên địa bàn tỉnh An Giang.
- Được Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ xây dựng, vận hành trang thông tin điện tử (Website) về KTTT, HTX của tỉnh. Hiện tại trang Website của Liên minh HTX tỉnh đã cung cấp những tin tức, bài viết; các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước có liên quan đến việc hình thành và KTTT, HTX; hỗ trợ HTX xúc tiến thương mại, góp phần đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm do HTX và thành viên HTX làm ra, đặc biệt là nông sản. Hàng năm, có hàng trăm tin tức, bài viết,... được đăng tải và đã thu hút ngày càng nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm truy cập (trung bình có hơn 28.000 lượt truy cập/tháng) nhờ vào nguồn tin chính thống, cập nhật kịp thời; các tin tức, bài viết,... phản ánh chân thực tình hình hoạt động của các tổ chức KTTT, HTX.
3.4. Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; chế biến sản phẩm:
Thực hiện Quyết định số 1804/QĐ-TTg ngày 13/11/2020 và Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 03/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án lựa chọn,hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021-2025, UBND tỉnh đã phê duyệt chủ trương đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng với tổng số vốn gần 08 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2021-2025, cụ thể: (1) Dự án “Mua sắm trang thiết bị phục vụ cho sản xuất kinh doanh theo chuỗi liên kết sản xuất tại HTXNN Tây Phú” với tổng mức đầu tư là 2.326 triệu đồng;trong đó ngân sách tỉnh 2.000 triệu đồng, HTX đối ứng 326 triệu đồng (Quyết định số 2857/QĐ-UBND ngày 24/11/2022); (2) Dự án “ HTXNN Vĩnh Bình” với tổng mức đầu tư là 2.000 triệu đồng từ nguồn ngân sách tỉnh (Quyết định số 3178/QĐ-UBND ngày 30/12/2022); (3) Dự án “Nâng cấp, cải tạo các trạm bơm HTXNN Chợ Vàm” với tổng mức đầu tư là 2.000 triệu đồng từ nguồn ngân sách tỉnh (Quyết định số 2981/QĐ-UBND ngày 08/12/2022); (4) Dự án “Hỗ trợ phát triển HTX sản xuất và tiêu thụ đường thốt nốt Nhơn Hưng, xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên” với tổng mức đầu tư là 1.997 triệu đồng từ nguồn ngân sách tỉnh (Quyết định số 3076/QĐ-UBND ngày 19/12/2022). Hỗ trợ này là tài sản không chia của HTX, HTX tự trang trải chi phí cho vận hành, bảo dưỡng công trình sau khi được đưa vào hoạt động; khi HTX giải thể thì phần giá trị tài sản được hình thành từ khoản hỗ trợ này được chuyển cho chính quyền địa phương nơi HTX tiến hành đăng ký thành lập quản lý. Đó sẽ là cơ sở để xây dựng phương án nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả trong 05 năm tiếp theo (giai đoạn 2026-2030) ở nhiều lĩnh vực, góp phần thúc đẩy khu vực KTTT, HTX phát triển nhanh và bền vững trên phạm vi toàn tỉnh.
Kết quả, đến nay đã bố trí vốn và giải ngân cho dự án nâng cấp, cải tạo các trạm bơm HTXNN Chợ Vàm, huyện Phú Tân với số tiền là 1.733 triệu đồng; dự án hỗ trợ phát triển HTX sản xuất và tiêu thụ đường thốt nốt Nhơn Hưng, xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên 440 triệu đồng; còn lại các công trình triển khai còn chậm là HTX Tây Phú do vướng thủ tục đấu thầu mua sắm, HTX Vĩnh Bình do vướng quy hoạch xây dựng, HTX Sản xuất và tiêu thụ đường thốt nốt Nhơn Hưng giải ngân chậm do vướng đấu thầu thi công công trình.
Thực hiện Công văn số 166/KTHT-KTHTĐP ngày 11/10/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh đã có Công văn số 1523/UBND-KTN ngày 30/10/2024 yêu cầu các Sở, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố cùng các đơn vị có liên quan tập trung triển khai một số nhiệm vụ liên quan đến phát triển KTTT, HTX theo Luật HTX năm 2023.
+ Đề xuất thực hiện dự án phát triển ngành nghề nông thôn (Dự án hỗ trợ máy móc so chế, chế biến nông sản thành thực phẩm và bột thực phẩm) tại HTX sản xuất, dịch vụ Kênh 10, ấp Minh Kiên A, xã Minh Thuận, huyện U Minh Thượng với các nội dung hỗ trợ máy móc thiết bị hoàn thiện dây truyền sơ chế, chế biến nông sản thành thực phẩm và bột thực phẩm (Máy gọt vỏ nông sản; máy sấy thực phẩm; máy nghiền bột mịn; máy trộn thực phẩm); HTX Toàn Diện; hỗ trợ trang thiết bị chế biến sản phẩm rượu từ trái giác, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
+ Dự án GIC: Hỗ trợ 01 máy gặt đập liên hợp và 01 máy trộn đảo phân hữu cơ cho 02 Liên hiệp HTX tại xã An Biên và xã Tây Yên; đồng thời đưa 03 người của LH HTX được nhận máy trộn đảo phân hữu cơ học tập kinh nghiệm tại TP.Cần Thơ.
- Hỗ trợ tổ chức lại hoạt động cho các HTX: Tư vấn, hỗ trợ cho các HTX về quy trình tuyên truyền, vận động thành lập HTX; công tác tổ chức hội nghị, đại hội HTX; công tác kế toán HTX. Chủ yếu các HTXNN, vận tải, tiểu thủ công nghiệp.
- Hỗ trợ tiếp cận Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã:
+ Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện các nội dung ghi nhớ hợp tác với các Ngân hàng HTX Việt Nam Chi nhánh An Giang (CoopBank) về chương trình cho vay vốn hỗ trợ phục vụ sản xuất - kinh doanh cho HTX và thành viên HTX; Công ty TNHH MTV Liên hợp khoa học - Công nghệ - Môi trường Biwase ETS (Phân bón hữu cơ Con Voi Bình Dương) triển khai những chính sách mới về bán hàng thông qua HTX; Công ty TNHH Chế tạo Bơm TS triển khai hiệu quả từ việc chuyển đổi ứng dụng bơm TS vào sản xuất nông nghiệp.
+ Phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh triển khai cho 02 HTX vay vốn 2,45 tỷ đồng theo chương trình hỗ trợ tại Kế hoạch số 93/KH-UBND ngày 29/4/2021 của UBND tỉnh về việc Triển khai thực hiện Nghị quyết số 337/2020/NQ-HĐND, ngày 22/7/2020 của HĐND tỉnh về quy định chính sách hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh nhưng đến nay chưa được giải ngân. Ngoài ra, tỉnh cũng phối hợp với Qũy phát triển Liên minh HTX Việt Nam hướng dẫn hồ sơ thủ tục vay vốn cho các HTX trên địa bàn tỉnh đến thời điểm có 01 HTX vay với số vốn 3 tỷ đồng.
- Trên cơ sở các chính sách tín dụng hiện hành, NHNN chi nhánh Khu vực 15 phối hợp chặt chẽ với các cấp, ngành tham mưu Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh triển khai hiệu quả chính sách tín dụng trên địa bàn, trong đó có các HTX. Các TCTD được chỉ đạo triển khai kịp thời các sản phẩm tín dụng phù hợp, trực tiếp đến các HTX. Đến ngày 30/6/2025, các TCTD giải ngân 45 tỷ đồng; dư nợ đạt 28 tỷ đồng (05 HTX còn dư nợ).
4. Kết quả, tình hình thực hiện các Đề án
4.1. Đề án thí điểm thành lập Liên đoàn HTX lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long
Thực hiện Đề án “Đề xuất thí điểm thành lập và hoạt động của Liên đoàn HTX lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long” đã được Liên minh HTX Việt Nam phê duyệt tại Quyết định số 459/QĐ-BCH ngày 12/9/2024. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ký kết nội dung Thỏa thuận hợp tác với Liên minh HTX Việt Nam về phát triển KTTT, HTX trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2023 - 2025. Chuẩn bị các điều kiện xúc tiến thành lập Liên đoàn. Trong thời gian qua, Liên minh HTX tỉnh đã tuyên truyền vận động các Liên hiệp HTX nông nghiệp trong và ngoài tỉnh để mời gọi tham gia, tiếp tục khảo sát, thu thập thông tin, nghiên cứu các văn bản, quy định có liên quan để tham mưu sớm thành lập Liên đoàn theo đúng Kế hoạch. Tuy nhiên do những nguyên nhân khách quan nên chưa tiến hành thành lập: sáp nhập tỉnh, chấm dứt các hoạt động của huyện và chưa có triển khai chỉ đạo mới từ Liên minh HTX Việt Nam.
Thực hiện Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 03/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021-2025, UBND tỉnh đã ban hành các quyết định sau:
- Quyết định số 195/QĐ-UBND ngày 24/02/2023, UBND tỉnh đã phê duyệt 04 mô hình HTX kiểu mới tham gia Đề án 167 để hỗ trợ hoàn thiện như: (1) Mô hình HTX tích tụ, tập trung ruộng đất có quy mô lớn và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất của HTXNN Tây Phú (địa chỉ tại số 272, tổ 11, ấp Phú Thuận, xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn); (2) Mô hình HTXNN đảm nhiệm các dịch vụ đầu vào, sơ chế biến và đầu ra trong chuỗi giá trị nông sản của HTXNN Vĩnh Bình (địa chỉ tại khóm Vĩnh Lộc, thị trấn Vĩnh Bình, huyện Châu Thành); (3) Mô hình HTX vừa sản xuất, vừa tham gia thị trường (sàn giao dịch nông sản) của HTXNN Chợ Vàm (địa chỉ tại số 36, ấp Phú Xương, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân); (4) Mô hình HTX sản xuất sản phẩm OCOP, gắn với du lịch nông thôn, miền núi của HTX Sản xuất và tiêu thụ đường Thốt Nốt Nhơn Hưng (địa chỉ tại ấp Đông Hưng, xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên) với tổng nhu cầu vốn hỗ trợ để HTX hoàn thiện giai đoạn 2021-2025 là 20.657 triệu đồng theo từng nội dung và phân công từng đơn vị phụ trách, trong đó ngân sách Trung ương là 4.660 triệu đồng và ngân sách địa phương là 15.997 triệu đồng.
- Quyết định số 1381/QĐ-UBND ngày 03/6/2022 phê duyệt danh sách Hợp tác xã thí điểm tham gia Đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới hiệu quả tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2021 - 2025, gồm 3 hợp tác xã: hợp tác xã Ngã Bát, tổ 9, ấp Ngã Bát, xã Đông Hưng B, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; hợp tác xã nông nghiệp Tân Hưng, ấp Tân Hưng, xã Giục Tượng, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang; hợp tác xã sản xuất - dịch vụ nông nghiệp Kênh 10, ấp Minh Kiên A, xã Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang). Đến nay đang triển khai giai đoạn 2 xây dựng kế hoạch phê duyệt triển khai hoàn thiện HTX thí điểm.
Thực hiện tốt công tác hợp tác quốc tế để học tập kinh nghiệm, khai thác nguồn lực phục vụ cho phát triển KTTT, HTX như: Liên đoàn HTX Raiffeisen CHLB Đức (DGRV). Phối hợp thực hiện mô hình thí điểm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp với Công ty Matsuyama - Nhật Bản (Dự án thí điểm mô hình trồng luân canh cây đậu tương trên ruộng lúa do Công ty Matsuyama thực hiện).
- Kinh tế tập thể của tỉnh có bước chuyển biến khá, nhiều loại hình kinh tế tập thể phát triển đa dạng trên các lĩnh vực. Nội dung, phương thức hoạt động của các hợp tác xã có nhiều bước đổi mới, cơ bản tổ chức thực hiện đúng những nguyên tắc của Luật Hợp tác xã. Kinh tế tập thể từng bước phát huy hiệu quả góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, nhất là sản xuất nông nghiệp, huy động được các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân, xây dựng tình đoàn kết tương trợ lẫn nhau, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh.
- Tỉnh đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành kế hoạch triển khai các đề án, quyết định, văn bản chỉ đạo của Trung ương về hỗ trợ, phát triển kinh tế tập thể; bố trí vốn hỗ trợ các HTX theo các Kế hoạch, đề án được phê duyệt.
- Các chính sách hỗ trợ HTX bước đầu đã phát huy được hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực giúp các HTX nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; mở rộng sản xuất theo chuỗi liên kết, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ. Chính sách xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường đã giúp các HTX kết nối với các doanh nghiệp, siêu thị trong và ngoài tỉnh; chính sách về tín dụng, hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng cho HTX góp phần hỗ trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cho các HTX....
- Tổ chức gặp gỡ, tiếp xúc và ghi nhận các kiến nghị của các HTX thành viên về các vấn đề khó khăn trong hoạt động của HTX có liên quan đến chính sách như: thuế, phí, thủ tục thành lập mới... để kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ cho các HTX.
2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Kinh tế tập thể chiếm tỷ trọng chưa cao trong nền kinh tế của tỉnh, đa số các mô hình kinh tế tập thể có quy mô nhỏ lẻ, vốn ít, sự cạnh tranh thấp hơn so với các mô hình kinh tế khác; chưa xây dựng được hợp tác xã tiên tiến điển hình có quy mô lớn.
Nguồn kinh phí từ ngân sách trung ương hỗ trợ cho các hợp tác xã còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của các HTX.
HTX phần lớn có quy mô nhỏ (dịch vụ giản đơn như bơm tưới, tiêu, làm đất), phát triển không đồng đều giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; năng lực nội tại còn yếu; phần lớn trình độ chuyên môn của người lao động còn thấp; đội ngũ nhân sự quản ký điều hành HTX chưa được đào tạo chuyên sâu, năng lực quản lý điều hành còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được nhiệm vụ tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. HTX ứng dụng công nghệ cao, liên kết theo chuỗi giá trị còn ít,...
Một số chính sách hỗ trợ cho KTTT triển khai còn chậm, nguồn lực tài chính hỗ trợ còn hạn chế (chủ yếu là hỗ trợ tập huấn, bồi dưỡng), còn phân biệt giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp. Công tác hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTT còn chậm, thiếu cụ thể, hiệu quả chưa cao.
Doanh thu cũng như lợi nhuận bình quân của một HTX, người lao động thường xuyên trong HTX ở một số lĩnh vực còn thấp.
Cán bộ phụ trách KTTT phần lớn là kiêm nhiệm, nên việc đầu tư nghiên cứu chuyên sâu về KTTT còn hạn chế. Chính sách hỗ trợ KTTT thiếu tính khả thi, chậm được triển khai đi vào cuộc sống; nguồn lực hỗ trợ bố trí dàn trải, phân tán, chủ yếu là vốn lồng ghép. Công tác quản trị HTX của một số HTX còn hạn chế, chưa đủ khả năng định hướng và hành động mang tính chiến lược, đột phá để phát triển, thiếu tính nhạy bén, năng động với thị trường.
Để công tác quản lý nhà nước; hỗ trợ, phát triển Kinh tế tập thể, hợp tác xã tốt hơn trong thời gian tới, tỉnh An Giang đề xuất, kiến nghị với Trung ương một số nội dung sau:
1. Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh giảm bớt các chỉ tiêu tại Phụ lục I về tình hình phát triển kinh tế tập thể như: Số lao động thường xuyên mới, số lao động thường xuyên trong hợp tác xã; doanh thu của hợp tác xã với thành viên,…chỉ giữ lại những chỉ tiêu cần thiết để đánh giá nhằm giảm bớt thời gian theo dõi, số liệu, báo cáo của các HTX cũng như công chức quản lý nhà nước về KTTT.
2. Bộ Tài chính xem xét cấp cho Sở Tài chính các tỉnh, thành phố tài khoản hỗ trợ lọc dữ liệu về Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã để nắm bắt kịp thời tình hình phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh, thành phố phụ trách quản lý.
3. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm ban hành văn bản hướng dẫn chung đánh giá, xếp loại HTX theo quy định của Luật HTX năm 2023 để hướng dẫn HTX tổ chức thực hiện.
4. Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 mô hình chính quyền hai cấp mới đi vào hoạt động có nhiều sự đổi mới, nên bước đầu cán bộ phụ trách lĩnh vực Kinh tế tập thể còn lúng túng trong công tác cấp giấy chứng nhận Hợp tác xã, tổ hợp tác cho các HTX,THT cũng như hướng dẫn HTX đăng ký hồ sơ qua mạng điện tử. Để công tác đăng ký HTX, THT được thuận lợi, đề nghị Bộ Tài chính mở các lớp tập huấn về nghiệp vụ đăng ký HTX, THT cho các cán bộ đăng ký kinh doanh cấp xã, phường, đặc khu.
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2026
I. MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2026
1. Phát triển KTTT cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng chất lượng, bảo đảm sự hài hòa trong tất cả các ngành, lĩnh vực, địa bàn; thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tăng cường liên kết giữa các HTX và các thành viên HTX với các thành phần kinh tế khác hình thành các LH HTX không giới hạn về quy mô địa bàn; thu hút ngày càng nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia KTTT; tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ, việc làm mới cho tổ viên, thành viên góp phần tăng thêm thu nhập và nâng cao chất lượng đời sống.
2. Tập trung chỉ đạo củng cố tổ chức, đổi mới nội dung phương thức hoạt động của KTTT, bảo đảm nguyên tắc tự nguyện cùng có lợi. Tập trung phát triển lực lượng sản xuất trong khu vực KTTT nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, khai thác tốt hơn các tiềm năng lợi thế của địa phương.
3. Kế hoạch phát triển Kinh tế tập thể năm 2026 phải bám sát kế hoạch phát triển Kinh tế tập thể 5 năm, các Nghị quyết của Trung ương, các Chương trình của Tỉnh ủy và Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về về hỗ trợ, phát triển Kinh tế tập thể.
4. Các chỉ tiêu kế hoạch phải khả thi, phù hợp với kết quả, tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch trong năm 2026 và phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch dài hạn của địa phương. Ngoài các chỉ tiêu số lượng, cần chú trọng các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, hiệu quả.
II. NỘI DUNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2026
1. Dự báo những thuận lợi, khó khăn
1.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ ngành liên quan, cùng với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân khu vực kinh tế tập thể tỉnh nhất là những năm gần đây có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đa dạng trên các lĩnh vực, cơ bản khắc phục được tình trạng yếu kém kéo dài, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo cho các thành viên, góp phần xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, từng bước khẳng định vị trí, vai trò nền tảng của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế quốc dân… Trong thời gian tới môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được cải thiện; công tác cải cách hành chính trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của các thành phần kinh tế, trong đó có lĩnh vực KTTT được quan tâm.
Có nhiều chủ trương, chính sách tạo thuận lợi cho KTTT phát triển, đặc biệt là các chính sách mới ban hành trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động KTTT.
1.2. Khó khăn
Tình hình chính trị thế giới bất ổn, suy giảm kinh tế toàn cầu, lạm phát tăng ở nhiều nước, tổng cầu trong và ngoài nước suy giảm mạnh; áp lực cạnh tranh cao, sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, giá cả sản phẩm, hàng hóa tăng giảm thất thường, chi phí sản xuất cao, lợi nhuận thấp đã tác động không nhỏ đến khu vực KTTT.
Công tác chỉ đạo điều hành, công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước chưa chặt chẽ; trình độ, năng lực của công chức quản lý HTX ở một số nơi còn hạn chế, số lượng công chức chưa đảm bảo với khối lượng công việc.
Việc triển khai các chính sách hỗ trợ KTTT còn nhiều hạn chế do ngân sách địa phương còn khó khăn, hầu hết phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ của Trung ương nên có ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, HTX.
Hiệu quả hoạt động của khu vực KTTT trong đó nòng cốt là HTX là chưa cao; mức độ liên kết và tính bền vững trong liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh chưa đủ mạnh. Các HTX, THT hoạt động còn đơn điệu, thiếu chiến lược trong sản xuất, kinh doanh, mối liên kết giữa các HTX với nhau và giữa HTX với các thành phần kinh tế khác còn nhiều hạn chế; năng lực nội tại của các HTX còn yếu,…
Trong năm 2026, khu vực kinh tế tập thể tỉnh An Giang dự báo tiếp tục chịu ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan: Lũ lụt bất thường, hạn hán và xâm nhập mặn, sâu bệnh và dịch hại, sạt lở,.. Những yếu tố trên đòi hỏi khu vực KTTT phải tăng cường các biện pháp ứng phó, chuyển đổi cơ cấu sản xuất linh hoạt, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai phù hợp nhằm giảm thiểu thiệt hại và duy trì ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Định hướng chung về phát triển KTTT, HTX
- Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện và cụ thể hóa toàn diện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT trong giai đoạn mới; hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ và huy động mọi nguồn lực thực hiện hiệu quả. Phát triển KTTT, HTX phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xuất phát từ nhu cầu thiết thực, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho thành viên sản xuất kinh doanh hiệu quả, phát triển bền vững.
- Ưu tiên phát triển các tổ chức KTTT gắn với phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đánh giá hiệu quả KTTT toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, hiệu quả của tổ chức và của thành viên. Lấy lợi ích kinh tế là trọng tâm, bao gồm lợi ích của thành viên, tập thể và Nhà nước, đồng thời coi trọng lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn.
- Tập trung phát triển kinh tế tập thể trong các ngành, các lĩnh vực thuộc thế mạnh của tỉnh. Ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ sản xuất, kinh doanh; sản xuất theo chuỗi giá trị, liên kết với doanh nghiệp; bảo đảm lợi ích thành viên...
- Đổi mới, cải tiến kỹ thuật, cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ quản lý và điều hành của cán bộ quản lý HTX, LH HTX từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX, LH HTX; không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của các HTX để đáp ứng đòi hỏi ngày càng khắc khe của thị trường.
Tiếp tục phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức, loại hình, quy mô và trình độ khác nhau trong các ngành, các lĩnh vực. Tập trung chỉ đạo củng cố tổ chức, đổi mới nội dung phương thức hoạt động của các HTX, LH HTX, khắc phục những hạn chế, yếu kém để nâng cao chất lượng hoạt động khu vực KTTT, HTX. Trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tự nguyện cùng có lợi. Mở rộng quy mô thành viên HTX, LH HTX THT thông qua thu hút nhân dân tham gia HTX, nhất là các hộ nông dân nông thôn; đẩy mạnh phát triển HTX, LH HTX gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của tỉnh. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, góp phần đạt các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới, giải quyết việc làm tạo thu nhập cho người lao động và ổn định an sinh xã hội.
Phát triển kinh tế tập thể để hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho thành viên và người lao động; mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết với các loại hình kinh tế khác. Khẳng định được vai trò, vị trí quan trọng của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thu hút đại bộ phận nông dân tham gia HTX và huy động ngày càng nhiều các tổ chức, doanh nghiệp tham gia hoặc liên kết với HTX. Tăng cường hoạt động hỗ trợ cho các tổ chức KTTT, HTX nhằm nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh và khả năng thích nghi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và biến đổi khí hậu.
- Thành lập mới 95 THT, 25 HTX trong đó có từ 21 HTX nông nghiệp.
- Thu hút 350 thành viên THT, 250 thành viên HTX.
- Doanh thu bình quân của 1 HTX trên 4.000 triệu đồng/năm, THT là 320 triệu đồng/năm.
- Thu nhập bình quân của người lao động thường xuyên trong HTX trên 65 triệu đồng/năm, LH HTX là 32 triệu đồng/năm, THT là 34 triệu đồng/năm.
- Tỷ lệ cán bộ quản lý, điều hành HTX có trình độ sơ cấp, trung cấp đạt 74%; cán bộ quản lý điều hành có trình độ cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ 26% tổng số cán bộ quản lý.
- Phấn đấu trên 91% hợp tác xã có lãi, trong đó 60% hợp tác xã khá tốt, hạn chế thấp nhất hợp tác xã yếu kém.
- Phấn đấu trong thời gian tới tăng năng suất, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh, nâng cao năng lực hoạt động của các HTX; cải thiện đời sống thành viên và cộng đồng; tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, tăng cường tình đoàn kết xã hội trên cơ sở cùng chia sẻ lợi ích lâu dài giữa các thành viên HTX, THT.
- Duy trì HTXNN có ứng dụng công nghệ cao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và hướng đến có sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao hoặc các sản phẩm tiềm năng.
(Phụ lục I, II kèm theo)
5. Các giải pháp phát triển kinh tế tập thể năm 2026
Liên minh Hợp tác xã tỉnh, các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và các đơn vị có liên quan, triển khai thực hiện các giải pháp sau:
Tiếp tục quán triệt tuyên truyền, triển khai thực hiện nghiêm túc nội dung của Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 02/02/2023 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15 được thông qua ngày 20/6/2023, xác định rõ nội dung, nhiệm vụ chủ yếu để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, đi đôi với nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, gắn với phát huy tốt sức mạnh của tập thể để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển KTTT.
Tăng cường tuyên truyền vai trò, vị trí của kinh tế tập thể, các điển hình tiên tiến, mô hình HTX mới đến đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và người lao động, làm chuyển biến nhận thức, trách nhiệm đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo tham gia xây dựng phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX. Hoạt động của HTX phải gắn với chủ trương, Nghị quyết của các cấp ủy đảng, chính quyền ở từng địa phương và phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ.
Liên minh Hợp tác xã tỉnh, các Sở, ngành, UBND các xã, phường, đặc khu, các đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ tham mưu UBND xây dựng kế hoạch, văn bản chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền, tập huấn và phát tài liệu Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15 và các văn bản có liên quan trong các quy định mới của Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15, kết hợp mở các lớp ngắn hạn trong công tác quản lý, điều hành, báo cáo tình hình hoạt động HTX, báo cáo tài chính HTX, nghiệp vụ kế toán HTX cho đối tượng là cán bộ quản lý HTX.
5.2. Hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế chính sách
Thực hiện và tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển HTX, phù hợp với bản chất (tránh bao cấp), nhu cầu, trình độ phát triển của tổ chức HTX và phù hợp với khả năng nguồn lực của Nhà nước; tập trung nguồn lực Nhà nước hỗ trợ xây dựng thí điểm một số chuỗi giá trị hàng hóa chủ lực để từ đó nhân rộng…
5.3. Tổ chức triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ, ưu đãi phát triển HTX
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực: Mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX, LH HTX, THT; kỹ năng tổ chức các dịch vụ trong HTX; xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; soạn thảo hợp đồng kinh tế; hỗ trợ HTX đăng ký chất lượng sản phẩm, nhãn hiệu thương mại và thiết kế mẫu mã bao bì cho HTX,…
Các chính sách phát triển HTX, chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp... bằng nhiều hình thức đa dạng (hội nghị, hội thảo, diễn đàn, toạ đàm, tập huấn,…) nhằm nâng cao nhận thức người lao động, thành viên HTX, doanh nghiệp và đặc biệt là người dân về KTTT, HTX và lợi ích thiết thực khi tham gia HTX.
5.4. Nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực KTTT
Các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường, đặc khu, Liên minh hợp tác xã và các đơn vị liên quan căn cứ chức năng nhiệm vụ, tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX, LH HTX, THT như: Rà soát tình hình hoạt động của HTX, LH HTX hướng dẫn UBND các xã, phường, đặc khu thực hiện giải thể các HTX, THT đã ngừng hoạt động; tư vấn xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh và điều lệ theo quy định của Luật HTX năm 2023; thu hút, kết nạp thêm tổ viên, thành viên và tăng vốn góp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở thêm các dịch vụ phù hợp với địa phương; đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến sản phẩm cho các HTX; từng bước mở rộng quy mô hoạt động của các HTX,... Phát triển các hình thức hợp tác liên kết, đa dạng, phù hợp, hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
Tiếp tục nâng cao năng lực tổ chức, hoạt động của các HTX, LH HTX thông qua các hoạt động tăng cường năng lực tổ chức, điều hành, hoạt động, kinh doanh các HTX: phát triển mô hình HTX sản xuất theo chuỗi giá trị. Khuyến khích các HTX đẩy mạnh, nâng cao chất lượng bảo quản và chế biến nông sản. Tư vấn, khuyến khích, hướng dẫn HTX đóng gói, gắn tem nhãn phục vụ cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Khuyến khích HTX thực hiện liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của tỉnh; phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, mời gọi và giới thiệu nhiều doanh nghiệp uy tín, có tiềm lực tài chính để giới thiệu đến các HTX; hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp triển khai hoạt động liên kết tại địa phương. Hỗ trợ doanh nghiệp hình thành các HTX kiểu mới với sự tham gia đồng hành của doanh nghiệp tại các địa phương có nền tảng tốt về liên kết và tiêu thụ sản phẩm, trong đó doanh nghiệp hỗ trợ về nhân sự chất lượng cao, vốn và kỹ thuật sản xuất.
Tăng cường đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý HTX để nâng cao năng lực, tổ chức, điều hành hoạt động HTX; thực hiện đưa cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng về làm việc có thời hạn tại HTX. Tăng cường năng lực quản trị hợp tác xã theo hướng công khai, minh bạch; củng cố, nâng cao năng lực kế toán.
5.5. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về KTTT
Củng cố tổ chức bộ máy, cán bộ các cơ quan có liên quan từ tỉnh đến cơ sở để theo dõi, giám sát, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX. Các cấp, ngành, địa phương hàng năm xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế tập thể gắn với phát triển kinh tế - xã hội của từng cấp, từng ngành và địa phương. Tập trung chỉ đạo tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, gắn với sinh kế người dân ở từng vùng, từng điều kiện, từng nguồn lực. Tăng cường tập huấn bồi dưỡng kiến thức về kinh tế tập thể cho cán bộ HTX, LH HTX và cán bộ quản lý nhà nước làm công tác theo dõi kinh tế tập thể cần được tạo điều kiện đào tạo căn bản, nâng cao năng lực, phục vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã của tỉnh.
5.6. Về huy động nguồn lực xã hội để phát triển KTTT, HTX.
Huy động mọi nguồn lực cho phát triển HTX; khuyến khích, tạo điều kiện để các HTX và các thành phần kinh tế khác đầu tư vào HTX đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh. Lồng ghép, kết hợp các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, nhằm thu hút các nguồn lực phát triển các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác, liên kết. Hình thành chuỗi giá trị trong liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu gắn với xây dựng cánh đồng lớn theo chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Quan tâm xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm, hàng hóa chủ lực, có qui mô lớn của tỉnh.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân, đoàn, hội viên tự nguyện tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã. Nâng cao hiệu quả các chương trình phối hợp liên tịch giữa Liên minh Hợp tác xã với Mặt trận, đoàn thể và các sở, ban, ngành. Tích cực tham gia xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách cũng như giải pháp để phát triển kinh tế hợp tác, HTX trên địa bàn tỉnh.
Tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp trong việc thực hiện Nghị quyết, các quy định pháp luật, thúc đẩy phát triển KTTT, HTX. Đẩy mạnh công tác giám sát, phản biện và tham gia xây dựng các cơ chế, chính sách về kinh tế tập thể, HTX; vận động thành lập HTX, LH HTX và xây dựng mô hình HTX hoạt động có hiệu quả; Rà soát đánh giá tình hình hoạt động của các hợp tác xã (HTX thành lập mới, tạm ngừng giải thể và kết quả sản xuất kinh doanh của các HTX).
- Tăng cường tuyên truyền, vận động phát triển HTX; tư vấn, hỗ trợ và cung cấp dịch vụ, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ cho việc hình thành và phát triển HTX; đổi mới, nâng cao năng lực của Liên minh Hợp tác xã tỉnh, tăng cường cán bộ có trình độ chuyên sâu về HTX, phải nắm vững được những nội dung cơ bản về Luật Hợp tác xã, nguyên tắc, tổ chức của HTX, cũng như các kỹ năng hỗ trợ HTX.
5.9. Về tăng cường hợp tác quốc tế về KTTT.
Khuyến khích hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế tập thể, nhất là trong việc tiếp thu kinh nghiệm tốt của các nước, vùng lãnh thổ có phong trào HTX mạnh. Từng bước mở rộng hoạt động và phát huy vai trò HTX, LH HTX trong phát triển quan hệ với các tổ chức quốc tế, trước hết là Liên minh HTX quốc tế (ICA), Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và các nước Đông Nam Á.
Hỗ trợ xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm đối với HTX. Tiếp tục hỗ trợ để nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại của kinh tế hợp tác và HTX, trong đó tập trung vào việc cung cấp thông tin về thị trường và khách hàng, tích cực tham gia diễn đàn trao đổi kinh nghiệm của các HTX trong và ngoài tỉnh, các hoạt động triển lãm, hội chợ; xây dựng và quảng bá thương hiệu cho HTX và liên hiệp HTX; hỗ trợ một số HTX có điều kiện xúc tiến thương mại ra thị trường trên thế giới; tiếp tục hỗ trợ nhãn hiệu thương mại và truy xuất nguồn gốc sản phẩm cho HTX.
Tổng nhu cầu vốn thực hiện theo các Kế hoạch, chương trình, đề án, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể năm 2026 là 42.700,85 triệu đồng. Trong đó, tổng nguồn vốn từ ngân sách địa phương là 42.700,85 triệu đồng (Đính kèm phụ lục III).
Trên đây là Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tỉnh An Giang năm 2026./.
|
|
KT. CHỦ TỊCH |
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ NĂM 2025 VÀ KẾ HOẠCH
NĂM 2026
(Kèm Kế hoạch số /KH-UBND ngày tháng năm 2025 của UBND tỉnh
An Giang)
|
STT |
Chỉ tiêu |
Đơn vị tính |
Thực hiện năm 2024 |
Năm 2025 |
Kế hoạch năm 2026 |
Ghi chú |
|
|
Kế hoạch |
Ước thực hiện cả năm |
||||||
|
I |
Hợp tác xã |
|
|
|
|
|
|
|
1 |
Tổng số hợp tác xã |
HTX |
828 |
864 |
854 |
877 |
|
|
|
Trong đó: |
|
|
|
|
|
|
|
|
Số hợp tác xã đang hoạt động |
HTX |
804 |
828 |
828 |
854 |
|
|
|
Số hợp tác xã thành lập mới |
HTX |
28 |
40 |
30 |
25 |
|
|
|
Số hợp tác xã giải thể |
HTX |
4 |
4 |
4 |
2 |
|
|
|
Số hợp tác xã đạt loại tốt, khá (*) |
HTX |
|
|
|
|
|
|
|
Số HTX ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản |
HTX |
45 |
|
46 |
46 |
|
|
|
Số HTX nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị |
HTX |
90 |
|
90 |
90 |
|
|
|
Số HTX thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần |
HTX |
|
|
|
|
|
|
|
Số HTX có thành viên là doanh nghiệp |
HTX |
|
|
|
|
|
|
|
Số HTX có thành viên là người nước ngoài |
HTX |
|
|
|
|
|
|
|
Số xã đạt chuẩn tiêu chí 13.1 về HTX trong bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới |
Xã |
|
|
|
|
|
|
2 |
Tổng số thành viên hợp tác xã |
Người |
188.984 |
196.162 |
164.192 |
164.442 |
|
|
|
Trong đó: |
|
|
|
|
|
|
|
|
Số thành viên mới |
Thành viên |
|
|
|
250 |
|
|
|
Số thành viên ra khỏi hợp tác xã |
Thành viên |
|
|
|
|
|
|
3 |
Tổng số lao động thường xuyên trong HTX |
Người |
17.380 |
17.863 |
17.863 |
18.013 |
|
|
|
Trong đó: |
|
|
|
|
|
|
|
|
Số lao động thường xuyên mới |
Người |
|
|
|
|
|
|
|
Số lao động thường xuyên là thành viên HTX |
Người |
12.836 |
13.243 |
13.243 |
13.513 |
|
|
4 |
Tổng số cán bộ quản lý hợp tác xã |
Người |
5.740 |
|
5.797 |
5.860 |
|
|
|
Trong đó: |
|
|
|
|
|
|
|
|
Số cán bộ quản lý HTX đã qua đào tạo đạt trình độ sơ, trung cấp |
Người |
4.329 |
|
4.345 |
4.336 |
|
|
|
Số cán bộ quản lý HTX đã qua đào tạo đạt trình độ cao đẳng, đại học trở lên |
Người |
1.228 |
|
1.452 |
1.524 |
|
|
5 |
Doanh thu bình quân một hợp tác xã |
Tr đồng/năm |
4.100 |
4.010 |
4.010 |
4.020 |
|
|
|
Trong đó: Doanh thu của hợp tác xã với thành viên |
Tr đồng/năm |
|
|
|
|
|
|
6 |
Lãi bình quân một hợp tác xã |
Tr đồng/năm |
909 |
1.010 |
1.010 |
1.100 |
|
|
7 |
Thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong hợp tác xã |
Tr đồng/năm |
62 |
|
|
65 |
|
|
II |
Liên hiệp hợp tác xã |
|
|
|
|
|
|
|
1 |
Tổng số liên hiệp hợp tác xã |
LH HTX |
5 |
5 |
5 |
6 |
|
|
|
Trong đó: |
|
|
|
|
|
|
|
|
Số liên hiệp hợp tác xã đang hoạt động |
LH HTX |
5 |
5 |
5 |
5 |
|
|
|
Số liên hiệp HTX thành lập mới |
LH HTX |
- |
- |
- |
1 |
|
|
|
Số liên hiệp HTX giải thể |
LH HTX |
- |
- |
- |
- |
|
|
|
Số LHHTX thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần |
LH HTX |
- |
- |
- |
- |
|
|
2 |
Tổng số hợp tác xã thành viên |
HTX |
53 |
53 |
53 |
60 |
|
|
3 |
Tổng số lao động trong liên hiệp HTX |
Người |
30 |
30 |
30 |
41 |
|
|
4 |
Doanh thu bình quân của một liên hiệp HTX |
Tr đồng/năm |
3.325 |
|
|
6.500 |
|
|
5 |
Lãi bình quân của một liên hiệp HTX |
Tr đồng/năm |
664 |
|
|
1.300 |
|
|
III |
Tổ hợp tác |
|
|
|
|
|
|
|
1 |
Tổng số tổ hợp tác |
THT |
3.552 |
3.709 |
3.709 |
3.804 |
|
|
|
Trong đó: |
|
|
|
|
|
|
|
|
Số THT có đăng ký hoạt động với chính quyền xã/phường/thị trấn |
THT |
|
|
|
|
|
|
2 |
Tổng số thành viên tổ hợp tác |
Thành viên |
61.422 |
61.794 |
61.589 |
61.939 |
|
|
|
Trong đó: |
|
|
|
|
|
|
|
|
Số thành viên mới thu hút |
Thành viên |
1.050 |
1.800 |
1.800 |
350 |
|
|
3 |
Doanh thu bình quân một tổ hợp tác |
Tr đồng/năm |
226 |
250 |
296 |
320 |
|
|
4 |
Lãi bình quân một tổ hợp tác |
Tr đồng/năm |
|
|
55 |
57 |
|
(*) Theo Thông tư số 01/2020/TT-BKHĐT ngày 19/02/2020 của BKHĐT về hướng dẫn phân loại và đánh giá HTX
[1] Cụ thể: (1) Xã Mỹ Đức: HTX Thương mại - dịch vụ - du lịch nông nghiệp Khánh Hòa (Nhãn xuồng); HTX Thương mại - dịch vụ chăn nuôi ếch Khánh Hòa (Khô Ếch 1 nắng); (2) Xã Tây Phú: HTX nông nghiệp An Bình (Gạo); (3) Xã Cù Lao Giêng: HTX GAP Cù Lao Giêng (Xoài tượng da xanh, xoài cát hạt lép); HTX GAP Chợ Mới - An Giang (Xoài 3 màu, xoài sấy dẻo, xoài keo); (4) Xã Khánh Bình: HTX nông nghiệp Long Bình (Xoài keo); HTX nông nghiệp Khánh An (Dưa lê); (5) Xã Vĩnh Hanh: HTX nông nghiệp Vĩnh Hòa (Sầu riêng); (6) Xã Cô Tô: HTX nông nghiệp Tà Đảnh (Nấm mối Nàng Nương) và 02 sản phẩm khác của HTX là sản phẩm tiềm năng 3 sao như: Bắp bào tử (HTX GlobalGap Mỹ An - xã Long Kiến), Nếp (HTX nông nghiệp Phú Thạnh - xã Chợ Vàm).
[2] Tại xã Long Giang, xã Hòa Bình, xã Nhơn Mỹ (huyện Chợ Mới), xã Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Hanh (huyện Châu Thành), xã Vĩnh Thành, xã Bình Long (huyện Châu Phú), xã Phú Long (huyện Phú Tân) và xã An Cư (thị xã Tịnh Biên)
[3] Tại TP. Long Xuyên; huyện Châu Thành, TP. Châu Đốc, thị xã Tịnh Biên, huyện An Phú và huyện Tri Tôn (chưa sáp nhập).
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh