Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Thông báo 245/TB-VPCP về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại cuộc họp về tình hình thực hiện nhiệm vụ từ đầu năm 2026 đến nay, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của Bộ Tư pháp do Văn phòng Chính phủ ban hành

Số hiệu 245/TB-VPCP
Ngày ban hành 12/05/2026
Ngày có hiệu lực 12/05/2026
Loại văn bản Thông báo
Cơ quan ban hành Văn phòng Chính phủ
Người ký Nguyễn Văn Thắng
Lĩnh vực Bộ máy hành chính

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 245/TB-VPCP

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2026

 

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ LÊ MINH HƯNG TẠI CUỘC HỌP VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ TỪ ĐẦU NĂM 2026 ĐẾN NAY, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI CỦA BỘ TƯ PHÁP

Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã chủ trì cuộc họp về tình hình thực hiện nhiệm vụ từ đầu năm 2026 đến nay, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của Bộ Tư pháp. Tham dự cuộc họp có Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu, tập thể lãnh đạo Bộ Tư pháp, đại diện Lãnh đạo các Bộ, cơ quan: Tài chính, Nội vụ, Công an, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ và Văn phòng Chính phủ. Sau khi nghe báo cáo của Bộ Tư pháp, ý kiến của các Bộ, cơ quan dự họp và ý kiến của các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kết luận như sau:

I. Kết quả đạt được

Ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực, cố gắng của Bộ Tư pháp trong công tác tham mưu, giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo về công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật và các lĩnh vực công tác khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Trong 04 tháng đầu năm 2026, Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực triển khai nhiệm vụ được giao và đạt nhiều kết quả nổi bật: (i) Tham mưu cấp có thẩm quyền nhiều đề án lớn về hoàn thiện thể chế, pháp luật; (ii) Công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật được triển khai đồng bộ, bám sát tinh thần Nghị quyết số 66- NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; (iii) Tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua 07 dự án luật, nghị quyết tại Kỳ họp thứ nhất, trong đó có những dự án luật, nghị quyết lớn với những chính sách chưa có tiền lệ; (iv) Chủ động tham mưu nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết; công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản được tăng cường, kịp thời phát hiện, xử lý các “điểm nghẽn” về thể chế; (v) Trong thời gian rất ngắn đã tổng hợp, tham mưu Thủ tướng Chính phủ về phương án phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), điều kiện kinh doanh (ĐKKD) của các Bộ, ngành và là một trong 03 Bộ, ngành hoàn thành vượt các chỉ tiêu cải cách TTHC, ĐKKD, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo yêu cầu của Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (vi) Công tác thi hành án dân sự (THADS), thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế; công tác hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, pháp luật quốc tế, chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học đạt nhiều kết quả tích cực…

II. Khó khăn, thách thức, tồn tại, hạn chế

1. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tư pháp thời gian qua còn một số hạn chế như: (i) Chất lượng, tiến độ xây dựng, thẩm định một số văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu; (ii) Một số nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao chưa hoàn thành đúng hạn; (iii) Công tác phối hợp với các Bộ, cơ quan có lúc chưa chặt chẽ; (iv) Biên chế trong lĩnh vực kiểm soát TTHC và THADS còn thiếu so với yêu cầu; (v) Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật còn hạn chế…

2. Một số yêu cầu đặt ra: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục xác định thể chế là một trong ba đột phá chiến lược. Với yêu cầu nêu trên, Bộ Tư pháp đứng trước những yêu cầu rất lớn: (i) Đưa “thể chế” thực sự trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển; (ii) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trước đòi hỏi chuyển đổi số mạnh mẽ và quản trị dữ liệu thông minh; (iii) Khả năng quản trị rủi ro pháp lý quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; (iv) Tăng cường kỷ luật, kỷ cương và nâng cao năng lực, mối quan hệ phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương trong tổ chức thực thi chính sách, pháp luật…

III. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

Từ nay đến cuối năm 2026, Bộ Tư pháp được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương thực hiện với nhiều nhiệm vụ quan trọng, phức tạp. Tập thể Lãnh đạo Bộ và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Tư pháp cần tiếp tục đoàn kết, nỗ lực, cố gắng, quyết tâm cao hơn nữa để tập trung thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung thực hiện hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:

1. Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, toàn diện; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế, đổi mới lề lối làm việc nhằm tạo bước chuyển căn bản trong chất lượng hiệu quả hoạt động của Bộ, tăng cường đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

2. Về công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật:

Nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài của Bộ Tư pháp là cần bám sát mục tiêu, yêu cầu tăng trưởng hai con số dựa trên cải cách mạnh mẽ thể chế theo chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và yêu cầu tại Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng, hoàn thiện thể chế phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách. Trên tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tư pháp:

a) Nghiên cứu, thể chế hóa kịp thời Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, trong đó tăng cường kiểm soát, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cơ chế “xin - cho” trong công tác xây dựng pháp luật, không để tình trạng Luật chờ văn bản hướng dẫn thi hành như thời gian qua.

b) Tập trung xây dựng Đề án Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới với tầm nhìn đến năm 2045, báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.

c) Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi toàn diện Luật Ban hành VBQPPL phù hợp với chủ trương của Đảng về tái cấu trúc hệ thống pháp luật theo hướng mỗi chủ thể chỉ ban hành một hình thức VBQPPL, đơn giản hóa, rút ngắn quy trình ban hành văn bản, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, bảo đảm thời hạn trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai, tháng 10 năm 2026.

d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng Kế hoạch của Chính phủ triển khai thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị về Đề án Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, trình Chính phủ trong tháng 5 năm 2026. Thường xuyên rà soát tiến độ soạn thảo, trình các dự án luật tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, trong đó lưu ý bảo đảm tiến độ trình Quốc hội sửa đổi một số dự án luật quan trọng như: Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, Luật Điện lực…; phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ ngay từ khi đăng ký vào Chương trình lập pháp; kiểm soát chặt chẽ việc các Bộ, cơ quan ngang Bộ đề xuất điều chỉnh, bổ sung hoặc rút dự án luật khỏi Chương trình lập pháp năm 2026.

d) Nâng cao chất lượng công tác thẩm định theo hướng thực chất, độc lập, khách quan, chuyên sâu, tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, các hiệp hội, ngành nghề, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, tăng cường ứng dụng công nghệ trong công tác thẩm định. Báo cáo thẩm định phải bảo đảm nội dung đầy đủ, chặt chẽ; khẳng định rõ hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiên quyết không trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các hồ sơ chưa đủ điều kiện, không đúng thẩm quyền, chưa được giải trình, tiếp thu đầy đủ hoặc hồ sơ không có các dự thảo văn bản quy định chi tiết kèm theo.

đ) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ rà soát kỹ quy định liên quan đến nhiệm vụ, thẩm quyền của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong các Nghị định hiện hành, không để xảy ra tình trạng giao thoa, chồng chéo, trùng lặp về nhiệm vụ, thẩm quyền của các Bộ, cơ quan, bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan thực hiện.

e) Theo dõi, tổng hợp tình hình xử lý các văn bản quy định chi tiết nợ đọng theo yêu cầu tại Mục 2 của Công điện số 36/CĐ-TTg ngày 25 tháng 4 năm 2026 về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 20 tháng 5 năm 2026, trong đó nêu rõ những Bộ, cơ quan ngang Bộ còn để chậm nợ văn bản, nguyên nhân chậm, nợ của từng văn bản, trách nhiệm của các cơ quan và đề xuất giải pháp xử lý.

g) Rà soát, tham mưu giải pháp, phương án, lộ trình xử lý các VBQPPL sẽ hết hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 trên cơ sở định hướng của Bộ Chính trị tại Kết luận số 09-KL/TW ngày 10 tháng 3 năm 2026 và quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, bảo đảm không gây vướng mắc, gián đoạn trong quá trình thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 6 năm 2026. Tổng rà soát cơ chế đặc thù áp dụng cho các địa phương, nghiên cứu thống nhất các cơ chế đặc thù theo hướng phân cấp, phân quyền, rõ ràng, minh bạch, các địa phương đáp ứng các nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện sẽ được trao quyền áp dụng các cơ chế chính sách phù hợp.

h) Tiếp tục thực hiện tốt vai trò Cơ quan Thường trực của các Ban Chỉ đạo về rà soát VBQPPL, trong đó tập trung nguồn lực triển khai tổng rà soát VBQPPL theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Kế hoạch của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL; khẩn trương tổ chức thẩm định kết quả rà soát của các Bộ, cơ quan, địa phương. Các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo toàn diện các Bộ, cơ quan ngang Bộ về việc hoàn thiện kết quả rà soát trong lĩnh vực được phân công phụ trách. Trên cơ sở tổng hợp kết quả rà soát của các Bộ, cơ quan, địa phương và ý kiến chỉ đạo của các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp tổng hợp, hoàn thiện báo cáo, trình Chính phủ trước ngày 31 tháng 7 năm 2026 để bảo đảm tiến độ trình cấp có thẩm quyền theo quy định.

i) Nghiên cứu, xây dựng Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026 - 2031”, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 6 năm 2026 và Đề án “Chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành VBQPPL”, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 12 năm 2026.

3. Về công tác cải cách hành chính, kiểm soát TTHC:

a) Đẩy mạnh cải cách hành chính, kiểm soát TTHC và chuyển đổi số toàn diện trong Bộ Tư pháp và toàn ngành. Hoàn thành việc xây dựng, kết nối, đồng bộ dữ liệu của các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngành Tư pháp về Trung tâm dữ liệu quốc gia, khắc phục các lỗi kỹ thuật của hệ thống đăng ký, quản lý Hộ tịch điện tử, hoàn thành trong tháng 5 năm 2026.

b) Chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật dữ liệu thuộc phạm vi quản lý, gửi Bộ Công an tổng hợp báo cáo hằng tháng. Đẩy mạnh số hóa dữ liệu hồ sơ; nâng tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Công bố danh mục cơ sở dữ liệu được khai thác, sử dụng thay thế giấy tờ trong thành phần hồ sơ TTHC; rà soát, tái cấu trúc các TTHC để khai thác, tái sử dụng dữ liệu, không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp thông tin đã có, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.

c) Tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm soát và tổ chức thực hiện rà soát, cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD theo đúng chỉ đạo tại Kết luận số 18- KL/TW; kiểm soát chặt chẽ, kiên quyết không để phát sinh thêm TTHC, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, ĐKKD sau khi cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...