Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Kết luận 18-KL/TW năm 2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số" do Ban Chấp hành Trung ương ban hành

Số hiệu 18-KL/TW
Ngày ban hành 02/04/2026
Ngày có hiệu lực 02/04/2026
Loại văn bản Văn bản khác
Cơ quan ban hành Ban Chấp hành Trung ương
Người ký Tô Lâm
Lĩnh vực Đầu tư,Thương mại,Tài chính nhà nước

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------

Số 18-KL/TW

Hà Nội, ngày 02 tháng 4 năm 2026

 

KẾT LUẬN

HỘI NGHỊ LẦN THỨ HAI
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XIV
------

về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số"

Ban Chấp hành Trung ương Đảng cơ bản tán thành nội dung các Kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công, đầu tư công do Đảng uỷ Chính phủ trình (Tờ trình số 14-TTr/ĐU kèm theo các Báo cáo số 236-BC/ĐU, 237-BC/ĐU, 238-BC/ĐU, 239-BC/ĐU, ngày 22/3/2026); đồng thời lưu ý, nhấn mạnh một số nội dung sau đây:

I- BỐI CẢNH VÀ TÌNH HÌNH GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

Tình hình thế giới giai đoạn 2021 - 2025 có những thời cơ, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức là chủ yếu; tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng; sự giám sát, đồng hành, phối hợp của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành quyết đoán, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, đất nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu giai đoạn 2021 - 2025, trong đó hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu về xã hội.

Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ và đạt kết quả tương đối cao, bình quân 5 năm đạt 6,2%/năm, trong đó năm 2025 đạt 8,02%. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát; bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia. Thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả nổi bật. Nhiều dự án tồn đọng, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, các tổ chức tín dụng yếu kém đã được xử lý có kết quả. Quản lý và sử dụng vốn đầu tư công có chuyển biến theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, nâng cao hiệu quả; hệ thống hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại; đẩy nhanh triển khai, xây dựng hệ thống đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, điện hạt nhân. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt được những kết quả tích cực. An sinh xã hội được bảo đảm. Các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục có bước phát triển tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được nâng lên. Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Đối ngoại và hội nhập quốc tế được nâng tầm và đạt nhiều kết quả nổi bật, mở ra cơ hội mới cho phát triển đất nước.

Đặc biệt, cuối nhiệm kỳ đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều quyết sách chiến lược mang tính bước ngoặt, tạo thế và lực cho tăng tốc phát triển. Cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy đã đạt được những kết quả mang tính đột phá. Xây dựng pháp luật có nhiều đổi mới, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế. Xây dựng, triển khai quyết liệt, hiệu quả các nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị.

Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, vẫn còn một số hạn chế, khó khăn. Nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc, năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp chưa nhiều cho tăng trưởng; cơ chế, chính sách trong lĩnh vực này còn tồn tại nhiều điểm nghẽn. Phân cấp nguồn thu và quan hệ giữa ngân sách trung ương - ngân sách địa phương còn bất cập. Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Công tác chuẩn bị dự án đầu tư công còn hạn chế, chất lượng chưa cao, còn dàn trải; chưa chú trọng đúng mức đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và hạch toán kinh tế tổng thể. Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn. Tình trạng ngập lụt, ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả. Công tác tổ chức thực thi có nhiều đổi mới, song vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển. Hoạt động của một số tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp xã sau sắp xếp còn gặp khó khăn, lúng túng.

Nguyên nhân của những hạn chế trước hết là do tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp, chưa có tiền lệ, vượt quá khả năng dự báo. Ở trong nước, một số bộ, cơ quan, địa phương có lúc, có nơi còn chưa chủ động, sáng tạo, thiếu quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; năng lực dự báo, phản ứng chính sách có nơi, có lúc còn hạn chế; một bộ phận cán bộ còn chưa thực sự đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, còn đùn đẩy, thiếu trách nhiệm; cơ chế, chính sách, pháp luật vẫn còn những điểm nghẽn, chưa theo kịp yêu cầu phát triển; sự phối hợp giữa các bộ, ngành, các địa phương chưa chặt chẽ, hiệu quả.

II- KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, TÀI CHÍNH QUỐC GIA, ĐẦU TƯ CÔNG, VAY, TRẢ NỢ CÔNG GIAI ĐOẠN 2026 - 2030

Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, tình hình thế giới tiếp tục biến động rất nhanh, mạnh, khó lường… ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn và với quyết tâm cao, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất quan điểm, mục tiêu, các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như sau:

1. Quan điểm, mục tiêu

1.1. Quan điểm chỉ đạo

- Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và sự nỗ lực, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và từng người dân.

- Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Kiên định mục tiêu, hành động quyết liệt, hiệu quả; đánh giá sát tình hình, linh hoạt các giải pháp vượt qua khó khăn của năm 2026, bứt phá trong giai đoạn 2027 - 2030.

- Đẩy mạnh xây dựng đồng bộ thể chế kiến tạo và phát triển bền vững, tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn; huy động, khơi thông và giải phóng nhanh mọi nguồn lực; phát triển lực lượng sản xuất mới. Phân cấp, phân quyền tối đa, thực chất gắn với cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường giám sát, kiểm tra, đôn đốc; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

- Bảo đảm cân đối bền vững, an toàn tài chính quốc gia, vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Thực hiện hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội trong phân bổ, quản lý và sử dụng mọi nguồn lực. Quản lý nợ công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững. Đầu tư công hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, tạo lan toả lớn, bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng, miền, tạo động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn.

1.2. Mục tiêu và chỉ tiêu

Phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân. Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới. Tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững; mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hoá và con người Việt Nam; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, an toàn; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên (Chỉ tiêu cụ thể tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Phụ lục 1, Phụ lục 2 kèm theo Kết luận này).

2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

Trung ương yêu cầu tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; trong đó, tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau (Các nhiệm vụ, thời hạn cụ thể nêu tại Phụ lục 3 kèm theo Kết luận này).

2.1. Nhiệm vụ và giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030

a) Thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số"

Các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, có nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm cụ thể cho từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện. Tăng cường tuyên truyền, vận động, hành động nêu gương để củng cố niềm tin, khát vọng phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội.

b) Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng

Xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và tăng cường kiểm tra, giám sát. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, xây dựng tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật sau khi ban hành, bảo đảm chuyển tư duy đánh giá hiệu quả pháp luật từ "tốt trong văn bản" sang "tốt trong cuộc sống". Tiếp tục có giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách. Tập trung rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch, thương mại, khoáng sản, xây dựng… góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hoá, số hoá toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...