Quyết định 8971/QĐ-UBND năm 2026 về Kế hoạch phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2026-2030
| Số hiệu | 8971/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 27/05/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 27/05/2026 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Tây Ninh |
| Người ký | Nguyễn Minh Lâm |
| Lĩnh vực | Tài nguyên - Môi trường |
|
ỦY BAN
NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 8971/QĐ-UBND |
Tây Ninh, ngày 27 tháng 5 năm 2026 |
BAN HÀNH KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH GIAI ĐOẠN 2026-2030
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Đê điều ngày 29/11/2006;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013;
Căn cứ Luật Khí tượng Thủy văn ngày 23/11/2015;
Căn cứ Luật Thủy lợi ngày 19/6/2017;
Căn cứ Luật Quy hoạch ngày 24/11/2017;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020;
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 27/11/2023;
Căn cứ Luật Phòng thủ dân sự ngày 20/6/2023;
Căn cứ Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật về quân sự, quốc phòng ngày 27/6/2025;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ngày 11/12/2025;
Căn cứ Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều;
Căn cứ Nghị định số 131/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ Quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự;
Căn cứ Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày 05/02/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Căn cứ Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai;
Căn cứ Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 06/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, đến năm 2030”;
Căn cứ Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương;
Căn cứ Thông tư số 13/2021/TT-BNNPTNT ngày 21/10/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quản lý, vận hành, sử dụng các khu khai thác khoáng sản, khai thác tài nguyên thiên nhiên khác, đô thị, du lịch, công nghiệp, di tích lịch sử; điểm du lịch; điểm dân cư nông thôn; công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực, viễn thông và hạ tầng kỹ thuật khác;
Căn cứ Thông tư số 10/2026/TT-BNNMT ngày 06/02/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Căn cứ Thông tư số 18/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chi tiết về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Căn cứ văn bản hợp nhất số 33/VBHN-BNNMT ngày 23/3/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương;
|
ỦY BAN
NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 8971/QĐ-UBND |
Tây Ninh, ngày 27 tháng 5 năm 2026 |
BAN HÀNH KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH GIAI ĐOẠN 2026-2030
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Đê điều ngày 29/11/2006;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013;
Căn cứ Luật Khí tượng Thủy văn ngày 23/11/2015;
Căn cứ Luật Thủy lợi ngày 19/6/2017;
Căn cứ Luật Quy hoạch ngày 24/11/2017;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020;
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 27/11/2023;
Căn cứ Luật Phòng thủ dân sự ngày 20/6/2023;
Căn cứ Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật về quân sự, quốc phòng ngày 27/6/2025;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ngày 11/12/2025;
Căn cứ Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều;
Căn cứ Nghị định số 131/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ Quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự;
Căn cứ Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày 05/02/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Căn cứ Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai;
Căn cứ Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 06/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, đến năm 2030”;
Căn cứ Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương;
Căn cứ Thông tư số 13/2021/TT-BNNPTNT ngày 21/10/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quản lý, vận hành, sử dụng các khu khai thác khoáng sản, khai thác tài nguyên thiên nhiên khác, đô thị, du lịch, công nghiệp, di tích lịch sử; điểm du lịch; điểm dân cư nông thôn; công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực, viễn thông và hạ tầng kỹ thuật khác;
Căn cứ Thông tư số 10/2026/TT-BNNMT ngày 06/02/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Căn cứ Thông tư số 18/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chi tiết về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Căn cứ văn bản hợp nhất số 33/VBHN-BNNMT ngày 23/3/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương;
Căn cứ Chương trình hành động số 52-CTr/TU ngày 09/4/2026 của Tỉnh ủy Tây Ninh triển khai thực hiện Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 8647/TTr-SNNMT ngày 04/5/2026 và báo cáo số 1490/BC-VP ngày 20/5/2026 của Văn phòng UBND tỉnh về tổng hợp ý kiến thành viên UBND tỉnh.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch Phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2026-2030.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh; Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Khai thác thủy lợi Tây Ninh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH TÂY NINH GIAI ĐOẠN 2026-2030
(Kèm theo Quyết định số 8971/QĐ-UBND ngày 27 tháng 5 năm 2026 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh)
1. Mục đích
Chủ động phòng ngừa, ứng phó kịp thời để giảm thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra bình quân từ 10-15% so với giai đoạn 2021-2025; khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, sớm ổn định đời sống Nhân dân và phục hồi sản xuất; nâng cao nhận thức cộng đồng trong quản lý rủi ro thiên tai, phát huy tinh thần tự giác, chủ động phòng, chống thiên tai (PCTT) của các cấp, các ngành và cộng đồng, Nhân dân trên địa bàn tỉnh.
2. Yêu cầu
- Xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động PCTT theo quy định của pháp luật; nâng cao năng lực chỉ huy, điều hành tại chỗ để ứng phó, xử lý tình huống, sự cố thiên tai.
- Các cấp, các ngành quán triệt và thực hiện nghiêm phương châm “bốn tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ) và nguyên tắc “phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả”.
- Thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng ứng phó về PCTT và tác động của thiên tai, đặc biệt là nâng cao năng lực, nhận thức cho cộng đồng, Nhân dân để chủ động PCTT.
- Lồng ghép đầy đủ nội dung PCTT vào các dự án, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địa phương; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực.
- Sử dụng nguồn kinh phí phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả, tái thiết sau thiên tai có hiệu quả; ưu tiên các giải pháp công trình, phi công trình.
II. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG
- Tỉnh Tây Ninh có sự giao thoa giữa địa hình trung du và đồng bằng, tạo nên sự đa dạng về khí hậu, thủy văn và rủi ro thiên tai. Điều này vừa là yếu tố thuận lợi (đa dạng sinh thái, tài nguyên nước, tiềm năng nông nghiệp – công nghiệp), nhưng cũng vừa là thách thức lớn trong công tác dự báo, cảnh báo, ứng phó và thích ứng với thiên tai.
- Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh 8.536,44 km², với 96 đơn vị hành chính cấp xã (gồm: 14 phường và 82 xã), trong đó có 19 xã biên giới giáp Vương quốc Campuchia.

- Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, chia 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình năm 1.800-2.400 mm) dễ xảy ra lũ lụt, ngập úng; mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4, nhiệt độ trung bình 26-28°C, nắng nhiều, khô nóng) dễ xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước sinh hoạt và sản xuất.
- Hệ thống sông chính: Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ Campuchia, chảy qua tỉnh trước khi đổ ra biển Đông - đây là trục thủy văn chính của toàn tỉnh; sông Vàm Cỏ Tây chảy qua vùng Đồng Tháp Mười. Ngoài ra còn có các sông, kênh, rạch nhỏ: Sông Cần Giuộc, kênh Thủ Thừa, kênh Nguyễn Văn Tiếp… tạo lên mạng lưới thủy văn liên kết dày đặc, đóng vai trò quan trọng trong cung cấp nước, giao thông thủy và điều tiết lũ.
- Chế độ thủy văn: Chịu ảnh hưởng mạnh từ sông Vàm Cỏ Đông, cùng với sông Vàm Cỏ Tây và mạng lưới kênh, rạch dày đặc. Mùa mưa, mực nước sông dâng cao, thường gây ngập lụt vùng hạ lưu; mùa khô, dòng chảy suy giảm làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn theo thủy triều.
- Hồ chứa nước Hồ Dầu Tiếng là hệ thống công trình thủy lợi lớn điều tiết nước, giúp kiểm soát lũ và cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt cho vùng hạ lưu.
- Chế độ thuỷ triều: Mặc dù tỉnh Tây Ninh không có bờ biển trực tiếp, nhưng phía Nam của tỉnh chịu ảnh hưởng rõ rệt của chế độ thủy triều thông qua sông Vàm Cỏ, Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây. Chế độ thuỷ triều: Bán nhật triều không đều; biên độ triều từ 2,5-3,2 m, ảnh hưởng trực tiếp đến dòng chảy, mực nước và nguy cơ xâm nhập mặn trong mùa khô.
2. Đặc điểm về dân sinh, kinh tế-xã hội và cơ sở hạ tầng chủ yếu
a) Đặc điểm dân sinh, kinh tế-xã hội
- Tỉnh Tây Ninh có khoảng 3,27 triệu dân với hơn 810 nghìn hộ dân, trong đó đối tượng dễ bị tổn thương trên 1,12 triệu người[1].
- Năm 2025, các cây trồng chủ lực phát triển ổn định; nuôi trồng thủy sản tiếp tục đem lại hiệu quả; sản xuất doanh nghiệp tăng mạnh (chỉ số sản xuất công nghiệp IIP tăng 14,94%); thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển (tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tiêu dùng tăng 16,08%); tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP) tăng 9,52%, trong đó khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 4,24%, khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 12,47%, khu vực thương mại, dịch vụ tăng 8,31%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,55%. Các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, ứng phó với lũ được thực hiện hiệu quả.
b) Đặc điểm cơ sở hạ tầng
- Hệ thống giao thông:
Toàn tỉnh có 17.051,28 km đường giao thông; 04 tuyến đường thủy nội địa chính với tổng chiều dài 384,1 km; 21 cảng, 401 bến thủy nội địa. Hệ thống giao thông của tỉnh được đầu tư cơ bản đồng bộ, kết nối liên thông từ tỉnh đến ấp, qua đó đã giúp các cấp, các ngành nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành PCTT; lực lượng ứng cứu thiên tai dễ tiếp cận và cơ động; vận chuyển vật tư, hàng hóa cứu trợ thuận lợi, đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi để huy động nguồn lực hỗ trợ từ các địa phương lân cận khi thiên tai xảy ra.
- Công trình thủy lợi:
Hệ thống thủy lợi của tỉnh đóng vai trò then chốt trong công tác PCTT[2]. Các công trình trọng điểm như: Hồ Dầu Tiếng, hồ Tha La, kênh Đông, kênh Tây, cùng mạng lưới kênh nội đồng đã phát huy hiệu quả trong điều tiết nguồn nước, giảm thiểu tác động của hạn hán, thiếu nước và ngập úng cục bộ. Việc đầu tư, duy tu, quản lý và vận hành đồng bộ, hiệu quả các công trình thủy lợi đã góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra, nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai để duy trì sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
- Mạng lưới điện:
Hệ thống mạng lưới điện trên địa bàn tỉnh cơ bản bảo đảm cấp điện an toàn, liên tục và kịp thời, giúp giảm thiểu thiệt hại, nâng cao khả năng ứng phó và phục hồi sau thiên tai. Toàn tỉnh có (tài sản do ngành điện quản lý) 01 trạm biến áp 500 kv công suất 900 MVA (Đức Hòa); 09 trạm biến áp 220 kv với tổng công suất 4000 MVA[3]; 55 Trạm biến áp 110 kv công suất 5.501 MVA; lưới điện 500 kv dài 261,4 km; lưới điện 220 kv dài 509,26 km; lưới điện 110 kv dài 801,3 km; đường dây trung thế dài 9.140 km; đường dây hạ thế dài 11.069 km; 18 nhà máy năng lượng mặt trời đấu nối lưới 220-110 kv với tổng công suất 1.160 MW; 6.826 hệ thống điện mặt trời mái nhà khách hàng với tổng công suất khoảng 651 MW (814 MWp); 02 nhà máy thủy điện nhỏ với tổng công suất lắp đặt là 3 MW; 01 nhà máy điện sinh khối có công suất lắp đặt là 37 MW..
- Hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình:
Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin dùng chung phục vụ chính quyền số, xã hội số của tỉnh hoạt động ổn định, phát huy hiệu quả (hệ thống một cửa điện tử; hộp thư điện tử; Cổng dịch vụ công...).
Hạ tầng viễn thông tiếp tục được quan tâm, phát triển khá đồng bộ, vùng phủ sóng rộng, đáp ứng tốt nhu cầu truyền tin và cảnh báo thiên tai[4]; hệ thống phát thanh - truyền hình cùng mạng lưới loa truyền thanh cơ sở bảo đảm truyền tải kịp thời thông tin thiên tai đến người dân và cộng đồng dân cư.
- Hệ thống trường học:
Mạng lưới trường lớp học tiếp tục được đầu tư, mở rộng, phát triển theo
định hướng chất lượng cao; cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, nâng cấp, đảm bảo yêu cầu chất lượng dạy và học; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 68,14%. Toàn tỉnh có 1.035 cơ sở giáo dục (970 cơ sở công lập, 65 cơ sở ngoài công lập), gồm có: Giáo dục mầm non 347 cơ sở (51 ngoài công lập); giáo dục phổ thông 673 trường (13 tư thục)[5]; giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp 15 đơn vị[6].
- Hệ thống cơ sở y tế:
Toàn tỉnh có 11 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và bệnh viện đa khoa khu vực tuyến tỉnh; 08 bệnh viện đa khoa tư nhân; 01 bệnh viện chuyên khoa tư nhân; 24 Trung tâm y tế khu vực; 96 trạm y tế xã, phường với 7.033 giường bệnh (trong đó 5.504 giường bệnh công lập, 1.529 giường bệnh ngoài công lập); 5.304 nhân viên y tế, trong đó: 1.635 bác sĩ; 1.327 y sĩ; 1.887 điều dưỡng; 455 hộ sinh.
Các cơ sở y tế được duy trì hoạt động ổn định; có đầy đủ trang thiết bị, vật tư và nguồn lực và đảm bảo hoạt động thông suốt. Qua đó, đã đảm bảo chăm sóc y tế khẩn cấp trong thiên tai như: Tổ chức tiếp nhận, cấp cứu và điều trị nạn nhân bị thương do thiên tai (dông lốc, sét…); tổ chức phun khử khuẩn, cấp phát hóa chất, thuốc sát khuẩn, đảm bảo vệ sinh môi trường và nguồn nước sinh hoạt; duy trì hệ thống kho thuốc dự trữ, phương tiện cấp cứu lưu động, đảm bảo hoạt động liên tục khi thiên tai xảy ra…
- Khu, cụm công nghiệp:
Toàn tỉnh hiện có 71 khu, cụm công nghiệp[7], các khu, cụm công nghiệp của tỉnh được phân bố rộng dọc theo các tuyến giao thông trọng điểm và gần các trung tâm đô thị; có hệ thống giao thông nội bộ tương đối đồng bộ. Một số doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp có khả năng cung ứng nhanh các sản phẩm phục vụ sửa chữa công trình, hỗ trợ đời sống sau thiên tai; có các kho bãi có thể được sử dụng làm điểm tập kết hàng hóa cứu trợ hoặc phân phối vật tư trong trường hợp cần huy động.
III. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC PCTT GIAI ĐOẠN 2021-2025
1. Hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến PCTT
Sau khi thành lập tỉnh Tây Ninh mới trên cơ sở hợp nhất tỉnh Tây Ninh (cũ) và tỉnh Long An, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành đầy đủ các văn bản chỉ đạo, điều hành và triển khai thực hiện Luật Phòng thủ dân sự, Luật PCTT và các nghị định, thông tư hướng dẫn của Trung ương. Bên cạnh đó, tỉnh đã kịp thời ban hành các văn bản, chính sách hỗ trợ thiệt hại do thiên tai gây ra trên địa bàn tỉnh; kiện toàn bộ máy quản lý Quỹ PCTT tỉnh và ban hành Quy chế hoạt động của Quỹ.
Xây dựng và triển khai Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng đến năm 2030; rà soát, bổ sung quy định quản lý khu vực ven sông, kênh rạch và xử lý sạt lở nhằm bảo đảm an toàn dân cư; xây dựng tiêu chuẩn, định mức sử dụng vật tư, thiết bị chuyên dùng PCTT; ban hành quy định về quản lý rủi ro đa thiên tai, an toàn hồ đập, vùng cấm và hành lang an toàn...
Hệ thống văn bản, cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời, đồng bộ là cơ sở quan trọng để UBND tỉnh và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp tổ chức chỉ đạo, điều hành công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai kịp thời, hiệu quả.
2. Hệ thống chỉ huy PCTT - tìm kiếm cứu nạn và công tác phối hợp thực hiện PCTT
a) Tổ chức, bộ máy chỉ huy PCTT:
Từ năm 2021-2023, Ban Chỉ huy PCTT và Tìm kiếm cứu nạn các cấp thường xuyên được củng cố, kiện toàn theo quy định của Luật PCTT; kịp thời chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ PCTT. Từ năm 2024-2025, hệ thống Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp được thành lập, kiện toàn theo Luật Phòng thủ dân sự năm 2023 (thay thế Ban Chỉ huy PCTT và Tìm kiếm cứu nạn trước đây), theo đó:
- Cấp tỉnh: Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; các Phó Trưởng ban gồm: Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Giám đốc Công an tỉnh; Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường; Giám đốc Sở Y tế. Văn phòng Thường trực đặt tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, tổng hợp, trực ban, trực chỉ huy và phối hợp triển khai nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh về công tác PCTT.
- Cấp xã: Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban; các Phó Trưởng ban gồm: Phó Chủ tịch UBND xã; Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự xã; Trưởng Công an xã; Trưởng phòng Kinh tế xã/Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường. Phòng Kinh tế xã/Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường là đơn vị thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự xã về công tác PCTT trên địa bàn xã.
b) Công tác phối hợp thực hiện PCTT:
- Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp thường xuyên được kiện toàn, phân công trách nhiệm của từng cơ quan, từng thành viên phụ trách địa bàn, lĩnh vực trong các hoạt động PCTT; bố trí cán bộ, công chức, viên chức trực theo quy chế trực ban đã ban hành của từng cơ quan, đơn vị, phù hợp với tình hình thiên tai ở các địa phương; khi có nhiều thành viên Ban Chỉ huy cùng tham gia ứng phó tình huống thiên tai trên cùng một địa bàn, Trưởng ban hoặc người được Trưởng ban ủy quyền là người chỉ huy ứng phó.
- Việc chỉ huy, huy động lực lượng và phối hợp ứng phó khi thiên tai xảy ra được thực hiện đúng theo cấp độ rủi ro thiên tai quy định tại Điều 7, 8, 9, 10, 11 của Nghị định số 66/2021/NĐ-CP; các thành viên Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp có trách nhiệm thông tin và phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau khi thực hiện nhiệm vụ.
- Hằng năm, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh điều chỉnh Kế hoạch ứng phó thảm hoạ, sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; Kế hoạch hiệp đồng ứng phó thảm hoạ, sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn giai đoạn 2023-2028 với các cơ quan, đơn vị có liên quan cho phù hợp với tình hình thực tế, xác định rõ tình huống thiên tai, phân công trách nhiệm về địa bàn ứng phó, xử lý của từng đơn vị cụ thể.
- Các đơn vị có liên quan xây dựng Quy chế phối hợp nhằm bảo đảm công tác PCTT trên địa bàn tỉnh được triển khai thống nhất, đồng bộ và hiệu quả.
- UBND cấp xã báo cáo định kỳ hằng tuần, hằng tháng và hằng quý về Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy tỉnh từ đầu mùa mưa bão.
Sau khi chuyển sang mô hình Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp theo Luật Phòng thủ dân sự năm 2023, công tác phối hợp trong PCTT đã có bước chuyển biến tích cực theo hướng thống nhất đầu mối chỉ đạo, tăng cường tính liên ngành và nâng cao hiệu quả huy động lực lượng, phương tiện. Việc tích hợp nhiệm vụ PCTT vào cơ chế điều hành chung giúp xử lý tình huống nhanh hơn, đồng bộ hơn, đặc biệt trong các tình huống thiên tai phức tạp, đa rủi ro. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu chuyển đổi, năng lực cán bộ chưa đồng đều và hệ thống kế hoạch chưa được tích hợp đầy đủ. Do đó, cần tiếp tục tăng cường tập huấn và đồng bộ hóa các kế hoạch để nâng cao hiệu quả phối hợp trong PCTT.
3. Công tác dự báo, cảnh báo sớm thiên tai
- Hệ thống trạm quan trắc khí tượng, thủy văn được duy trì và nâng cấp. Toàn tỉnh có 68 trạm quan trắc khí tượng, thuỷ văn[8]; công tác thu thập, tổng hợp số liệu phục vụ dự báo, cảnh báo bảo đảm tính liên tục và độ chính xác tương đối cao. Tuy nhiên, mạng lưới trạm quan trắc chưa phủ đều toàn tỉnh; thời gian cảnh báo thiên tai trước đối với các hiện tượng thời tiết cực đoan (mưa lớn, dông, lốc xoáy) còn ngắn, chưa đủ để chủ động ứng phó.
- Thông tin cảnh báo sớm thiên tai được phát hành thường xuyên, các loại hình thiên tai chủ yếu xảy ra được cảnh báo trước với độ chính xác tương đối cao; thông tin dự báo, cảnh báo thiên tai được truyền tải đến các đơn vị, địa phương qua nhiều kênh, như: Báo và Phát thanh, Truyền hình Tây Ninh; Đài truyền thanh xã, phường; hệ thống loa truyền thanh ấp; tin nhắn; mạng xã hội; sự phối hợp giữa cơ quan khí tượng thủy văn với các sở ngành và địa phương khá chặt chẽ và hiệu quả[9]; nhận thức của người dân khi tiếp nhận và phản ứng với cảnh báo thiên tai được nâng cao rõ rệt… Qua đó, nâng cao năng lực chủ động ứng phó thiên tai của chính quyền và người dân, góp phần việc giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
Tuy nhiên, đối với các loại hình thiên tai như: Mưa lớn cục bộ, dông lốc, sạt lở đất…, việc dự báo chi tiết còn khó khăn; địa bàn rộng và địa hình bị chia cắt khiến mức độ chi tiết của cảnh báo chưa cao; thông tin truyền đến người dân đôi khi chưa kịp thời, gây khó khăn cho công tác ứng phó thiên tai; công tác dự báo, cảnh báo sớm và hệ thống quan trắc vẫn còn yếu.
4. Nhân lực, phương tiện, trang thiết bị, vật tư và nhu yếu phẩm thiết yếu phục vụ PCTT
a) Nhân lực:
- Các đơn vị lực lượng vũ trang của tỉnh (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh) và lực lượng vũ trang tại các xã, phường là lực lượng chủ lực của tỉnh trong công tác phòng chống, ứng phó, cứu hộ cứu nạn và khắc phục bước đầu sau thiên tai[10], góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Các đơn vị duy trì quân số, phương tiện sẵn sàng cơ động, chủ động ứng cứu tại các khu vực xung yếu, nhất là vùng biên giới, ven sông, kênh rạch - nơi thường xảy ra dông lốc, mưa lớn, ngập úng và sạt lở.
- Các sở, ban, ngành và đoàn thể tỉnh có tổ, đội xung kích PCTT, sẵn sàng tham gia phòng ngừa, ứng phó và hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, đồng thời chi viện cho các địa phương thường xuyên bị ảnh hưởng của các loại hình thiên tai.
- UBND cấp xã thành lập và thường xuyên kiện toàn lực lượng xung kích PCTT, đây là lực lượng tại chỗ, phản ứng nhanh, trực tiếp hỗ trợ sơ tán dân, cứu hộ ban đầu và khắc phục nhanh các sự cố thiên tai.
Mặc dù lực lượng cứu hộ, cứu nạn của tỉnh luôn được duy trì và phát huy vai trò nòng cốt, nhưng vẫn còn một số hạn chế: Năng lực, kỹ năng của lực lượng xung kích cấp xã chưa đồng đều; một số khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận, gây ảnh hưởng đến khả năng ứng cứu kịp thời.
b) Phương tiện, trang thiết bị:
- Phương tiện, trang thiết bị phục vụ PCTT tương đối đầy đủ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu PCTT của tỉnh. Toàn tỉnh ước tính có 1.369 phương tiện và 18.674 trang thiết bị phục vụ PCTT. Đa số phương tiện, trang thiết bị do lực lượng vũ trang (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh) quản lý và sử dụng, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn, đặc biệt tại các khu vực sông, kênh rạch và vùng biên giới - nơi thường xuyên xảy ra dông lốc, mưa lớn, sạt lở bờ sông và ngập úng cục bộ. Các địa phương chủ động bố trí phương tiện, trang thiết bị sẵn sàng huy động, bảo đảm ứng phó kịp thời khi thiên tai xảy ra.
- Các phương tiện, trang thiết bị phục vụ PCTT như: Ca nô, xuồng, bạt, phao cứu sinh, áo phao… được bảo đảm từ nhiều nguồn, gồm: Nguồn hỗ trợ của Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn; nguồn ngân sách địa phương và nguồn huy động, hiệp đồng từ các đơn vị liên quan và Nhân dân khi cần thiết. Các phương tiện, trang thiết bị được quản lý theo đúng quy định về đăng kiểm, kiểm định, bảo dưỡng và quản lý tài sản.
c) Vật tư, nhu yếu phẩm
- Các nhu yếu phẩm thiết yếu phục vụ ứng phó thiên tai, như: Mì ăn liền, lương khô, gạo, nước uống, lương thực - thực phẩm thiết yếu, dụng cụ y tế, xăng dầu và các vật dụng sinh hoạt khác được chuẩn bị đầy đủ, bảo đảm đáp ứng nhu cầu khi xảy ra thiên tai. Nguồn dự trữ được bố trí tại các địa phương để kịp thời hỗ trợ người dân, nhất là trong các tình huống mưa lớn, dông lốc, ngập úng cục bộ hoặc sạt lở gây chia cắt. Đối với người dân sinh sống tại vùng sâu, vùng xa và các khu vực có nguy cơ bị cô lập khi thiên tai xảy ra, chính quyền địa phương khuyến cáo các hộ gia đình chủ động dự trữ nhu yếu phẩm cần thiết, để bảo đảm không thiếu đói và duy trì sinh hoạt trong thời gian bị ảnh hưởng bởi thiên tai.
- Hằng năm, Sở Y tế có kế hoạch dự trữ thuốc, hoá chất, trang thiết bị cho cấp tỉnh khi có hoàn lưu bão mạnh xảy ra; các bệnh viện, trung tâm y tế khu vực chủ động dự trữ thuốc, hoá chất, trang thiết bị cần thiết để sẵn sàng đối phó với các tình huống thiên tai trên địa bàn xã, phường.
- Các Trạm y tế xã, phường có kế hoạch chủ động di chuyển các phương tiện kỹ thuật, máy móc y tế, thuốc men đến vị trí an toàn khi xảy ra thiên tai (bão, lũ lụt) để tránh bị hư hỏng; bố trí máy phát điện dự phòng để có thể triển khai cấp cứu cho người dân khi mất điện. Đồng thời, có phương án đảm bảo nhu cầu lương thực, nhu yếu phẩm thiết yếu, có khả năng duy trì phục vụ bệnh nhân và cán bộ y tế tối thiểu 01 tuần trong thời gian chờ sự hỗ trợ của UBND tỉnh và Sở Y tế.
Nhìn chung, nhân lực, phương tiện, trang thiết bị, vật tư và nhu yếu phẩm phục vụ PCTT của tỉnh còn thiếu, chưa đồng bộ và một số đã xuống cấp; kho dự trữ vật tư, nhu yếu phẩm tại một số địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa và khu vực biên giới chưa đáp ứng yêu cầu, gây khó khăn cho công tác ứng phó thiên tai.
5. Công tác ứng phó thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn
Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp đã được thành lập và phân công đầu mối tiếp nhận, xử lý thông tin, phát lệnh điều hành trong các tình huống thiên tai. Các xã, phường đã xây dựng phương án ứng phó cụ thể đối với các loại hình thiên tai chủ yếu (hạn mặn, xâm nhập mặn, lũ lụt…); phương án chuẩn bị vật tư theo cấp độ rủi ro thiên tai; tổ chức huấn luyện, diễn tập theo kịch bản đa tình huống (lũ kết hợp triều cường; xâm nhập mặn, cháy rừng…); khi có thiên tai xảy ra, lực lượng chuyên trách được huy động nhanh để triển khai cứu trợ, hỗ trợ người dân.
Tuy nhiên, công tác điều hành và triển khai ứng phó thiên tai còn một số hạn chế, như: Một số nơi còn lúng túng trong điều hành khi thiên tai xảy ra đột xuất; thiếu kinh phí dự trữ vật tư; công tác tập huấn, diễn tập PCTT chưa được thực hiện thường xuyên; cơ chế phối hợp giữa các đơn vị chưa chặt chẽ, thống nhất.
6. Thông tin, truyền thông về PCTT
- Hệ thống thông tin, truyền thông về PCTT của tỉnh[11] đã có nền tảng ổn định và phủ đều khắp đến từng ấp, khu phố; phát huy hiệu quả cao trong việc cảnh báo nhanh và hướng dẫn người dân ứng phó với thiên tai.
- Các ngành chuyên môn của tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với các xã, phường, cơ quan truyền thông tổ chức truyền thông chuyên đề về PCTT, phát sóng bản tin cảnh báo sớm, phóng sự, chuyên mục về PCTT; thiết lập nhóm thông tin liên lạc trực tuyến với các xã, phường nhằm chia sẻ, cập nhật, ứng phó nhanh với thông tin thiên tai.
Trong tình huống khẩn cấp, Sở Khoa học và Công nghệ chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông (VNPT, Viettel, MobiFone,...) gửi tin nhắn cảnh báo thiên tai đến các thuê bao di động, giúp người dân nắm bắt kịp thời diễn biến thiên tai và hướng dẫn ứng phó; kiểm tra, gia cố mạng lưới, đặc biệt tại khu vực xung yếu và các xã biên giới, nhằm bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt. Bên cạnh đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong công tác PCTT, gồm: Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin quản lý thiên tai; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai; xây dựng trạm thu phát sóng di động tại các khu vực còn thiếu phủ sóng; phát triển các hệ thống quản lý thiên tai trước tác động ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu, góp phần nâng cao hiệu quả cảnh báo sớm và hỗ trợ người dân chủ động phòng, tránh.
- Hoạt động thông tin, truyền thông PCTT được xã hội hóa thông qua các tổ chức đoàn thể bằng nhiều hình phù hợp. Kết quả: Đã đào tạo, tập huấn cho 1.543 lượt người; thực hiện 07 đợt diễn tập với khoảng 370 lượt người; tổ chức 1.233 buổi tuyên truyền với 599.553 lượt người; in và phát 58.100 tờ rơi; mở 76 lớp đào tạo nâng cao năng lực cứu hộ, cứu nạn và sơ cấp cứu người bị thương cho 9.283 lượt người; mở 106 lớp luyện tập, huấn luyện nghiệp vụ cho 40.642 lượt cán bộ kiêm nhiệm PCTT, bộ đội và dân quân tự vệ; tổ chức 3.014 đợt phổ biến pháp luật, chính sách PCTT cho 125.086 lượt người; treo 997 băng rôn tuyên truyền về PCTT. Ngoài ra, các mô hình “Trường học an toàn trước thiên tai”, “Cộng đồng an toàn trước thiên tai” đã được triển khai ở nhiều xã, phường… Qua đó đã góp phần lan tỏa kiến thức, kỹ năng PCTT đến từng hộ dân, khu dân cư.
Nhìn chung, công tác thông tin, tuyên truyền PCTT đã được triển khai rộng khắp, góp phần nâng cao ý thức chủ động phòng tránh của người dân; các cơ quan truyền thông phát huy vai trò nòng cốt trong việc lan tỏa thông điệp PCTT: “Chủ động-Ứng phó-Khắc phục kịp thời”. Tuy nhiên, việc truyền tải thông tin chưa đồng đều tại vùng sâu, vùng xa và khu vực biên giới; một bộ phận người dân còn chủ quan, tiếp nhận thông tin chưa đầy đủ; hạ tầng viễn thông và ứng dụng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, làm giảm hiệu quả cảnh báo sớm thiên tai.
7. Năng lực và nhận thức của cộng đồng về PCTT
Định kỳ hằng năm, tỉnh ban hành và triển khai kế hoạch thực hiện Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, qua đó năng lực và nhận thức của cộng đồng về PCTT đã có bước chuyển biến tích cực. Người dân ngày càng nhận thức rõ hơn về nguy cơ, tác động của thiên tai và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, ứng phó; từng bước chủ động thực hiện các biện pháp như: Gia cố nhà cửa, chuẩn bị nhu yếu phẩm, tham gia các hoạt động tuyên truyền, tập huấn do chính quyền tổ chức… góp phần nâng cao khả năng ứng phó ban đầu của cộng đồng khi xảy ra thiên tai.
Tuy nhiên, nhận thức và năng lực của cộng đồng vẫn chưa đồng đều giữa các khu vực (vùng sâu, vùng biên giới) và nhóm đối tượng; một bộ phận người dân còn tâm lý chủ quan trước thiên tai; kỹ năng ứng phó với các tình huống thiên tai của người dân còn hạn chế, nhất là đối với các tình huống bất thường (sét, dông lốc).
a) Hệ thống công trình thủy lợi - đê điều:
- Hệ thống công trình thủy lợi của tỉnh cơ bản hoạt động ổn định, gồm 04 hồ chứa với dung tích 1.611,85 triệu m³ phục vụ tưới cho 145.441 ha; 51 cống đầu mối điều tiết tưới - tiêu ngăn triều, chống mặn và chống úng cho vùng hạ lưu; 30 tuyến kè chống sạt lở nhằm bảo vệ bờ sông, kênh, hạn chế xâm nhập mặn và triều cường; cùng 05 tuyến kênh chuyển nước chính dài 308.773 m dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng đến bảo đảm tưới cho khoảng 75.163 ha đất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh; các công trình cơ bản hoạt động ổn định, góp phần bảo đảm cấp nước, giảm hạn, chống úng và bảo vệ sản xuất nông nghiệp.
- Toàn tỉnh hiện có 11 công trình đê điều với tổng chiều dài 226.327 m, cơ bản đáp ứng yêu cầu bảo vệ dân cư và sản xuất. Hệ thống đê bao - bờ bao tại các vùng sản xuất nông nghiệp và ven sông Vàm Cỏ Đông phát huy hiệu quả trong phòng chống ngập úng, sạt lở. Các tuyến kè ven sông từng bước được đầu tư, góp phần bảo vệ bờ sông, đất sản xuất và hạ tầng giao thông.
- Việc đầu tư các công trình, dự án hạ tầng phục vụ PCTT là nhiệm vụ trọng tâm, đóng vai trò rất quan trọng, góp phần bảo vệ dân cư và các công trình hạ tầng thiết yếu của tỉnh, nâng cao năng lực ứng phó và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Kết quả tỉnh đã đầu tư 241 dự án với tổng kinh phí bố trí thực hiện là 1.378,76 tỷ đồng4, trong đó: 225 dự án hoàn thành (921,037 tỷ đồng), chiếm 93,4%; 09 dự án đang triển khai thực hiện (52,243 tỷ đồng); 01 dự án không thực hiện (8 tỷ đồng); 06 dự án chưa hoàn thành chuyển sang giai đoạn 2026-2030 (397,48 tỷ đồng).
Mặc dù hệ thống công trình thủy lợi và đê điều của tỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu và cấp nước, nhưng vẫn còn một số hạn chế như: Công tác giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, thay đổi thiết kế, thiếu hoặc chậm bố trí vốn thực hiện dự án, nhất là nguồn vốn do Trung ương hỗ trợ; một số dự án không thực hiện, do không đảm bảo thời gian thực hiện để tránh lãng phí công tác chuẩn bị đầu tư hoặc ảnh hưởng đến các mục tiêu của tỉnh; nhiều đoạn đê, bờ bao và kè còn xung yếu, xuống cấp, đặc biệt tại khu vực Đồng Tháp Mười và ven sông Vàm Cỏ Tây; nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa lũ còn cao do nguồn lực đầu tư nâng cấp chưa đáp ứng nhu cầu; bên cạnh đó, một số khu vực ven sông có diễn biến sạt lở nhanh nhưng chưa được xử lý kịp thời do thiếu kinh phí và khó khăn về mặt bằng, ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm an toàn công trình và hiệu quả phục vụ sản xuất, dân sinh trong điều kiện thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng. Trong thời gian tới, tỉnh tập trung xử lý các điểm nóng thiên tai, như: Sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Đông và ngập úng tại vùng sản xuất; hoàn thiện các công trình PCTT còn dang dở và nâng cấp hạ tầng thiết yếu phục vụ sơ tán; kiên cố hóa công trình chống sạt lở, cải tạo hệ thống cấp nước; nạo vét thoát nước nội thị và hoàn thiện đê điều.
b) Hệ thống giao thông phục vụ cứu nạn, cứu hộ:
- Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn, đặc biệt là các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và các trục giao thông chính kết nối trung tâm tỉnh với các xã, phường và khu vực biên giới; các tuyến đường được duy tu, bảo trì thường xuyên, bảo đảm khả năng cơ động của lực lượng chức năng khi xảy ra thiên tai, sự cố.
- Sau sáp nhập đơn vị hành chính, mạng lưới giao thông liên xã - liên ấp được rà soát và từng bước nâng cấp, góp phần cải thiện khả năng tiếp cận hiện trường tại các khu vực xa trung tâm. Tuy nhiên, một số tuyến đường nông thôn, vùng trũng thấp và khu vực biên giới vẫn còn xuống cấp, mặt đường hẹp, hệ thống thoát nước chưa hoàn chỉnh, gây khó khăn cho công tác cứu hộ trong mùa mưa bão. Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục ưu tiên đầu tư nâng cấp các tuyến giao thông trọng yếu, gia cố các điểm sạt lở, hoàn thiện hệ thống thoát nước đô thị và cải thiện đường giao thông nông thôn nhằm nâng cao năng lực tiếp cận hiện trường và bảo đảm triển khai kịp thời công tác cứu hộ, cứu nạn trong mọi tình huống thiên tai.
c) Hệ thống điện, thông tin liên lạc, truyền thanh, truyền hình
- Hệ thống điện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh được đầu tư tương đối đồng bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và phục vụ công tác PCTT. Các trạm biến áp và đường dây trung - hạ thế được duy tu, bảo trì thường xuyên, bảo đảm vận hành ổn định, đặc biệt tại khu vực đô thị, khu công nghiệp và các trục giao thông chính. Ngành điện lực duy trì trực 24/24 giờ trong mùa mưa bão, chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng để xử lý sự cố kịp thời. Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99,98%, trong đó khu vực đô thị đạt 100% và nông thôn đạt 99,8%. Ngoài nguồn điện lưới quốc gia, tỉnh còn có 18 nhà máy điện mặt trời, 1 nhà máy điện sinh khối 37MW và hơn 6000 hệ thống điện mặt trời mái nhà, góp phần tăng nguồn năng lượng nội sinh và bảo đảm an ninh năng lượng trong các tình huống thiên tai.
- Công tác thông tin liên lạc được duy trì thông suốt, sẵn sàng phục vụ chỉ đạo, điều hành PCTT. Các doanh nghiệp viễn thông thường xuyên kiểm tra, gia cố hạ tầng mạng lưới, bảo dưỡng thiết bị truyền dẫn, chuẩn bị máy phát điện dự phòng và phương tiện thông tin cơ động, bảo đảm hoạt động ổn định của hệ thống điện thoại cố định, di động và mạng thông tin chuyên dùng.
- Hệ thống truyền thanh - truyền hình của tỉnh được vận hành ổn định, thường xuyên cập nhật, phát sóng thông tin cảnh báo thời tiết, thiên tai và hướng dẫn ứng phó cho người dân. Hằng năm, các cơ quan báo chí và truyền thông của tỉnh đăng tải nhiều tin, bài tuyên truyền về thời tiết và thiên tai theo chỉ đạo của Sở Thông tin và Truyền thông, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng.
Hệ thống điện, thông tin liên lạc và truyền thanh - truyền hình của tỉnh nhìn chung đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác PCTT nhưng vẫn còn một số hạn chế, như: Một số đường dây điện và trạm biến áp ở vùng sâu, vùng biên giới còn xuống cấp, dễ xảy ra sự cố khi mưa bão; khả năng dự phòng nguồn điện cho các trạm phát sóng chưa đầy đủ. Hạ tầng viễn thông tại một số khu vực còn yếu, chất lượng sóng và Internet chưa ổn định. Hệ thống truyền thanh cơ sở ở một số xã, ấp còn lạc hậu, thiết bị xuống cấp, phạm vi phủ sóng hạn chế, ảnh hưởng đến việc truyền tải thông tin cảnh báo thiên tai kịp thời.
d) Nhà kết hợp sơ tán dân:
- Tỉnh Tây Ninh có địa hình đa dạng, bao gồm vùng trung du, đồng bằng và khu vực thấp trũng ven sông, kết hợp bối cảnh thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp, việc bố trí nhà kết hợp sơ tán dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.
- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh chưa có công trình chuyên dụng làm nhà tránh trú thiên tai cộng đồng, thay vào đó, tỉnh chủ yếu sử dụng nhà kết hợp sơ tán dân, gồm nhà văn hóa, trường học, trụ sở cơ quan nhà nước, cơ sở y tế và cơ sở tôn giáo để làm nơi tránh trú tạm thời khi xảy ra thiên tai; các công trình này phần lớn được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, đáp ứng yêu cầu sơ tán an toàn cho người dân. Toàn tỉnh hiện có 26 điểm nhà kết hợp sơ tán dân với sức chứa khoảng 41.463 người. Ngoài ra, tỉnh có 44 trường tiểu học được đầu tư theo Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam, có thể sử dụng làm nơi tránh trú an toàn khi cần thiết.
Tuy nhiên, tại một số khu vực dân cư phân tán và các xã, phường sau sáp nhập, số lượng điểm tránh trú còn hạn chế; một số công trình đã xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu về diện tích, công năng và điều kiện sinh hoạt tạm thời. Tỉnh tiếp tục rà soát, sửa chữa và bổ sung các điểm tránh trú hằng năm để bảo đảm an toàn cho người dân trong mọi tình huống thiên tai.
đ) Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu:
- Tỉnh Tây Ninh là tỉnh nội địa, không giáp biển nhưng có hệ thống sông, hồ, kênh, rạch khá phát triển. Mặc dù không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão biển, song các hiện tượng dông lốc, mưa lớn, gió mạnh, sét thường xuyên xảy ra, gây nguy hiểm cho tàu, thuyền hoạt động trên sông, hồ. Do đó, việc bố trí khu neo đậu tránh trú bão, nơi tránh gió an toàn cho phương tiện thủy là cần thiết nhằm đảm bảo an toàn người và phương tiện, giảm thiểu thiệt hại khi có thiên tai.
- Trên địa bàn tỉnh hiện có 11 vị trí được sử dụng làm khu neo đậu tránh trú tạm thời cho tàu, thuyền với tổng diện tích khoảng 200,53 ha. Các khu neo đậu chủ yếu là khu tạm thời, quy mô nhỏ, chưa có công trình bảo vệ sóng, gió nên trong các đợt gió mạnh, phương tiện phải chủ động di chuyển vào khu vực kín hoặc lên bờ; chưa có đơn vị chuyên trách quản lý khu neo đậu tránh trú bão, công tác thông tin, cảnh báo thiên tai đường thủy được thực hiện chủ yếu qua Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh và lực lượng PCTT cấp xã; khi có mưa, dông lớn chính quyền cấp xã phối hợp hướng dẫn người dân neo đậu tàu thuyền tại khu vực an toàn.
e) Bãi đổ máy bay trực thăng:
- Tỉnh Tây Ninh có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, tiếp giáp Campuchia, với địa hình chủ yếu là đồng bằng xen đồi thấp. Trong công tác PCTT, việc bố trí bãi đỗ máy bay trực thăng (sân đáp) có vai trò quan trọng trong công tác chỉ huy, vận chuyển cứu hộ, cứu nạn, tiếp tế, y tế khẩn cấp, đặc biệt trong các tình huống mưa lớn, ngập lụt, dông lốc, sạt lở hoặc cháy rừng.
- Hiện nay, tỉnh chưa có bãi đỗ máy bay trực thăng chuyên dụng phục vụ công tác PCTT, nhưng tỉnh đã xác định được 13 vị trí tại 13 xã, phường (Khánh Hậu, Long An, Tân An, Thạnh Lợi, Nhựt Tảo, Mỹ Quý, Đông Thành, Cần Đước, Thủ Thừa, Bến Cầu, Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Kiến Tường) có thể sử dụng tạm thời hoặc kết hợp trong các phương án ứng phó khẩn cấp với tổng diện tích bãi đỗ 207.278,0 m².
g) Công trình phòng cháy, chữa cháy rừng:
- Diện tích bảo vệ rừng và bảo vệ trảng cỏ trên địa bàn tỉnh thực hiện giai đoạn 2021-2025 là 331.510 ha, bình quân 66.302 ha/năm. Giai đoạn 2021-2025, do ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng, khô hạn kéo dài, nguy cơ cháy rừng thường xuyên ở cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm), công tác phòng cháy, chữa cháy rừng gặp nhiều khó khăn và luôn được ưu tiên, chú trọng; từ năm 2021-2025, toàn tỉnh đã xảy ra 22 vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại 32,4 ha.
- Toàn tỉnh có 11 tháp canh lửa, các công trình phục vụ công tác chữa cháy rừng và một số trang thiết bị phục vụ cho công tác chữa cháy rừng.
h) Trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, cảnh báo thiên tai:
Hệ thống trạm quan trắc của tỉnh đang từng bước hiện đại hóa (toàn tỉnh có 68 trạm quan trắc); kênh phát tin khí tượng, thuỷ văn và cảnh báo thiên tai đa dạng (Báo và Phát thanh Truyền hình Tây Ninh, website, tin nhắn, Đài truyền thanh xã, phường…) giúp tăng khả năng lan truyền nhanh tin cảnh báo đến người dân và cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, mật độ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của trạm quan trắc chưa đồng đều; thiết bị quan trắc tại một số trạm chưa tự động hóa hoàn toàn, ảnh hưởng đến độ tin cậy và tần suất cập nhật dữ liệu cho công tác cảnh báo.
i) Bệnh viện, trạm y tế:
Toàn tỉnh có 11 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và bệnh viện đa khoa khu vực tuyến tỉnh; 08 bệnh viện đa khoa tư nhân; 01 bệnh viện chuyên khoa tư nhân; 24 trung tâm y tế khu vực; 96 trạm y tế xã, phường. Hầu hết các bệnh viện, trạm y tế được xây dựng kiên cố, đạt tiêu chuẩn chống bão cấp 9-10, có khu điều hành khẩn cấp và kho dự trữ thuốc, vật tư y tế; nhiều trạm y tế xã, phường được nâng cấp, cải tạo theo chuẩn quốc gia. Công tác chuẩn bị, ứng trực PCTT được tổ chức chặt chẽ; lực lượng cấp cứu lưu động tại các bệnh viện luôn sẵn sàng tham gia cứu thương, hỗ trợ y tế tại hiện trường.
* Đánh giá chung:
- Ưu điểm: Hệ thống hạ tầng PCTT được quản lý tập trung, khai thác hiệu quả. Cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi từng bước được đồng bộ hóa, giúp nâng cao năng lực ứng phó khi thiên tai xảy ra. Nhiều công trình công cộng được tận dụng hợp lý làm điểm trú tránh tạm thời cho nhân dân khi có thiên tai.
- Hạn chế: Một số hạng mục hạ tầng cũ xuống cấp, chưa được duy tu thường xuyên, kịp thời. Thiếu công trình tránh trú chuyên dụng và trang thiết bị hiện đại phục vụ cứu hộ, cứu nạn. Công tác quy hoạch cơ sở hạ tầng PCTT chưa thật sự đồng bộ với các quy hoạch chuyên ngành. Hệ thống cảnh báo sớm và quan trắc thiên tai tự động còn ít.
(Cơ sở hạ tầng PCTT xem chi tiết tại Phụ lục I)
Công tác lồng ghép nội dung PCTT trong các chương trình, dự án, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh được triển khai theo Thông tư số 10/2021/TT-BKHĐT ngày 22/12/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giảm thiểu thiệt hại và nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng, đặc biệt trong bối cảnh tỉnh đã sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, làm thay đổi phạm vi quản lý và yêu cầu tích hợp PCTT ở quy mô rộng hơn.
a) Lồng ghép trong quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội:
Các quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành của tỉnh đã tích hợp nội dung đánh giá rủi ro thiên tai, tác động của biến đổi khí hậu và các giải pháp thích ứng. Các lĩnh vực trọng điểm, như: Thủy lợi, giao thông, xây dựng nông thôn mới, tài nguyên nước, đô thị và khu vực biên giới đều được bổ sung giải pháp thoát nước, chống ngập, bảo đảm an toàn hồ đập, duy trì nguồn điện - nước trong điều kiện thiên tai cực đoan. Sau sáp nhập đơn vị hành chính, tỉnh đã cập nhật lại các vùng nguy cơ thiên tai, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất.
b) Lồng ghép trong các chương trình và dự án đầu tư:
Nhiều dự án hạ tầng trọng điểm của tỉnh (giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, năng lượng…) đã thực hiện đánh giá tác động môi trường và rủi ro thiên tai trước khi triển khai. Các công trình được thiết kế đáp ứng tiêu chuẩn chịu bão, lũ, ngập úng, đặc biệt tại các khu vực xung yếu như hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, hồ Dầu Tiếng và các vùng trũng thấp. Các chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững) đã lồng ghép nội dung PCTT thông qua đầu tư nâng cấp giao thông nông thôn, hệ thống thoát nước, nhà văn hóa kiêm nơi sơ tán dân, công trình cấp nước sạch và các hạng mục phục vụ an toàn dân sinh. Sau sáp nhập đơn vị hành chính, tỉnh đã rà soát lại nhu cầu đầu tư để bảo đảm các công trình mới phù hợp với quy mô dân số và điều kiện thiên tai của từng địa bàn.
c) Lồng ghép trong kế hoạch phát triển ngành:
Các sở, ngành, như: Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Công Thương… đã ban hành kế hoạch riêng hoặc tích hợp nội dung PCTT vào kế hoạch phát triển ngành hằng năm. Nhiều ngành đã xây dựng phương án bảo đảm an toàn hạ tầng thiết yếu trong mùa mưa bão, như: An toàn hồ đập, công trình thủy lợi, giao thông, hệ thống điện - viễn thông, trường học, bệnh viện và chuỗi cung ứng hàng hóa thiết yếu. Sau sáp nhập đơn vị hành chính, các ngành đã cập nhật lại phương án ứng phó theo địa bàn mới, bảo đảm phù hợp với phạm vi quản lý rộng hơn và nhu cầu thực tế của người dân.
10. Công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai
- Trong 5 năm qua, tỉnh Tây Ninh chịu ảnh hưởng của nhiều loại hình thiên tai như mưa lớn, dông lốc, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông và ngập úng cục bộ, gây thiệt hại khoảng 326.812 triệu đồng, chủ yếu đối với sản xuất nông nghiệp, nhà ở và hạ tầng giao thông.
- Sau mỗi đợt thiên tai, tỉnh đã huy động lực lượng tại chỗ hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả, sửa chữa nhà cửa, khôi phục sản xuất và hạ tầng thiết yếu; hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi và di dời 87 hộ dân khỏi khu vực nguy hiểm. Tỉnh cũng triển khai các chính sách hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo bị ảnh hưởng bởi hạn hán, xâm nhập mặn; đầu tư các công trình kè chống sạt lở, hộ đê và hạng mục cấp bách bảo vệ dân cư. Công tác truyền thông được tăng cường, huy động thêm nguồn lực xã hội hóa phục vụ phục hồi sau thiên tai.
- Về tái thiết lâu dài, tỉnh đã sửa chữa, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước, kênh mương; triển khai mô hình “Nhà an toàn, khu dân cư an toàn trước thiên tai”; hỗ trợ sinh kế thông qua khuyến nông, đào tạo nghề và vốn vay. Một số khu vực nguy cơ cao được đưa vào quy hoạch bố trí lại dân cư. Tuy nhiên, công tác phục hồi vẫn còn hạn chế về hỗ trợ chưa đồng đều giữa các địa phương, nguồn lực tài chính còn hạn chế và tiến độ khắc phục ở một số nơi còn chậm. Tỉnh tiếp tục nâng cao năng lực đánh giá thiệt hại, huy động đa dạng nguồn lực, ưu tiên đầu tư hạ tầng PCTT và đẩy nhanh di dời dân cư khỏi vùng nguy hiểm.
- Hiện nay, công tác PCTT của tỉnh Tây Ninh được bảo đảm từ nhiều nguồn tài chính khác nhau, gồm: Ngân sách nhà nước, nguồn dự phòng ngân sách cấp tỉnh - cấp xã, Quỹ PCTT tỉnh, nguồn dự trữ Nhà nước, nguồn vốn ODA, hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, nguồn xã hội hóa và các nguồn vốn hợp pháp khác. Các nguồn lực này được sử dụng cho ứng phó, khắc phục khẩn cấp, tái thiết sau thiên tai và lồng ghép vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, nguồn ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu khắc phục hậu quả thiên tai, phần lớn thiệt hại của doanh nghiệp và người dân phải tự khắc phục. Nguồn vốn đầu tư phát triển sau thiên tai còn hạn chế, chủ yếu tập trung cho cứu trợ khẩn cấp, sửa chữa công trình thiết yếu; trong khi nhu cầu tái thiết lâu dài, nâng cấp hạ tầng PCTT ngày càng lớn, nhất là tại các khu vực trũng thấp ven sông Vàm Cỏ Đông, vùng hạ lưu hồ Dầu Tiếng và các xã sau sáp nhập có địa bàn rộng, dân cư phân tán.
- Tại địa phương, nguồn lực tài chính phục vụ PCTT được bố trí từ: Ngân sách thường xuyên, ngân sách đầu tư phát triển, ngân sách dự phòng, Quỹ PCTT tỉnh, cùng với các nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương và các tổ chức quốc tế. Hằng năm, UBND tỉnh trích nguồn dự phòng để mua sắm vật tư, trang thiết bị PCTT; sửa chữa, khắc phục sự cố công trình hạ tầng; hỗ trợ người dân bị thiệt hại. Các sở, ngành và địa phương chủ động bố trí kinh phí để trang bị phương tiện, thiết bị phục vụ công tác thông tin, ứng phó và tìm kiếm cứu nạn theo phương châm “bốn tại chỗ”.
- Quỹ PCTT tỉnh tiếp tục là nguồn lực quan trọng. Hằng năm, Quỹ PCTT tỉnh thông báo thu Quỹ, tổ chức thu nộp theo quy định và sử dụng chi cho các nhiệm vụ cấp bách, như: Hỗ trợ khắc phục thiệt hại, mua sắm vật tư dự phòng, sửa chữa công trình hư hỏng do thiên tai.
Tuy nhiên, nguồn lực tài chính cho PCTT của tỉnh vẫn còn hạn chế so với nhu cầu thực tế; việc huy động nguồn lực xã hội hóa chưa đồng đều giữa các địa phương; một số xã sau sáp nhập có địa bàn rộng nhưng chưa được bố trí đủ kinh phí để nâng cấp hạ tầng PCTT gây khó khăn cho công tác ứng phó và tái thiết.
IV. XÁC ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2026-2030
1. Xác định các loại hình thiên tai
Căn cứ Luật PCTT, các quy định của trung ương và đặc điểm điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn và thực tiễn diễn biến thiên tai xảy ra giai đoạn 2021-2025, tỉnh Tây Ninh xác định giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh xảy ra các loại hình thiên tai chủ yếu như sau: Bão, áp thấp nhiệt đới, dông lốc, mưa lớn, sét; hạn hán, xâm nhập mặn; sạt lở bờ sông, kênh; lũ lụt (vùng Đồng Tháp Mười) và cháy rừng do tự nhiên.
Dưới tác động của biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan trên địa bàn tỉnh có xu hướng gia tăng về cường độ và tính bất thường, trong đó, mưa lớn, dông lốc và sét được xác định là các loại hình thiên tai có mức độ rủi ro cao, xảy ra thường xuyên và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân sinh, sản xuất và hạ tầng. Mặc dù bão và áp thấp nhiệt đới ít ảnh hưởng trực tiếp, nhưng hoàn lưu của các hình thái này vẫn có thể gây mưa lớn diện rộng, làm gia tăng nguy cơ ngập lụt và thiệt hại.
a) Bão, áp thấp nhiệt đới, dông lốc, mưa lớn, sét:
Giai đoạn 2026-2030, bão, áp thấp nhiệt đới, dông lốc, mưa lớn, sét chủ yếu dao động từ cấp độ rủi ro thiên tai cấp 1 đến cấp 3, riêng mưa lớn trong điều kiện cực đoan có thể đạt cấp 4 cục bộ. Trong đó, mưa lớn và dông lốc là các loại hình có cấp độ rủi ro cao hơn; các loại hình còn lại tuy cấp độ thấp hơn nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại về người và tài sản.
- Bão (ảnh hưởng gián tiếp): Tỉnh Tây Ninh không bị tác động trực tiếp của bão biển, chủ yếu chịu ảnh hưởng hoàn lưu sau bão gây mưa lớn, gió mạnh. Tuy nhiên trong trường hợp hoàn lưu mạnh có thể gây mưa diện rộng. Khu vực ảnh hưởng là toàn tỉnh, đặc biệt là các khu vực trũng thấp, đô thị. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 1 - Cấp 2.
- Áp thấp nhiệt đới, dông lốc, gió mạnh: Xảy ra thường xuyên, phạm vi hẹp nhưng thiệt hại trực tiếp. Khu vực ảnh hưởng chủ yếu là khu dân cư nông thôn; vùng sản xuất nông nghiệp và các khu vực có nhiều công trình tạm, nhà ở không kiên cố. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 2 - Cấp 3.
- Mưa lớn: Tập trung vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11); mưa lớn trong thời gian ngắn (mưa cực đoan) có xu hướng gia tăng, gây ngập úng diện rộng. Khu vực ảnh hưởng chủ yếu là vùng trũng thấp; khu vực ven sông, kênh, rạch. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 2 - Cấp 3 (trong một số tình huống cực đoan có thể đạt cấp 4 cục bộ).
- Sét: Xảy ra phổ biến trong mùa mưa, cơn dông, phân bố rộng. Khu vực ảnh hưởng chủ yếu là khu vực trống trải, đồng ruộng, nơi có công trình cao, hệ thống điện. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 1 - Cấp 2.
b) Hạn hán, xâm nhập mặn:
Giai đoạn 2026-2030, hạn hán được xác định là loại hình thiên tai có cấp độ rủi ro cao, có thể đạt đến cấp 3, thậm chí cấp 4 trong điều kiện cực đoan; phạm vi ảnh hưởng rộng và kéo dài; tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh.
- Hạn hán: Là loại hình thiên tai chủ yếu xảy ra vào mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) và có xu hướng gia tăng nắng nóng kéo dài, bốc hơi lớn. Khu vực chịu ảnh hưởng chủ yếu là khu vực sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên và vùng xa nguồn cấp nước sinh hoạt tập trung. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 2 - Cấp 3 (trong điều kiện cực đoan, diện rộng có thể đạt cấp 4).
- Xâm nhập mặn: Tỉnh Tây Ninh không giáp với biển nên không chịu ảnh hưởng trực tiếp của xâm nhập mặn quy mô lớn. Tuy nhiên, có thể xảy ra xâm nhập mặn cục bộ trong điều kiện thời tiết cực đoan (hạn hán kéo dài, suy giảm nguồn nước). Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 1 (trong trường hợp bất lợi có thể cấp 2 cục bộ)
c) Sạt lở bờ sông, kênh:
Sạt lở bờ sông không phải là loại hình thiên tai có quy mô lớn, nhưng có tính chất nguy hiểm cục bộ, xảy ra bất ngờ tại các điểm xung yếu dọc theo sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, sông Vàm Cỏ, sông Tra, sông Rạch Cát, sông Cần Giuộc, sông Kênh Hàn và các tuyến kênh lớn: Kênh Dương Văn Dương, Kênh 12…, nhất là tại các đoạn cong, khúc cua ven sông, kênh. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 1 - Cấp 2 (một số khu vực có nguy cơ cao có thể đạt cấp 3).
d) Lũ lụt (vùng Đồng Tháp Mười):
Lũ lụt vùng Đồng Tháp Mười là loại hình thiên tai có tính chất đặc thù. Lũ lụt chủ yếu do nước từ thượng nguồn sông Mê Kông kết hợp mưa lớn nội vùng. Lũ lên chậm, rút chậm và ngập trên diện rộng nhưng độ sâu không quá lớn (đa số). Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 2 - Cấp 3 (trong trường hợp lũ lớn bất thường có thể đạt cấp 4).
đ) Cháy rừng do tự nhiên:
Cháy rừng tự nhiên không phải là loại hình thiên tai phổ biến, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn nguy cơ trong điều kiện thời tiết cực đoan, đặc biệt là khi xảy ra nắng nóng kéo dài kết hợp với sét. Thời gian nguy cơ cháy rừng cao là mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau). Khu vực dễ xảy ra cháy là khu vực rừng tự nhiên, rừng trồng; khu vực có thảm thực bì dày; khu vực như Núi Bà Đen và các vùng rừng phòng hộ. Cấp độ rủi ro thiên tai: Cấp 1 - Cấp 2 (một số tình huống bất lợi có thể đạt cấp 3 tại các khu vực rừng trọng điểm).
* Nhận định chung xu thế diễn biến thiên tai giai đoạn 2026-2030:
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất cao hơn, dự báo tình hình thiên tai trên địa bàn tỉnh sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cụ thể như sau:
- Dông lốc, sét, mưa lớn: Tiếp tục xảy ra với tần suất cao, trong đó mưa có xu hướng gia tăng, xuất hiện nhiều trận mưa lớn trong thời gian ngắn, gây ngập úng tại các khu vực trũng thấp, tiềm ẩn thiệt hại về nhà ở, cây trồng và các công trình dân sinh.
- Hạn hán, xâm nhập mặn: Tình trạng nắng nóng kéo dài tiếp tục xảy ra, lượng mưa trong mùa khô tiếp tục giảm sẽ làm gia tăng nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn. Một số khu vực xa nguồn nước ngọt có thể chịu ảnh hưởng nặng hơn trong các năm có hiện tượng El Nino, gây tác động đến sản xuất và đời sống dân cư.
- Sạt lở bờ sông, kênh: Hoạt động xây dựng công trình ven sông, kênh và sự thay đổi dòng chảy trong mùa mưa lũ sẽ làm gia tăng nguy cơ sạt lở đất, nhất là tại các đoạn bờ cong, khu vực dân cư sinh sống gần mép sông, gây mất đất, nhà ở và ảnh hưởng đến việc lưu thông của người dân.
- Lũ lụt và triều cường: Xu thế lũ có thể đến muộn hơn, nhưng khi lũ về thì diễn biến nhanh và phức tạp hơn. Triều cường có xu hướng diễn ra thường xuyên hơn và mức độ nguy hiểm cao hơn. Sự kết hợp giữa lũ lớn và triều cường sẽ gây ra ngập lụt diện rộng, kéo dài, đe dọa đê bao, sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân.
- Cháy rừng do tự nhiên: Do ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, hằng năm nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh luôn dự báo ở cấp IV, V (cấp nguy hiểm và cấp cực kỳ nguy hiểm), nhất là các tháng cao điểm mùa khô (từ tháng 02 đến tháng 5). Các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao gồm có: Vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát, Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, Khu rừng Văn hóa-Lịch sử Núi Bà Đen (Tiểu khu 66) và diện tích rừng trồng tràm-loại cây chứa tinh dầu dễ cháy.
V. BIỆN PHÁP PCTT GIAI ĐOẠN 2026-2030
1. Biện pháp phòng ngừa
1.1. Biện pháp phi công trình
a) Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách liên quan đến công tác PCTT:
- Rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về PCTT bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tạo môi trường pháp lý đầy đủ, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ PCTT.
- Kiện toàn Quỹ PCTT tỉnh; quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn Quỹ PCTT. b) Thành lập, kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực quản lý rủi ro thiên tai:
- Thành lập, kiện toàn tổ chức thực hiện công tác PCTT ở tỉnh, xã/ phường theo hướng chuyên nghiệp.
- Tổ chức tập huấn, diễn tập, hướng dẫn kỹ năng xử lý các tình huống thiên tai cho lực lượng PCTT, đặc biệt là lực lượng xung kích ở xã/ phường theo phương châm “bốn tại chỗ”, gắn với nâng cao năng lực quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. Ứng dụng công nghệ trong quản lý, vận hành công trình PCTT.
c) Xây dựng, rà soát và thực hiện kế hoạch, quy hoạch, phương án PCTT:
- Xây dựng, rà soát, cập nhật bổ sung kế hoạch, quy hoạch, phương án PCTT của tỉnh, xã/ phường theo cấp độ rủi ro và từng loại hình thiên tai thường xuyên xảy ra, như: Bão, áp thấp nhiệt đới; hạn hán, xâm nhập mặn; sạt lở đất; lũ lụt…
- Kiểm tra, kiểm soát các quy định bảo đảm yêu cầu PCTT trong quản lý, vận hành, sử dụng các khu đô thị, du lịch, công nghiệp, di tích lịch sử; điểm du lịch; điểm dân cư nông thôn; công trình PCTT và hạ tầng kỹ thuật khác.
d) Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm thiên tai:
- Rà soát, bổ sung mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn, hệ thống quan trắc chuyên dùng phục vụ PCTT.
- Tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ số, tự động hóa trong quan trắc, theo dõi, giám sát, dự báo, cảnh báo thiên tai.
đ) Nâng cao nhận thức, kiến thức PCTT trong cộng đồng:
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTT, chú trọng kỹ năng ứng phó khi xảy ra thiên tai đối với đối tượng dễ bị tổn thương (người già, trẻ em, hộ nghèo…).
- Tăng cường thông tin truyền thông, kết hợp giữa phương thức truyền thống với ứng dụng công nghệ; tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng trong quá trình PCTT.
1.2. Biện pháp công trình
- Đầu tư, nâng cấp các công trình PCTT; giao thông; cấp nước, thoát nước; thủy lợi; lâm nghiệp phục vụ công tác PCTT, trong đó: Tập trung đầu tư các công trình PCTT; giao thông khu vực vùng Đồng Tháp Mười phục vụ vận chuyển nông sản, hàng hóa và nhu cầu đi lại thông suốt khi thiên tai xảy ra; các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tại các khu vực dân cư thường xuyên xảy ra hạn hán - xâm nhập mặn.
- Vận động các tổ chức, cá nhân xây dựng, nâng cấp khu neo đậu tránh trú bão cho tàu, thuyền; các cảng kết hợp khu neo đậu tránh trú bão đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản của ngư dân khi vào tránh trú bão.
- Tuyên truyền, vận động Nhân dân xây dựng, nâng cấp nhà ở an toàn trước thiên tai; tiếp tục đầu tư hoàn thiện các công trình công cộng (Trung tâm văn hóa xã/phường, trường học, nhà văn hóa ấp…) kết hợp làm địa điểm sơ tán dân khi xảy ra thiên tai.
2. Biện pháp ứng phó
- Tiếp nhận và chuyển tải kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo sớm về thiên tai, cấp độ rủi thiên tai đến với người dân để chủ động phòng, tránh.
- Tuyên truyền, hướng dẫn người dân có kế hoạch bảo vệ nông sản trước khi thiên tai xảy ra; chủ động huy động nhân lực tại chỗ (thanh niên, lực lượng xung kích, bộ đội, công an…) để hỗ trợ người dân ứng phó với thiên tai.
- Thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn về người, tài sản của nhà nước và Nhân dân (chủ động sơ tán người dân, tài sản ra khỏi vùng nguy hiểm; bố trí lực lượng, phương tiện tại các chốt/ trạm cứu nạn, cứu hộ ở khu vực xung yếu, có khả năng ảnh hưởng do thiên tai…).
- Bảo vệ các công trình quan trọng về an ninh, quốc phòng và công trình PCTT. Đảm bảo an ninh trật tự, thông tin liên lạc trong quá trình xử lý, ứng phó với rủi ro thiên tai.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả thiên tai
- Tổ chức thực hiện tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và nhu yếu phẩm thiết yếu cho người dân; khắc phục thiệt hại bước đầu.
- Thực hiện thống kê, đánh giá, kịp thời hỗ trợ thiệt hại do thiên tai gây ra.
- Lập và triển khai thực hiện kế hoạch tái thiết sau thiên tai trình cấp thẩm quyền phê duyệt: Tái thiết khẩn cấp (lựa chọn danh mục cơ sở hạ tầng phải khắc phục khẩn cấp sau thiên tai; bố trí kinh phí và triển khai thực hiện đầu tư khẩn cấp cơ sở hạ tầng theo thứ tự ưu tiên); tái thiết trung hạn (lập kế hoạch trung hạn khôi phục, phát triển sản xuất - nâng cấp công trình, cơ sở hạ tầng kết hợp mục tiêu PCTT) trình cấp thẩm quyền phê duyệt.
VI. LỒNG GHÉP NỘI DUNG PCTT GIAI ĐOẠN 2026-2030
1. Nguyên tắc lồng ghép nội dung PCTT
- Nội dung PCTT phải được lồng ghép vào các quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, bảo đảm đồng bộ với Quy hoạch tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 và phù hợp với định hướng phát triển bền vững của tỉnh.
- Việc lồng ghép được thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ đặc điểm các loại hình thiên tai đặc thù của tỉnh như: Dông lốc, hạn hán - xâm nhập mặn, ngập úng hạ du hồ Dầu Tiếng, sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Đông - Vàm Cỏ Tây, mưa lớn cục bộ và các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng do biến đổi khí hậu. Các biện pháp PCTT khi được lồng ghép phải được lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm tính khả thi, hiệu quả đầu tư và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địa phương.
- Lồng ghép nội dung PCTT theo hướng đa mục tiêu: Vừa giảm thiểu thiệt hại, vừa nâng cao khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời, hạn chế phát sinh nguy cơ thiên tai trong quá trình phát triển đô thị, công nghiệp, giao thông và nông nghiệp hướng đến lâu dài và bền vững.
- Bảo đảm sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng, rà soát và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch có lồng ghép nội dung PCTT; tăng cường vai trò của chính quyền cơ sở trong giám sát và triển khai.
- Ưu tiên ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, dữ liệu số và hệ thống cảnh báo sớm với các loại hình thiên tai trong quá trình lồng ghép, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro thiên tai và khả năng tiếp cận thông tin của người dân.
2. Nội dung lồng ghép PCTT
a) Ngành Nông nghiệp và Môi trường:
- Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại vùng hạn, xâm nhập mặn, ngập: Giảm lúa, tăng nuôi thủy sản, cây ăn quả, rau màu và cây có giá trị kinh tế cao, trồng giống cây thích ứng biến đổi khí hậu và ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm. Phát triển chăn nuôi và mở rộng nuôi trồng thủy sản theo hướng đặc sản, có giá trị kinh tế cao, tận dụng thức ăn tự nhiên; khuyến khích mô hình an toàn sinh học và tuần hoàn.
- Tăng cường trồng và bảo vệ rừng phòng hộ, thảm thực vật ven sông – kênh để giảm xói mòn, sạt lở và điều hòa nguồn nước và phục hồi đất suy thoái.
- Thực hiện hiệu quả chương trình nông thôn mới gắn với xây dựng cộng đồng an toàn trước thiên tai.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp thông qua quan trắc khí tượng Thủy văn, bản đồ số vùng hạn - úng, dự báo mùa vụ, quản lý nước tưới thông minh và cơ sở dữ liệu sản xuất. Quản lý chặt khai thác nước ngầm, hạn chế khai thác quá mức, ưu tiên sử dụng nước mặt từ hồ Dầu Tiếng và tăng cường liên kết vùng trong quản lý nguồn nước.
b) Ngành Xây dựng:
- Tập trung xác định cốt nền và hệ thống thoát nước cho các khu đô thị, công nghiệp và du lịch nhằm bảo đảm chống ngập; đồng thời nâng cấp thoát nước tại đô thị hiện hữu.
- Tăng cường quản lý chất lượng và tiêu chuẩn thiết kế công trình để nâng cao khả năng chống chịu thiên tai. Các chương trình bố trí dân cư vùng lũ và hỗ trợ nhà ở được triển khai phù hợp thực tế.
- Quy hoạch đô thị được rà soát theo hướng thích ứng BĐKH, hạn chế phát triển ở vùng trũng, ven sông và bảo đảm quỹ đất cho hồ điều hòa, hành lang thoát lũ và không gian xanh.
- Chuyển đổi số được đẩy mạnh trong quản lý hạ tầng, giám sát công trình và bản đồ ngập úng. Đồng thời, phối hợp với Nông nghiệp và Môi trường và các địa phương để đồng bộ hệ thống tiêu thoát nước, đê bao, kè chống sạt lở và các công trình PCTT.
c) Ngành Công Thương:
- Xây dựng kế hoạch dự trữ hàng thiết yếu và bình ổn giá để bảo đảm nguồn cung khi xảy ra thiên tai; kiểm soát thị trường, ngăn đầu cơ và duy trì lưu thông hàng hóa. Công tác quản lý an toàn tại chợ, siêu thị và kho hàng được tăng cường, đồng thời phối hợp các ngành để vận chuyển hàng hóa đến vùng bị thiệt hại khi thiên tai xảy ra.
- Bảo đảm an toàn năng lượng, củng cố hệ thống điện, chuẩn bị nguồn điện dự phòng và duy trì nguồn cung xăng dầu. Ngành kiểm tra, xử lý vi phạm thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục sản xuất và đẩy mạnh chuyển đổi số trong theo dõi cung - cầu, cảnh báo giá và quản lý kho dự trữ.
d) Ngành Y tế:
- Xây dựng Kế hoạch phòng chống dịch bệnh trong thiên tai, giám sát dịch tễ tại khu dân cư, khu công nghiệp và khu vực biên giới. Tăng cường nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, kho dự trữ thuốc và hệ thống cấp cứu, đồng thời ưu tiên đầu tư cho bệnh viện và trạm y tế sau sáp nhập.
- Đội ngũ y tế được tăng cường và tập huấn định kỳ về sơ cấp cứu, ứng phó dịch bệnh và hỗ trợ tâm lý, bảo đảm mỗi xã/phường có đội phản ứng nhanh. Đẩy mạnh phát triển hệ thống cảnh báo sớm, ứng dụng chuyển đổi số để giám sát dịch bệnh, chất lượng nước và an toàn thực phẩm; tăng cường kiểm tra vệ sinh môi trường và cơ sở chế biến thực phẩm.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền kỹ năng phòng bệnh, phối hợp lực lượng Công an, Quân đội và địa phương trong cứu hộ, sơ tán và chăm sóc y tế cho người dân vùng thiên tai.
đ) Khoa học và Công nghệ:
- Ưu tiên nghiên cứu và ứng dụng các nhiệm vụ phục vụ bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên, nông nghiệp, quản lý nước và cảnh báo sớm thiên tai. Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ về khí tượng và các loại hình thiên tai bảo đảm kết nối với các sở, ngành và địa phương.
- Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp và người dân ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất, tăng cường chuyển đổi số trong quản lý thiên tai. Đồng thời phối hợp viện, trường, doanh nghiệp để tiếp nhận công nghệ mới và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ các cấp.
e) Tài chính:
- Lồng ghép nội dung PCTT vào quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tham mưu đề xuất ưu tiên các dự án kè chống sạt lở, hồ chứa, trạm bơm, thoát nước và cảnh báo sớm trong kế hoạch đầu tư công. Đồng thời, bố trí ngân sách thường xuyên cho PCTT, quản lý hiệu quả ngân sách dự phòng và Quỹ PCTT tỉnh, bảo đảm minh bạch và giám sát chặt tại địa phương.
- Tăng cường kiểm tra, xử lý đầu cơ, tăng giá và phối hợp bình ổn thị trường; thực hiện chuyển đổi số được đẩy mạnh trong quản lý tài chính - đầu tư công, theo dõi tiến độ dự án và cơ sở dữ liệu công trình PCTT. Ngoài ra, tăng cường phối hợp với các sở, ngành và UBND cấp xã để xác định nhu cầu, phân bổ nguồn lực hợp lý, ưu tiên khu vực có nguy cơ thiên tai cao.
g) Quốc phòng - an ninh:
- Tăng cường huấn luyện, diễn tập và nâng cao năng lực lực lượng cứu hộ cứu nạn, phối hợp chặt chẽ giữa Quân đội, Công an và địa phương trong công tác PCTT.
- Lực lượng chức năng tham gia sơ tán dân, bảo vệ tài sản, trực tại các điểm xung yếu và phối hợp các ngành bảo đảm an toàn lương thực, nước sạch và vệ sinh môi trường.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong cảnh báo sớm, bản đồ nguy cơ và giám sát an ninh, đồng thời tuyên truyền kỹ năng phòng tránh thiên tai, thoát hiểm và phòng chống tội phạm, phát huy vai trò dân quân tự vệ và công an xã.
h) Các ngành dịch vụ, du lịch khác:
- Lồng ghép nội dung PCTT vào quy hoạch, kế hoạch và các dự án du lịch, đặc biệt tại khu vực nguy cơ cao như Khu du lịch Quốc gia Núi Bà Đen, hồ Dầu Tiếng và các điểm du lịch ven sông; đồng thời, hướng dẫn Doanh nghiệp xây dựng phương án ứng phó, sơ tán du khách và thường xuyên cập nhật số lượng khách tại các khu vực rủi ro. Tăng cường công tác cải tạo thiết chế văn hóa - thể thao - du lịch, kiểm tra an toàn điện, phòng cháy chữa cháy, kết cấu công trình và bố trí lực lượng trực mùa mưa bão.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong cảnh báo sớm, bản đồ nguy cơ và quản lý du khách theo thời gian thực; đồng thời tuyên truyền kỹ năng phòng tránh thiên tai, tập huấn lực lượng tại các điểm du lịch và phối hợp với Công an, Quân đội, Y tế và địa phương để bảo đảm an toàn, sơ tán và cứu hộ du khách khi xảy ra thiên tai.
VII. XÁC ĐỊNH NGUỒN LỰC VÀ TIẾN ĐỘ HẰNG NĂM VÀ 05 NĂM
1. Nguồn lực thực hiện
a) Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực tham gia thực hiện PCTT hàng năm khoảng 20.571 người, bao gồm:
- Lực lượng bộ đội: 2.889 người; dân quân tự vệ: 8.256 người; dự bị động viên: 3.080 người; dân quân thường trực: 2.688 người; dân quân cơ động: 2.688 người và người làm công tác PCTT tại cơ quan nhà nước: 970 người.
- Ngoài ra, còn có các tổ chức, cá nhân tình nguyện tham gia hỗ trợ hoạt động PCTT theo sự chỉ huy của người có thẩm quyền.
b) Nguồn vật lực:
Thực hiện tốt phương châm “bốn tại chỗ”, chủ động phân bổ các trang thiết bị, vật tư, phương tiện cho các sở, ban ngành, địa phương để đảm bảo tính chủ động, kịp thời, ứng phó hiệu quả khi xảy ra thiên tai.
c) Nguồn tài chính:
Nguồn vốn thực hiện công tác PCTT giai đoạn 2026-2030 dự kiến 16.906.235 triệu đồng[12] (gồm: Ngân sách địa phương 4.709.547 triệu đồng; ngân sách trung ương 7.892.000 triệu đồng; vốn ODA 3.654.688 triệu đồng; Quỹ PCTT và nguồn khác 650.000 triệu đồng), trong đó:
- Lĩnh vực giao thông: 4.214.688 triệu đồng.
- Lĩnh vực cấp nước và thoát nước: 1.821.897 triệu đồng.
- Lĩnh vực thủy lợi, lâm nghiệp: 10.219.650 triệu đồng.
- Hỗ trợ các hoạt động PCTT và chi quản lý, điều hành hoạt động của Quỹ PCTT tỉnh: 650.000 triệu đồng.
2. Tiến độ thực hiện
- Năm 2026: Thực hiện 33 công trình với tổng vốn 8.774.450 triệu đồng.
- Năm 2027: Thực hiện 09 công trình với tổng vốn 2.216.000 triệu đồng.
- Năm 2028: Thực hiện 08 công trình với tổng vốn 1.149.035 triệu đồng.
- Năm 2029: Thực hiện 17 công trình với tổng vốn 4.086.750 triệu đồng.
- Năm 2030: Thực hiện 01 công trình với tổng vốn 30.000 triệu đồng.
Ngoài ra, hàng năm thực hiện chi hỗ trợ các hoạt động PCTT và chi quản lý, điều hành hoạt động của Quỹ PCTT tỉnh (bình quân 130 tỷ đồng/năm)
(Danh mục công trình và nguồn vốn thực hiện xem chi tiết tại Phụ lục II)
VIII. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
1. Trách nhiệm chung
Các sở, ban, ngành tỉnh và UBND các xã, phường có trách nhiệm:
- Chủ động xây dựng Kế hoạch, chương trình hàng năm của mỗi đơn vị, địa phương để triển khai thực hiện Kế hoạch này có hiệu quả, đảm bảo tiến độ; định kỳ hằng năm báo cáo kết quả thực hiện về Sở Nông nghiệp và Môi trường chậm nhất vào ngày 25/11 để tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chậm nhất vào ngày 25/12.
- Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ có liên quan trong khuôn khổ Kế hoạch đã được phê duyệt; đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch này khi có yêu cầu.
- Căn cứ vào nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch, lập dự toán chi ngân sách hằng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
2. Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh
- Thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức các lực lượng tham gia PCTT, đặc biệt là xây dựng và củng cố hoạt động của lực lượng xung kích ở cơ sở, để kịp thời chỉ đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ PCTT, nhất là trong tình huống cấp bách.
- Xây dựng cơ chế phối hợp với các cơ quan chức năng trong chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai; chỉ đạo tổ chức diễn tập, tập huấn, huấn luyện về PCTT và tìm kiếm cứu nạn.
- Nâng cao năng lực cho lực lượng làm công tác PCTT; tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị và công cụ cho cơ quan tham mưu, chỉ đạo, chỉ huy PCTT các cấp để đảm bảo việc tiếp nhận, xử lý thông tin, hỗ trợ ra quyết định, kịp thời phục vụ công tác chỉ đạo ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
- Chỉ đạo công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Phối hợp với Sở Ngoại vụ và các cơ quan liên quan tham mưu UBND tỉnh trong hợp tác với các tổ chức quốc tế và đối tác nước ngoài về phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.
3. Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Đôn đốc các sở, ban, ngành tỉnh và UBND các xã, phường xây dựng kế hoạch, chương trình để thực hiện Kế hoạch này; tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch theo yêu cầu và theo quy định.
- Tham mưu hoàn chỉnh, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách và các quy định liên quan đến PCTT; chủ động đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định, cơ chế, chính sách tạo điều kiện huy động nguồn lực cho công tác PCTT.
- Thường xuyên tổ chức kiểm tra và báo cáo kết quả kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, công trình PCTT trước mùa mưa bão hàng năm và đề xuất các biện pháp đảm bảo an toàn công trình xung yếu.
- Phối hợp chặt chẽ với Công ty TNHH Một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam, Công ty TNHH Một thành viên Khai thác thủy lợi Tây Ninh và các đơn vị, địa phương liên quan trong việc vận hành điều tiết tích, xả lũ của hồ Dầu Tiếng và các hồ chứa trên địa bàn tỉnh hợp lý, nhằm đảm bảo an toàn công trình, chủ động giảm lũ cho hạ du và nhiệm vụ cấp nước của hồ theo đúng quy định.
- Xây dựng, cập nhật bản đồ di dời dân vùng hạ du ứng với các kịch bản xả lũ của các hồ chứa theo quy định.
- Triển khai, phổ biến bản đồ cảnh báo nguy cơ thiên tai trên địa bàn tỉnh do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, thường xuyên kiểm tra, rà soát, cập nhật, điều chỉnh bản đồ cho phù hợp điều kiện thực tế, đảm bảo phát huy hiệu quả phục vụ công tác chỉ đạo, chỉ huy, điều hành phòng, chống, ứng phó thiên tai trên địa bàn tỉnh.
- Chỉ đạo rà soát kế hoạch sản xuất nông nghiệp, hướng dẫn, khuyến cáo tổ chức, cá nhân điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp; chủ động theo dõi tình hình thiên tai để chỉ đạo sản xuất, nuôi trồng hiệu quả, hạn chế thiệt hại.
- Cập nhật và triển khai kế hoạch phát triển mạng lưới trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng trên địa bàn tỉnh, đáp ứng mục đích khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn cho công tác dự báo, cảnh báo PCTT, đảm bảo tính đồng bộ, tiên tiến, có kế thừa, không trùng lắp, chồng chéo với mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia và phù hợp với mục tiêu phát triển của tỉnh.
- Triển khai lồng ghép nội dung PCTT trong các quy hoạch liên quan đến sử dụng tài nguyên đất, nước để bảo đảm an toàn, hạn chế tác động làm gia tăng rủi ro thiên tai. Rà soát, điều chỉnh xác định mục đích sử dụng của các khu đất nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện thiên tai và không làm gia tăng nguy cơ thiên tai của từng khu vực, làm cơ sở để quản lý, sử dụng và phát triển kinh tế - xã hội.
4. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh
- Nâng cấp, hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị PCTT, tìm kiếm cứu nạn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm thiên tai trên địa bàn tỉnh; nâng cao năng lực ứng phó cho lực lượng ứng phó thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
- Rà soát bổ sung các phương án tìm kiếm cứu nạn, sơ tán dân khi xảy ra thiên tai; thường xuyên kiểm tra và có kế hoạch tổ chức tập kết, quản lý sử dụng các phương tiện, trang thiết bị để tham gia kịp thời, có hiệu quả công tác tìm kiếm cứu nạn khi thiên tai xảy ra.
- Hỗ trợ các xã, phường, đơn vị trong công tác tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập PCTT và tìm kiếm cứu nạn; sẵn sàng lực lượng, phương tiện để kịp thời hỗ trợ, chi viện cho các xã, phường khi có yêu cầu.
- Chỉ đạo, điều phối các lực lượng thực hiện công tác tìm kiếm cứu nạn trong các tình huống thiên tai theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
5. Sở Công Thương
- Triển khai lồng ghép nội dung PCTT trong hoạt động của ngành Công Thương, bảo đảm an toàn đối với các hoạt động và công trình thuộc lĩnh vực quản lý của ngành.
- Có kế hoạch bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu trong trường hợp xảy ra thiên tai lớn như: Bão, áp thấp nhiệt đới, ngập lụt; hạn hán…
6. Sở Xây dựng
- Triển khai lồng ghép nội dung PCTT trong các đề án, kế hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, nông thôn, xây dựng nhà ở, công trình tại những khu vực thường bị tác động của ngập lụt, sạt lở đất… để giảm thiểu rủi ro thiên tai.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc quản lý, duy tu, sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới, thay thế, vận hành có hiệu quả hệ thống thoát nước theo phân cấp. Khuyến cáo các chủ đầu tư có thi công công trình ngầm phải chủ động kiểm tra, xây dựng phương án thi công đảm bảo thoát nước, thực hiện tốt nhất phương án chống ngập khi có mưa lớn, triều cường.
- Phổ biến, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị, tổ chức, người dân thực hiện đúng tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng các công trình công cộng, trụ sở cơ quan, nhà ở, chung cư nhằm có khả năng chịu được bão, áp thấp nhiệt đới, dông lốc có cường độ cao xảy ra.
- Triển khai công tác đảm bảo an toàn giao thông khi xảy ra thiên tai, kịp thời khắc phục hậu quả thiên tai và thực hiện nhiệm vụ PCTT theo chức năng, nhiệm vụ được giao; có kế hoạch dự phòng huy động phương tiện vận tải đường bộ, đường thủy phù hợp với địa hình tỉnh khi xảy ra thiên tai, để kịp thời đáp ứng yêu cầu di chuyển dân cư, lực lượng cứu nạn, cứu trợ; có phương án bảo đảm giao thông thông suốt phục vụ công tác cứu nạn, di dời dân; điều phối, kiểm soát an toàn giao thông thủy, bộ ở khu vực xảy ra thiên tai.
7. Sở Tài chính
- Triển khai lồng ghép nội dung PCTT trong hoạt động của ngành, nhất là lồng ghép nội dung PCTT vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và xã, phường.
- Tổng hợp đề xuất, ưu tiên cân đối nguồn vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh để thực hiện các dự án, nhiệm vụ khẩn cấp, cấp bách PCTT theo quy định, phù hợp với khả năng cân đối vốn của tỉnh.
8. Sở Khoa học và Công nghệ
- Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ nâng cao hiệu quả công tác PCTT, vận hành các công trình PCTT; nghiên cứu, ứng dụng vật liệu mới, công nghệ tiên tiến trong xây dựng công trình PCTT đảm bảo bền vững, thân thiện với môi trường.
- Xây dựng, nâng cấp, phát triển các hệ thống thông tin liên lạc bảo đảm thông suốt đến tất cả các xã, phường và người dân, phát huy hiệu quả thông tin, cảnh báo, dự báo thiên tai.
9. Sở Giáo dục và Đào tạo
- Tổ chức đào tạo, tập huấn, nâng cao nhận thức cho đội ngũ giảng viên, giáo viên kiến thức về phòng, chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai.
- Triển khai lồng ghép nội dung PCTT với một số môn học để đưa vào chương trình giáo dục thường xuyên, chương trình giảng dạy cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
10. Sở Dân tộc và Tôn giáo
Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường nơi có cộng đồng người dân tộc thiểu số, cộng đồng tôn giáo phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng người dân tộc thiểu số, của chức sắc tôn giáo để làm cầu nối tuyên truyền, vận động, huy động cộng đồng tham gia công tác PCTT trên địa bàn tỉnh. Qua đó, góp phần đảm bảo an toàn cho cho các đối tượng dễ bị tổn thương, người dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế trước ảnh hưởng của thiên tai và đảm bảo sinh kế bền vững.
11. Công ty TNHH Một thành viên Khai thác thủy lợi Tây Ninh
- Vận hành, điều tiết hồ chứa nước, kênh mương theo đúng quy trình được phê duyệt; bảo đảm cắt - giảm lũ, tiêu úng và cấp nước chống hạn; đồng thời thường xuyên theo dõi, cung cấp thông tin phục vụ chỉ đạo điều hành PCTT của tỉnh.
- Chủ động kiểm tra, bảo đảm an toàn công trình hồ chứa; xây dựng phương án ứng phó và phối hợp với chính quyền địa phương trong triển khai các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
12. UBND các xã, phường
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện hiệu quả các nội dung của Kế hoạch này theo thẩm quyền, trong đó tập trung:
- Thực hiện lồng ghép nội dung PCTT vào đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; chuyển đổi sản xuất chủ động ứng phó với thiên tai.
- Xây dựng, tổ chức thực hiện hiệu quả kế hoạch PCTT; rà soát, hoàn chỉnh các phương án phòng chống, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai tương ứng với từng loại hình thiên tai, cấp độ rủi ro thiên tai. Đồng thời, thống kê các phương tiện, trang thiết bị hiện có trên địa bàn để kịp thời huy động, trưng dụng khi cần thiết; tổ chức diễn tập theo phương án được duyệt.
- Xây dựng, kiện toàn lực lượng xung kích PCTT, lực lượng tình nguyện viên hỗ trợ người dân PCTT tại xã, phường.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; tập huấn, phổ biến kỹ năng cho lực lượng làm công tác PCTT, cộng đồng và người dân tại địa phương.
- Đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp và quản lý, vận hành hiệu quả công trình PCTT trên địa bàn; xây dựng, lắp đặt hệ thống theo dõi, cảnh báo và kiểm soát rủi ro thiên tai tại các khu vực trọng điểm, xung yếu.
- Rà soát, sắp xếp lại dân cư, di dời dân cư sinh sống tại những khu vực có nguy cơ cao xảy ra thiên tai (sạt lở đất…) đến nơi an toàn.
13. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh
- Phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương vận động đoàn viên, hội viên tổ chức triển khai và thực hiện hiệu quả Kế hoạch này.
- Phối hợp với các địa phương tổ chức cứu trợ về lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, hỗ trợ kinh phí cho người dân bị thiệt hại sớm ổn định cuộc sống, nhất là hộ gia đình chính sách, hộ nghèo.
- Vận động Nhân dân trong và ngoài tỉnh cứu trợ đồng bào khi có thiên tai xảy ra; tiếp nhận và phân phối hàng cứu trợ kịp thời đến tay người dân.
14. Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Tây Ninh
- Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm các loại hình thiên tai; thông báo nhanh chóng, kịp thời đến các cơ quan, đơn vị và Nhân dân để chủ động phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại.
- Phối hợp với các ngành có liên quan đề xuất xây dựng các trạm quan trắc, cảnh báo thiên tai đảm bảo yêu cầu dự báo, cảnh báo sớm thiên tai.
15. Báo và Phát thanh Truyền hình Tây Ninh
Phối hợp với các sở, ban, ngành tỉnh có liên quan và địa phương xây dựng các chương trình truyền thông về PCTT để các cơ quan, tổ chức, người dân chủ động phòng ngừa, ứng phó thiên tai; đồng thời thông báo, thông tin nhanh chóng, kịp thời diễn biến thiên tai để chủ động phòng, chống, ứng phó.
16. Trách nhiệm của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội
- Chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch PCTT phù hợp với đặc điểm thiên tai của tỉnh, đảm bảo an toàn cho người lao động, tài sản, sản xuất; phối hợp với các sở, ban, ngành trong công tác PCTT.
- Chủ động gia cố nhà xưởng, bảo vệ tài sản, tuân thủ hướng dẫn sơ tán khi có cảnh báo.
- Tham gia tuyên truyền, tự trang bị kiến thức và kỹ năng ứng phó thiên tai.
- Huy động nguồn lực, tình nguyện viên hỗ trợ ứng phó, khắc phục hậu quả.
- Phối hợp với cơ quan nhà nước trong công tác truyền thông, hỗ trợ cộng đồng dễ bị tổn thương.
UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành tỉnh, UBND các xã, phường và cơ quan, đơn vị có liên quan nghiêm túc tổ chức thực hiện Kế hoạch PCTT giai đoạn 2026-2030. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc thì kịp thời phản ánh về Sở Nông nghiệp và Môi trường để được hướng dẫn, giải quyết theo quy định; trường hợp vượt thẩm quyền giao Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu, đề xuất UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo./.
CƠ SỞ HẠ TẦNG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI
(Kèm theo Quyết
định số 8971/QĐ-UBND ngày 27 tháng 5 năm 2026 của UBND tỉnh)
|
S TT |
DANH MỤC |
ĐƠN VỊ TÍNH |
SỐ LƯỢNG/ QUY MÔ |
|
I |
TRẠM QUAN TRẮC KHÍ TƯỢNG, THỦY VĂN, CẢNH BÁO THIÊN TAI |
trạm |
68 |
|
1 |
Sở Nông nghiệp và Môi trường quản lý |
|
16 |
|
- |
Trạm đo mực nước tự động (cống Bến Trễ, cống Đôi Ma, Trị Yên, Sông Cui, Tầm Vu) |
trạm |
5 |
|
- |
Trạm đo mưa tự động (Long Chữ, Hòa Thạnh, Ninh Điền, Chà Là, Suối Đá, Thạnh Đức, Hòa Hiệp, Tân Lập, Suối Dây, Suối Ngô, Tân Hà) |
trạm |
11 |
|
2 |
Đài Khí tượng Thuỷ văn tỉnh quản lý |
trạm |
52 |
|
- |
Trạm khí tượng, thuỷ văn |
trạm |
9 |
|
- |
Trạm tài nguyên nước |
trạm |
2 |
|
- |
Trạm đo mực nước và mưa tự động |
trạm |
17 |
|
- |
Trạm đo mưa tự động |
trạm |
10 |
|
- |
Trạm quan trắc môi trường |
trạm |
11 |
|
- |
Trạm quan trắc tự động thuộc dự án WB5 |
trạm |
3 |
|
II |
CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU |
|
|
|
1 |
Công trình Trung ương quản lý |
|
|
|
- |
Đê bao thị trấn Vĩnh Hưng (nay là xã Vĩnh Hưng) |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
3.481 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
147 |
|
|
Số dân được bảo vệ (dự kiến) |
người |
17.441 |
|
- |
Đê bao thị trấn Tân Hưng (nay là xã Tân Hưng) |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
4.371 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
99 |
|
|
Số dân được bảo vệ (dự kiến) |
người |
11.325 |
|
2 |
Công trình do tỉnh quản lý |
|
|
|
- |
Đê bao ven sông Rạch Cát (phía bên trái), thuộc các xã: Phước Vĩnh Tây, Tân Tập, Cần Giuộc |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
24.150 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
3.639 |
|
- |
Đê bao ven sông Rạch Cát (phía bên phải), thuộc các xã: Long Hựu, Tân Lân, Cần Giuộc, Phước Vĩnh Tây |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
29.128 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
9.400 |
|
- |
Đê bao ven sông Vàm Cỏ, thuộc các xã: Thuận Mỹ, Long Hậu, Cần Đước |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
32.950 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
2.086 |
|
- |
Đê bao ven sông Vàm Cỏ Đông (phía bờ trái), thuộc các xã: Cần Đước, Long Cang, Mỹ Lệ |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
16.000 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
7.500 |
|
- |
Đê ven sông Vàm Cỏ Đông (phía bờ phải), thuộc các xã: Vàm Cỏ, Tân Trụ, Nhựt Tảo |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
20.311 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
3.160 |
|
- |
Đê bao ven sông Vàm Cỏ Tây (bờ trái), thuộc các xã, phường: Vàm Cỏ, Tân Trụ, Long An, Tân An |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
37.450 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
7.334 |
|
- |
Đê bao ven sông Vàm Cỏ Tây (phía bờ phải), thuộc các xã, phường: Vĩnh Công, Tâm Vu, Thuận Mỹ, Mỹ An, Tân An, Long An |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
41.525 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
9.214 |
|
- |
Đê bao ven Sông Tra - Rạch Tràm (từ Lộ Cột Đèn Đỏ - Lộ Cấu Đôi), thuộc xã Thuận Mỹ và xã An Lục Long |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
24.400 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
9.208 |
|
- |
Đê bao chống lũ triệt để bảo vệ dân cư, thuộc phường Kiến Tường |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
3.761 |
|
|
Diện tích đất được bảo vệ |
ha |
79 |
|
III |
CÔNG TRÌNH HỒ CHỨA NƯỚC |
|
|
|
1 |
Công trình do Trung ương quản lý |
|
|
|
- |
Hồ chứa nước Dầu Tiếng |
|
|
|
|
Dung tích |
Triệu m³ |
1.580 |
|
|
Diện tích phục vụ |
ha |
141.771 |
|
2 |
Công trình do tỉnh quản lý |
|
|
|
- |
Hồ Tha La, thuộc xã Tân Châu |
|
|
|
|
Dung tích |
Triệu m³ |
27 |
|
|
Diện tích phục vụ |
ha |
3.670 |
|
- |
Hồ Nước Trong 1, thuộc xã Tân Châu |
|
|
|
|
Dung tích |
Triệu m³ |
2,7 |
|
|
Diện tích phục vụ |
ha |
|
|
- |
Hồ Nước Trong 2, thuộc xã Tân Châu |
|
|
|
|
Dung tích |
Triệu m³ |
1,75 |
|
|
Diện tích phục vụ |
ha |
|
|
IV |
CÔNG TRÌNH CỐNG ĐẦU MỐI |
cái |
51 |
|
1 |
Cống điều tiết tưới, tiêu kết hợp ngăn mặn, ngăn triều |
cái |
46 |
|
2 |
Cống điều tiết tưới, tiêu, ngăn triều kết hợp xả lũ |
cái |
5 |
|
V |
CÔNG TRÌNH KÈ |
|
37.648,5 |
|
1 |
Kè chống xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu ven sông Vàm Cỏ Tây (từ rạch Châu Phê đến cầu mới đường tránh thuộc phường Long An) |
m |
2.520,0 |
|
2 |
Kè sông Vàm Cỏ Tây (từ ngã ba sông Bảo Định đến bến đò Chú Tiết) |
m |
601,0 |
|
3 |
Kè sông Bảo Định (từ cống Bảo Định đến qua cống đầu kênh Vành Đai) |
m |
1.583,0 |
|
4 |
Kè bảo vệ bờ Sông Vàm Cỏ Tây (từ cầu mới Tân An đến tiếp giáp kè Vịnh Đá Hàn) |
m |
1.250,0 |
|
5 |
Kè bảo vệ bờ sông Bảo Định (từ cống Bảo Định đến sông Vàm Cỏ Tây) |
m |
2.032,0 |
|
6 |
Kè chống sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Tây (đoạn từ Chợ cá phường 2 đến cầu mới Tân An) |
m |
1.196,0 |
|
7 |
Kè chống sạt lở ven sông Vàm Cỏ Tây, khu vực Vịnh Đá Hàn (điểm đầu cách bến phà Lam Hồng về phía thượng lưu khoảng 100m và điểm cuối kết thúc tại ngã 3 đường Lê Văn Tưởng và Đặng Ngọc Sương) |
m |
875,0 |
|
8 |
Kè chống sạt lở bờ sông Cần Giuộc (đoạn từ cầu Rạch Dơi dọc theo sông Cần Giuộc hướng về xã Phước Lại cũ trước đây) |
m |
740,0 |
|
9 |
Kè chống sạt lở bờ sông Cần Giuộc (đoạn từ cầu rạch Trị Yên dọc theo sông Cần Giuộc đến hạ lưu bến phà Cần Giuộc) |
m |
1.580,0 |
|
10 |
Kè chống sạt lở bờ sông Cần Giuộc (từ kênh Nghĩa Trang đến bãi VLXD Hoàn Mỹ) |
m |
981,0 |
|
11 |
Kè ven sông Vàm Cỏ và Rạch Gốc (từ Trung tâm y tế khu vực Đức Huệ trong Rạch Gốc đến kênh chữ Y ngoài sông Vàm Cỏ Đông) |
m |
2.290,0 |
|
12 |
Kè chống sạt lở bảo vệ di tích lịch sử Miễu Ông Bần Quỳ tại ngã ba sông Vàm Cỏ (từ tường rào bãi cát đá hộ bà Mai Thị Men hết ranh đất khu vực Miễu Ông Bần) |
m |
185,0 |
|
13 |
Kè chống sạt lở ven rạch Cá Rô (giai đoạn 4, đoạn từ cầu Rạch Cá Rô đến đường Huỳnh Việt Thanh) |
m |
400,0 |
|
14 |
Bờ kè chống sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Tây (đoạn từ cầu Hùng Vương - chợ phường 2 cũ) |
m |
1.114,0 |
|
15 |
Kè chống sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Tây (đoạn tiếp giáp từ mí kè cũ hiện hữu tại chợ phường 2 cũ trước đây đến Quốc lộ 62). |
m |
1.065,0 |
|
16 |
Kè bờ bắc kênh Dương Văn Dương |
m |
1.037,0 |
|
17 |
Kè bờ nam kênh Dương Văn Dương |
m |
1.076,0 |
|
18 |
Kè chống sạt lở ven kênh Dương Văn Dương (giai đoạn 2, thuộc thị trấn Tân Thạnh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An trước đây) |
m |
3.770,0 |
|
19 |
Kè chống sạt lở ven sông Vàm Cỏ Tây và kênh Dương Văn Dương |
m |
1.073,0 |
|
20 |
Kè ven sông Hồng Ngự |
m |
1.220,0 |
|
21 |
Kè chống sạt lở kênh Thủ Thừa (từ trạm xăng trước công an huyện cũ trước đây đến ranh dãy kiot trước chùa Bà) |
m |
310,0 |
|
22 |
Kè chống sạt lở kênh Thủ Thừa (từ ranh dãy kiot chợ cá cũ đến chiều dài 1.021m (trước nhà ông Tư Tâm )) |
m |
1.021,0 |
|
23 |
Kè Kênh 28 (đoạn từ đê bao Tuyên Bình đến đê bao Nguyễn Thị Hạnh) |
m |
1.457,0 |
|
24 |
Kè Kênh 28 (đoạn từ Nghĩa trang liệt sĩ đến ngã ba Long Khốt) |
m |
833,0 |
|
25 |
Kè chống sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Tây (bắt đầu từ phần gia cố thảm đá của Âu tàu Rạch Chanh kênh Rạch Chanh) |
m |
350,0 |
|
26 |
Kè chống sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Tây (bắt đầu từ phần gia cố thảm đá của Âu tàu Rạch Chanh đến rạch Bà Hến) |
m |
650,0 |
|
27 |
Kè chống sạt lở, xâm nhập mặn sông Vàm Cỏ Đông. |
m |
1.950,0 |
|
28 |
Kè chống sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Đông và sông Bến Lức (điểm đầu từ chân cầu Bến Lức (sông Vàm Cỏ Đông) và điểm cuối kết thúc tại chân cầu An Thạnh mới |
m |
2.079,5 |
|
29 |
Kè chống sạt lở bờ kênh Cầu Duyên (điểm đầu từ đường Nguyễn Trọng Thế theo tuyến kênh đê cũ có sẵn và kết thúc tại cống Tin Lành) |
m |
630,0 |
|
30 |
Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên (nay là xã Tân Biên) |
m |
1.780,0 |
|
VI |
CÔNG TRÌNH KÊNH CHUYỂN NƯỚC CHÍNH |
|
|
|
1 |
Công trình do Trung ương quản lý |
|
|
|
- |
Kênh chính Tây, thuộc các xã, phường: Châu Thành, Hảo Đước, Dương Minh Châu, Ninh Thạnh, Bình Minh, Tân Ninh, Thanh Điền). |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
38.975,0 |
|
|
Diện tích tưới thiết kế |
ha |
22.000,0 |
|
|
Diện tích tưới thực tế |
ha |
17.430,0 |
|
|
Lưu lượng |
m³/s |
93,0 |
|
- |
Kênh chính Đông, thuộc các xã: Lộc Ninh, Truông Mít, An Tịnh, Hưng Thuận. |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
34.700,0 |
|
|
Diện tích tưới thiết kế |
ha |
25.874,0 |
|
|
Diện tích tưới thực tế |
ha |
16.100,0 |
|
|
Lưu lượng |
m³/s |
93,0 |
|
2 |
Công trình do tỉnh quản lý |
|
|
|
- |
Kênh chính Đức Hòa, xã Hậu Nghĩa. |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
182.190,0 |
|
|
Diện tích tưới thiết kế |
ha |
10.181,0 |
|
|
Diện tích tưới thực tế |
ha |
4.000,0 |
|
|
Lưu lượng |
m³/s |
17,3 |
|
- |
Kênh chính Tân Hưng, thuộc các xã: Dương Minh Châu, Tân Phú, Trà Vong, Thạnh Bình. |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
29.890,0 |
|
|
Diện tích tưới thiết kế |
ha |
10.701,0 |
|
|
Diện tích tưới thực tế |
ha |
6.858,0 |
|
|
Lưu lượng |
m³/s |
12,8 |
|
- |
Kênh chính Tân Biên, thuộc xã Phước Vinh và Tân Biên. |
|
|
|
|
Chiều dài |
m |
23.018,0 |
|
|
Diện tích tưới thiết kế |
ha |
6.407,0 |
|
|
Diện tích tưới thực tế |
ha |
2.685,0 |
|
|
Lưu lượng |
m³/s |
13,5 |
|
VII |
KHU NEO ĐẬU TRÁNH TRÚ BÃO CHO TÀU |
|
200,53 |
|
1 |
Bến cảng Quốc tế Long An |
ha |
147,00 |
|
2 |
Cảng Cẩm nguyên |
ha |
7,00 |
|
3 |
Cảng Hòang Tuấn |
ha |
3,43 |
|
4 |
Cảng GreeenFeed |
ha |
12,00 |
|
5 |
Cảng Thành Tài |
ha |
12,00 |
|
6 |
Cảng BOURBON |
ha |
13,00 |
|
7 |
Cảng Phương Quân |
ha |
4,88 |
|
8 |
Cảng Bình Điền |
ha |
0,35 |
|
9 |
Cảng Bến Kéo |
ha |
0,54 |
|
10 |
Cảng xi măng Fico Tây Ninh |
ha |
0,15 |
|
11 |
Bến Đình |
ha |
0,18 |
|
VIII |
NHÀ KẾT HỢP SƠ TÁN DÂN |
|
41.463 |
|
1 |
Do ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới |
người |
16.259 |
|
- |
Điểm xã Phước Vĩnh Tây (Trường TH và THCS Phước Vĩnh Tây; Long Phụng; Long An) |
người |
1.450 |
|
- |
Điểm xã Cần Đước (Trường MG Tân Ân; Trường TH Tân Ân; Trường THCS Tân Ân) |
người |
2.030 |
|
- |
Điểm xã Tân Trụ (Trụ sở UBND xã Bình Trinh Đông cũ; Trường THCS Nguyễn Văn Chiêu) |
người |
2.500 |
|
- |
Điểm xã Thuận Mỹ (Trường THCS Thuận Mỹ; Trường TH Thuận Mỹ) |
người |
2.400 |
|
- |
Điểm xã Long Hựu (Nhà phòng tránh, trú bão Long Hựu; Trường THCS, THPT Long Hựu) |
người |
2.400 |
|
- |
Điểm xã Tân Tập (Trường THCS Tân Tập; Trường THCS Đông Thạnh; Trung tâm VHTT và HTCĐ xã Tân Tập) |
người |
3.338 |
|
- |
Điểm xã Bến Cầu (Nhà văn hóa ấp Voi Đình, ấp Chánh ấp Bến và các điểm trường) |
người |
938 |
|
- |
Điểm xã Ninh Điền (Nhà văn hóa xã) |
người |
145 |
|
- |
Điểm xã Hưng Thuận (Nhà văn hóa xã) |
người |
270 |
|
- |
Điểm xã Hậu Thạnh (Nhà văn hóa ấp Phước Cường, ấp Giồng Dung, ấp Bùi cũ; Trường TH Hậu Thạnh Đông; Trường THCS Bắc Hòa) |
người |
288 |
|
- |
Điểm xã Vĩnh Châu (Trường MN Vĩnh Bửu; Trung tâm cung ứng dịch vụ công xã; Trụ sở UBND xã Vĩnh Châu A cũ; Nhà văn hóa ấp Võ Văn Be) |
người |
200 |
|
- |
Điểm xã Tuyên Thạnh (Trường TH Thạnh Hưng, Trường THCS Nguyễn Hồng Sến) |
người |
300 |
|
2 |
Do triều cường gây ngập lụt |
người |
21.393 |
|
- |
Điểm xã Vàm Cỏ (Nhà văn hóa các ấp: Ấp 1, ấp Bình Lợi, ấp Nhựt Hòa, ấp Bình Hòa; các trường học; trụ sở UBND xã) |
người |
7.533 |
|
- |
Điểm xã Phước Lý (Nhà văn hóa ấp Long Thạnh, ấp Phú Ân, ấp Ngoài, ấp Long Giêng; các trường học; Trụ sở UBND xã; Trụ sở Ban Chỉ huy Quân sự xã): |
người |
1.093 |
|
- |
Điểm xã Cần Giuộc (Nhà văn hóa ấp 1, ấp 2, ấp 3, ấp Thanh Ba, ấp Trị Yên, ấp Thanh Hà, ấp Tân Phước, ấp Tân Xuân, ấp Kim Điền; các trường học; Trụ sở Ban chỉ huy quân sự xã; Trụ sở UBND xã) |
người |
2.388 |
|
- |
Điểm xã Mỹ Lộc (Nhà văn hóa ấp Thuận Bắc, ấp Phước Thuận, ấp Thanh Ba, ấp Kế Mỹ; các trường học; Trụ sở Ban chỉ huy quân sự xã; Trụ sở UBND xã) |
người |
1.308 |
|
- |
Điểm xã Phước Vĩnh Tây (Trụ sở Uỷ ban MTTQ xã; Trụ sở Công an xã; Trường TH và THCS Phước Vĩnh Tây, Long Phụng; Trụ sở UBND xã; Trụ sở Đảng uỷ xã; Trụ sở Ban Chỉ huy Quân sự xã) |
người |
1.702 |
|
- |
Điểm xã Tân Tập (Các trường học; Trụ sở UBND xã; các Nhà văn hóa ấp) |
người |
7.369 |
|
3 |
Do sự cố hồ đập |
người |
3.811 |
|
- |
Điểm xã Mỹ Quý (Trụ sở Ban Chỉ huy Quân sự xã; Trường TH Mỹ Quý; Trường TH Mỹ Thạnh Bắc) |
người |
650 |
|
- |
Điểm xã An Ninh (Chùa Phước Trường; Trường THCS An Ninh) |
người |
500 |
|
- |
Điểm xã Hiệp Hòa (Trung tâm VHTT và HTCĐ xã Tân Phú cũ và xã Hiệp Hòa cũ |
người |
800 |
|
- |
Điểm xã Lộc Ninh (Nhà văn hóa ấp 1, ấp B2, ấp B4; Trụ sở UBND xã; các trường học) |
người |
949 |
|
- |
Điểm xã Cầu Khởi (Nhà văn hóa ấp Phước An; Trụ sở UBND xã; các trường học) |
người |
107 |
|
- |
Điểm xã Thạnh Đức (Nhà văn hóa ấp Cẩm Bình; Trụ sở UBND xã; các trường học) |
người |
270 |
|
- |
Điểm xã Thạnh Phước (Nhà văn hóa ấp Giữa; Trụ sở UBND xã; các trường học) |
người |
250 |
|
- |
Điểm xã Truông Mít (Nhà văn hóa ấp Thuận Tân; Trụ sở UBND xã; các trường học) |
người |
285 |
|
IX |
BÃI ĐỖ MÁY BAY TRỰC THĂNG |
m² |
207.278 |
|
1 |
Sân bóng khu đô thị Lợi Bình Nhơn Phường Khánh Hậu |
m² |
1.500,0 |
|
2 |
Sân vận động (tỉnh) phường Long An |
m² |
75.000,0 |
|
3 |
Khu tái định cư Hòa Bình, phường Tân An |
m² |
10.000,0 |
|
4 |
Bãi đất trống Khu dân cư ấp 1 Thạnh Hòa, xã Thạnh Lợi |
m² |
250,0 |
|
5 |
Sân vận động/TT dịch vụ công xã Nhựt Tảo |
m² |
15.150,0 |
|
6 |
Xã Mỹ Quý |
m² |
14.934,0 |
|
7 |
Sân bóng Trường Cao đẳng nghề Long An (cơ sở Đức Hòa, điểm đào tạo Đức Huệ), xã Đông Thành |
m² |
7.000,0 |
|
8 |
Khu Công nghiệp cầu cảng Phước Đông, xã Cần Đước |
m² |
25.000,0 |
|
9 |
Sân vận động/ TT Văn hóa xã Thủ Thừa |
m² |
50,0 |
|
10 |
Sân vận động/ TT Văn hóa xã Bến Cầu |
m² |
23.394,0 |
|
11 |
Quảng trường sân vận động xã Tân Hưng |
m² |
10.000,0 |
|
12 |
Sân vận động xã Vĩnh Hưng |
m² |
20.000,0 |
|
13 |
Khu dân cư Bắc Chan 1 phường Kiến Tường |
m² |
5.000,0 |
|
X |
MẠNG LƯỚI ĐIỆN |
|
|
|
1 |
Trạm biến áp 500 kV |
trạm |
1 |
|
2 |
Trạm biến áp 220 kV |
trạm |
9 |
|
3 |
Trạm biến áp 110 kV |
trạm |
66 |
|
4 |
Lưới điện 500 kV |
km |
261,63 |
|
5 |
Lưới điện 220 kV |
km |
175,10 |
|
6 |
Lưới điện 110 kV |
km |
908,60 |
|
7 |
Đường dây trung thế |
km |
9.653,50 |
|
8 |
Đường dây hạ thế |
km |
11.094,90 |
|
9 |
Nhà máy năng lượng mặt trời đấu nối lưới 220-110kV |
nhà máy |
18 |
|
10 |
Hệ thống điện mặt trời mái nhà khách hàng |
Hệ thống |
6.826 |
|
11 |
Nhà máy thủy điện nhỏ |
nhà máy |
2 |
|
12 |
Nhà máy điện sinh khối |
nhà máy |
1 |
|
XI |
BỆNH VIỆN, TRẠM Y TẾ |
|
|
|
1 |
Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và bệnh viện đa khoa khu vực tuyến tỉnh |
cái |
11 |
|
2 |
Bệnh viện đa khoa tư nhân |
cái |
8 |
|
3 |
Bệnh viện chuyên khoa tư nhân |
cái |
1 |
|
4 |
Trung tâm y tế khu vực |
cái |
24 |
|
5 |
Trạm y tế xã, phường |
cái |
96 |
|
XII |
CÔNG TRÌNH PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY RỪNG |
|
|
|
|
Tháp canh lửa |
Cái |
11 |
DỰ KIẾN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG TRUNG
HẠN PHỤC VỤ CÔNG TÁC PCTT GIAI ĐOẠN 2026-2030 (1)
(Kèm theo Quyết định số 8971/QĐ-UBND ngày 27 tháng 5 năm 2026 của
UBND tỉnh)
|
STT |
LĨNH VỰC/ CÔNG TRÌNH |
ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN |
TỔNG MỨC ĐẦU TƯ (Triệu đồng) |
NĂM BỐ TRÍ VỐN (dự kiến) |
NGUỒN VỐN THỰC HIỆN (Triệu đồng) |
||||
|
Tổng số |
Ngân sách địa phương |
Ngân sách TW |
Vốn ODA |
Quỹ PCTT và nguồn khác |
|||||
|
|
TỔNG CỘNG |
|
23.018.782 |
|
16.906.235 |
4.709.547 |
7.892.000 |
3.654.688 |
650.000 |
|
I |
LĨNH VỰC GIAO THÔNG |
|
5.612.718 |
|
4.214.688 |
560.000 |
0 |
3654688 |
0 |
|
1 |
Cầu Tắc Cạn và cầu Đông An |
Xã Phước Vĩnh Tây, Tân Lập |
300.000 |
2029 |
250.000 |
250.000 |
|
|
|
|
2 |
Cầu Cả Thơm, cầu 30/4 trên đường liên xã Thủy Tây - Thạnh Phú - Thạnh Phước |
Xã Thạnh Phước |
85.000 |
2027 |
80.000 |
80.000 |
|
|
|
|
3 |
Cải tạo mặt đường và cống thoát nước ĐT.835 |
Xã Mỹ Yên, Rạch Kiến |
150.000 |
2026 |
140.000 |
140.000 |
|
|
|
|
4 |
Cải tạo mặt đường và cống thoát nước ĐT.835 đoạn qua xã Mỹ Lộc |
Xã Mỹ Lộc |
160.000 |
2029 |
60.000 |
60.000 |
|
|
|
|
5 |
Cầu Cả Rưng bắt qua sông Vàm Cỏ Tây, xã Tuyên Bình |
Xã Tuyên Bình |
120.000 |
2030 |
30.000 |
30.000 |
|
|
|
|
6 |
03 cầu trên ĐT.827E (cầu bắc qua sông Cần Giuộc, sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây) |
Xã Cần Giuộc, Cần Đước, Vàm Cỏ, Tân Trụ, Tầm Vu |
4.797.718 |
2026 |
3.654.688 |
|
|
3654688 |
|
|
II |
LĨNH VỰC CẤP, THOÁT NƯỚC |
|
2.586.646 |
|
1.821.897 |
1.821.897 |
0 |
0 |
0 |
|
1 |
Dự án nâng cấp, mở rộng các Trạm cấp nước tập trung |
Các xã |
216.270 |
2026 |
133.309 |
133.309 |
|
|
|
|
2 |
Dự án đầu tư xây mới các Trạm cấp nước tập trung |
Các xã |
149.250 |
2026 |
110.353 |
110.353 |
|
|
|
|
3 |
Mở rộng tuyến ống cấp nước Hệ thống cấp nước đô thị Mộc Bài |
Các xã, phường |
80.500 |
2026 |
72.000 |
72.000 |
|
|
|
|
4 |
Nâng cấp, sửa chữa CTCN ấp Thanh Trung, phường Thanh Điền |
Phường Thanh Điền |
8.000 |
2026 |
7.000 |
7.000 |
|
|
|
|
5 |
Xây dựng Trạm cấp nước sạch xã Hòa Hội |
Xã Hòa Hội |
11.800 |
2026 |
11.000 |
11.000 |
|
|
|
|
6 |
Nâng cấp, sửa chữa CTCN ấp Tân Thanh, xã Tân Biên |
Xã Tân Biên |
10.000 |
2026 |
9.000 |
9.000 |
|
|
|
|
7 |
Xây dựng Trạm cấp nước sạch xã Hảo Đước |
Xã Hảo Đước |
62.000 |
2029 |
56.000 |
56.000 |
|
|
|
|
8 |
Nâng cấp, sửa chữa CTCN ấp suối Ông Đinh xã Trà Vong |
Xã Trà Vong |
20.980 |
2028 |
18.000 |
18.000 |
|
|
|
|
9 |
Nâng cấp, sửa chữa CTCN ấp Bến Cầu, xã Hòa Hội |
Xã Hòa Hội |
8.500 |
2028 |
7.000 |
7.000 |
|
|
|
|
10 |
Nâng cấp, sửa chữa CTCN ấp Long Châu, xã Long Chữ |
Xã Long Chữ |
8.550 |
2028 |
8.000 |
8.000 |
|
|
|
|
11 |
Xây dựng Trạm cấp nước sạch xã Thành Long |
Xã Thành Long |
13.000 |
2028 |
11.000 |
11.000 |
|
|
|
|
12 |
Hệ thống xử lý nước thải đô thị huyện Gò Dầu |
Phường Gò Dầu |
320.000 |
2027 |
290.000 |
290.000 |
|
|
|
|
13 |
Hệ thống xử lý nước thải đô thị Thị trấn Tân Biên |
Xã Tân Biên |
200.000 |
2027 |
180.000 |
180.000 |
|
|
|
|
14 |
Hệ thống xử lý nước thải đô thị huyện Tân châu |
Xã Tân châu |
250.000 |
2027 |
220.000 |
220.000 |
|
|
|
|
15 |
Dự án đấu nối nước thải từ hộ thoát nước vào mạng lưới thu gom và xử lý nước thải đô thị Hòa Thành |
Phường Hòa Thành |
210.389 |
2026 |
190.000 |
190.000 |
|
|
|
|
16 |
Dự án đấu nối nước thải từ hộ thoát nước vào mạng lưới thu gom và xử lý nước thải thị trấn Châu Thành |
Xã Châu Thành |
92.407 |
2026 |
85.000 |
85.000 |
|
|
|
|
17 |
Dự án đấu nối nước thải từ hộ thoát nước vào mạng lưới thu gom về nhà máy xử lý nước thải tại phường Trảng Bàng |
Phường Trảng Bàng |
80.000 |
2029 |
70.000 |
70.000 |
|
|
|
|
18 |
Dự án đấu nối nước thải từ hộ thoát nước vào mạng lưới thu gom về nhà máy xử lý nước thải tại phường Tân Ninh |
Phường Tân Ninh |
80.000 |
2029 |
70.000 |
70.000 |
|
|
|
|
19 |
Kênh chuyển nước Mộc Bài |
Xã Bến Cầu |
300.000 |
2028 |
204.235 |
204.235 |
|
|
|
|
20 |
Chống ngập, nâng cấp, cải tạo kênh tiêu Gò Kén, mở rộng đường bờ kênh (Đường N20) trên địa bàn Thị xã Hòa Thành cũ |
Phường Hòa Thành |
465.000 |
2029 |
70.000 |
70.000 |
|
|
|
|
III |
LĨNH VỰC THUỶ LỢI, LÂM NGHIỆP |
|
14.169.418 |
|
10.219.650 |
2.327.650 |
7.892.000 |
0 |
0 |
|
1 |
Xử lý sạt lở đê bao ven sông vàm cỏ tây, đoạn ấp 1, xã Mỹ Thạnh |
Xã Mỹ Thạnh |
59.000 |
2026 |
55.000 |
55.000 |
|
|
|
|
2 |
Kè kết hợp hạ tầng kỹ thuật và chỉnh trang đô thị dọc sông Vàm Cỏ Đông |
Phường Gò Dầu |
2.454.640 |
2029 |
550.000 |
550.000 |
|
|
|
|
3 |
Xử lý sạt lở bờ sông Cần Giuộc đoạn còn lại |
Xã Cần Giuộc |
173.000 |
2026 |
150.000 |
150.000 |
|
|
|
|
4 |
Kè chống sạt lở đê bao bảo vệ phường Kiến Tường |
Phường Kiến Tường |
437.000 |
2029 |
250.000 |
250.000 |
|
|
|
|
5 |
Kè chống sạt lở bờ kênh Thủ Thừa, xã Thủ Thừa |
Xã Thủ Thừa |
340.000 |
2029 |
184.500 |
184.500 |
|
|
|
|
6 |
Xây dựng kè Rạch Tây Ninh và đường giao thông phía bến Trường Đổi lên cầu Bến Dầu |
Xã Bến Cầu |
582.597 |
2026 |
540.000 |
540.000 |
|
|
|
|
7 |
Nạo vét kênh tiêu T6 |
Xã Trảng Bàng |
27.000 |
2026 |
24.000 |
24.000 |
|
|
|
|
8 |
Đê bao Phước Hội |
Xã Phước Chỉ |
33.300 |
2026 |
30.000 |
30.000 |
|
|
|
|
9 |
Đê bao Phước Chỉ |
Xã Phước Chỉ |
54.000 |
2026 |
48.000 |
48.000 |
|
|
|
|
10 |
Làm mới kênh tiêu chống ngập úng khu vực ấp Phước Hòa, xã Dương Minh Châu |
Xã Suối Đá |
83.250 |
2026 |
80.000 |
80.000 |
|
|
|
|
11 |
Nạo vét kênh tiêu Tân Hà - Tân Hội - Suối Ky |
Xã Tân Đông, Tân Hội, Tân Lập |
25.000 |
2026 |
23.000 |
23.000 |
|
|
|
|
12 |
Nạo vét kênh tiêu suối Tà Béc |
Xã Tân Đông |
47.000 |
2026 |
42.000 |
42.000 |
|
|
|
|
13 |
Nạo vét kênh tiêu T2 (Kênh tiêu Rạch Rễ) |
Phường Long Hoa |
15.000 |
2026 |
14.000 |
14.000 |
|
|
|
|
14 |
Sửa chữa kênh N20 đoạn khoảng từ K0-K1+018 |
Xã Hưng Thuận |
40.600 |
2026 |
39.000 |
39.000 |
|
|
|
|
15 |
Gia cố kênh N20 đoạn khoảng từ K5+300-K5+982 |
Phường Trảng Bàng |
12.000 |
2027 |
11.000 |
11.000 |
|
|
|
|
16 |
Gia cố kênh N20 đoạn khoảng từ K7+136 - K8+116 |
Phường Trảng Bàng |
15.000 |
2026 |
14.000 |
14.000 |
|
|
|
|
17 |
Làm mới hệ thống kênh nhánh TN10 - kênh chính Tân Biên |
Xã Phước Vinh |
21.600 |
2029 |
19.000 |
19.000 |
|
|
|
|
18 |
Gia cố kênh TN0-2A-2 đoạn khoảng từ K2+150-K7+034=KC |
Xã Dương Minh Châu, P. Ninh Thạnh |
43.346 |
2028 |
40.000 |
40.000 |
|
|
|
|
19 |
Nạo vét Suối cầu Khởi |
Xã Thạnh Đức, Cầu Khởi |
17.233 |
2026 |
14.000 |
14.000 |
|
|
|
|
20 |
Gia cố kênh TN0-8 |
Xã Lộc Ninh |
20.000 |
2026 |
18.000 |
18.000 |
|
|
|
|
21 |
Đầu tư hạ tầng thủy lợi thuộc Đề án UDNNCNC huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh |
Xã Tân Châu |
156.704 |
2029 |
66.000 |
66.000 |
|
|
|
|
22 |
Nạo vét rạch Nhọc - Đá Hàng, suối Bà Tươi |
Xã, phường: Truông Mít, Thạnh Đức, Phước Thạnh, Gia Lộc |
156.000 |
2029 |
40.000 |
40.000 |
|
|
|
|
23 |
Xây mới kho cất giữ tang vật và chuồng nuôi nhốt, chăm sóc động vật hoang dã tại Hạt Kiểm lâm Khu vực II |
Xã Tân Biên |
1.800 |
2026 |
1.600 |
1.600 |
|
|
|
|
24 |
Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ bảo vệ rừng, PCCR, bảo tồn đa dạng sinh học |
Các xã |
12.500 |
2029 |
11.250 |
11.250 |
|
|
|
|
25 |
Đầu tư mới tháp canh lửa Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng |
Xã Tân Biên, Tân Hòa, Tân Thành, Dương Minh Châu |
12.000 |
2028 |
10.800 |
10.800 |
|
|
|
|
26 |
Triển khai Đề án Nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng khu vực Núi Bà Đen, giai đoạn 2025-2030 |
Khu du lịch quốc gia Núi Bà Đen |
3.585 |
2026 |
3.000 |
3.000 |
|
|
|
|
27 |
Dự án Bảo vệ và phát triển rừng Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát giai đoạn 2026 -2030 |
Xã Tân Biên |
5.300 |
2026 |
4.500 |
4.500 |
|
|
|
|
28 |
Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, bảo tồn đa dạng sinh học |
Xã Tân Biên |
12.500 |
2026 |
10.000 |
10.000 |
|
|
|
|
29 |
Dự án bảo vệ và phát triển rừng Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng giai đoạn 2026 - 2030 |
Xã Tân Biên |
41.000 |
2027 |
35.000 |
35.000 |
|
|
|
|
30 |
Tưới tiêu khu vực phía Tây sông Vàm Cỏ Đông giai đoạn 2 (kiên cố hóa kênh chính, kênh cấp 1, 2, 3 và kênh tiêu) |
Xã Châu Thành |
600.000 |
2026 |
400.000 |
|
400.000 |
|
|
|
31 |
Kè chống sạt lở đê bao bảo vệ phường Kiến Tường |
Phường Kiến Tường |
437.000 |
2027 |
400.000 |
|
400.000 |
|
|
|
32 |
Kè chống sạt lở bờ kênh Thủ Thừa, xã Thủ Thừa |
Xã Thủ Thừa |
340.000 |
2026 |
300.000 |
|
300.000 |
|
|
|
33 |
Kè bảo vệ bờ sông Vàm Cỏ Tây (từ Trung tâm bảo vệ sức khỏe đến kênh Vành đai) thành phố Tân An |
Xã Tân An |
210.000 |
2026 |
200.000 |
|
200.000 |
|
|
|
34 |
Xử lý sạt lở bờ sông Cần Giuộc đoạn còn lại |
Xã Phước Vĩnh Tây |
173.000 |
2026 |
152.000 |
|
152.000 |
|
|
|
35 |
Kè chống sạt lở Bờ sông Tầm Vu (đoạn từ Cầu Ông Khối đến cầu Tầm Vu 2) |
Xã Tầm Vu |
268.000 |
2027 |
200.000 |
|
200.000 |
|
|
|
36 |
Kè sông Bảo Định (đoạn từ đường Võ Văn Môn đến ranh Tiền Giang) |
Phường Long An |
968.953 |
2027 |
800.000 |
|
800.000 |
|
|
|
37 |
Kè kết hợp hạ tầng kỹ thuật và chỉnh trang đô thị dọc phía thượng nguồn đập tha la |
Xã Tân Châu |
1.000.000 |
2028 |
850.000 |
|
850.000 |
|
|
|
38 |
Kè kết hợp hạ tầng kỹ thuật và chỉnh trang đô thị dọc sông Vàm Cỏ Đông |
Phường Gò Dầu |
2.454.640 |
2026 |
2.200.000 |
|
2.200.000 |
|
|
|
39 |
Bờ kè đường và hạ tầng kỹ thuật dọc rạch Tây Ninh |
Xã Tân Ninh |
1.400.000 |
2029 |
1.200.000 |
|
1.200.000 |
|
|
|
40 |
Kè bảo vệ khu dân cư bờ Bắc sông Vàm Cỏ Tây tại huyện Mộc Hóa |
Xã Mộc Hóa |
144.000 |
2029 |
110.000 |
|
110.000 |
|
|
|
41 |
Kè bảo vệ bờ sông Vàm Cỏ Tây (từ cầu mới Tân An đến cống Rạch Chanh), thành phố Tân An |
Xã Tân An |
821.870 |
2029 |
780.000 |
|
780.000 |
|
|
|
42 |
Kè chống sạt lở đê bao, bảo vệ trung tâm xã Tân Hưng |
Xã Tân Hưng |
450.000 |
2029 |
300.000 |
|
300.000 |
|
|
|
IV |
CHI HỖ TRỢ CÁC HOẠT ĐỘNG PCTT VÀ CHI QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG QUỸ PCTT |
|
650.000 |
650.000 |
|
|
|
650.000 |
|
____________________
1 Danh mục công trình và nguồn vốn thực hiện được trích từ Nghị quyết số 43/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Tây Ninh về dự kiến kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn 2026-2030.
[1] Gồm có: Trẻ em 566.366 người; người cao tuổi 417.823 người; phụ nữ đang mang thai 16.322 người; người khuyết tật 90.234 người; dân tộc thiểu số 35.589 người (13.594 hộ), chiếm 1,15% dân số toàn tỉnh.
[2] Gồm: (1) Công trình do Trung ương quản lý: 01 công trình thủy lợi quan trọng, đặc biệt (hồ chứa nước Dầu Tiếng) có dung tích 1,58 tỷ m³ nước; 02 kênh tưới với tổng chiều dài 73,675 km; 04 kênh tiêu với tổng chiều dài 22,08 km; 02 hệ thống đê bao chống lũ triệt để (đê cấp III) với tổng chiều dài 7,852 km. (2) Công trình do tỉnh quản lý: 03 hồ chứa nước với tổng dung tích khoảng 19,46 triệu m³; hệ thống thủy lợi kênh chính Tân Hưng dài 29,89 km; hệ thống thủy lợi kênh chính Tân Biên dài 23,018 km; hệ thống thủy lợi kênh tưới Đức Hòa dài 185,84 km; hệ thống đê sông (33 tuyến) với tổng chiều dài 303,04 km; 18 trạm bơm với diện tích tưới thiết kế 22.956 ha; 1.927,5 km kênh tưới các cấp; 576,15 km kênh tiêu; 52 cống thuỷ lợi và 2.515,1 km kênh, rạch khác. (3) Công trình do cấp xã quản lý: Đập dâng suối Đục dài 13,62 m, diện tích tưới thiết kế 249 ha; 275,86 km kênh tiêu; 827 cống thuỷ lợi; 82,84 km đê bao, bờ bao thủy lợi (bảo vệ 2.709 ha đất sản xuất nông nghiệp); 10 trạm bơm và 7.210,2 km kênh rạch khác.
[3] Gồm: Trảng Bàng 2 (2 x 250 MVA); Tây Ninh 2 (2 x 250 MVA); Tân Biên 2 (2 x 250 MVA); Bàu Đồn (2 x 250 MVA); Đức Hòa 2 (2 x 250 MVA); Bến Lức 2 (2 x 250 MVA), Long An 2 (2 x 250 MVA); Cần Đước 2 (2 x 250 MVA).
[4] Mạng di động 3G/4G và Internet cố định đã phủ 100% đến ấp, khu phố, khu vực nông thôn, biên giới; cung cấp dịch vụ mạng 5G phủ sóng 47/96 xã, phường, đạt 48,95%; 100% người sử dụng, doanh nghiệp có khả năng kết nối Internet tốc độ cao (từ 1Gb/s trở lên).
[5] Gồm có: 350 trường tiểu học (3 tư thục), 206 trường THCS, 43 trường TH & THCS (02 tư thục), 10 trường THCS & THPT (01 tư thục), 58 trường THPT (01 tư thục) và 6 trường phổ thông 3 cấp học TH, THCS & THPT (cả 6 trường đều là tư thục).
[6] Gồm có: 08 Trung tâm giáo dục thường xuyên khu vực (01 tư thục), 01 Trường Cao đẳng Sư phạm, 01 trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật, 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, 01 Trung tâm GDTX & KTTH tỉnh, 02 Trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật, 01 Trường khiếm thị và 01 Trung tâm ngoại ngữ - tin học tỉnh.
[7] Cụm công nghiệp (CCN): Toàn tỉnh hiện có 24 CCN đã đi vào hoạt động với diện tích 1.178,9154 ha; 27 CCN đang triển khai thực hiện thủ tục đầu tư và xây dựng hạ tầng kỹ thuật với diện tích 1.419,25 ha. Các CCN đã thu hút 521 dự án với tổng diện tích đất đã cho thuê là 697,134 ha; tỷ lệ lấp đầy của các cụm công nghiệp đang hoạt động là 81,95% (tính trên diện tích đất công nghiệp theo quy hoạch xây dựng) và đạt 91,21% (tính trên diện tích đất công nghiệp đã hoàn chỉnh hạ tầng), quỹ đất công nghiệp còn lại khoảng 67,43 ha.
[8] (1) Sở Nông nghiệp và Môi trường quản lý 16 trạm (Gồm: 5 trạm đo mực nước tự động (trạm Cống Bến Trễ, cống Đôi Ma, Trị Yên, sông Cui và Trạm Tầm Vu); 11 trạm đo mưa tự động (trạm Long Chữ, Hòa Thạnh, Ninh Điền, Chà Là, Suối Đá, Thạnh Đức, Hòa Hiệp, Tân Lập, Suối Dây, Suối Ngô, Tân Hà); (2) Đài Khí tượng Thuỷ văn tỉnh quản lý 52 (gồm: 9 trạm khí tượng, thủy văn; 2 trạm tài nguyên nước; 17 trạm đo mực nước và mưa tự động; 10 trạm đo mưa tự động; 11 trạm quan trắc môi trường; 3 trạm tự quan trắc động thuộc dự án WB5).
[9] Hằng năm, Sở Nông nghiệp và Môi trường ký hợp đồng với Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Tây Ninh để thực hiện cung cấp dự bản tin báo thời tiết, khí tượng thủy văn và các loại hình thiên tai trên địa bàn tỉnh. Các bản tin được chuyển tải kịp thời đến các sở ngành liên quan và địa phương.
[10] Hằng năm, số người có thể huy động tham gia ứng phó thiên tai khoảng 20.571 người, trong đó: Bộ đội 2.889 người; dân quân tự vệ 8.256 người; dự bị động viên 3.080 người; dân quân thường trực 2.688 người; dân quân cơ động 2.688 người; người làm công tác PCTT tại cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ PCTT 970 người.
[11] Gồm có: Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh; Cổng thông tin điện tử của các sở, ban ngành tỉnh và UBND xã, phường; Đài truyền thanh xã, phường; hệ thống loa truyền thanh ấp, khu phố; mạng xã hội (Zalo, FB…) để nhận, phát tin dự báo, cảnh báo thiên tai của các sở ngành, địa phương.
[12] Danh mục công trình và nguồn vốn thực hiện được trích từ Nghị quyết số 43/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Tây Ninh về dự kiến kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn 2026-2030.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh