Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Quyết định 2227/QĐ-BKHCN năm 2026 Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026-2030 do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành

Số hiệu 2227/QĐ-BKHCN
Ngày ban hành 24/04/2026
Ngày có hiệu lực 24/04/2026
Loại văn bản Quyết định
Cơ quan ban hành Bộ Khoa học và Công nghệ
Người ký Vũ Hải Quân
Lĩnh vực Lĩnh vực khác

BỘ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2227/QĐ-BKHCN

Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2026

 

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH KẾ HOẠCH TỔNG THỂ VỀ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 5 NĂM GIAI ĐOẠN 2026 - 2030

BỘ TRƯỞNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Căn cứ Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày 27 tháng 6 năm 2025;

Căn cứ Nghị định số 55/2025/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ;

Căn cứ Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

Căn cứ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030;

Căn cứ Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”;

Căn cứ Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030;

Theo đề nghị của Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ và Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 - 2030” (sau đây gọi tắt là Kế hoạch).

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ Kế hoạch này xây dựng, ban hành kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc phạm vi quản lý, tổ chức thực hiện và gửi báo cáo về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp theo quy định./.

 


Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ (để b/c);
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
- UBND, Sở KH&CN các tỉnh, thành phố;
- Bộ KH&CN: Bộ trưởng và các Thứ trưởng, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, Cổng thông tin điện tử Bộ;
- Lưu: VT, HVCL, KH-TC.

BỘ TRƯỞNG




Vũ Hải Quân

 

KẾ HOẠCH TỔNG THỂ VỀ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ
VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 5 NĂM GIAI ĐOẠN 2026 – 2030

(Kèm theo Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)

Giai đoạn 2021 - 2025, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có bước chuyển biến mạnh mẽ, từng bước trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế khoảng 47%. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) cải thiện mạnh, năm 2025 xếp thứ 44/139, thuộc nhóm quốc gia có thành tích vượt trội trong 15 năm liên tiếp; hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đứng thứ 55 trong nhóm 100 quốc gia có hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ phát triển, giữ vai trò nòng cốt trong nghiên cứu và ứng dụng. Nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo được xếp hạng quốc tế; hạ tầng tiếp tục được đầu tư. Chính sách xã hội hoá, hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, thu hút nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nguồn lực tài chính từ năm 2025 được tăng cường, ưu tiên bố trí, đảm bảo ở mức 3% chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, lớn nhất trong 10 năm gần đây. Thể chế, chính sách có bước đột phá, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, giải phóng nguồn lực và kiến tạo phát triển.

Tuy nhiên, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn bộc lộ một số hạn chế: Tốc độ bứt phá chậm; quy mô, tiềm lực và trình độ còn khoảng cách lớn với các nước phát triển; nhiều công nghệ lõi, công nghệ chiến lược còn phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài. Thể chế đã được khơi thông nhưng chưa thực sự đi vào cuộc sống. Nhân lực chất lượng cao còn thiếu, lực lượng nghiên cứu có xu hướng già hóa; nguồn lực đầu tư chưa tương xứng. Hạ tầng và dữ liệu chưa đồng bộ, tiềm ẩn rủi ro về bảo vệ dữ liệu. Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, doanh nghiệp chưa thực sự là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo.

Những hạn chế nêu trên chủ yếu do đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong một thời gian dài trước đây còn thấp trong điều kiện nguồn lực hạn chế, lại phân tán, thiếu hệ thống mang tính chiến lược, chưa xác định đúng các đột phá cần tập trung đầu tư; phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa đồng bộ; mô hình tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào yếu tố truyền thống, chưa tạo áp lực đổi mới; doanh nghiệp thiếu động lực đổi mới công nghệ do rủi ro cao, hạn chế về vốn và thị trường.

Từ thực tiễn giai đoạn 2021 - 2025, có thể rút ra các bài học: Thể chế phải đi trước và khi cần có thể nhanh chóng điều chỉnh; tổ chức thực thi là khâu then chốt, cần được quản trị theo chuẩn quốc tế, giám sát bằng dữ liệu; doanh nghiệp cần được tạo điều kiện để trở thành lực kéo trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo; công nghệ lõi, công nghệ chiến lược cần được xác định rõ và phải ưu tiên, tập trung nguồn lực đầu tư; hợp tác quốc tế, tận dụng tri thức và nguồn lực toàn cầu cần phải được đẩy mạnh.

Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen; những quyết sách chiến lược mang tính đột phá triển khai trong nước đang đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, trong đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực chính để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 là căn cứ để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm và hằng năm; xác định danh mục chương trình, nhiệm vụ trọng điểm, ưu tiên; là công cụ triển khai Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, gắn với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số”.

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế “2 con số”, là nền tảng bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần quyết định đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới. Cơ chế, chính sách được hoàn thiện, phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và hạ tầng dữ liệu phát triển hiện đại, đồng bộ; nhân lực chất lượng cao được tăng cường trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; từng bước làm chủ, phát triển và ứng dụng các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia được phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập; liên kết giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân được tăng cường; hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được thúc đẩy; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh khu vực, từng bước vươn ra thị trường toàn cầu.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...