Quyết định 1719/QĐ-UBND năm 2026 phê duyệt Đề án “Triển khai tư vấn trực tuyến đối với các vướng mắc, tồn tại trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”
| Số hiệu | 1719/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 20/04/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 20/04/2026 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Đà Nẵng |
| Người ký | Phan Thái Bình |
| Lĩnh vực | Bộ máy hành chính |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 1719/QĐ-UBND |
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “TRIỂN KHAI TƯ VẤN TRỰC TUYẾN ĐỐI VỚI CÁC VƯỚNG MẮC, TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA, TIẾP CÔNG DÂN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG”
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025-2030;
Căn cứ Quyết định số 288/QĐ-UBND ngày 16/01/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng về nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công ngân sách nhà nước và chủ đề năm 2026 “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội”;
Xét đề nghị của Chánh Thanh tra thành phố tại Tờ trình số 912/TTr-TTTP ngày 09/4/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “triển khai tư vấn trực tuyến đối với các vướng mắc, tồn tại trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” (có Đề án chi tiết kèm theo).
Điều 2. Giao Thanh tra thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tổ chức triển khai thực hiện Đề án đảm bảo đúng mục tiêu, ý nghĩa, nội dung và tiến độ đề ra.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND thành phố, Chánh Thanh tra thành phố, Giám đốc các sở, ngành và Chủ tịch UBND các xã, phường chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
|
|
KT. CHỦ TỊCH |
ĐỀ ÁN
TRIỂN KHAI TƯ VẤN
TRỰC TUYẾN ĐỐI VỚI CÁC VƯỚNG MẮC, TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA,
TIẾP CÔNG DÂN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU
CỰC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
(Kèm theo quyết định số 1719/QĐ-UBND ngày 20 tháng 4 năm 2026 của Chủ tịch
UBND thành phố Đà Nẵng)
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT VÀ CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Bối cảnh chung và yêu cầu đổi mới
Thành phố Đà Nẵng đang trong giai đoạn nước rút thực hiện các mục tiêu chiến lược về chuyển đổi số và xây dựng thành phố thông minh theo Nghị quyết của Bộ Chính trị và Thành ủy. Trong bối cảnh đó, công tác quản lý nhà nước, đặc biệt là lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC) không thể đứng ngoài cuộc.
Yêu cầu thực tiễn đặt ra là phải xây dựng một nền hành chính phục vụ, nơi mọi vướng mắc từ cơ sở phải được lắng nghe và giải quyết nhanh nhất. Tuy nhiên, phương thức chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ truyền thống hiện nay đang bộc lộ nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển của xã hội và nhu cầu của người dân.
2. Thực trạng và những “điểm nghẽn” cấp bách
Qua khảo sát và đánh giá thực tiễn hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên toàn thành phố Đà Nẵng thời gian qua, hiện đang tồn tại những vướng mắc được xem là vấn đề lớn, như sau:
Thứ nhất, về sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật một số lĩnh vực: chế độ, chính sách; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đặc biệt lĩnh vực đất đai, quy hoạch và đền bù giải tỏa tại Đà Nẵng luôn là “điểm nóng” với tính chất phức tạp cao. Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật đã có, nhưng việc hiểu và vận dụng tại cấp cơ sở (xã, phường) và một số cơ quan, đơn vị còn nhiều lúng túng và thiếu đồng bộ. Cùng một tình huống pháp lý, nhưng mỗi địa phương, mỗi đơn vị có thể có cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc ban hành các quyết định hành chính thiếu nhất quán. Đây cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng công dân so bì, bức xúc và gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên thành phố.
Thứ hai, về năng lực cán bộ, công chức, viên chức và cơ chế phối hợp: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tiếp công dân tại các cơ quan, đơn vị; địa phương thường xuyên có sự luân chuyển, thay đổi vị trí công tác hoặc phải kiêm nhiệm nhiều chức danh. Hệ quả là họ thiếu kinh nghiệm thực tiễn và chiều sâu nghiệp vụ để xử lý các tình huống “gai góc”. Khi gặp vướng mắc, quy trình xin ý kiến cấp trên hiện nay chủ yếu thực hiện qua đường công văn hành chính trên chính quyền điện tử. Quy trình này thường tiêu tốn từ 05 đến 07 ngày làm việc để nhận được phản hồi, làm lỡ “thời điểm vàng” để giải quyết bức xúc của người dân, khiến vụ việc từ đơn giản trở nên phức tạp.
Thứ ba, về lãng phí nguồn lực và chi phí: Để tham vấn ý kiến chuyên môn, cán bộ, công chức, viên chức từ các xã vùng xa, miền núi, biên giới (như Trà My, La Êê, Hùng Sơn...) hoặc các đơn vị sự nghiệp (trụ sở tại phường Tam Kỳ...) phải di chuyển trực tiếp về Thanh tra thành phố hoặc đến tận các sở, ban, ngành. Việc này không chỉ tốn kém công tác phí, văn phòng phẩm... mà còn lãng phí hàng trăm giờ làm việc hành chính mỗi năm. Trong khi đó, hạ tầng phòng họp trực tuyến tại Thanh tra thành phố và các địa phương đã được đầu tư nhưng chưa được khai thác triệt để phục vụ công tác chuyên môn.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 1719/QĐ-UBND |
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “TRIỂN KHAI TƯ VẤN TRỰC TUYẾN ĐỐI VỚI CÁC VƯỚNG MẮC, TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA, TIẾP CÔNG DÂN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG”
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025-2030;
Căn cứ Quyết định số 288/QĐ-UBND ngày 16/01/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng về nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công ngân sách nhà nước và chủ đề năm 2026 “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội”;
Xét đề nghị của Chánh Thanh tra thành phố tại Tờ trình số 912/TTr-TTTP ngày 09/4/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “triển khai tư vấn trực tuyến đối với các vướng mắc, tồn tại trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” (có Đề án chi tiết kèm theo).
Điều 2. Giao Thanh tra thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tổ chức triển khai thực hiện Đề án đảm bảo đúng mục tiêu, ý nghĩa, nội dung và tiến độ đề ra.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND thành phố, Chánh Thanh tra thành phố, Giám đốc các sở, ngành và Chủ tịch UBND các xã, phường chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
|
|
KT. CHỦ TỊCH |
ĐỀ ÁN
TRIỂN KHAI TƯ VẤN
TRỰC TUYẾN ĐỐI VỚI CÁC VƯỚNG MẮC, TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA,
TIẾP CÔNG DÂN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU
CỰC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
(Kèm theo quyết định số 1719/QĐ-UBND ngày 20 tháng 4 năm 2026 của Chủ tịch
UBND thành phố Đà Nẵng)
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT VÀ CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Bối cảnh chung và yêu cầu đổi mới
Thành phố Đà Nẵng đang trong giai đoạn nước rút thực hiện các mục tiêu chiến lược về chuyển đổi số và xây dựng thành phố thông minh theo Nghị quyết của Bộ Chính trị và Thành ủy. Trong bối cảnh đó, công tác quản lý nhà nước, đặc biệt là lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC) không thể đứng ngoài cuộc.
Yêu cầu thực tiễn đặt ra là phải xây dựng một nền hành chính phục vụ, nơi mọi vướng mắc từ cơ sở phải được lắng nghe và giải quyết nhanh nhất. Tuy nhiên, phương thức chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ truyền thống hiện nay đang bộc lộ nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển của xã hội và nhu cầu của người dân.
2. Thực trạng và những “điểm nghẽn” cấp bách
Qua khảo sát và đánh giá thực tiễn hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên toàn thành phố Đà Nẵng thời gian qua, hiện đang tồn tại những vướng mắc được xem là vấn đề lớn, như sau:
Thứ nhất, về sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật một số lĩnh vực: chế độ, chính sách; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đặc biệt lĩnh vực đất đai, quy hoạch và đền bù giải tỏa tại Đà Nẵng luôn là “điểm nóng” với tính chất phức tạp cao. Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật đã có, nhưng việc hiểu và vận dụng tại cấp cơ sở (xã, phường) và một số cơ quan, đơn vị còn nhiều lúng túng và thiếu đồng bộ. Cùng một tình huống pháp lý, nhưng mỗi địa phương, mỗi đơn vị có thể có cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc ban hành các quyết định hành chính thiếu nhất quán. Đây cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng công dân so bì, bức xúc và gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên thành phố.
Thứ hai, về năng lực cán bộ, công chức, viên chức và cơ chế phối hợp: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tiếp công dân tại các cơ quan, đơn vị; địa phương thường xuyên có sự luân chuyển, thay đổi vị trí công tác hoặc phải kiêm nhiệm nhiều chức danh. Hệ quả là họ thiếu kinh nghiệm thực tiễn và chiều sâu nghiệp vụ để xử lý các tình huống “gai góc”. Khi gặp vướng mắc, quy trình xin ý kiến cấp trên hiện nay chủ yếu thực hiện qua đường công văn hành chính trên chính quyền điện tử. Quy trình này thường tiêu tốn từ 05 đến 07 ngày làm việc để nhận được phản hồi, làm lỡ “thời điểm vàng” để giải quyết bức xúc của người dân, khiến vụ việc từ đơn giản trở nên phức tạp.
Thứ ba, về lãng phí nguồn lực và chi phí: Để tham vấn ý kiến chuyên môn, cán bộ, công chức, viên chức từ các xã vùng xa, miền núi, biên giới (như Trà My, La Êê, Hùng Sơn...) hoặc các đơn vị sự nghiệp (trụ sở tại phường Tam Kỳ...) phải di chuyển trực tiếp về Thanh tra thành phố hoặc đến tận các sở, ban, ngành. Việc này không chỉ tốn kém công tác phí, văn phòng phẩm... mà còn lãng phí hàng trăm giờ làm việc hành chính mỗi năm. Trong khi đó, hạ tầng phòng họp trực tuyến tại Thanh tra thành phố và các địa phương đã được đầu tư nhưng chưa được khai thác triệt để phục vụ công tác chuyên môn.
3. Ý nghĩa của Đề án
Xuất phát từ những bất cập, tồn tại khó khăn nêu trên, việc triển khai tư vấn trực tuyến để giải quyết các vướng mắc và thành lập Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến là giải pháp cần thiết, đột phá, mang tính cấp thiết để sớm hỗ trợ tư vấn giải quyết các vướng mắc, tồn tại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đây không chỉ là việc ứng dụng công nghệ vào quy trình nghiệp vụ (áp dụng hình thức họp trực tuyến/Video Conference) mà còn là cuộc cách mạng về tư duy quản lý: Chuyển từ “thụ động chờ báo cáo” sang “chủ động hỗ trợ từ xa”.
PHẦN II
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Đề án được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở chính trị và pháp lý vững chắc, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và phù hợp với chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước:
1. Cơ sở chính trị
- Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) và Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC);
- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Đà Nẵng: Các nghị quyết về xây dựng chính quyền điện tử, đô thị thông minh và nâng cao chất lượng quản trị công. Sáng kiến sử dụng hình thức trực tuyến là phù hợp với chủ trương chuyển đổi số của thành phố;
- Quyết định số 442/QĐ/TU ngày 25/12/2025 của Thành ủy Đà Nẵng ban hành Đề án xây dựng Bộ chỉ số đánh giá, xếp loại cải cách hành chính và chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố;
- Quyết định số 01-QĐ/BCĐ ngày 18/12/2025 của Ban Chỉ đạo 57 về kiện toàn Tổ giúp việc của Ban Chỉ đạo;
- Quyết định số 01-QĐ/TGV ngày 22/12/2025 của Tổ trưởng Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo 57 về thành lập các nhóm công tác hỗ trợ triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
- Kế hoạch hành động số 21-KH/TU ngày 10/9/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Cơ sở pháp lý
- Luật Tiếp công dân năm 2013; Luật Khiếu nại năm 2011; Luật Tố cáo năm 2018; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo số 136/2025/QH15 ngày 10/12/2025;
- Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 ngày 10/12/2025;
- Luật Thanh tra số 84/2025/QH15 ngày 25/6/2025;
- Luật Giao dịch Điện tử năm 2023;
- Nghị quyết số 116/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về việc tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước;
- Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030;
- Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 26/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác dân vận của cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới;
- Thông tư số 03/2025/TT-TTCP ngày 30/7/2025 của Thanh tra Chính phủ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Quyết định số 288/QĐ-UBND ngày 16/01/2026 của UBND thành phố Đà Nẵng về nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công ngân sách nhà nước và chủ đề năm 2026 “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội”.
PHẦN III
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI HOẠT ĐỘNG, QUY ĐỊNH VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA KẾT QUẢ TƯ VẤN VÀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC, BẢO ĐẢM NGUỒN LỰC THỰC HIỆN
1. Mục tiêu tổng quát
Thiết lập cơ chế hỗ trợ nghiệp vụ thông suốt, kịp thời và thống nhất từ Thanh tra thành phố đến 100% các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường, đặc khu. Nâng cao năng lực giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng, tiêu cực ngay tại cơ sở, giảm thiểu tình trạng đơn thư vượt cấp.
2. Mục tiêu cụ thể (KPIs)
- Thống nhất 100% nghiệp vụ: đảm bảo tất cả các đơn vị trên địa bàn thành phố áp dụng cùng một cách hiểu và quy trình xử lý đối với các vụ việc có tính chất tương tự, đặc biệt là lĩnh vực đất đai.
- Tốc độ phản hồi: rút ngắn thời gian chờ ý kiến chuyên môn từ 07 ngày (quy trình công văn) xuống còn tối đa 01 ngày (thông qua phiên tư vấn trực tuyến định kỳ).
- Giảm sai sót: giảm 15% số lượng các Quyết định giải quyết khiếu nại/Kết luận nội dung tố cáo bị hủy hoặc sửa do lỗi nghiệp vụ và trình tự thủ tục.
- Giảm khiếu nại vượt cấp: phấn đấu giảm từ 5% - 10% số vụ việc khiếu nại, tố cáo gửi vượt cấp lên UBND thành phố hàng năm.
3. Phạm vi và đối tượng
- Phạm vi: toàn bộ hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết KNTC và PCTN, TC trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Đối tượng: cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn tại các sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp và UBND các xã, phường, đặc khu.
- Địa điểm: kết nối từ phòng họp trực tuyến Thanh tra thành phố (Điểm cầu trung tâm) đến các điểm cầu thành phần tại cơ sở.
4. Quy định về giá trị pháp lý của kết quả tư vấn và nguyên tắc tổ chức, bảo đảm nguồn lực thực hiện
- Kết quả tư vấn trực tuyến tại các điểm cầu hoặc bằng văn bản trả lời là ý kiến trao đổi, định hướng, hướng dẫn nghiệp vụ nội bộ nhằm hỗ trợ cơ quan, đơn vị, địa phương trong quá trình xem xét, xử lý, giải quyết vụ việc; không phải là quyết định hành chính và không được xem là văn bản cơ sở pháp lý thực tế để thay thế thẩm quyền giải quyết của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Việc ban hành quyết định hành chính, kết luận hoặc văn bản giải quyết vụ việc liên quan trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thuộc thẩm quyền của cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện theo quy định pháp luật; cơ quan, đơn vị, địa phương giải quyết chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật và trước cấp có thẩm quyền về quyết định do cơ quan, đơn vị, địa phương mình ban hành.
- Kết quả tư vấn không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
- Việc thành lập và tổ chức hoạt động của Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến được thực hiện trên cơ sở kiêm nhiệm, sử dụng nguồn nhân lực hiện có của Thanh tra thành phố và nhân lực của các cơ quan, đơn vị liên quan; không làm phát sinh tổ chức bộ máy mới, không làm tăng biên chế, số lượng người làm việc theo quy định.
- Cơ quan chủ trì và các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm bố trí, phân công công chức, viên chức tham gia Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền quản lý; đồng thời bảo đảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy, quản lý biên chế và sử dụng nguồn nhân lực hiện có.
PHẦN IV
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Thành lập “Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến” trực thuộc Thanh tra thành phố Đà Nẵng
a) Tên gọi và chức năng:
- “Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến” trực thuộc Thanh tra thành phố Đà Nẵng, giao cho Thanh tra thành phố Đà Nẵng thành lập.
- Chức năng tư vấn, giải đáp vướng mắc, hướng dẫn nghiệp vụ và thống nhất quan điểm xử lý các vụ việc khó, phức tạp, tồn đọng.
b) Cơ cấu nhân sự (13 thành viên)
Nhân sự được tuyển chọn kỹ lưỡng, đảm bảo tính chuyên sâu và đa dạng lĩnh vực, hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm:
- Đội trưởng (01 người): Là Phó Chánh Thanh tra thành phố. Yêu cầu: Cao cấp lý luận chính trị, Thạc sĩ, Thanh tra viên chính, kinh nghiệm công tác >10 năm. Chịu trách nhiệm chỉ đạo chung và đưa ra kết luận cuối cùng.
- Đội phó (03 người): Là các Trưởng/Phó các phòng nghiệp vụ, Thanh tra viên chính, có >8 năm kinh nghiệm, phụ trách 3 mảng trụ cột: công tác thanh tra, kiểm tra; công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
- Thành viên chuyên môn (07 người): Các Thanh tra viên có trình độ Đại học trở lên (ưu tiên 02 bằng ĐH, trong đó có 01 bằng Luật), kinh nghiệm >5 năm, am hiểu sâu về các mảng: công tác thanh tra, kiểm tra; công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tổng hợp báo cáo; công nghệ chuyển đổi số; cải cách hành chính.
- Thành viên phối hợp (02 người): Đại diện công chức, viên chức Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố (am hiểu sâu về chuyên ngành đất đai, giải phóng mặt bằng); đại diện công chức Sở Tư pháp hoặc Luật sư của Hội Luật gia thành phố (am hiểu về luật và tố tụng hành chính).
Cơ cấu tổ chức này đảm bảo đủ “thẩm quyền” (Lãnh đạo Thanh tra), đủ “trí tuệ” (các chuyên gia) và đủ “góc nhìn đa chiều” (các thành viên mời) để giải quyết triệt để mọi vướng mắc, tồn tại trong quá trình vận hành chính quyền địa phương 02 cấp hiện nay.
c) Quy trình vận hành (5 bước chuẩn hóa)
Để đảm bảo tính khoa học và hiệu quả, hoạt động tư vấn tuân thủ quy trình khép kín sau :
Bước 1: đăng ký (trước ngày họp 05 ngày):
Đơn vị cơ sở gửi văn bản đăng ký nội dung cần tư vấn kèm hồ sơ tóm tắt qua Hệ thống quản lý văn bản điều hành. Nội dung phải nêu rõ vướng mắc và quan điểm xử lý ban đầu của đơn vị.
Bước 2: sàng lọc và phân công (trước ngày họp 03 ngày):
Thư ký Đội tiếp nhận, phân loại lĩnh vực. Đội trưởng phân công thành viên chuyên trách nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị phương án trả lời.
Bước 3: tư vấn trực tuyến (sáng thứ năm định kỳ hàng tháng):
Tổ chức phiên họp qua cầu truyền hình.
Đơn vị cơ sở trình bày (10-15 phút).
Các thành viên Đội thảo luận, phản biện, phân tích pháp lý.
Đội trưởng kết luận, chốt phương án giải quyết.
Bước 4: ban hành văn bản (trong vòng 03 ngày sau họp):
Thư ký hoàn thiện thông báo kết quả tư vấn/Biên bản làm việc. Văn bản này có giá trị hướng dẫn nghiệp vụ để cơ sở thực hiện.
Bước 5: thực hiện và phản hồi:
Cơ sở được tư vấn triển khai theo hướng dẫn và báo cáo kết quả về Thanh tra thành phố để theo dõi, đánh giá.
2. Nâng cao nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu chính quyền; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức và mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết vướng mắc liên quan trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thuộc thẩm quyền của cơ quan, đơn vị, địa phương.
- Quán triệt, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của chính quyền, các cơ quan, tổ chức, đội ngũ công chức, viên chức thực hiện giải quyết các vướng mắc, khó khăn liên quan trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thuộc thẩm quyền của cơ quan, đơn vị, địa phương trong quá trình vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; tăng cường kiến thức chuyên sâu thực tế cho đội ngũ báo cáo viên, hoà giải viên, cán bộ, công chức, viên chức các cấp để thực hiện tốt công tác phổ biến giáo dục pháp luật hiện nay.
- Phát huy vai trò của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật các cấp trong chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, hoà giải viên pháp luật.
- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành với chính quyền địa phương trong xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật chuyên sâu về giải quyết vướng mắc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Đề án.
3. Nghiên cứu, kiến nghị đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật có liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thuộc phạm vi của Đề án.
4. Đổi mới tiếp cận dần nội dung, hình thức, cách thức triển khai để tiến đến việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bằng hình thức trực tuyến toàn thành phố; trang bị công cụ, phương tiện, thiết bị, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số phù hợp với đặc điểm, tính chất đối tượng của Đề án.
5. Giám sát, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án.
PHẦN V
HIỆU QUẢ DỰ KIẾN CỦA ĐỀ ÁN
Việc triển khai Đề án sẽ mang lại hiệu quả to lớn trên ba phương diện: kinh tế, xã hội và quản trị hành chính.
1. Hiệu quả kinh tế (tiết kiệm chi ngân sách)
Tiết kiệm thời gian: ước tính tiết kiệm được 150 - 200 giờ làm việc/năm cho mỗi công chức nhờ loại bỏ thời gian di chuyển từ các xã, phường xa trung tâm về thành phố.
Tiết kiệm chi phí hành chính: giảm 20% chi phí in ấn tài liệu, chuyển phát bưu chính nhờ số hóa quy trình gửi hồ sơ và nhận kết quả tư vấn.
2. Hiệu quả xã hội (lợi ích cho người dân)
- Công dân được giải quyết công việc nhanh chóng, minh bạch, giảm bớt thời gian đi lại, chờ đợi.
- Hạn chế tình trạng “nhũng nhiễu, gây phiền hà” cho người dân do cán bộ, công chức, viên chức cơ sở không nắm vững quy định, yêu cầu bổ sung hồ sơ nhiều lần.
- Củng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy chính quyền, góp phần ổn định an ninh-trật tự tại địa phương.
3. Hiệu quả quản trị (nâng cao năng lực hệ thống)
Tạo ra một “Kho tri thức số”: các biên bản tư vấn, các tình huống diễn hình sẽ được lưu trữ, hệ thống hóa thành tài liệu đào tạo quý giá cho các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức sau này.
Chủ động phòng ngừa tham nhũng: Việc công khai, minh bạch quy trình tư vấn giúp giám sát chặt chẽ việc áp dụng pháp luật, hạn chế tối đa nguy cơ cán bộ lợi dụng kẽ hở pháp lý để trục lợi.
PHẦN VI
KINH PHÍ VÀ NGUỒN LỰC THỰC HIỆN
1. Nguyên tắc tài chính
Kinh phí hoạt động triển khai tư vấn trực tuyến đối với các vướng mắc, tồn tại trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn thành phố Đà Nẵng được bố trí từ ngân sách nhà nước và sử dụng theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, tận dụng tối đa cơ sở vật chất sẵn có, chỉ chi trả cho con người và công tác biên soạn nội dung.
2. Dự toán chi tiết (ước tính hằng năm)
- Tổng kinh phí dự kiến: 133.800.000 đồng/năm (Bằng chữ: Một trăm ba mươi ba triệu, tám trăm ngàn đồng).
- Cụ thể các khoản chi hằng tháng (dựa trên mức lương cơ sở và các Thông tư hiện hành của Bộ Tài chính; Nghị quyết của HĐND thành phố):
|
TT |
Nội dung chi |
Đơn vị tính |
Số lượng |
Định mức |
Đơn giá |
Thành tiền |
Ghi chú |
|
1 |
Chi biên soạn tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật (tình huống giải đáp pháp luật) |
tình huống |
15 |
450.000 |
450.000 |
6.750.000 |
điểm b, khoản 6 điều 3 Thông tư số 56/2023/TT-BTC ngày 18/8/2023; điểm b khoản 6 Điều 2 Nghị quyết số 45/2024/NQ-HĐND ngày 30/7/2024 của HĐND thành phố |
|
2 |
Chi thù lao báo cáo viên tham gia thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật |
người/buổi |
1 |
2.500.000 |
2.500.000 |
2.500.000 |
điểm a, khoản 11 điều 3 Thông tư số 56/2023/TT-BTC ngày 18/8/2023 và điểm a khoản 2 Thông tư số 36/2018/TT-BTC ngày 30/3/2018; Nghị quyết số 51/2025/NĐ-HĐND ngày 11/12/2025 |
|
3 |
Chi thù lao trợ giảng báo cáo viên tham gia thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật |
người/buổi |
1 |
1.250.000 |
1.250.000 |
1.250.000 |
|
|
4 |
Chi giải khát giữa giờ |
người/buổi |
13 |
50.000 |
50.000 |
650.000 |
Nghị quyết số 16/2025/NĐ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND thành phố |
|
|
TỔNG CỘNG |
|
|
|
11.150.000 |
|
|
3. Nguồn kinh phí thực hiện: Ngân sách nhà nước được thành phố cấp dự toán đầu năm hoặc bổ sung dự toán trong năm và các nguồn thu hợp pháp khác.
4. Cơ sở vật chất
- Điểm cầu Thanh tra thành phố: sử dụng phòng họp số 2 hoặc Phòng Tiếp công dân của Thanh tra thành phố đã được trang bị màn hình LED, hệ thống âm thanh và đường truyền internet tốc độ cao.
- Các điểm cầu cơ sở: sử dụng thiết bị hiện có, không phát sinh chi phí mua sắm mới.
PHẦN VII
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Lộ trình triển khai
- Giai đoạn 1 (tháng 4/2026): Trình UBND thành phố phê duyệt Đề án.
- Giai đoạn 2 (tháng 4/2026): Chánh Thanh tra thành phố ban hành Quyết định thành lập Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến và Quy chế hoạt động. Tập huấn nội bộ, chạy thử nghiệm hệ thống kỹ thuật. Thông báo quy trình đến các cơ quan, đơn vị; UBND các xã, phường, đặc khu (cơ sở). Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến chính thức đi vào hoạt động định kỳ vào sáng thứ năm cuối tháng.
- Giai đoạn 3 (tháng 10/2026): sơ kết 06 tháng hoạt động, đánh giá hiệu quả và điều chỉnh.
- Giai đoạn 4 (tháng 4/2027): tổng kết 01 năm hoạt động, đánh giá hiệu quả và điều chỉnh (nếu cần).
2. Trách nhiệm của các đơn vị
- Thanh tra thành phố: chủ trì, điều hành việc triển khai toàn bộ nội dung Đề án và hoạt động của Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến. Chịu trách nhiệm về tính chính xác của các nội dung tư vấn.
- Sở Tài chính: tham mưu bố trí kinh phí thực hiện Đề án hằng năm.
- Sở Khoa học và công nghệ: phối hợp hỗ trợ kỹ thuật, đảm bảo an toàn, an ninh mạng cho các phiên họp trực tuyến.
- Sở Tư pháp, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố có trách nhiệm bố trí, phân công công chức, viên chức tham gia thành viên Đội hỗ trợ tư vấn trực tuyến.
- UBND các xã, phường: chỉ đạo cán bộ, công chức nghiêm túc tham gia phiên họp định kỳ hằng tháng; đăng ký và chuẩn bị hồ sơ đầy đủ khi có nhu cầu tư vấn.
PHẦN VIII
KẾT LUẬN
Đề án triển khai tư vấn trực tuyến đối với các vướng mắc, tồn tại trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là bước đi cụ thể hóa quyết tâm của thành phố Đà Nẵng trong công cuộc cải cách hành chính và chuyển đổi số. Với chi phí đầu tư thấp nhưng hiệu quả mang lại rất lớn về mặt xã hội và quản trị, Đề án hoàn toàn khả thi và cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh