Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Kế hoạch 7822/KH-UBND năm 2026 phòng chống ung thư vú, ung thư cổ tử cung trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2026-2035

Số hiệu 7822/KH-UBND
Ngày ban hành 27/05/2026
Ngày có hiệu lực 27/05/2026
Loại văn bản Kế hoạch
Cơ quan ban hành Tỉnh Lâm Đồng
Người ký Đinh Văn Tuấn
Lĩnh vực Thể thao - Y tế

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 7822/KH-UBND

Lâm Đồng, ngày 27 tháng 5 năm 2026

 

KẾ HOẠCH

PHÒNG CHỐNG UNG THƯ VÚ, UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2026 - 2035

I. SỰ CẦN THIẾT

1. Đặt vấn đề

Ung thư vú và ung thư cổ tử cung là hai bệnh ung thư gây gánh nặng lớn đối với sức khỏe phụ nữ, chiếm tỷ lệ mắc mới và tử vong cao trong nhóm ung thư ở nữ giới. Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy sự khác nhau về các yếu tố nguy cơ, cơ chế bệnh sinh và biện pháp dự phòng ở hai bệnh lý này. Tuy nhiên, nếu được dự phòng và phát hiện sớm thông qua các biện pháp sàng lọc hiệu quả, tỷ lệ tử vong do hai bệnh ung thư vú và ung thư cổ tử cung giảm đáng kể.

1.1. Ung thư vú

Theo ước tính của Cơ quan Nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) trong Báo cáo Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) năm 2022, trên thế giới có khoảng 20 triệu ca mắc mới ung thư; 9,7 triệu ca tử vong và 50,5 triệu người đang sống chung với bệnh ung thư. Ung thư vú đứng thứ tư trong các nguyên nhân gây tử vong do ung thư, với tỷ suất mắc mới chuẩn theo tuổi là 46,8/100.000 phụ nữ và tỷ suất tử vong chuẩn theo tuổi là 12,7/100.000 phụ nữ.

Phần lớn người bệnh ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn muộn (trên 60% ở giai đoạn III - IV), làm giảm hiệu quả điều trị và tăng chi phí chăm sóc.

Ung thư vú chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nguy cơ đã được xác định, trong đó nhiều yếu tố nguy cơ đã được xác định rõ ràng. Tuổi là yếu tố quan trọng, phần lớn ca bệnh xuất hiện ở phụ nữ trên 50 tuổi, đặc biệt sau mãn kinh khi sự thay đổi nội tiết có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Phụ nữ sinh con muộn (sau 30 tuổi), không sinh con, có kinh nguyệt sớm hoặc mãn kinh muộn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Bên cạnh đó, việc sử dụng rượu bia, chế độ dinh dưỡng giàu chất béo bão hòa, nhiều đường và ít chất xơ liên quan đến nguy cơ mắc bệnh.

Các bằng chứng dịch tễ học cũng cho thấy lối sống ít vận động, yếu tố môi trường và yếu tố di truyền có vai trò nhất định trong nguy cơ mắc ung thư vú. Phụ nữ có tiền sử gia đình mắc ung thư vú đặc biệt ở người thân thế hệ thứ nhất (mẹ, chị em gái, con gái) có nguy cơ mắc bệnh cao hơn khoảng 2-3 lần so với người bình thường.

Mặc dù Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ trong phát hiện và điều trị ung thư vú, tuy nhiên vẫn còn nhiều khoảng cách so với mục tiêu và định hướng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đặc biệt là thiếu chương trình sàng lọc quốc gia, cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả can thiệp cũng như nguồn nhân lực và tài chính còn hạn chế.

1.2. Ung thư cổ tử cung

Theo dữ liệu từ GLOBOCAN, năm 2022 trên toàn thế giới có khoảng 662.000 phụ nữ mắc mới ung thư cổ tử cung trong đó khoảng 348.000 trường hợp. Khoảng 80% số ca tử vong xảy ra tại các quốc gia đang phát triển và có xu hướng gia tăng theo thời gian.

Mặc dù bệnh có thể dự phòng ngăn ngừa và phát hiện sớm, ung thư cổ tử cung vẫn có tỷ lệ mắc và tử vong cao tại Việt Nam. Năm 2022, ước tính tại Việt Nam có khoảng 4.612 phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung trong đó có 2.571 trường hợp tử vong.

Năm 2020, Đại Hội đồng Y tế thế giới đã thông qua Chiến lược toàn cầu hướng tới mục tiêu loại trừ ung thư cổ tử cung, với mục tiêu giảm tỷ lệ mắc mới xuống dưới 4/100.000 phụ nữ. Để đạt được mục tiêu này, đề xuất các quốc gia thực hiện mục tiêu 90-70-90 vào năm 2030, bao gồm:

- 90% trẻ em gái cần được tiêm chủng đầy đủ vắc-xin HPV trước 15 tuổi;

- 70% phụ nữ được sàng lọc bằng các phương pháp hiệu năng cao ở độ tuổi 35 và lặp lại khi đến 45 tuổi;

- 90% phụ nữ có tổn thương tiền ung thư được điều trị và 90% trường hợp ung thư xâm lấn được xử trí kịp thời.

II. THỰC TRẠNG

1. Tại Việt Nam

1.1. Ung thư vú

Tại Việt Nam, ung thư vú ghi nhận xu hướng gia tăng rõ rệt trong hai thập kỷ qua. Theo các dữ liệu ghi nhận ung thư khu vực, tỷ suất mắc mới chuẩn theo tuổi (ASR) tăng từ 16,2/100.000 phụ nữ năm 2002 lên 23/100.000 năm 2012, tương ứng với hơn 15.000 ca mắc mới và hơn 6.000 ca tử vong mỗi năm trong giai đoạn này. Các mô hình dự báo trước đây của IARC (Cancer Tomorrow) ước tính ASR ung thư vú tại Việt Nam có thể đạt khoảng 29,3/100.000 phụ nữ vào năm 2030. Tuy nhiên, số liệu cập nhật từ GLOBOCAN 2022 cho thấy gánh nặng bệnh đã tăng nhanh hơn dự báo, với 24.563 trường hợp mắc mới (chiếm 13,6% tổng số ca ung thư ở nữ giới) và khoảng 10.000 trường hợp tử vong (chiếm 8,3%), tương ứng với ASR mắc mới 38/100.000 và ASR tử vong 14,7/100.000. Thực tế này cho thấy ung thư vú tại Việt Nam đang gia tăng nhanh và vượt quá các ước tính trước đây.

Đa số người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn, làm giảm hiệu quả điều trị, tăng chi phí và gánh nặng kinh tế. Bệnh chủ yếu gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi, nhưng đang có xu hướng trẻ hóa, nhiều ca được chẩn đoán dưới 40 tuổi. Tuổi trung bình mắc thấp hơn so với các nước phát triển, phản ánh khác biệt về yếu tố nguy cơ, lối sống và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Đáng chú ý, trên 60% người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn (III-IV), dẫn đến hiệu quả điều trị thấp. Tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ khoảng 74%, thấp hơn nhiều quốc gia phát triển. Nguyên nhân chủ yếu là do chưa có chương trình sàng lọc quốc gia, nhận thức cộng đồng còn hạn chế và chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ y tế giữa các khu vực.

Tại Việt Nam, hoạt động sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú được triển khai ở một số nơi, chưa có chương trình sàng lọc ung thư vú quốc gia. Tỷ lệ phụ nữ thực hiện sàng lọc còn thấp (khám lâm sàng 22-51%, tự khám vú 14-19%), chụp Xquang vú rất hạn chế và chênh lệch rõ rệt giữa khu vực thành thị và nông thôn. Dịch vụ chẩn đoán và điều trị tập trung ở cấp tỉnh và trung ương, gây khó khăn cho người dân vùng sâu, vùng xa.

Về thực trạng sàng lọc và dự phòng tại Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ thực hiện các hình thức sàng lọc vẫn ở mức thấp. Chỉ khoảng 18,8% phụ nữ thực hiện tự khám vú hằng tháng, 22,4% từng được khám lâm sàng và rất ít người trong nhóm tuổi mục tiêu (từ 40-70 tuổi) được chụp X-quang vú định kỳ. Nhận thức và kiến thức của người dân về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú còn thấp, chỉ khoảng 18% phụ nữ hiểu rõ về dấu hiệu, yếu tố nguy cơ và các phương pháp sàng lọc. Có sự chênh lệch rõ rệt giữa các vùng miền và nhóm dân cư, khi phụ nữ nông thôn có tỷ lệ chụp X-quang vú thấp hơn đáng kể hơn so với thành thị (18% so với 32%), đặc biệt thấp ở vùng miền núi và nhóm dân tộc thiểu số. Những rào cản chính bao gồm thiếu kiến thức, chi phí cao, khoảng cách địa lý, thiếu hệ thống nhắc nhở - theo dõi định kỳ, và dịch vụ tập trung chủ yếu tại cơ sở Y tế tuyến trên.

Hiện nay, các hoạt động sàng lọc chủ yếu dựa vào khám lâm sàng, tự khám vú và siêu âm, tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện còn rất thấp. Dịch vụ chẩn đoán và điều trị tập trung chủ yếu ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp chuyên sâu, gây khó khăn đối với các vùng sâu, vùng xa trong tiếp cận dịch vụ sàng lọc, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời. Các chương trình sàng lọc cộng đồng thường có quy mô nhỏ, chủ yếu do bệnh viện lớn, tổ chức phi chính phủ hoặc doanh nghiệp phối hợp thực hiện, chưa có tính bền vững và bao phủ toàn quốc.

Tóm lại, ung thư vú đang trở thành một trong những vấn đề sức khỏe đáng chú ý, với xu hướng gia tăng nhanh số ca mắc mới, tỷ lệ phát hiện muộn còn cao và chênh lệch lớn trong tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng miền. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong truyền thông và sàng lọc cộng đồng, Việt Nam vẫn chưa có chương trình sàng lọc quốc gia có hệ thống, nguồn lực và cơ chế phối hợp bền vững. Việc tăng cường nhận thức của người dân, mở rộng tiếp cận dịch vụ chẩn đoán sớm tại cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu và cấp khám bệnh, chữa bệnh cơ bản, cùng với đầu tư vào đào tạo, trang thiết bị và hạ tầng y tế, là những giải pháp then chốt để cải thiện hiệu quả kiểm soát ung thư vú trong những năm tới.

1.2. Ung thư cổ tử cung

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...