Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Kế hoạch 626/KH-UBND năm 2026 bảo tồn và phát triển làng nghề giai đoạn 2026-2030 gắn với chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Số hiệu 626/KH-UBND
Ngày ban hành 09/05/2026
Ngày có hiệu lực 09/05/2026
Loại văn bản Kế hoạch
Cơ quan ban hành Tỉnh Đồng Tháp
Người ký Nguyễn Phước Thiện
Lĩnh vực Lĩnh vực khác

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 626/KH-UBND

Đồng Tháp, ngày 09 tháng 5 năm 2026

 

KẾ HOẠCH

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ GIAI ĐOẠN 2026-2030 GẮN VỚI CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP

Căn cứ Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn;

Căn cứ Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình Bảo tồn và Phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030; Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;

Căn cứ Quyết định số 1630/QĐ-BNN-KTHT ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp ban hành Kế hoạch Bảo tồn và phát triển làng nghề giai đoạn 2026-2030 gắn với Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (gọi tắt là Kế hoạch Bảo tồn và phát triển làng nghề), với các nội dung cụ thể sau:

I. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG, LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

1. Thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn

Ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh thời gian qua phát triển khá đa dạng với 05 nhóm ngành trọng điểm, bao gồm: Chế biến, bảo quản nông, lâm thủy sản; Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, cơ khí nhỏ; Sản xuất, kinh doanh sinh vật cảnh và các loại hình dịch vụ phục vụ đời sống, sản xuất nông thôn. Hoạt động này đã thu hút được 65.522 lao động, trong đó lực lượng lao động thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn (82%), góp phần quan trọng vào công tác giải quyết việc làm và ổn định an sinh xã hội tại địa phương.

Về tổ chức sản xuất, toàn tỉnh hiện có 7.521 cơ sở sản xuất kinh doanh, đạt tổng doanh thu khoảng 34.692 tỷ đồng với thu nhập bình quân đầu người đạt 8,1 triệu đồng/tháng. Đáng chú ý, kinh tế hộ gia đình vẫn là lực lượng nòng cốt khi chiếm tới 97,61% tổng số cơ sở (tương đương 7.341 hộ), giữ vai trò chủ đạo trong việc duy trì diện mạo ngành nghề nông thôn và là nền tảng để hình thành, phát triển các loại hình kinh tế tập thể như tổ hợp tác và hợp tác xã.

Tuy nhiên, thực trạng sản xuất vẫn bộc lộ nhiều hạn chế do đặc thù quy mô nhỏ lẻ và phân tán. Điển hình là nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ hiện có mức thu nhập thấp nhất (khoảng 5,2 triệu đồng/người/tháng) do các nguyên nhân chủ yếu như: Công nghệ sản xuất còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào thủ công nên năng suất thấp và chất lượng thiếu đồng đều; thiếu vốn đầu tư để mở rộng quy mô và cải tiến kỹ thuật. Bên cạnh đó, trình độ quản trị và tay nghề lao động phần lớn dựa trên hình thức tự truyền nghề, chưa qua đào tạo bài bản, dẫn đến việc thiếu khả năng thiết kế mẫu mã mới, xây dựng thương hiệu và tiếp cận các thị trường xuất khẩu lớn. Việc sản xuất còn mang tính thời vụ, thiếu sự liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị khiến sản phẩm có giá trị gia tăng thấp và sức cạnh tranh chưa cao.

2. Thực trạng hoạt động của các nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống

Tính đến nay, toàn tỉnh đã công nhận 53 làng nghề, làng nghề truyền thống và 01 nghề truyền thống, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành thế mạnh của địa phương. Khu vực làng nghề hiện đang duy trì hoạt động cho 5.862 cơ sở với 26.053 lao động, đóng góp doanh thu ước đạt 1.432,04 tỷ đồng. Mặc dù thu nhập bình quân tại khu vực này còn khiêm tốn (khoảng 4,46 triệu đồng/người/tháng), nhưng đã có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm ngành; trong đó nhóm sinh vật cảnh đạt hiệu quả kinh tế khá nhất, trong khi nhóm thủ công mỹ nghệ vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc cải thiện thu nhập cho người lao động.

Trước thực tế đó, các địa phương đã và đang tích cực hỗ trợ các cơ sở sản xuất trong việc đăng ký bảo hộ, chứng nhận nhãn hiệu và đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại. Mục tiêu trọng tâm là gắn kết chặt chẽ phát triển làng nghề với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), tạo đà để nâng cao giá trị sản phẩm truyền thống và phát huy lợi thế đặc thù của địa phương trong giai đoạn tới.

3. Đánh giá chung

3.1. Kết quả đạt được

Công tác phát triển ngành nghề nông thôn thời gian qua luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng và chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ được ban hành kịp thời, đồng bộ với công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các hoạt động sản xuất kinh doanh tại khu vực nông thôn phát triển ổn định.

Sự phát triển của các ngành nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống đã đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Hoạt động này không chỉ tạo điều kiện để các địa phương tôn vinh và phát huy bản sắc văn hóa đặc trưng gắn với phát triển du lịch, mà còn giải quyết hiệu quả vấn đề việc làm tại chỗ cho một lượng lớn lao động nông nhàn. Đặc biệt, ngành nghề nông thôn đã tạo cơ hội thu nhập ổn định cho các đối tượng yếu thế như người khuyết tật, phụ nữ và hộ nghèo, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững. Thông qua đó, người dân khu vực nông thôn có thể yên tâm lao động, sản xuất và làm giàu trên chính quê hương của mình.

3.2. Những khó khăn, hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực, ngành nghề nông thôn hiện vẫn chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế vốn có của địa phương. Thực trạng sản xuất còn mang tính tự phát, phân tán và thiếu tính bền vững; quy mô sản xuất chủ yếu vẫn nằm ở cấp độ hộ gia đình, tận dụng không gian sinh hoạt dẫn đến cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, gây áp lực lớn lên việc xử lý chất thải và bảo vệ môi trường nông thôn.

Đáng chú ý, chất lượng sản phẩm còn thiếu tính đồng nhất, mẫu mã chậm đổi mới và chưa bắt nhịp được với thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng, nhất là đối với nhóm hàng thủ công mỹ nghệ. Việc quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm chưa thực sự được chuẩn hóa. Đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi có xu hướng giảm dần, trong khi lực lượng lao động trẻ kế cận còn thiếu kỹ năng nghề cao và tư duy quản trị thị trường hiện đại. Song song đó, các cơ sở sản xuất đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu đầu vào, thiết bị công nghệ lạc hậu và thiếu mặt bằng để mở rộng sản xuất tập trung. Vai trò của các chủ thể trong việc liên kết chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại còn mờ nhạt, làm hạn chế sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề trên thị trường trong và ngoài nước.

II. KẾ HOẠCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

1. Mục tiêu chung

Phát triển ngành nghề nông thôn, bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, làng nghề nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế khu vực nông thôn; nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần tăng thu nhập, tạo việc làm và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Gắn phát triển kinh tế nông thôn với công tác bảo vệ môi trường, tôn tạo cảnh quan và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hướng tới mục tiêu xây dựng "Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh".

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

- Tiếp tục duy trì và bảo tồn các làng nghề, làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một, thất truyền.

- Công nhận mới 02 làng nghề; 02 nghề truyền thống; phát triển từ 02 đến 03 làng nghề gắn với du lịch.

- Trên 80% làng nghề, làng nghề truyền thống hoạt động có hiệu quả.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...