Kế hoạch 2499/KH-UBND thực hiện kịch bản tăng trưởng 6 tháng cuối năm 2026 do tỉnh Cao Bằng ban hành
| Số hiệu | 2499/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 17/07/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 17/07/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Cao Bằng |
| Người ký | Lê Hải Hòa |
| Lĩnh vực | Thương mại |
|
ỦY BAN NHÂN
DÂN |
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2499/KH-UBND |
Cao Bằng, ngày 17 tháng 7 năm 2026 |
THỰC HIỆN KỊCH BẢN TĂNG TRƯỞNG 6 THÁNG CUỐI NĂM 2026
Căn cứ Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ về cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; Quyết định số 69/QĐ-UBND ngày 24/01/2026 của UBND tỉnh về ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 04 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XX về mục tiêu và một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và Nghị quyết số 70/NQ- HĐND ngày 11/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tỉnh Cao Bằng; Kế hoạch số 1459/KH-UBND ngày 12/5/2026 kế hoạch điều chỉnh việc triển khai thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế 10% quý II và các tháng cuối năm 2026 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Căn cứ tình hình triển khai thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế quý II, 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên với các nội dung sau:
1. Mục đích
Cụ thể hóa Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ và các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh; cập nhật điều chỉnh kịch bản tăng trưởng và các nhiệm vụ, giải pháp điều hành 6 tháng cuối năm nhằm phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Đánh giá toàn diện kết quả thực hiện kịch bản tăng trưởng 6 tháng đầu năm; lượng hóa cụ thể phần thiếu hụt so với kịch bản, xác định dư địa tăng trưởng còn lại của từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu để làm cơ sở xây dựng các giải pháp điều hành phù hợp trong 6 tháng cuối năm.
Xác định mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng và các định hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của từng ngành, lĩnh vực; làm cơ sở để các sở, ban, ngành, địa phương cụ thể hóa trong quá trình tổ chức thực hiện theo các nhiệm vụ đã được UBND tỉnh giao tại các văn bản chỉ đạo về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2026.
2. Yêu cầu
Việc xây dựng kế hoạch phải bám sát chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; đánh giá đúng thực trạng, xác định chính xác phần thiếu hụt so với kịch bản, khả năng bù đắp trong từng quý còn lại và dự báo khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026.
Các sở, ban, ngành, địa phương chủ động cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp thuộc phạm vi quản lý; tập trung khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án và nhiệm vụ trọng tâm, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực theo kịch bản đã đề ra.
Trong quá trình triển khai, các sở, ban, ngành, địa phương phải chủ động, quyết liệt, thường xuyên cập nhật tình hình thực hiện, kịp thời báo cáo và đề xuất xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh, không để ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng của tỉnh.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giao ban và đánh giá kết quả thực hiện theo định kỳ; lấy kết quả thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; kịp thời biểu dương các đơn vị thực hiện tốt, đồng thời kiểm điểm trách nhiệm đối với các cơ quan, đơn vị chậm triển khai hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao.
II. TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ QUÝ II, 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
1. Bối cảnh tăng trưởng và công tác chỉ đạo, điều hành kịch bản tăng trưởng 6 tháng đầu năm
Sáu tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường. Xung đột địa chính trị tại Trung Đông, biến động giá năng lượng, tài chính và thương mại quốc tế làm gia tăng áp lực lạm phát, chi phí sản xuất, vận tải và logistics, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Trong nước, nền kinh tế tiếp tục chịu tác động của các yếu tố bên ngoài; chi phí đầu vào duy trì ở mức cao, sức hấp thụ vốn của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế, tạo áp lực đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng. Tuy nhiên, với sự điều hành chủ động, linh hoạt của Chính phủ, kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ ổn định, lạm phát được kiểm soát, các động lực tăng trưởng từng bước được củng cố.
Đối với tỉnh Cao Bằng, là tỉnh miền núi, biên giới, địa hình chia cắt, chi phí logistics cao và quy mô thị trường còn nhỏ, những biến động của kinh tế thế giới và trong nước tác động rõ nét đến chi phí đầu tư, sản xuất, vận chuyển hàng hóa cũng như tiến độ triển khai các dự án trọng điểm. Bên cạnh đó, trong quý II, thời tiết diễn biến cực đoan với mưa đá, giông lốc, mưa lớn, ngập úng cục bộ tại một số địa phương đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đời sống Nhân dân và tiến độ thi công một số công trình, dự án.
Trước những khó khăn, thách thức đó, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ ngay từ đầu năm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt 10%. Tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026[1]; triển khai Kế hoạch thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế 10%; đồng thời ban hành nhiều công điện, công văn chỉ đạo chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính, đổi mới phương thức làm việc theo hướng giảm hội họp, tăng cường đi cơ sở, giải quyết công việc thực chất; chủ động ứng phó với biến động giá xăng dầu, vật liệu xây dựng, thiên tai và các yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng[2].
Cùng với đó, tỉnh tập trung chỉ đạo triển khai các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Bắc Kạn - Cao Bằng, các công trình trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới và các dự án hạ tầng thiết yếu; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân. Công tác quản lý giá, theo dõi chỉ số giá, công bố giá vật liệu xây dựng, cập nhật đơn giá nhân công, giá ca máy được tăng cường nhằm kiểm soát chi phí đầu vào, bảo đảm nguồn cung vật liệu và hạn chế tác động của biến động thị trường đối với đầu tư và sản xuất.
Công tác điều hành tăng trưởng năm 2026 tiếp tục được đổi mới theo hướng lượng hóa cụ thể các động lực tăng trưởng. Trên cơ sở kết quả thực hiện quý I, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1459/KH-UBND ngày 12/5/2026 điều chỉnh kịch bản tăng trưởng quý II và các tháng cuối năm. Kịch bản được xây dựng theo 03 khu vực kinh tế, 19 ngành kinh tế cấp I và cụ thể hóa thành 82 sản phẩm, dịch vụ chủ yếu, theo dõi bằng các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu, khối lượng và giá trị tăng thêm theo từng tháng, nhằm nâng cao chất lượng dự báo, xác định rõ các động lực tăng trưởng và tạo cơ sở cho công tác điều hành sát với tình hình thực tiễn.
Để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng theo quý gắn với diễn biến của kinh tế trong nước và quốc tế; giao các sở, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ và chỉ đạo đánh giá tiềm năng phát triển của từng địa phương trong tỉnh. Đồng thời, tăng cường chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất, kịp thời nhận diện các chỉ tiêu có nguy cơ không đạt để chủ động điều chỉnh giải pháp điều hành[3]. Công tác phân tích, đánh giá và dự báo tăng trưởng từng bước được đổi mới theo hướng định lượng, xác định rõ sản phẩm, nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng điều hành tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
2. Kết quả tăng trưởng GRDP quý II, 6 tháng đầu năm 2026
Theo số liệu dự ước của Cục Thống kê, kết quả tăng trưởng kinh tế tỉnh Cao Bằng quý II, 6 tháng đầu năm như sau:
2.1.1. Kết quả tăng trưởng quý II
Ước tính tốc độ phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Cao Bằng quý II năm 2026 tăng 7,17% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn 3,16 điểm % so với kịch bản tăng trưởng quý II (10,33%), xếp thứ 6/9 tỉnh trong vùng Trung du Miền núi phía Bắc, 28/34 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Xét theo từng khu vực kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục đạt kết quả tích cực khi ước tăng 7,91%, cao hơn 2,82 điểm phần trăm so với kịch bản (5,09%). Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 8,51%, cao hơn 2,94 điểm phần trăm so với kịch bản (5,57%). Đây là hai nhóm chỉ tiêu vượt kịch bản, góp phần hỗ trợ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Ngược lại, khu vực công nghiệp - xây dựng ước tăng 11,09%, thấp hơn 12,37 điểm phần trăm so với kịch bản đề ra (23,46%); khu vực dịch vụ ước tăng 5,32%, thấp hơn 3,32 điểm phần trăm so với kịch bản (8,64%). Kết quả này cho thấy mặc dù nhiều ngành, lĩnh vực đã có chuyển biến tích cực nhưng các động lực tăng trưởng chủ yếu của tỉnh vẫn chưa đạt mức kỳ vọng theo kịch bản điều hành.
Cùng với việc ước tăng trưởng quý 11/2026, theo số liệu cập nhật của cơ quan thống kê, tăng trưởng GRDP quý I năm 2026 của tỉnh Cao Bằng được điều chỉnh từ mức dự ước 7,5% lên 8,73%, tăng 1,23 điểm phần trăm so với số liệu công bố tại thời điểm quý I. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,02%, giảm 0,24 điểm phần trăm so với số dự ước; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 22,78%, tăng 9,87 điểm phần trăm so với số dự ước; khu vực dịch vụ tăng 7,17%, giảm 0,57 điểm phần trăm so với số dự ước; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 9,12%, giảm 0,54 điểm phần trăm. Việc điều chỉnh tăng trưởng GRDP quý I theo số liệu chính thức đã phản ánh sát hơn kết quả thực hiện của nền kinh tế, đồng thời là cơ sở để cập nhật, rà soát kịch bản tăng trưởng các quý còn lại. Tuy nhiên, với kết quả tăng trưởng quý II chưa đạt kịch bản đề ra, mục tiêu tăng trưởng cả năm 2026 vẫn đặt ra yêu cầu rất cao, đòi hỏi các ngành, lĩnh vực phải tập trung triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm.
|
ỦY BAN NHÂN
DÂN |
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2499/KH-UBND |
Cao Bằng, ngày 17 tháng 7 năm 2026 |
THỰC HIỆN KỊCH BẢN TĂNG TRƯỞNG 6 THÁNG CUỐI NĂM 2026
Căn cứ Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ về cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; Quyết định số 69/QĐ-UBND ngày 24/01/2026 của UBND tỉnh về ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 04 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XX về mục tiêu và một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và Nghị quyết số 70/NQ- HĐND ngày 11/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tỉnh Cao Bằng; Kế hoạch số 1459/KH-UBND ngày 12/5/2026 kế hoạch điều chỉnh việc triển khai thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế 10% quý II và các tháng cuối năm 2026 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Căn cứ tình hình triển khai thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế quý II, 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên với các nội dung sau:
1. Mục đích
Cụ thể hóa Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ và các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh; cập nhật điều chỉnh kịch bản tăng trưởng và các nhiệm vụ, giải pháp điều hành 6 tháng cuối năm nhằm phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Đánh giá toàn diện kết quả thực hiện kịch bản tăng trưởng 6 tháng đầu năm; lượng hóa cụ thể phần thiếu hụt so với kịch bản, xác định dư địa tăng trưởng còn lại của từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu để làm cơ sở xây dựng các giải pháp điều hành phù hợp trong 6 tháng cuối năm.
Xác định mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng và các định hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của từng ngành, lĩnh vực; làm cơ sở để các sở, ban, ngành, địa phương cụ thể hóa trong quá trình tổ chức thực hiện theo các nhiệm vụ đã được UBND tỉnh giao tại các văn bản chỉ đạo về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2026.
2. Yêu cầu
Việc xây dựng kế hoạch phải bám sát chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; đánh giá đúng thực trạng, xác định chính xác phần thiếu hụt so với kịch bản, khả năng bù đắp trong từng quý còn lại và dự báo khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026.
Các sở, ban, ngành, địa phương chủ động cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp thuộc phạm vi quản lý; tập trung khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án và nhiệm vụ trọng tâm, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực theo kịch bản đã đề ra.
Trong quá trình triển khai, các sở, ban, ngành, địa phương phải chủ động, quyết liệt, thường xuyên cập nhật tình hình thực hiện, kịp thời báo cáo và đề xuất xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh, không để ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng của tỉnh.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giao ban và đánh giá kết quả thực hiện theo định kỳ; lấy kết quả thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; kịp thời biểu dương các đơn vị thực hiện tốt, đồng thời kiểm điểm trách nhiệm đối với các cơ quan, đơn vị chậm triển khai hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao.
II. TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ QUÝ II, 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
1. Bối cảnh tăng trưởng và công tác chỉ đạo, điều hành kịch bản tăng trưởng 6 tháng đầu năm
Sáu tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường. Xung đột địa chính trị tại Trung Đông, biến động giá năng lượng, tài chính và thương mại quốc tế làm gia tăng áp lực lạm phát, chi phí sản xuất, vận tải và logistics, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Trong nước, nền kinh tế tiếp tục chịu tác động của các yếu tố bên ngoài; chi phí đầu vào duy trì ở mức cao, sức hấp thụ vốn của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế, tạo áp lực đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng. Tuy nhiên, với sự điều hành chủ động, linh hoạt của Chính phủ, kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ ổn định, lạm phát được kiểm soát, các động lực tăng trưởng từng bước được củng cố.
Đối với tỉnh Cao Bằng, là tỉnh miền núi, biên giới, địa hình chia cắt, chi phí logistics cao và quy mô thị trường còn nhỏ, những biến động của kinh tế thế giới và trong nước tác động rõ nét đến chi phí đầu tư, sản xuất, vận chuyển hàng hóa cũng như tiến độ triển khai các dự án trọng điểm. Bên cạnh đó, trong quý II, thời tiết diễn biến cực đoan với mưa đá, giông lốc, mưa lớn, ngập úng cục bộ tại một số địa phương đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đời sống Nhân dân và tiến độ thi công một số công trình, dự án.
Trước những khó khăn, thách thức đó, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ ngay từ đầu năm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt 10%. Tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026[1]; triển khai Kế hoạch thực hiện kịch bản tăng trưởng kinh tế 10%; đồng thời ban hành nhiều công điện, công văn chỉ đạo chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính, đổi mới phương thức làm việc theo hướng giảm hội họp, tăng cường đi cơ sở, giải quyết công việc thực chất; chủ động ứng phó với biến động giá xăng dầu, vật liệu xây dựng, thiên tai và các yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng[2].
Cùng với đó, tỉnh tập trung chỉ đạo triển khai các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Bắc Kạn - Cao Bằng, các công trình trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới và các dự án hạ tầng thiết yếu; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân. Công tác quản lý giá, theo dõi chỉ số giá, công bố giá vật liệu xây dựng, cập nhật đơn giá nhân công, giá ca máy được tăng cường nhằm kiểm soát chi phí đầu vào, bảo đảm nguồn cung vật liệu và hạn chế tác động của biến động thị trường đối với đầu tư và sản xuất.
Công tác điều hành tăng trưởng năm 2026 tiếp tục được đổi mới theo hướng lượng hóa cụ thể các động lực tăng trưởng. Trên cơ sở kết quả thực hiện quý I, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1459/KH-UBND ngày 12/5/2026 điều chỉnh kịch bản tăng trưởng quý II và các tháng cuối năm. Kịch bản được xây dựng theo 03 khu vực kinh tế, 19 ngành kinh tế cấp I và cụ thể hóa thành 82 sản phẩm, dịch vụ chủ yếu, theo dõi bằng các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu, khối lượng và giá trị tăng thêm theo từng tháng, nhằm nâng cao chất lượng dự báo, xác định rõ các động lực tăng trưởng và tạo cơ sở cho công tác điều hành sát với tình hình thực tiễn.
Để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng theo quý gắn với diễn biến của kinh tế trong nước và quốc tế; giao các sở, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ và chỉ đạo đánh giá tiềm năng phát triển của từng địa phương trong tỉnh. Đồng thời, tăng cường chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất, kịp thời nhận diện các chỉ tiêu có nguy cơ không đạt để chủ động điều chỉnh giải pháp điều hành[3]. Công tác phân tích, đánh giá và dự báo tăng trưởng từng bước được đổi mới theo hướng định lượng, xác định rõ sản phẩm, nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng điều hành tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
2. Kết quả tăng trưởng GRDP quý II, 6 tháng đầu năm 2026
Theo số liệu dự ước của Cục Thống kê, kết quả tăng trưởng kinh tế tỉnh Cao Bằng quý II, 6 tháng đầu năm như sau:
2.1.1. Kết quả tăng trưởng quý II
Ước tính tốc độ phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Cao Bằng quý II năm 2026 tăng 7,17% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn 3,16 điểm % so với kịch bản tăng trưởng quý II (10,33%), xếp thứ 6/9 tỉnh trong vùng Trung du Miền núi phía Bắc, 28/34 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Xét theo từng khu vực kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục đạt kết quả tích cực khi ước tăng 7,91%, cao hơn 2,82 điểm phần trăm so với kịch bản (5,09%). Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 8,51%, cao hơn 2,94 điểm phần trăm so với kịch bản (5,57%). Đây là hai nhóm chỉ tiêu vượt kịch bản, góp phần hỗ trợ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Ngược lại, khu vực công nghiệp - xây dựng ước tăng 11,09%, thấp hơn 12,37 điểm phần trăm so với kịch bản đề ra (23,46%); khu vực dịch vụ ước tăng 5,32%, thấp hơn 3,32 điểm phần trăm so với kịch bản (8,64%). Kết quả này cho thấy mặc dù nhiều ngành, lĩnh vực đã có chuyển biến tích cực nhưng các động lực tăng trưởng chủ yếu của tỉnh vẫn chưa đạt mức kỳ vọng theo kịch bản điều hành.
Cùng với việc ước tăng trưởng quý 11/2026, theo số liệu cập nhật của cơ quan thống kê, tăng trưởng GRDP quý I năm 2026 của tỉnh Cao Bằng được điều chỉnh từ mức dự ước 7,5% lên 8,73%, tăng 1,23 điểm phần trăm so với số liệu công bố tại thời điểm quý I. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,02%, giảm 0,24 điểm phần trăm so với số dự ước; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 22,78%, tăng 9,87 điểm phần trăm so với số dự ước; khu vực dịch vụ tăng 7,17%, giảm 0,57 điểm phần trăm so với số dự ước; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 9,12%, giảm 0,54 điểm phần trăm. Việc điều chỉnh tăng trưởng GRDP quý I theo số liệu chính thức đã phản ánh sát hơn kết quả thực hiện của nền kinh tế, đồng thời là cơ sở để cập nhật, rà soát kịch bản tăng trưởng các quý còn lại. Tuy nhiên, với kết quả tăng trưởng quý II chưa đạt kịch bản đề ra, mục tiêu tăng trưởng cả năm 2026 vẫn đặt ra yêu cầu rất cao, đòi hỏi các ngành, lĩnh vực phải tập trung triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm.
2.1.2. Tính chung tăng trưởng 6 tháng đầu năm:
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP của tỉnh ước tăng 7,85% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn 1,24 điểm phần trăm so với kịch bản tăng trưởng 6 tháng (9,09%). xếp thứ 6/9 vùng Trung du Miền núi phía Bắc, 25/34 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Trong cơ cấu tăng trưởng 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tăng 5,66%, cao hơn 1,65 điểm phần trăm so với kịch bản (4,01%); đóng góp 1,22 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,8%, cao hơn 1,23 điểm phần trăm (7,57%), đóng góp 0,33 điểm phần trăm. Đây là những khu vực duy trì kết quả thực hiện tốt và vượt kế hoạch.
Khu vực công nghiệp - xây dựng ước tăng 15,56%, thấp hơn 3,89 điểm phần trăm so với kịch bản (19,45%), đóng góp 2,79 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Riêng ngành công nghiệp ước tăng 11,81%, cao hơn 3,61 điểm phần trăm so với kịch bản (8,2%), cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp cơ bản đạt yêu cầu. Tuy nhiên, ngành xây dựng chỉ tăng 21,93%, thấp hơn tới 13,29 điểm phần trăm so với kịch bản (35,22%), trở thành điểm nghẽn lớn nhất ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của tỉnh.
Khu vực dịch vụ ước tăng 6,19%, thấp hơn 2,03 điểm phần trăm so với kịch bản (8,22%), đóng góp 3,51 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Một số ngành dịch vụ chủ lực như thương mại, vận tải, lưu trú, ăn uống, hoạt động cửa khẩu và các dịch vụ thị trường phục hồi chậm hơn dự kiến; sức mua của thị trường, lưu lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách, hoạt động xuất nhập khẩu cũng như mức chi tiêu của khách du lịch chưa đạt mức tăng trưởng theo yêu cầu của kịch bản điều hành.
Quy mô nền kinh tế 6 tháng đầu năm đạt khoảng 14.328.345 triệu đồng. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 19,91%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 22,46%, trong đó: công nghiệp chiếm tỷ trọng 13,94%; xây dựng chiếm tỷ trọng 8,52%; khu vực dịch vụ chiếm 53,82%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,81%.
2.2. Tăng trưởng trên các khu vực kinh tế
2.2.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026. Quý II, khu vực này ước tăng 7,91%, vượt 2,82 điểm phần trăm so với kịch bản tăng trưởng (5,09%), là khu vực duy nhất vượt mục tiêu đề ra, góp phần bù đắp một phần mức tăng thấp của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì mức tăng trưởng tích cực. Ngành nông nghiệp tăng 6,11%, đóng góp 1,09 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP chung, chủ yếu nhờ nhóm cây trồng hàng năm. Trong đó, cây thuốc lá tiếp tục là sản phẩm chủ lực với diện tích gieo trồng đạt 8.388 ha, tăng 30,92%, sản lượng đạt 21.762 tấn, tăng 28,43% so với cùng kỳ; sản lượng ngô đạt 102.242 tấn, tăng 6,81%; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 120.705 tấn, tăng 5,89%. Trong chăn nuôi, mặc dù tổng đàn gia súc tiếp tục giảm do quá trình tái cơ cấu, sản lượng thịt trâu vẫn tăng 3,14%, thịt gia cầm tăng 2,08%, trứng gia cầm tăng 2,35%, góp phần bù đắp cho mức giảm của thịt lợn và thịt bò. Ngành lâm nghiệp tăng 3,53%, chủ yếu nhờ sản lượng gỗ khai thác đạt 26.362 m3, tăng 90,64% so với cùng kỳ, là mức tăng rất cao; ngành thủy sản tăng 2,55%, sản lượng đạt gần 307 tấn, duy trì tăng trưởng ổn định.
Kết quả trên đạt được trong điều kiện thời tiết nhìn chung thuận lợi, công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và kiểm soát sinh vật gây hại được triển khai hiệu quả, không để phát sinh dịch bệnh trên diện rộng. Nhiều sản phẩm chủ lực như thuốc lá, ngô, gỗ khai thác, thịt trâu và sản phẩm gia cầm đều đạt hoặc vượt kịch bản tăng trưởng, tạo dư địa bù đắp cho các sản phẩm còn tăng thấp như thịt lợn, thịt bò và một số cây trồng khác. Qua đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực có kết quả thực hiện tích cực nhất so với kịch bản tăng trưởng, đóng vai trò là bệ đỡ quan trọng của nền kinh tế và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GRDP của tỉnh trong 6 tháng đầu năm.
2.2.2. Khu vực công nghiệp và xây dựng
a) Ngành công nghiệp
Lĩnh vực công nghiệp trong quý II tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhưng chưa đạt kỳ vọng; ước tăng 6,77%, thấp hơn 2,49 điểm phần trăm so với kịch bản tăng trưởng (9,26%). Tuy nhiên, nhờ kết quả tăng trưởng cao của quý I (22,78%), nên lũy kế 6 tháng đầu năm, lĩnh vực công nghiệp tăng 11,81%, cao hơn 3,61 điểm phần trăm so với kịch bản (8,20%), chiếm 13,94% GRDP và tiếp tục là khu vực đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Xét theo từng ngành công nghiệp cấp I, ngành khai khoáng tăng 8,16%, đóng góp 0,28 diêm phần trăm vào tăng trưởng GRDP, trong đó một số sản phẩm đạt kết quả rất tích cực như đá xây dựng tăng 106,6%, cát tự nhiên tăng 42,94%, quặng chì và tinh quặng chì tăng 27,76%, quặng mangan tăng 5,17% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tăng trưởng của ngành chưa tương xứng với tiềm năng do quặng niken và tinh quặng niken giảm 42,54%, chịu tác động của các vướng mắc về thủ tục gia hạn xuất khẩu, quy hoạch khai thác và diễn biến bất lợi của thị trường khoáng sản.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,45%, thấp hơn nhiều so với các ngành còn lại, đóng góp 0,1 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP. Một số sản phẩm duy trì mức tăng khá như phôi thép tăng 37,89%, cửa sắt, thép tăng 29,83%, mangan và các sản phẩm của mangan tăng 0,32%, nước tinh khiết tăng nhẹ. Ngược lại, nhiều sản phẩm chủ lực vẫn giảm mạnh như xi măng giảm 32,67%, đường giảm 21,56%, gạch xây giảm 10,03%, phản ánh sức cầu thị trường còn yếu và hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chưa thực sự ổn định.
Ngành sản xuất và phân phối điện tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của khu vực công nghiệp khi tăng 21,27%, đóng góp 0,94 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, lượng mưa dồi dào, mực nước hồ chứa bảo đảm cho các nhà máy vận hành tối đa công suất; đồng thời có thêm nhà máy thủy điện Hồng Nam mới hoàn thành đi vào hoạt động, bổ sung thêm năng lực sản xuất cho ngành, sản lượng điện sản xuất tăng 23,26%, điện thương phẩm tăng 5,01% góp phần bù đắp cho mức tăng thấp của khai khoáng và chế biến, chế tạo. Trong khi đó, ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải cơ bản ổn định, tăng 0,23%, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn.
Mặc dù đạt mức tăng trưởng khá trong 6 tháng đầu năm, hoạt động sản xuất công nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Chi phí nguyên, nhiên vật liệu và vận tải tăng; Nhà máy Gang thép Cao Bằng hoạt động chưa ổn định do sự cố kỹ thuật và khó khăn về nguyên liệu sản xuất; giá feromangan giảm khiến một số doanh nghiệp thu hẹp sản xuất; cùng với đó là những vướng mắc về thủ tục xuất khẩu khoáng sản niken, quy hoạch, giải phóng mặt bằng và đất đai tại một số dự án khai khoáng đã ảnh hưởng đến tiến độ khai thác và mở rộng sản xuất. Đây là những yếu tố cần sớm được tháo gỡ để duy trì đà tăng trưởng công nghiệp trong 6 tháng cuối năm.
b) Ngành xây dựng
Khu vực xây dựng tiếp tục duy trì vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Quý II, khu vực xây dựng tiếp tục duy trì mức tăng khá 18,96%, tuy nhiên thấp hơn nhiều so với kịch bản kỳ vọng (45,11%). Lũy kế 6 tháng đầu năm, ngành xây dựng tăng 21,93% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,46 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP của tỉnh, dù vậy vẫn thấp hơn 13,29 điểm phần trăm so với kịch bản tăng trưởng (35,22%), cho thấy dư địa tăng trưởng của ngành vẫn chưa được khai thác hết.
Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ việc đẩy nhanh triển khai các công trình, dự án trọng điểm theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, nổi bật là Dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, các công trình trường phổ thông dân tộc nội trú tại các xã biên giới và nhiều dự án đầu tư công quan trọng khác. Tính đến 30/6/2026 dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) giải ngân cả hai giai đoạn đạt 666,211/892,596 tỷ đồng, bằng 74,6% tổng kế hoạch vốn 2026. Dự án xây dựng 11 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới giải ngân đạt 341,681/2265,9 tỷ đồng, bằng 15,1% tổng vốn kế hoạch... Tuy nhiên, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Đến hết ngày 30/6/2026, tổng giá trị giải ngân đạt 1.253,5/8.325,325 tỷ đồng, tương đương 15,1% tổng kế hoạch vốn và 31,3% kế hoạch vốn đã giao chi tiết, thấp hơn cùng kỳ năm 2025 cả về tỷ lệ giải ngân (giảm 9,7 điểm phần trăm) và giá trị tuyệt đối (giảm 1.007 tỷ đồng).
Bên cạnh đó, các dự án ngoài Nhà nước đang đẩy nhanh tiến độ thực hiện một số dự án đầu tư lớn như: Dự án Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa công nghệ cao có tổng mức đầu tư 2.544 tỷ đồng, tiến độ thực hiện dự án đạt khoảng 9,5%; dự án thủy điện Thượng Hà tổng mức đầu tư 524 tỷ đồng, đạt 45,32%; dự án thủy điện Bảo Lạc A tổng mức đầu tư 1.166 tỷ đồng, đạt 38,74%; dự án Phát triển đô thị số 5A tổng mức đầu tư 808 tỷ đồng, đạt 88,84%, góp phần thúc đẩy tăng trưởng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh.
Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn 6 tháng đầu năm ước đạt 5.135,9 tỷ đồng, tăng 6,95% so với cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư ngoài Nhà nước tăng 14,34%, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng 10,94%, khu vực doanh nghiệp và khu vực công đều tiếp tục duy trì tích cực hoạt động đầu tư.
Tăng trưởng của ngành xây dựng hiện chủ yếu được thúc đẩy bởi tiến độ thi công các dự án đang triển khai, trong khi dư địa tăng trưởng từ việc giải ngân các dự án mới vẫn còn lớn và cần tiếp tục được khai thác trong 6 tháng cuối năm để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng đã đề ra.
Khu vực dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá nhưng chưa đạt kịch bản đề ra. Quý II, khu vực dịch vụ ước tăng 5,32%, thấp hơn 3,32 điểm phần trăm so với kịch bản (8,64%). Lũy kế 6 tháng đầu năm, khu vực dịch vụ tăng 6,19%, thấp hơn 2,03 điểm phần trăm so với kịch bản (8,22%), đóng góp 3,51 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP chung và tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế của tỉnh (53,82%).
Động lực tăng trưởng của khu vực dịch vụ chủ yếu đến từ sự phục hồi của thương mại, tiêu dùng và các ngành dịch vụ công. Trong 6 tháng đầu năm, nhiều hoạt động văn hóa, lễ hội, các sự kiện chính trị quan trọng cùng với việc đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá hình ảnh Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng đã thu hút lượng lớn khách du lịch, góp phần thúc đẩy nhu cầu mua sắm, lưu trú, ăn uống, vận tải và các dịch vụ hỗ trợ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 7.679,6 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 16,61%, doanh thu lưu trú, ăn uống tăng 11,28%, doanh thu dịch vụ khác tăng 8,99%.
Xét theo các ngành kinh tế cấp I, các ngành tăng trưởng khá, đóng góp tích cực cho khu vực dịch vụ gồm: ngành giáo dục và đào tạo tiếp tục là ngành đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng khu vực dịch vụ khi tăng 8,92%, cơ bản đạt kịch bản tăng trưởng, đóng góp 1,06 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP. Ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,17%, vượt 1,62 điểm phần trăm so với kịch bản, đóng góp 0,45 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP. Ngành bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô tăng 8,46%, thấp hơn 2,66 điểm phần trăm so với kịch bản, đóng góp 0,42 điểm phần trăm, phản ánh sức mua trên thị trường duy trì tích cực nhưng chưa đạt kỳ vọng. Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng; bảo đảm xã hội bắt buộc tăng 5,15%, thấp hơn kịch bản tăng trưởng 3,34 điểm phần trăm, đóng góp 0,45 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP. Ngành thông tin và truyền thông tiếp tục hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi số và mở rộng dịch vụ viễn thông, tăng trưởng 7,47%, tuy nhiên, vẫn thấp hơn 11,12 điểm % so với kịch bản tăng trưởng, đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP. Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,43%, vượt 1,44 điểm phần trăm so với kịch bản, đóng góp 0,21 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP. Ngành vận tải, kho bãi tăng 6,66%, thấp hơn 3,03 điểm phần trăm so với kịch bản, đóng góp 0,11 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP, trong đó vận tải hành khách tăng mạnh, đạt 34,61% nhờ hoạt động du lịch và các sự kiện trên địa bàn, song vận tải hàng hóa vẫn suy giảm (giảm 14,75%) do sản xuất công nghiệp và hoạt động xuất nhập khẩu còn gặp khó khăn... Hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ tăng 6,39%, thấp hơn kịch bản tăng trưởng 0,38 điểm%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm vào GRDP. Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng trưởng 10,5%, tuy nhiên chiếm tỷ lệ nhỏ, đóng góp 0,04 điểm phần trăm trong tăng trưởng GRDP.
Bên cạnh các ngành tăng trưởng tích cực, một số lĩnh vực dịch vụ vẫn đạt mức tăng thấp. Dịch vụ lưu trú và ăn uống chỉ tăng 1,48%, thấp hơn 4,52 điểm phần trăm so với kịch bản, đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào GRDP cho thấy sự phục hồi của du lịch chưa thực sự bền vững khi thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách còn thấp, sản phẩm du lịch và hạ tầng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Kinh doanh bất động sản tăng 2,03%, thấp hơn 0,57 điểm phần trăm so với kịch bản, đóng góp 0,16 điểm phần trăm trong tăng trưởng GRDP, phản ánh thị trường còn trầm lắng; các ngành dịch vụ khác như hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 4,67%, vượt 1 điểm phần trăm so với kịch bản, đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP, tuy nhiên chưa tạo được đột phá. Dịch vụ khác tăng 2,53%, thấp hơn 2,15 điểm phần trăm so với kịch bản, đóng góp 0,03 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP.
Nhìn chung, khu vực dịch vụ tiếp tục giữ vai trò là khu vực có quy mô lớn nhất và đóng góp cao nhất vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng vẫn thấp hơn kịch bản do một số động lực quan trọng như du lịch, lưu trú, vận tải hàng hóa, bất động sản và hoạt động xuất nhập khẩu chưa phục hồi tương xứng với tiềm năng. Do đó cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển du lịch, kinh tế cửa khẩu, kích cầu tiêu dùng, nâng cao chất lượng dịch vụ và khai thác hiệu quả các hoạt động văn hóa, lễ hội để tạo động lực tăng trưởng mạnh hơn cho khu vực dịch vụ trong 6 tháng cuối năm
2.2.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm quý II và 6 tháng đầu năm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tốc độ tăng quý II ước đạt 8,51%, cao hơn mức tăng theo kịch bản 2,94 điểm % (105,57%), đưa mức tăng 6 tháng đầu năm đạt 108,8%, vượt mục tiêu kịch bản (107,57%) khoảng 1,23 điểm phần trăm.
Kết quả trên phản ánh diễn biến tích cực của hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và hiệu quả công tác quản lý thu ngân sách, chống thất thu thuế trên địa bàn. Thu ngân sách nhà nước đến ngày 30/6/2026 đạt 2.066,484 tỷ đồng, đạt 59,4% dự toán Trung ương giao, đạt 58,5% dự toán HĐND tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa đạt 1.146,807 tỷ đồng, đạt 68% dự toán Trung ương giao, đạt 67% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 12% so với cùng kỳ, trong đó thu do cơ quan thuế quản lý đạt 1.094 tỷ đồng, bằng 68,8% dự toán HĐND tỉnh giao và tăng 10,3% so với cùng kỳ. Có 13/17 khoản thu đạt và vượt tiến độ bình quân, nhiều khoản thu trực tiếp gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tiếp tục duy trì tăng trưởng khá như: thu từ DNNN địa phương (đạt 62,1%, tăng 11,9% so với cùng kỳ); thu từ DNNN trung ương (đạt 83,9%, tăng 62,5% so với cùng kỳ); thuế thu nhập cá nhân (đạt 92,1%, tăng 16,4% so với cùng kỳ); thu lệ phí trước bạ (đạt 79,4%, tăng 59,8% so với cùng kỳ).
Đối với các khoản thu có tác động trực tiếp đến chỉ tiêu thuế sản phẩm trong GRDP, thuế giá trị gia tăng phát sinh từ hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ tiếp tục là nguồn thu chủ lực nhờ tổng mức lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn duy trì tăng trưởng; công tác quản lý hóa đơn điện tử, kiểm soát kê khai thuế, quản lý hộ kinh doanh và chống thất thu được triển khai quyết liệt, góp phần mở rộng cơ sở thu và nâng cao mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
Tuy nhiên, vẫn còn một số yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng của khu vực thuế sản phẩm. Thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 694,727 tỷ đồng, đạt 39% dự toán Trung ương giao, 38% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 48% so với cùng kỳ, phản ánh kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn chưa phục hồi như kỳ vọng, làm giảm nguồn thu thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu. Một số khoản thu giảm mạnh so với cùng kỳ: khai thác tài nguyên, cấp quyền khai thác khoáng sản ước giảm 63,7%; tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước ước giảm 4,4% do tiến độ thực hiện các dự án và hoạt động khai thác còn chậm.
Bên cạnh đó, việc tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ như gia hạn thời hạn nộp thuế, giảm thuế giá trị gia tăng 2% đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ theo các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ đã góp phần kích thích tiêu dùng, hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh, song trong ngắn hạn cũng làm giảm quy mô một số khoản thu ngân sách phát sinh từ thuế gián thu.
Nhìn chung, khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 6 tháng đầu năm tăng cao hơn kịch bản, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GRDP chung của tỉnh, tạo nền tảng thuận lợi cho việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm.
3. Đánh giá tăng trưởng quý II, 6 tháng đầu năm
3.1. Kết quả đạt được
Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, hoạt động sản xuất, kinh doanh chịu tác động của biến động thị trường, giá nguyên vật liệu, thiên tai và những hạn chế nội tại của nền kinh tế địa phương, kết quả tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm đạt 7,85% là mức tăng khá, cao hơn cùng kỳ nhiều năm gần đây, tiếp tục duy trì đà phục hồi của nền kinh tế và tạo nền tảng cho việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng cả năm.
Công tác chỉ đạo, điều hành tăng trưởng có nhiều đổi mới theo hướng chủ động, khoa học và định lượng hơn. Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã ban hành kịch bản tăng trưởng theo từng quý; sau khi có kết quả quý I đã kịp thời điều chỉnh, cập nhật kịch bản phù hợp với diễn biến thực tế. Đặc biệt, kịch bản tăng trưởng được lượng hóa đến 19 ngành kinh tế cấp I và 82 sản phẩm, dịch vụ chủ yếu, gắn với cơ chế theo dõi, kiểm điểm định kỳ, qua đó từng bước nâng cao chất lượng dự báo, điều hành và xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, địa phương.
Các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; thu ngân sách nhà nước đạt khá, nhiều khoản thu nội địa tăng so với cùng kỳ; đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng; các công trình, dự án trọng điểm được tập trung triển khai; quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội được giữ vững, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Về cơ cấu tăng trưởng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát huy vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế khi vượt kịch bản tăng trưởng, góp phần bù đắp một phần mức tăng thấp của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Khu vực công nghiệp duy trì tăng trưởng khá, nhất là khai thác vật liệu xây dựng và sản xuất điện. Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng, lượng khách du lịch, một số ngành giáo dục, y tế, tài chính - ngân hàng duy trì mức tăng tích cực.
Đặc biệt, việc triển khai đồng thời nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn như tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, các trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp và một số dự án ngoài ngân sách đã tạo thêm động lực cho tăng trưởng, đồng thời mở ra dư địa phát triển trong giai đoạn tiếp theo.
3.2. Hạn chế và tồn tại
Mặc dù đạt kết quả tích cực, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm vẫn chưa đạt mục tiêu kịch bản đề ra. GRDP chỉ tăng 7,85%, thấp hơn 1,24 điểm phần trăm so với kịch bản 6 tháng; để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm 10%, 6 tháng cuối năm phải đạt mức tăng khoảng 12%, là nhiệm vụ rất nặng nề trong điều kiện các động lực tăng trưởng hiện nay chưa thật sự bền vững.
Thứ nhất, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tuy vượt kịch bản nhưng chất lượng tăng trưởng chưa thật sự vững chắc. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào một số sản phẩm như cây thuốc lá và sản lượng gỗ khai thác; trong khi nhiều sản phẩm nông nghiệp khác tăng thấp hoặc giảm, quy mô đàn gia súc tiếp tục giảm, diện tích trồng rừng mới chưa đạt yêu cầu. Một số sản phẩm tăng mạnh về sản lượng nhưng hiệu quả kinh tế, giá trị gia tăng và khả năng tiêu thụ còn phụ thuộc lớn vào diễn biến thị trường, do đó, mặc dù khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã vượt kịch bản tăng trưởng 6 tháng đầu năm, song không được chủ quan; cần tiếp tục khai thác hiệu quả dư địa tăng trưởng của các sản phẩm chủ lực, đồng thời tập trung nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất và phát triển theo hướng bền vững trong 6 tháng cuối năm.
Thứ hai, khu vực công nghiệp - xây dựng vẫn là điểm nghẽn lớn nhất của tăng trưởng. Mặc dù công nghiệp đạt mức tăng khá nhờ sản xuất điện và khai thác vật liệu xây dựng, song cơ cấu tăng trưởng chưa đồng đều. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp, tăng chủ yếu ở ngành sản xuất kim loại do Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng hoạt động ổn định hơn; nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực như xi măng, đường, gạch xây tiếp tục giảm; tăng trưởng ngành này tính ổn định chưa cao. Ngành khai khoáng còn chịu tác động bởi vướng mắc về thủ tục, quy hoạch và thị trường tiêu thụ.
Đối với lĩnh vực xây dựng, đây là ngành có mức hụt lớn nhất so với kịch bản tăng trưởng (13,29%). Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp; nhiều dự án trọng điểm chưa đạt tiến độ kế hoạch; việc giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cung ứng vật liệu xây dựng tại một số dự án còn chậm. Mặc dù khu vực đầu tư ngoài ngân sách có chuyển biến tích cực, quy mô đóng góp vẫn chưa đủ bù đắp phần thiếu hụt của đầu tư công.
Thứ ba, khu vực dịch vụ phục hồi nhưng chưa tạo được động lực tăng trưởng mạnh. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào các ngành dịch vụ công như giáo dục, y tế và quản lý nhà nước, trong khi các ngành dịch vụ thị trường có khả năng tạo giá trị gia tăng cao vẫn tăng chậm. Hoạt động lưu trú, ăn uống, bất động sản, logistics, vận tải hàng hóa, kinh tế cửa khẩu và xuất nhập khẩu chưa phục hồi như kỳ vọng; thời gian lưu trú, mức chi tiêu của khách du lịch còn thấp; sức lan tỏa của ngành du lịch đối với các ngành dịch vụ liên quan chưa rõ nét.
Bên cạnh đó, còn có sự khác biệt khá lớn giữa tốc độ tăng doanh thu của một số ngành với mức tăng giá trị tăng thêm trong GRDP (doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 11,28%, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 1,48%). Điều này cho thấy doanh thu tăng chưa đồng nghĩa với đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, đồng thời gây khó khăn cho công tác đánh giá và điều hành nếu không được phân tích đầy đủ.
Thứ tư, chất lượng các động lực tăng trưởng chưa đồng đều và chưa hình thành thêm các động lực mới. Tăng trưởng hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào đầu tư công, thủy điện, khai thác khoáng sản và một số sản phẩm chủ lực; khu vực doanh nghiệp còn quy mô nhỏ, số lượng dự án sản xuất mới đưa vào hoạt động chưa nhiều; chưa có dự án lớn tạo đột phá về công nghiệp chế biến hoặc dịch vụ chất lượng cao.
Thứ năm, công tác dự báo và theo dõi tăng trưởng còn gặp khó khăn, số liệu thống kê GRDP giữa các kỳ công bố có sự điều chỉnh tương đối lớn, ảnh hưởng đến việc đánh giá đúng mức đóng góp của từng ngành, từng sản phẩm, gây khó khăn cho việc cập nhật kịch bản và xây dựng giải pháp điều hành sát với thực tiễn.
3.3. Nguyên nhân
a) Nguyên nhân khách quan
Kinh tế thế giới diễn biến phức tạp; xung đột địa chính trị, biến động giá nguyên liệu, chi phí logistics và thương mại quốc tế ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu. Trong nước, sức cầu của thị trường phục hồi chậm; một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục được thực hiện làm giảm thu ngân sách trong ngắn hạn.
Điều kiện đặc thù của tỉnh vẫn là rào cản tăng trưởng. Địa hình chia cắt, hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, cự ly vận chuyển xa làm chi phí logistics cao hơn mặt bằng chung, kéo giảm sức cạnh tranh của hàng hóa và hiệu quả đầu tư. Quy mô thị trường nhỏ, sức mua hạn chế dẫn đến khả năng mở rộng sản xuất, thu hút đầu tư gặp khó khăn; đồng thời khả năng hấp thụ các cú sốc chi phí của nền kinh tế thấp, khiến tác động tiêu cực thường mạnh và kéo dài hơn so với các địa phương khác.
Một số ngành kinh tế chủ lực của tỉnh phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, thị trường và cơ chế chính sách nên tính ổn định của tăng trưởng chưa cao. Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của thời tiết, thiên tai và dịch bệnh; hoạt động khai khoáng phụ thuộc vào quy hoạch, cấp phép và nhu cầu thị trường; du lịch chịu tác động của tính mùa vụ và khả năng thu hút khách; sản xuất thủy điện phụ thuộc vào điều kiện thủy văn. Những yếu tố này làm cho tăng trưởng của từng ngành thiếu ổn định, ảnh hưởng đến khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.
b) Nguyên nhân chủ quan
Công tác tổ chức thực hiện kịch bản tăng trưởng ở một số ngành, địa phương còn thiếu quyết liệt; việc cụ thể hóa kịch bản tăng trưởng thành kế hoạch thực hiện của từng ngành, từng sản phẩm, từng dự án chưa đồng đều; tiến độ triển khai nhiệm vụ còn chậm.
Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, giải phóng mặt bằng, hoàn thiện thủ tục đầu tư, thủ tục đất đai, khoáng sản và một số thủ tục hành chính còn là điểm nghẽn kéo dài, làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án và khả năng tạo giá trị tăng thêm cho nền kinh tế.
Công tác tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong nội bộ các ngành, lĩnh vực còn chậm, chưa triệt để, làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh. Một số vấn đề tồn tại kéo dài nhưng chưa được xử lý dứt điểm như: thủ tục cấp phép, gia hạn hoạt động của các nhà máy thủy điện; khắc phục hậu quả thiên tai còn chậm; vướng mắc trong khai thác, cung ứng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp chưa được giải quyết kịp thời. Hoạt động của các doanh nghiệp chủ lực vì vậy bị gián đoạn, sản xuất không ổn định, thậm chí phải dừng hoạt động trong thời gian dài, kéo giảm sản lượng toàn ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực khai khoáng, luyện kim và năng lượng. Trong lĩnh vực nông nghiệp, công tác dự báo, phòng chống dịch bệnh, thiên tai và tổ chức sản xuất còn hạn chế; việc chuyển đổi phương thức chăn nuôi, tái đàn chưa được định hướng hiệu quả, dẫn đến tổng đàn gia súc, gia cầm giảm, nguy cơ ảnh hưởng tăng trưởng chung.
Năng lực doanh nghiệp còn yếu, chưa đóng vai trò là lực lượng dẫn dắt tăng trưởng. Doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, trình độ quản trị và công nghệ thấp, khả năng tiếp cận vốn và thị trường còn khó khăn. Mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp còn lỏng lẻo, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị trong và ngoài nước, dẫn đến khả năng mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh còn hạn chế. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao và thị trường biến động, khu vực doanh nghiệp dễ bị tổn thương, chưa đủ sức tạo đột phá cho tăng trưởng.
Việc dự báo, theo dõi và đánh giá tăng trưởng theo từng ngành, từng sản phẩm còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan trong chia sẻ thông tin, cập nhật số liệu và đánh giá tác động của từng động lực tăng trưởng chưa thật sự chặt chẽ. Một số ngành chưa chủ động xây dựng các phương án bù đắp phần tăng trưởng thiếu hụt khi các chỉ tiêu không đạt kịch bản, dẫn đến việc điều hành còn mang tính xử lý tình huống, chưa tạo được các động lực tăng trưởng mới có tính đột phá.
III. LƯỢNG HÓA CHI TIẾT THIẾU HỤT TĂNG TRƯỞNG, DƯ ĐỊA VÀ ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG 6 THÁNG CUỐI NĂM 2026
1. Lượng hóa phần thiếu hụt so với kịch bản tăng trưởng quý II, 6 tháng đầu năm. (Có phụ lục 1B, 2B, 3B kèm theo)
1.1. Lượng hóa mức độ thực hiện kịch bản theo tốc độ tăng trưởng
Theo Kế hoạch số 1459/KH-UBND ngày 12/5/2026 của UBND tỉnh về điều chỉnh kịch bản tăng trưởng kinh tế quý II và các tháng cuối năm 2026, mục tiêu tăng trưởng GRDP quý II đạt 10,33%, lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 9,09%. Tuy nhiên, kết quả ước thực hiện đạt 7,17% trong quý II và 7,85% trong 6 tháng đầu năm, thấp hơn kịch bản lần lượt 3,16 điểm phần trăm và 1,25 điểm phần trăm.
Xét theo từng khu vực kinh tế:
Khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản) đạt tốc độ tăng 5,66%, cao hơn kịch bản 1,65 điểm phần trăm, tiếp tục là khu vực đóng vai trò bù đắp một phần thiếu hụt tăng trưởng của nền kinh tế.
Khu vực II (công nghiệp và xây dựng) tăng 15,56%, thấp hơn kịch bản 3,89 điểm phần trăm, trong đó lĩnh vực xây dựng thấp hơn 13,29 điểm phần trăm, khai khoáng thấp hơn 2,74 điểm phần trăm, cung cấp nước và xử lý rác thải thấp hơn 2,57 điểm phần trăm.
Khu vực III (dịch vụ) tăng 6,19%, thấp hơn kịch bản 2,03 điểm phần trăm; một số ngành có mức tăng thấp hơn đáng kể như thông tin và truyền thông (-11,13 điểm phần trăm), dịch vụ lưu trú và ăn uống (-4,52 điểm phần trăm), hoạt động của Đảng, quản lý nhà nước (-3,34 điểm phần trăm), vận tải kho bãi (- 3,03 điểm phần trăm), bán buôn, bán lẻ (-2,67 điểm phần trăm).
Như vậy, phần thiếu hụt của khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ là nguyên nhân chủ yếu làm tốc độ tăng trưởng GRDP quý II và 6 tháng đầu năm chưa đạt kịch bản đề ra.
1.2. Lượng hóa thiếu hụt theo giá trị tăng thêm (VA)
Mặc dù tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm thấp hơn kịch bản 1,25 điểm, song nếu xét theo quy mô giá trị tăng thêm, tổng GRDP 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 12.496 tỷ đồng, cao hơn khoảng 111 tỷ đồng so với quy mô giá trị tăng thêm theo kịch bản (12.385 tỷ đồng).
Nguyên nhân của sự khác biệt này là sau thời điểm tỉnh ban hành Kế hoạch số 1459/KH-UBND, Cục Thống kê đã cập nhật số liệu sơ bộ GRDP năm 2025, làm thay đổi quy mô giá trị tăng thêm của năm gốc sử dụng để xây dựng kịch bản Cụ thể: tổng sản phẩm GRDP 6 tháng đầu năm 2025 tăng từ 11.352.802 triệu đồng, lên 11.586.660 triệu đồng (tăng 233.858 triệu đồng). Việc điều chỉnh số liệu năm gốc dẫn đến thay đổi đồng thời cả quy mô và tốc độ tăng trưởng tính toán theo kịch bản, khiến kết quả thực hiện không còn tương thích hoàn toàn với bộ số liệu đã sử dụng khi xây dựng kịch bản. Mức điều chỉnh GRDP 6 tháng đầu năm 2025 tập trung chủ yếu ở một số ngành có quy mô lớn, như: Khai khoáng điều chỉnh tăng khoảng 142 tỷ đồng; Sản xuất và phân phối điện điều chỉnh tăng khoảng 92 tỷ đồng; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm điều chỉnh tăng khoảng 9 tỷ đồng; Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải điều chỉnh giảm khoảng 10 tỷ đồng.
Do quy mô năm gốc được điều chỉnh tăng, mặc dù giá trị tăng thêm thực tế của nền kinh tế cao hơn kịch bản, nhưng tốc độ tăng trưởng tính toán lại thấp hơn mục tiêu đã xây dựng trên bộ số liệu cũ. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa kết quả đánh giá theo tốc độ tăng trưởng và theo quy mô giá trị tăng thêm.
Có thể thấy rõ điều này qua một số ngành tiêu biểu: Khai khoáng đạt giá trị tăng thêm 432 tỷ đồng, cao hơn khoảng 147 tỷ đồng so với quy mô trong kịch bản; tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 8,16%, thấp hơn 2,74 điểm phần trăm so với mục tiêu do quy mô năm gốc được điều chỉnh tăng mạnh. Sản xuất và phân phối điện đạt 624 tỷ đồng, cao hơn khoảng 149 tỷ đồng so với kịch bản, đồng thời tốc độ tăng trưởng cũng vượt 8,83 điểm phần trăm. Xây dựng đạt 938 tỷ đồng, thấp hơn khoảng 102 tỷ đồng so với quy mô kịch bản, tương ứng tốc độ tăng trưởng thấp hơn 13,29 điểm phần trăm, là ngành có mức thiếu hụt lớn nhất và ảnh hưởng đáng kể đến kết quả chung. Thông tin và truyền thông đạt khoảng 604 tỷ đồng, thấp hơn gần 63 tỷ đồng so với quy mô kịch bản, làm tốc độ tăng trưởng thấp hơn 11,13 điểm phần trăm.
Từ thực tế trên cho thấy, việc đánh giá mức độ hoàn thành kịch bản tăng trưởng cần được xem xét đồng thời trên cả tốc độ tăng trưởng và quy mô giá trị tăng thêm, đồng thời phải tính đến yếu tố điều chỉnh số liệu GRDP năm gốc của Cục Thống kê. Do đó, việc xác định phần thiếu hụt cần bù đắp trong 6 tháng cuối năm được thực hiện trên cơ sở bộ số liệu GRDP mới nhất do Cục Thống kê công bố, bảo đảm sát với thực tế và phù hợp với yêu cầu điều hành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, đồng thời căn cứ vào kịch bản sản lượng, doanh thu, giá trị sản xuất để xác định phần thiếu hụt cụ thể.
1.3. Lượng hóa thiếu hụt theo kịch bản đầu ra của các sản phẩm, dịch vụ chủ lực
a) Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 5,66%, cao hơn 1,65 điểm phần trăm so với kịch bản đề ra (4,01%). Tuy nhiên, kết quả này chưa phản ánh sự tăng trưởng đồng đều giữa các ngành và sản phẩm, mà chủ yếu được bù đắp bởi mức tăng cao của một số sản phẩm có quy mô lớn, đặc biệt là thuốc lá nguyên liệu và khai thác gỗ.
Qua rà soát các chỉ tiêu sản lượng cho thấy, vẫn còn nhiều sản phẩm nông nghiệp chủ lực chưa đạt kịch bản 6 tháng đầu năm, cụ thể:
Trong lĩnh vực nông nghiệp: Thóc đạt 18.458 tấn, thiếu 947 tấn so với kế hoạch; Ngô đạt 102.242 tấn, thiếu 4116 tấn; rau các loại đạt 18.155 tấn, thiếu 2596 tấn; Hồi đạt 1.047 tấn ,thiếu 35 tấn;
Đối với chăn nuôi, nhiều chỉ tiêu vẫn thấp hơn kế hoạch, như: Sản lượng thịt lợn hơi đạt 14.913 tấn, thiếu 685 tấn; thịt trâu hơi đạt 1.018 tấn, thiếu 3 tấn; thịt bò hơi đạt 1.139 tấn, thiếu 148 tấn; thịt gà đạt 2.796 tấn, thiếu 63 tấn; Sản lượng trứng gia cầm đạt 18,778 triệu quả, thiếu 234 nghìn quả.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp: Sản lượng gỗ khai thác đạt 26.362 m3, vượt 12.846 m3 so với kế hoạch, là yếu tố quan trọng bù đắp mức thiếu hụt của nhiều sản phẩm nông nghiệp và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của khu vực. Ngược lại, sản lượng củi khai thác đạt 444.427 ste, còn thiếu 16.165 ste; Măng tươi thu nhặt đạt 927 tấn, thiếu 31 tấn.
Trong lĩnh vực thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản đạt 64 tấn, cơ bản hoàn thành kế hoạch, vượt 01 tấn; Sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 242 tấn, còn thiếu 07 tấn.
Mặc dù khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn kịch bản, nhưng động lực tăng trưởng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào một số ít sản phẩm, trong khi nhiều sản phẩm nông nghiệp và chăn nuôi chủ lực vẫn chưa đạt kế hoạch. Điều này cho thấy tăng trưởng của khu vực chưa thực sự đồng đều và bền vững; trong 6 tháng cuối năm cần tập trung chỉ đạo phục hồi các sản phẩm còn thiếu hụt, nhất là lúa, ngô, chăn nuôi, lâm sản ngoài gỗ và nuôi trồng thủy sản, đồng thời tiếp tục phát huy lợi thế đối với các sản phẩm có dư địa tăng trưởng như mía, dong riềng, hồi, kinh tế rừng nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm.
b) Khu vực công nghiệp và xây dựng
Mặc dù khu vực công nghiệp và xây dựng vẫn duy trì mức tăng trưởng khá, song kết quả thực hiện chưa đạt kịch bản đề ra, đặc biệt trong quý II. Tốc độ tăng trưởng quý II chỉ đạt 11,09%, thấp hơn 12,38 điểm phần trăm so với kịch bản (23,46%); lũy kế 6 tháng đạt 15,56%, thấp hơn 3,89 điểm phần trăm so với kịch bản (19,45%). Trong đó, lĩnh vực xây dựng là ngành thiếu hụt lớn nhất (giảm 13,29 điểm phần trăm so với kịch bản), tiếp đến là khai khoáng (giảm 2,74 điểm phần trăm) và hoạt động cung cấp nước, xử lý rác thải (giảm 2,57 điểm phần trăm).
Qua rà soát các sản phẩm công nghiệp chủ yếu cho thấy, phần thiếu hụt tập trung vào một số sản phẩm có quy mô giá trị lớn, cụ thể:
Lĩnh vực khai khoáng: sản lượng quặng mangan và tinh quặng mangan chỉ đạt 23.282 tấn, thấp hơn kế hoạch 4.835 tấn, là sản phẩm thiếu hụt lớn nhất của ngành khai khoáng và ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị tăng thêm của ngành. Bên cạnh đó, mặc dù quặng niken vượt kế hoạch 3.439 tấn, quặng chì - kẽm nguyên khai vượt 2.922 tấn, đá xây dựng vượt 76.999 m3 và cát xây dựng vượt 12.192 m3, nhưng chưa đủ bù đắp mức sụt giảm của khai thác mangan.
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo: một số sản phẩm chủ lực không đạt kế hoạch, gồm: Gạch xây dựng bằng đất sét nung đạt 47,36 triệu viên, thấp hơn kế hoạch 4,162 triệu viên; Mangan và sản phẩm của mangan thiếu 475 tấn; Hợp kim sắt khác thiếu 64 tấn; Cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt thép thiếu 858 m2. Ngược lại, một số sản phẩm tăng cao, góp phần bù đắp đáng kể cho ngành chế biến, chế tạo như phôi thép vượt kế hoạch 11.545 tấn, kẽm thỏi đạt đúng kế hoạch và đường RE hoàn thành kế hoạch sản xuất.
Lĩnh vực sản xuất và phân phối điện: mặc dù tốc độ tăng trưởng ngành vẫn vượt kịch bản, song chỉ tiêu sản lượng chưa đạt kế hoạch, trong đó điện sản xuất đạt 212 triệu kWh, thấp hơn kế hoạch 29 triệu kWh (riêng quý II thiếu 42 triệu kWh); điện thương phẩm thiếu 5 triệu kWh. Tuy nhiên, do quy mô giá trị tăng thêm của ngành điện năm 2025 được Trung ương điều chỉnh tăng đáng kể nên giá trị tăng thêm của ngành vẫn vượt kịch bản.
Lĩnh vực cấp nước và xử lý rác thải: sản lượng nước sạch chỉ đạt 3,233 triệu m3, thấp hơn kế hoạch 152 nghìn m3, làm tốc độ tăng trưởng ngành chỉ đạt 0,23%, thấp hơn 2,57 điểm phần trăm so với kịch bản.
Lĩnh vực xây dựng tiếp tục là điểm nghẽn lớn nhất của khu vực II. Tốc độ tăng trưởng 6 tháng chỉ đạt 121,93%, thấp hơn 13,29 điểm phần trăm so với kịch bản (135,22%), giá trị sản xuất ngành xây dựng 6 tháng đầu năm thiếu hụt khoảng 319.978 triệu đồng, phản ánh tiến độ triển khai và giải ngân nhiều dự án đầu tư, đặc biệt là các công trình xây dựng cơ bản và hạ tầng trọng điểm chưa đạt yêu cầu, làm giảm đáng kể giá trị tăng thêm của toàn khu vực công nghiệp - xây dựng.
Phần thiếu hụt của khu vực II chủ yếu xuất phát từ các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn như quặng mangan, gạch xây dựng, điện sản xuất, nước sạch và đặc biệt là giá trị sản xuất xây dựng chưa đạt tiến độ theo kịch bản. Đây là những lĩnh vực cần tập trung chỉ đạo trong 6 tháng cuối năm thông qua việc tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp khai khoáng, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư xây dựng, khôi phục sản xuất vật liệu xây dựng, tăng công suất các nhà máy công nghiệp và thúc đẩy giải ngân đầu tư công nhằm bù đắp phần thiếu hụt, bảo đảm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026.
c) Khu vực dịch vụ
Khu vực dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhung chưa đạt kịch bản đề ra. Tốc độ tăng trưởng quý II chỉ đạt 5,32%, thấp hơn 3,32 điểm phần trăm so với kịch bản (8,64%); lũy kế 6 tháng đạt 6,19%, thấp hơn 2,03 điểm phần trăm so với kịch bản (8,22%). Qua rà soát các ngành dịch vụ chủ yếu cho thấy, phần thiếu hụt tập trung chủ yếu ở các hoạt động thương mại, du lịch, lưu trú và ăn uống, vận tải, thông tin - truyền thông và một số dịch vụ công.
(1) Lĩnh vực thương mại các nhóm hàng chủ lực chưa đạt kế hoạch, gồm: Doanh thu bán lẻ lương thực, thực phẩm đạt 1.768,6 tỷ đồng, thiếu 52,98 tỷ đồng;
Bán lẻ gỗ và vật liệu xây dựng đạt 456,9 tỷ đồng, thiếu 31,96 tỷ đồng; Doanh thu bán buôn hàng hóa đạt 6.184 tỷ đồng, thiếu 31,05 tỷ đồng, trong đó bán buôn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật thiếu 29,10 tỷ đồng. Ngược lại, doanh thu bán lẻ xăng dầu vượt kế hoạch 192,65 tỷ đồng, doanh thu bán buôn xăng dầu vượt 49,24 tỷ đồng, góp phần bù đắp đáng kể mức thiếu hụt của lĩnh vực thương mại.
(2) Lĩnh vực du lịch, lưu trú và ăn uống là nhóm dịch vụ thiếu hụt khá lớn so với kịch bản. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 1.231,3 tỷ đồng, thiếu 18,87 tỷ đồng, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú thiếu 5,89 tỷ đồng; Doanh thu dịch vụ ăn uống thiếu 11,55 tỷ đồng; Doanh thu du lịch lữ hành thiếu 1,33 tỷ đồng; Ngày khách lưu trú thấp hơn kế hoạch 17.281 ngày khách; Lượt khách du lịch theo tour thấp hơn 297 lượt. Mặc dù tổng lượt khách lưu trú vẫn vượt kế hoạch 12.314 lượt, nhưng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách chưa đạt kỳ vọng, làm cho doanh thu toàn ngành chưa hoàn thành kịch bản tăng trưởng.
(3) Lĩnh vực vận tải và kho bãi nhìn chung cơ bản đạt kế hoạch về doanh thu. Tổng doanh thu vận tải đạt 261,5 tỷ đồng, vượt 1,47 tỷ đồng, doanh thu vận tải đường bộ vượt 1,40 tỷ đồng; tuy nhiên hoạt động kho bãi và hỗ trợ vận tải vẫn thấp hơn kế hoạch khoảng 25 triệu đồng, phản ánh hoạt động logistics và dịch vụ hỗ trợ vận tải chưa thực sự phát huy hiệu quả.
(4) Lĩnh vực thông tin và truyền thông mặc dù nhiều chỉ tiêu sản xuất, doanh thu đều vượt kế hoạch (viễn thông vượt 38,11 tỷ đồng, phát thanh - truyền hình vượt 527 triệu đồng, dịch vụ công nghệ thông tin vượt 297 triệu đồng), nhưng tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm của toàn ngành vẫn thấp hơn kịch bản 11,13 điểm phần trăm do phương pháp tính giá trị tăng thêm và cơ cấu ngành thay đổi sau khi Trung ương điều chỉnh lại số liệu gốc năm 2025.
(5) Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm cơ bản đạt và vượt kế hoạch. Giá trị tăng thêm hoạt động tài chính vượt 13,07 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ; tuy nhiên hoạt động bảo hiểm vẫn thấp hơn kế hoạch khoảng 788 triệu đồng.
(6) Hoạt động kinh doanh bất động sản nhìn chung cơ bản đạt kế hoạch, song dịch vụ nhà ở tự có, tự ở vẫn thấp hơn kế hoạch 4,66 tỷ đồng, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của ngành.
(7) Một số ngành dịch vụ công và dịch vụ khác còn thiếu hụt khá lớn so với kịch bản, gồm: Hoạt động của Đảng, quản lý nhà nước, quốc phòng - an ninh thấp hơn kế hoạch 40,85 tỷ đồng; Giáo dục và đào tạo thấp hơn 684 triệu đồng; Y tế và trợ giúp xã hội thấp hơn 10,99 tỷ đồng; Hoạt động của các hiệp hội và tổ chức khác thấp hơn 9,57 tỷ đồng; Hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị thấp hơn 63,93 tỷ đồng.
Nhìn chung, phần thiếu hụt của khu vực dịch vụ chủ yếu tập trung ở thương mại hàng hóa truyền thống (lương thực, thực phẩm; vật liệu xây dựng), dịch vụ lưu trú - ăn uống - du lịch, một số hoạt động quản lý nhà nước, dịch vụ cho thuê tài sản, hoạt động dịch vụ khác và một số dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực cần được tập trung triển khai các giải pháp kích cầu tiêu dùng, phát triển du lịch, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng dịch vụ, thúc đẩy các hoạt động thương mại, dịch vụ có giá trị gia tăng cao trong 6 tháng cuối năm nhằm bù đắp phần thiếu hụt, góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026.
1.4. Lượng hóa yêu cầu tăng trưởng 6 tháng cuối năm 2026 để đạt mục tiêu 10%
a) Lượng hóa yêu cầu theo dự ước lần 1 của Cục thống kê
Theo ước tính của Cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh năm 2026 dự kiến chỉ đạt 8,42%, thấp hơn 1,58 điểm phần trăm so với mục tiêu tăng trưởng 10%. Trong đó, GRDP 6 tháng cuối năm dự báo tăng 8,91%, cho thấy nếu tiếp tục duy trì xu hướng hiện nay thì mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không đạt được.
Theo dự báo của Cục Thống kê, quy mô GRDP cả năm 2026 ước đạt 27.207,7 tỷ đồng (giá so sánh năm 2020), thấp hơn khoảng 396,3 tỷ đồng so với quy mô GRDP cần đạt để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 10% (27.604 tỷ đồng). Như vậy, trong 6 tháng cuối năm tỉnh cần tạo thêm khoảng 396 tỷ đồng giá trị tăng thêm so với kịch bản dự báo của Cục thống kê hiện nay.
Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 10%, GRDP 6 tháng cuối năm phải đạt khoảng 15.108 tỷ đồng, cao hơn khoảng 396,3 tỷ đồng so với mức dự báo của Cục Thống kê (14.711,7 tỷ đồng), tương ứng tốc độ tăng trưởng 6 tháng cuối năm phải đạt khoảng 12%, cao hơn 3,09 điểm phần trăm so với mức dự báo 8,91%.
Xét theo từng khu vực kinh tế, phần giá trị cần bổ sung tập trung chủ yếu ở khu vực công nghiệp và xây dựng và khu vực dịch vụ, cụ thể:
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: dự báo của Cục Thống kê cơ bản đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cả năm khoảng 5,14%, quy mô giá trị tăng thêm đạt khoảng 5.407,2 tỷ đồng, khu vực này cần tiếp tục giữ vai trò ổn định, duy trì tốc độ tăng trưởng và hạn chế rủi ro do thiên tai, dịch bệnh.
Khu vực công nghiệp và xây dựng: theo dự báo chỉ đạt khoảng 5.410,5 tỷ đồng, trong khi để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 10% cần đạt khoảng 5.668,1 tỷ đồng, còn thiếu khoảng 257,6 tỷ đồng giá trị tăng thêm. Đây là khu vực cần bù đắp lớn nhất, chủ yếu thông qua đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công, thúc đẩy các dự án xây dựng, tăng sản lượng khai khoáng, vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến, chế tạo.
Khu vực dịch vụ: dự báo đạt khoảng 15.397,1 tỷ đồng, để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 10% cần đạt khoảng 15.535,8 tỷ đồng, còn thiếu khoảng 138,7 tỷ đồng. Do đó cần tiếp tục thúc đẩy thương mại, du lịch, vận tải, logistics, lưu trú, ăn uống và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao trong các tháng cuối năm.
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: dự báo cả năm đạt khoảng 992,9 tỷ đồng, để bảo đảm mục tiêu đòi hỏi phải tăng cường các giải pháp thúc đẩy tiêu dùng, mở rộng sản xuất kinh doanh và khai thác hiệu quả các nguồn thu ngân sách.
Như vậy, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP 10% trong năm 2026, các sở, ngành và địa phương cần tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tạo thêm khoảng 396 tỷ đồng GRDP trong 6 tháng cuối năm so với kịch bản dự báo 8,42% của Cục Thống kê; trong đó trọng tâm là công nghiệp - xây dựng (bổ sung khoảng 258 tỷ đồng) và dịch vụ (bổ sung khoảng 139 tỷ đồng), đồng thời duy trì ổn định khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng theo kịch bản điều hành của tỉnh.
b) Lượng hóa theo yêu cầu tăng trưởng 10% năm 2026
Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP 10% trong năm 2026, quy mô GRDP theo giá so sánh năm 2020 cần đạt khoảng 27.604 tỷ đồng. Trong đó, GRDP 6 tháng đầu năm thực hiện 12.496 tỷ đồng, do đó 6 tháng cuối năm cần đạt khoảng 15.108 tỷ đồng, tương ứng cần tạo thêm khoảng 1.600 tỷ đồng giá trị tăng thêm so với kết quả thực hiện 6 tháng cuối năm 2025; trong đó quý III cần tăng thêm khoảng 744 tỷ đồng và quý IV cần tăng thêm khoảng 856 tỷ đồng so với năm trước.
Theo từng khu vực kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cần đạt khoảng 2.769 tỷ đồng giá trị tăng thêm trong 6 tháng cuối năm, tăng thêm khoảng 123 tỷ đồng so với 6 tháng cuối năm 2025; khu vực công nghiệp và xây dựng cần đạt khoảng 3.273 tỷ đồng, tăng thêm khoảng 754 tỷ đồng; khu vực dịch vụ cần đạt khoảng 8.548 tỷ đồng, tăng thêm khoảng 682 tỷ đồng; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm cần đạt khoảng 518 tỷ đồng, tăng thêm khoảng 41 tỷ đồng.
Về giá trị sản xuất theo giá hiện hành, 6 tháng cuối năm toàn tỉnh cần đạt khoảng 31.779 tỷ đồng, tăng thêm khoảng 5.017 tỷ đồng so với thực hiện 6 tháng cuối năm 2025; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng khoảng 316 tỷ đồng, công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 3.163 tỷ đồng (công nghiệp tăng 608 tỷ đồng, xây dựng tăng 2.554 tỷ đồng), dịch vụ tăng khoảng 1.538 tỷ đồng.
2. Dư địa và động lực tăng trưởng 6 tháng cuối năm 2026
a) Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
6 tháng cuối năm khu vực này cần tạo thêm khoảng 2.768,6 tỷ đồng giá trị tăng thêm, với tốc độ tăng trưởng khoảng 4,65%, thấp hơn mức đã đạt trong 6 tháng đầu năm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có khả năng hoàn thành, thậm chí vượt mục tiêu tăng trưởng theo kịch bản nếu duy trì ổn định sản xuất và hạn chế các yếu tố bất lợi do thiên tai, dịch bệnh.
Trong lĩnh vực trồng trọt, dư địa tăng trưởng còn tương đối lớn do nhiều cây trồng chủ lực bước vào thời kỳ thu hoạch tập trung trong quý III và quý IV. sản lượng thóc, cây ăn quả, gừng, hồi, mía, dong riềng và các loại cây đặc sản khác hiện mới đạt từ 13 đến 24% kế hoạch năm, cho thấy phần lớn giá trị sản xuất sẽ được ghi nhận trong nửa cuối năm. Đây là dư địa quan trọng để gia tăng giá trị sản xuất trong những tháng còn lại của năm. Bên cạnh đó, một số sản phẩm đã đạt kết quả tích cực và tiếp tục đóng vai trò là động lực tăng trưởng của khu vực. Nổi bật là thuốc lá lá khô đạt 21.762 tấn, vượt 21,6% kế hoạch năm, tiếp tục là sản phẩm đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng ngành trồng trọt; ngô đã đạt khoảng 64,8% kế hoạch năm, rau các loại đạt 46,6%, tạo nền tảng thuận lợi để duy trì giá trị tăng thêm trong các quý còn lại.
Đối với lĩnh vực chăn nuôi, tiến độ thực hiện cơ bản phù hợp với chu kỳ sản xuất và kế hoạch năm. Đen hết tháng 6, sản lượng lợn hơi xuất chuồng đạt khoảng 50,9% kế hoạch năm, thịt trâu 39,9%, thịt bò 40,3%, thịt gia cầm 47,1%, trứng gia cầm 49,3%. Nếu tiếp tục kiểm soát tốt dịch bệnh, duy trì tốc độ tái đàn và mở rộng quy mô chăn nuôi tập trung, các sản phẩm chăn nuôi có khả năng hoàn thành kế hoạch năm. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch tả lợn châu Phi, lở mồm long móng, cúm gia cầm và diễn biến bất lợi của thời tiết.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, đây tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực. Sản lượng gỗ khai thác đạt 26.362 m3, tương đương 76,1% kế hoạch năm, cao hơn 12.846 m3 so với kịch bản 6 tháng đầu năm; hoạt động trồng, chăm sóc và khai thác rừng cơ bản bảo đảm tiến độ. Với đặc điểm sản lượng khai thác tập trung nhiều vào các tháng cuối năm, giá trị tăng thêm của ngành lâm nghiệp dự báo sẽ tiếp tục tăng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của khu vực.
Đối với thủy sản, mặc dù sản lượng khai thác và nuôi trồng mới đạt khoảng 48% kế hoạch năm, nhưng quy mô còn nhỏ trong cơ cấu giá trị tăng thêm của tỉnh. Với điều kiện nguồn nước cơ bản bảo đảm, nhu cầu tiêu thụ ổn định và khả năng mở rộng diện tích nuôi trồng trong các tháng cuối năm, lĩnh vực thủy sản được dự báo có khả năng hoàn thành kế hoạch, song mức đóng góp vào tăng trưởng GRDP không lớn.
b) Khu vực công nghiệp - xây dựng
Khu vực công nghiệp - xây dựng tiếp tục được xác định là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế trong 6 tháng cuối năm 2026. Giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp - xây dựng trong 6 tháng cuối năm phải đạt khoảng 3.273 tỷ đồng, chiếm gần 58% giá trị tăng thêm cả năm, đòi hỏi tốc độ phục hồi và mở rộng sản xuất ở hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng.
- Ngành công nghiệp
Động lực tăng trưởng lớn nhất trong những tháng cuối năm đến từ lĩnh vực sản xuất và phân phối điện. Dự kiến bước vào mùa mưa, lưu lượng nước về hồ chứa sẽ tăng, tạo điều kiện nâng sản lượng điện của các nhà máy thủy điện hiện có. Đồng thời, các dự án Thủy điện Pác Khuổi, Thủy điện Thượng Hà dự kiến hoàn thành và phát điện trong quý III; Thủy điện Bảo Lạc A dự kiến vận hành trong quý IV. Bên cạnh đó, tỉnh đang tích cực tháo gỡ các vướng mắc để đưa Nhà máy thủy điện Hòa Thuận và Nhà máy thủy điện Bản Rạ hoạt động trở lại. Nếu các dự án vận hành đúng tiến độ, đây sẽ là nguồn bổ sung giá trị tăng thêm quan trọng, tạo dư địa lớn cho tăng trưởng công nghiệp và GRDP của tỉnh.
Đối với khai khoáng và luyện kim, dư địa tăng trưởng vẫn còn tương đối lớn nhưng phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục đầu tư, đất đai, cấp phép khai thác và nguồn nguyên liệu. Nhiều doanh nghiệp chế biến như mangan vẫn còn khả năng nâng công suất nếu được bảo đảm nguồn quặng và hoàn thành các thủ tục pháp lý. Đặc biệt, khi mỏ sắt Nà Rụa được khôi phục khai thác, Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng có thể nâng công suất sản xuất lên khoảng 18-20 nghìn tấn phôi thép/tháng, góp phần đáng kể vào tăng trưởng ngành chế biến, chế tạo.
Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạo cũng cho thấy triển vọng tích cực trong quý III/2026. Có 29,41% doanh nghiệp dự báo sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn, 29,41% doanh nghiệp dự kiến tăng sản lượng, 35,71% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn hàng mới tăng, trong khi đa số doanh nghiệp nhận định giá bán sẽ ổn định. Đây là tín hiệu cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp có khả năng tiếp tục cải thiện trong những tháng cuối năm.
Đối với ngành vật liệu xây dựng, nhu cầu tiêu thụ đá xây dựng, cát xây dựng và các sản phẩm xây dựng dự kiến tăng mạnh cùng với tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án giao thông trọng điểm. Đây là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng nâng sản lượng, gia tăng đóng góp cho tăng trưởng khu vực công nghiệp.
Tuy nhiên, khu vực công nghiệp vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn mang tính đặc thù. Quy mô sản xuất còn nhỏ, cơ cấu ngành phụ thuộc nhiều vào khai thác khoáng sản; nhiều doanh nghiệp gặp vướng mắc kéo dài về thủ tục đầu tư, đất đai, môi trường, cấp phép khai thác và giải phóng mặt bằng. Nguồn nguyên liệu cho các nhà máy luyện kim chưa ổn định, trong khi giá khoáng sản, kim loại và chi phí đầu vào tiếp tục biến động, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, các yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên và các biến động của thị trường tiêu thụ trong nước, quốc tế cũng là những yếu tố có thể tác động đến khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng.
Với kết quả thực hiện 6 tháng đầu năm, triển vọng phục hồi của ngành chế biến, chế tạo, khả năng tăng công suất khai khoáng và việc bổ sung công suất từ các dự án thủy điện mới, ngành công nghiệp có đủ dư địa để duy trì và hoàn thành mục tiêu tăng trưởng khoảng 11,75% trong năm 2026, với điều kiện các điểm nghẽn về thủ tục đầu tư, đất đai, nguồn nguyên liệu và cấp phép dự án được tháo gỡ kịp thời.
- Ngành xây dựng
Ngành xây dựng phải đạt mức tăng khoảng 40,5% trong năm 2026, trong đó riêng quý III cần tăng 51,74% và quý IV tăng 55,02%, cho thấy áp lực tăng trưởng tập trung rất lớn vào 6 tháng cuối năm.
Động lực tăng trưởng chủ yếu của ngành xây dựng đến từ việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và tăng tốc thi công các dự án trọng điểm. Sau khi được Trung ương bổ sung vốn, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 của tỉnh đã tăng lên khoảng 10.526 tỷ đồng, trong khi đến hết tháng 6 mới giải ngân khoảng 1.253 tỷ đồng, tương đương 11,9% kế hoạch. Như vậy, khoảng 9.273 tỷ đồng cần được giải ngân trong 6 tháng cuối năm, tạo dư địa rất lớn cho tăng trưởng ngành xây dựng nếu tiến độ triển khai được đẩy nhanh.
Động lực lớn nhất là Dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh với quy mô vốn khoảng 2.302 tỷ đồng, nhu cầu vốn bổ sung để triển khai song song 2 giai đoạn trong năm khoảng trên 9000 tỷ; Dự án cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng với quy mô vốn trên 4.300 tỷ đồng dự kiến được giao vào cuối năm; cùng với đó là nguồn vốn bổ sung cho các công trình trường phổ thông dân tộc nội trú, hạ tầng Khu du lịch thác Bản Giốc, hạ tầng Khu công nghiệp Chu Trinh, các dự án y tế, giáo dục và hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu. Khi các dự án này đồng loạt tăng tốc thi công, giá trị xây dựng và nhu cầu vật liệu xây dựng sẽ tăng mạnh, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với nhiều ngành sản xuất liên quan.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện cơ chế phân bổ vốn giai đoạn 2026-2030 của các Chương trình mục tiêu quốc gia và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa sẽ góp phần cải thiện tiến độ triển khai các công trình hạ tầng khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bổ sung thêm nguồn lực cho tăng trưởng ngành xây dựng.
Tuy nhiên, khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng của ngành vẫn phụ thuộc quyết định vào tiến độ giải quyết các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, hoàn thiện thủ tục đầu tư, giao kế hoạch vốn, nguồn cung vật liệu xây dựng, năng lực tổ chức thi công của chủ đầu tư và nhà thầu, cũng như tiến độ giải ngân đối với các dự án quy mô lớn. Đặc biệt, nếu việc giao vốn cho Dự án cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng tiếp tục chậm hoặc các dự án trọng điểm không đạt khối lượng thi công theo kế hoạch, mục tiêu tăng trưởng của ngành xây dựng sẽ chịu ảnh hưởng đáng kể.
Lĩnh vực xây dựng vẫn là khu vực có dư địa tăng trưởng lớn nhất trong 6 tháng cuối năm, song cũng là lĩnh vực chịu áp lực cao nhất. Việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng khoảng 40,5% phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn về thủ tục và tổ chức thi công, qua đó chuyển hóa nguồn vốn đầu tư thành khối lượng xây lắp và giá trị gia tăng thực tế trong nền kinh tế.
c) Khu vực dịch vụ
Khu vực dịch vụ cần đạt tốc độ tăng trưởng 7,54% để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng GRDP toàn tỉnh từ 10% trở lên. Trong 6 tháng đầu năm, khu vực dịch vụ tăng 6,19%, thấp hơn yêu cầu của kịch bản; do đó, 6 tháng cuối năm cần đạt mức tăng khoảng 8,7%, cao hơn khoảng 2,51 điểm phần trăm so với kết quả 6 tháng đầu năm. Đây là mục tiêu khá cao, đòi hỏi phải khai thác đồng thời nhiều động lực tăng trưởng và có giải pháp quyết liệt tháo gỡ các điểm nghẽn hiện nay.
Trong những tháng cuối năm, thương mại và tiêu dùng nội địa tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực dịch vụ. Nhu cầu mua sắm thường tăng mạnh vào các dịp lễ, tết cuối năm; nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định, giá cả được kiểm soát. Đặc biệt, việc điều chỉnh tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026 sẽ góp phần nâng cao thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, qua đó kích thích tổng cầu tiêu dùng, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành bán buôn, bán lẻ, lưu trú, ăn uống, vận tải hành khách và các dịch vụ tiêu dùng phát triển.
Du lịch tiếp tục là lĩnh vực còn nhiều dư địa tăng trưởng khi bước vào mùa cao điểm cuối năm. Các hoạt động văn hóa, lễ hội, du lịch cộng đồng, du lịch biên giới cùng việc tiếp tục khai thác hiệu quả các sản phẩm đặc trưng như Khu du lịch thác Bản Giốc, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng và các tuyến, điểm du lịch mới sẽ góp phần gia tăng lượng khách và doanh thu dịch vụ. Bên cạnh đó, việc đẩy nhanh đầu tư hạ tầng du lịch, hạ tầng giao thông và triển khai các chương trình xúc tiến, quảng bá sẽ tạo điều kiện nâng cao khả năng thu hút khách, nhất là khách quốc tế và khách có mức chi tiêu cao.
Kinh tế cửa khẩu, thương mại biên giới và logistics được đánh giá là một trong những động lực tăng trưởng có khả năng tạo đột phá trong 6 tháng cuối năm nếu các giải pháp đang triển khai phát huy hiệu quả. Ban Quản lý Khu kinh tế đang phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp thu hút nguồn hàng, dòng hàng; xây dựng Nền tảng cửa khẩu số; rà soát các khoản phí dịch vụ; tăng cường đối thoại, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy hợp tác với phía Trung Quốc. Kết quả hội đàm với thành phố Bách Sắc (Quảng Tây, Trung Quốc) đã mở ra nhiều triển vọng trong việc mở rộng xuất nhập khẩu qua cặp cửa khẩu Trà Lĩnh - Long Bang và Sóc Giang - Bình Mãng, đồng thời hai bên thống nhất phấn đấu tăng kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu này từ 10% trở lên mỗi năm. Phía Trung Quốc cũng đang nghiên cứu mở rộng xuất khẩu hóa chất và ô tô tải điện qua cửa khẩu của tỉnh, tạo dư địa tăng trưởng mới cho hoạt động thương mại, logistics và dịch vụ cửa khẩu.
Ngoài ra, giải ngân vốn đầu tư công và đẩy nhanh triển khai các công trình trọng điểm sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đến nhiều ngành dịch vụ như vận tải, kho bãi, tư vấn thiết kế, kiểm định, tài chính, ngân hàng, lưu trú, ăn uống và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Đây là động lực quan trọng để mở rộng quy mô khu vực dịch vụ trong nửa cuối năm.
Tuy nhiên, khu vực dịch vụ vẫn đang đổi mặt với nhiều khó khăn và điểm nghẽn. Du lịch chưa khai thác tương xứng tiềm năng; sản phẩm còn đơn điệu, thiếu các sản phẩm chất lượng cao, du lịch ban đêm và các tour chuyên đề; hạ tầng giao thông kết nối, cơ sở lưu trú cao cấp và dịch vụ hỗ trợ còn hạn chế, làm giảm khả năng kéo dài thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách. Hoạt động xúc tiến, quảng bá và chuyển đổi số trong du lịch chưa tạo được bước đột phá; nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao còn thiếu. Đối với kinh tế cửa khẩu, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn chịu tác động lớn từ biến động thương mại quốc tế, chi phí logistics cao, cạnh tranh gay gắt giữa các tỉnh biên giới trong thu hút nguồn hàng và những hạn chế về hạ tầng logistics, hạ tầng số. Tỉnh chưa thu hút được các dự án logistics quy mô lớn và các doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt thị trường; một số doanh nghiệp trong khu kinh tế vẫn gặp khó khăn về quy hoạch, nguồn nguyên liệu, lao động và thủ tục đầu tư nên chưa thể mở rộng sản xuất, kinh doanh. Hoạt động vận tải, thương mại và dịch vụ còn phụ thuộc đáng kể vào tốc độ phục hồi của khu vực công nghiệp, tiến độ giải ngân đầu tư công, diễn biến xuất nhập khẩu và tình hình thiên tai trong mùa mưa bão. Đây là những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng của khu vực dịch vụ.
Mục tiêu tăng trưởng 8,95% trong 6 tháng cuối năm là mục tiêu có nhiều thách thức nhưng vẫn có thể phấn đấu nếu các giải pháp kích cầu tiêu dùng, phát triển du lịch, phục hồi hoạt động xuất nhập khẩu, đẩy nhanh chuyển đổi số cửa khẩu, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn về hạ tầng, cơ chế, chính sách được triển khai quyết liệt ngay từ đầu quý III. Khu vực dịch vụ được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì vai trò là khu vực có quy mô lớn nhất trong cơ cấu GRDP của tỉnh, đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026.
d) Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Để hoàn thành mục tiêu cả năm, 6 tháng cuối năm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm cần duy trì mức tăng khoảng 8,65%, thấp hơn kết quả đã thực hiện 6 tháng đầu năm (8,8%), đây là khu vực có khả năng hoàn thành mục tiêu tương đối cao nếu các động lực tăng trưởng của nền kinh tế tiếp tục được phát huy.
Động lực tăng trưởng chủ yếu trong 6 tháng cuối năm sẽ đến từ sự phục hồi và mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh của các khu vực kinh tế. Dự báo sản xuất công nghiệp, đặc biệt là khai khoáng, luyện kim, sản xuất điện và vật liệu xây dựng sẽ tăng tốc khi các dự án thủy điện mới đi vào vận hành, nhiều doanh nghiệp được tháo gỡ khó khăn về nguyên liệu và thủ tục đầu tư. Cùng với đó, khu vực xây dựng được kỳ vọng tăng trưởng mạnh nhờ đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các công trình, dự án trọng điểm; khu vực dịch vụ tiếp tục được hỗ trợ bởi nhu cầu tiêu dùng cuối năm, hoạt động thương mại, du lịch và kinh tế cửa khẩu. Sự gia tăng giá trị sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng sẽ trực tiếp làm tăng nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và các khoản thuế sản phẩm khác, qua đó đóng góp tích cực vào tăng trưởng của chỉ tiêu thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế, mở rộng áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, tăng cường quản lý hộ kinh doanh, thương mại điện tử, chống thất thu và xử lý nợ đọng thuế sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý thu, góp phần khai thác tốt hơn các nguồn thu phát sinh và hạn chế thất thu ngân sách. Việc tăng cường phối hợp giữa cơ quan thuế, hải quan, tài chính và các lực lượng chức năng trong quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu cũng sẽ tạo điều kiện mở rộng cơ sở thuế, nâng cao hiệu quả thu ngân sách trên địa bàn.
Tuy nhiên, khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố khó dự báo. Hoạt động xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh mặc dù có tín hiệu cải thiện nhưng chưa phục hồi mạnh, do đó nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu và các khoản thu liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu khó có sự bứt phá. Việc tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như giảm thuế giá trị gia tăng, gia hạn thời hạn nộp thuế, miễn giảm một số khoản phí, lệ phí hoặc điều chỉnh ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với hộ kinh doanh sẽ làm giảm nguồn thu ngân sách trong ngắn hạn, mặc dù có tác động tích cực đến phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, tiến độ thu từ tiền sử dụng đất, hoạt động bất động sản và một số khoản thu phát sinh khác vẫn phụ thuộc vào tiến độ đấu giá đất, hoàn thiện thủ tục đầu tư và triển khai các dự án trên địa bàn.
IV. CẬP NHẬT, ĐIỀU CHỈNH KỊCH BẢN TĂNG TRƯỞNG 6 THÁNG CUỐI NĂM
1. Cập nhật, điều chỉnh và giao kịch bản tăng trưởng quý III, IV, 6 tháng cuối năm 2026 trên các khu vực kinh tế và 19 ngành kinh tế cấp 1 năm 2026.
Trên cơ sở kết quả tăng trưởng quý I,II, 6 tháng đầu năm, để bù đắp thiếu hụt kịch bản tăng trưởng quý II, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cả năm đạt 10%, UBND tỉnh cập nhật, điều chỉnh kịch bản tăng trưởng, đồng thời giao chỉ tiêu tăng trưởng trên các ngành kinh tế cấp I, các sản phẩm, dịch vụ chủ lực quý III, IV, 6 tháng cuối năm 2026 cho các sở, ban, ngành triển khai thực hiện như các phụ lục 01, 02, 03, 04 kèm theo, trong đó:
1.1. Cập nhật, điều chỉnh tốc độ tăng tổng sản phẩm các khu vực kinh tế năm 2026
Căn cứ kết quả triển khai thực hiện, dự báo xu hướng tăng trưởng các tháng cuối năm trên các khu vực kinh tế, đồng thời cập nhật số liệu điều chỉnh theo kỳ điều chỉnh số liệu thống kê, UBND tỉnh điều chỉnh tốc độ tăng tổng sản phẩm các khu vực kinh tế năm 2026 như sau:
a) Tăng trưởng cả năm 2026
- Tổng sản phẩm GRDP trên địa bàn tỉnh năm 2026 phấn đấu tăng: 10%, quy mô tổng sản phẩm theo giá so sánh 2020 đạt khoảng 27.604.003 triệu đồng.
+ Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 5,14%, điều chỉnh tăng 0,69 điểm %
+ Khu vực công nghiệp - xây dựng: giữ nguyên tốc độ tăng trưởng 23,46%, (trong đó công nghiệp: 11,75%, điều chỉnh tăng 2,49 điểm %; xây dựng: 40,50%, điều chỉnh giảm 0,41 điểm %);
+ Khu vực dịch vụ: 7,54%, điều chỉnh giảm 0,74 điểm %
+ Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: 8,7%, điều chỉnh tăng 1,7 điểm%
b) Tăng trưởng quý III
- Tổng sản phẩm GRDP trên địa bàn tỉnh quý III phấn đấu tăng: 12,24% điều chỉnh tăng 1,19 điểm %.
+ Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 4,08%, điều chỉnh giảm 0,33 điểm %.
+ Khu vực công nghiệp - xây dựng: 29,45%, điều chỉnh tăng 3,55 điểm % (công nghiệp: 12,12% điều chỉnh tăng 2,06 điểm %; xây dựng: 51,74%, điều chỉnh tăng 9,06 điểm %);
+ Khu vực dịch vụ: 8,95%, điều chỉnh tăng 0,35 điểm %
+ Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: 8,65%, điều chỉnh tăng 2,29 điểm %
c) Tăng trưởng quý IV
- Tổng sản phẩm GRDP trên địa bàn tỉnh quý IV phấn đấu tăng: 11,52%, điều chỉnh tăng 0,98 điểm %.
+ Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 4,94%, điều chỉnh giảm 0,17 điểm %.
+ Khu vực công nghiệp - xây dựng: 30,4%, điều chỉnh tăng 3,09 điểm % (công nghiệp: 11,32% điều chỉnh tăng 1,47 điểm %; xây dựng: 55,02%, điều chỉnh tăng 8,16 điểm %);
+ Khu vực dịch vụ: 8,41%, điều chỉnh tăng 0,32 điểm %
+ Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: 8,59%, điều chỉnh tăng 2,01 điểm %
1.2. Cập nhật, điều chỉnh tốc độ tăng tổng sản phẩm trên 19 ngành kinh tế cấp I
Trên cơ sở điều chỉnh tốc độ tăng trưởng trên các khu vực kinh tế, căn cứ kết quả đạt được trên 6 tháng đầu năm và dự báo xu hướng, động lực tăng trưởng 6 tháng cuối năm, đồng thời cập nhật số liệu điều chỉnh theo kỳ điều chỉnh số liệu thống kê, UBND tỉnh điều chỉnh tốc độ tăng tổng sản phẩm trên 19 ngành kinh tế cấp I như sau:
a) Tăng trưởng cả năm 2026
- Điều chỉnh tăng tốc độ tăng trưởng năm 2026 đối với 02/19 ngành gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (+0,69 điểm phần trăm); Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (+19,45 điểm phần trăm).
- Điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng năm 2026 đối với 17/19 ngành gồm: Khai khoáng (-16,55 điểm phần trăm); Công nghiệp chế biến, chế tạo (-0,70); Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải (-5,48); Xây dựng (-0,41); Bán buôn, bán lẻ (-1,66); Vận tải, kho bãi (-0,88); Dịch vụ lưu trú và ăn uống (-1,63); Thông tin và truyền thông (-4,22); Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (-0,06); Kinh doanh bất động sản (-0,04); Chuyên môn, khoa học và công nghệ (-0,10); Hành chính và dịch vụ hỗ trợ (-0,29); Quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc (-0,51); Giáo dục và đào tạo (-0,04); Y tế và trợ giúp xã hội (-0,08); Nghệ thuật, vui chơi và giải trí (-0,29); Hoạt động dịch vụ khác (-1,09 điểm phần trăm).
b) Tăng trưởng quý III
- Điều chỉnh tăng tốc độ tăng trưởng quý III đối với 09/19 ngành gồm: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (+29,81 điểm phần trăm); Xây dựng (+9,06 điểm phần trăm); Vận tải, kho bãi (+1,27 điểm phần trăm); Dịch vụ lưu trú và ăn uống (+1,29 điểm phần trăm); Thông tin và truyền thông (+2,71 điểm phần trăm); Hoạt động kinh doanh bất động sản (+0,37 điểm phần trăm); Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (+0,15 điểm phần trăm); Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội; quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng; bảo đảm xã hội bắt buộc (+2,18 điểm phần trăm) và Nghệ thuật, vui chơi và giải trí (+0,05 điểm phần trăm).
- Điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng quý III đối với 10/19 ngành gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (-0,33 điểm phần trăm); Khai khoáng (-31,52 điểm phần trăm); Công nghiệp chế biến, chế tạo (-2,82 điểm phần trăm); Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (-7,94 điểm phần trăm); Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác (-0,86 điểm phần trăm); Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (-1,41 điểm phần trăm); Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ (-1,70 điểm phần trăm); Giáo dục và đào tạo (-0,04 điểm phần trăm); Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (-1,54 điểm phần trăm); Hoạt động dịch vụ khác (ngành s, trừ mã 94) (-0,47 điểm phần trăm).
c) Tăng trưởng quý IV
- Điều chỉnh tăng tốc độ tăng trưởng quý IV đối với 9/19 ngành, gồm: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (+29,40 điểm phần trăm); Xây dựng (+8,17 điểm phần trăm); Vận tải, kho bãi (+1,17 điểm phần trăm); Dịch vụ lưu trú và ăn uống (+1,30 điểm phần trăm); Thông tin và truyền thông (+4,32 điểm phần trăm); Hoạt động kinh doanh bất động sản (+0,36 điểm phần trăm); Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (+0,13 điểm phần trăm); Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội; quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng; bảo đảm xã hội bắt buộc (+1,50 điểm phần trăm); Nghệ thuật, vui chơi và giải trí (+0,05 điểm phần trăm).
- Điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng quý IV đối với 10/19 ngành gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (-0,17 điểm phần trăm); Khai khoáng (-25,46 điểm phần trăm); Công nghiệp chế biến, chế tạo (-2,31 điểm phần trăm); Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (-8,58 điểm phần trăm); Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác (-0,80 điểm phần trăm); Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (-1,02 điểm phần trăm); Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ (-2,42 điểm phần trăm); Giáo dục và đào tạo (-0,04 điểm phần trăm); Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (-1,46 điểm phần trăm); Hoạt động dịch vụ khác (ngành s, trừ mã 94) (-0,41 điểm phần trăm).
1.3. Điều chỉnh danh mục sản phẩm, dịch vụ chủ lực trong tăng trưởng
Căn cứ kết quả sản lượng/khối lượng/doanh thu/giá trị sản xuất của các sản phẩm, dịch vụ trong 6 tháng đầu năm và yêu cầu tăng trưởng 10% năm 2026, UBND tỉnh điều chỉnh chỉ tiêu sản lượng/khối lượng/doanh thu/giá trị sản xuất của 80 sản phẩm, dịch vụ chủ yếu trong tăng trưởng, đồng thời bỏ 02 sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo gồm: Xi măng Portland đen (do đã dừng sản xuất, tỷ trọng nhỏ, chủ yếu gia công); Hợp kim sắt Silic - Mangan (do tỷ trọng nhỏ, gồm nhiều thành phẩm thành phần nên khó theo dõi). (Chi tiết tại biếu số 4 kèm theo.)
V. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH KỊCH BẢN TĂNG TRƯỞNG QUY III VÀ CÁC THÁNG CUỐI NĂM 2026
Thứ nhất, kiên định mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 đạt từ 10% trở lên, quyết tâm phấn đấu đạt kết quả cao nhất. Mặc dù kết quả thực hiện 6 tháng đầu năm và dự báo hiện nay cho thấy mục tiêu tăng trưởng đang chịu nhiều áp lực, song tỉnh không điều chỉnh giảm mục tiêu mà tiếp tục giữ vững quyết tâm chính trị, tập trung huy động tối đa mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả các dư địa tăng trưởng, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất mục tiêu tăng trưởng năm 2026, tạo nền tảng thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030.
Thứ hai, chuyển mạnh tư duy điều hành từ quản lý hành chính sang điều hành theo mục tiêu tăng trưởng và kết quả đầu ra. Mọi nhiệm vụ, giải pháp của các sở, ban, ngành, địa phương phải hướng trực tiếp vào mục tiêu tạo thêm giá trị tăng thêm, sản lượng, doanh thu, kim ngạch xuất nhập khẩu, khối lượng xây lắp và nguồn thu ngân sách; lấy kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ và sản phẩm đầu ra thuộc phạm vi quản lý, gắn với mức độ đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung, làm căn cứ đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Thứ ba, phát huy cao nhất trách nhiệm của người đúng đầu và tăng cường phối hợp liên ngành trong tổ chức thực hiện. Người đứng đầu các sở, ban, ngành, địa phương phải trực tiếp chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra hiện trường, làm việc với doanh nghiệp, chủ đầu tư và cơ sở sản xuất để kịp thời tháo gỡ khó khăn; đồng thời chủ động phối hợp xử lý các điểm nghẽn liên ngành, không để tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm hoặc chậm xử lý làm ảnh hưởng đến tiến độ tăng trưởng.
Thứ tư, tập trung tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn, khơi thông các động lực tăng trưởng của từng khu vực kinh tế. Ưu tiên giải quyết những vấn đề có tác động trực tiếp đến tăng trưởng như giải ngân vốn đầu tư công, thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, khoáng sản, nguyên liệu sản xuất, phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, kinh tế cửa khẩu và tiêu dùng; bảo đảm các nguồn lực được chuyển hóa nhanh thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng của nền kinh tế.
Thứ năm, tăng cường công tác theo dõi, dự báo, kiểm tra và kiểm điểm trách nhiệm trong điều hành tăng trưởng. Thường xuyên cập nhật tình hình thực hiện kịch bản tăng trưởng, kịp thời cảnh báo các chỉ tiêu có nguy cơ không đạt để điều chỉnh giải pháp điều hành; đồng thời gắn kết quả thực hiện mục tiêu tăng trưởng với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị và trách nhiệm của người đứng đầu, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.
2. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thúc đẩy tăng trưởng 6 tháng cuối năm
2.1. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
Kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm đã tạo dư địa thuận lợi để khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản hoàn thành mục tiêu năm 2026. Với yêu cầu tăng trưởng khoảng 4,65% trong 6 tháng cuối năm, thấp hơn mức đã đạt trong nửa đầu năm (5,66%), nếu duy trì ổn định sản xuất, phát huy hiệu quả các sản phẩm chủ lực và kiểm soát tốt thiên tai, dịch bệnh thì khu vực này có khả năng hoàn thành, thậm chí vượt mục tiêu theo kịch bản tăng trưởng. Trọng tâm thời gian tới là tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
(1) . Tập trung chỉ đạo sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ các cây trồng chủ lực có sản lượng lớn trong 6 tháng cuối năm, đặc biệt là lúa, ngô, dong riềng và mía nguyên liệu. Đây là các sản phẩm chưa phát sinh hoặc phát sinh ít sản lượng trong 6 tháng đầu năm nhưng sẽ đóng góp phần lớn giá trị tăng thêm của ngành trồng trọt trong quý III và quý IV. cần chủ động rà soát diện tích, năng suất dự kiến, tiến độ thu hoạch, năng lực chế biến và tiêu thụ để kịp thời tháo gỡ khó khăn, hạn chế tình trạng ùn ứ sản phẩm hoặc giảm giá vào thời điểm thu hoạch tập trung.
(2) . Tiếp tục phát huy hiệu quả của các sản phẩm đang có kết quả thực hiện vượt kế hoạch như thuốc lá, rau các loại và khai thác gỗ. Đối với cây thuốc lá, cần theo dõi sát tình hình thu mua, chế biến và tiêu thụ để bảo đảm giá trị sản xuất được ghi nhận đầy đủ. Đối với rau màu và cây thực phẩm, cần tăng cường liên kết sản xuất theo nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm nhằm duy trì đà tăng trưởng trong các tháng cuối năm.
(3) . Ưu tiên công tác phòng, chống dịch bệnh trong chăn nuôi, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng của ngành. Tập trung kiểm soát chặt chẽ dịch tả lợn châu Phi, lở mồm long móng, cúm gia cầm và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác; đẩy mạnh tiêm phòng, giám sát dịch bệnh tại cơ sở, chủ động dự trữ vật tư, hóa chất phòng chống dịch. Đồng thời khuyến khích tái đàn, phát triển chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học nhằm nâng cao sản lượng thịt gia súc, gia cầm trong các tháng cuối năm.
(4) . Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là các dự án hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, phát triển vùng nguyên liệu và liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Việc giải ngân và đưa các nguồn lực hỗ trợ vào sản xuất kịp thời sẽ góp phần trực tiếp gia tăng quy mô sản xuất và giá trị tăng thêm của khu vực.
(5) . Khai thác hiệu quả tiềm năng lâm nghiệp, tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với đẩy mạnh khai thác hợp lý các diện tích rừng trồng đến kỳ thu hoạch. Đồng thời tiếp tục thúc đẩy phát triển các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu dưới tán rừng và các mô hình kinh tế lâm nghiệp có giá trị gia tăng cao nhằm nâng cao đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tăng trưởng chung.
(6) . Đối với lĩnh vực thủy sản, cần khuyến khích mở rộng quy mô nuôi các loại có giá trị kinh tế cao như cá tầm, cá bỗng, ba ba và các mô hình nuôi đặc sản phù hợp với điều kiện địa phương; đồng thời tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, phòng chống dịch bệnh thủy sản, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất trong mùa khô.
(7) . Tăng cường công tác theo dõi, dự báo sản lượng và giá trị sản xuất của từng sản phẩm chủ lực theo tháng, quý; kịp thời cập nhật các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng để chủ động điều chỉnh phương án điều hành. Đặc biệt cần tập trung theo dõi các sản phẩm có đóng góp lớn vào tăng trưởng khu vực như lúa, ngô, dong riềng, mía, thuốc lá, chăn nuôi lợn và khai thác gỗ nhằm bảo đảm kết quả thực hiện bám sát hoặc vượt mức dự báo của Cục Thống kê.
2.2. Khu vực công nghiệp - xây dựng
Khu vực công nghiệp - xây dựng là động lực quyết định để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026, áp lực tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm vẫn rất lớn khi khu vực này phải tạo thêm khoảng 3.273 tỷ đồng giá trị tăng thêm, trong đó ngành xây dựng cần tăng tốc mạnh cùng với việc duy trì đà phục hồi của ngành công nghiệp. Do đó, cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, nguồn nguyên liệu và đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm nhằm chuyển hóa tối đa dư địa tăng trưởng thành kết quả thực tế.
(1) . Tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn đối với lĩnh vực khai khoáng, luyện kim và chế biến khoáng sản. Đây là nhóm ngành có đóng góp lớn vào giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp nhưng hiện vẫn chịu nhiều tác động từ thị trường và các vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai, quy hoạch mỏ. cần tiếp tục rà soát, giải quyết kịp thời các khó khăn liên quan đến hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục đầu tư, đất đai, môi trường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án khai khoáng trọng điểm.
Trong đó, ưu tiên tháo gỡ khó khăn về nguồn nguyên liệu cho Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng thông qua việc sớm đưa khu vực khai thác mới của mỏ sắt Nà Rụa vào hoạt động, tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng công suất sản xuất lên mức 18-20 nghìn tấn/tháng, bù đắp phần sản lượng thiếu hụt trong những tháng đầu năm. Đồng thời, hỗ trợ Công ty cổ phần Đầu tư và Khoáng sản Tấn Phát hoàn thiện thủ tục gia hạn xuất khẩu tinh quặng niken; tháo gỡ các vướng mắc về đất đai, đầu tư đối với dự án mở rộng Nhà máy chế biến khoáng sản của Công ty cổ phần Khoáng sản Nikko Việt Nam nhằm sớm đưa phần công suất tăng thêm vào hoạt động trong nửa cuối năm 2026.
(2) . Đẩy nhanh tiến độ các dự án năng lượng và khôi phục hoạt động các nhà máy thủy điện đang gặp khó khăn. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng công nghiệp những tháng cuối năm khi ngành sản xuất và phân phối điện được dự báo là động lực tăng trưởng lớn nhất của toàn ngành.
Tập trung hỗ trợ các chủ đầu tư tháo gỡ khó khăn trong thi công, hoàn thiện thủ tục để đưa các dự án thủy điện Pác Khuổi và Thượng Hà vào vận hành trong quý III/2026, thủy điện Bảo Lạc A vào vận hành trong quý IV/2026 theo kế hoạch. Đồng thời, đôn đốc chủ đầu tư khẩn trương khắc phục sự cố kỹ thuật, hoàn thiện thủ tục pháp lý để sớm đưa Nhà máy thủy điện Hòa Thuận và Nhà máy thủy điện Bản Rạ trở lại hoạt động. Việc các dự án và nhà máy này vận hành đúng tiến độ sẽ tạo thêm nguồn tăng trưởng quan trọng cho ngành điện, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp và GRDP của tỉnh trong các quý cuối năm.
(3) . Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao công suất sản xuất, tận dụng tối đa năng lực hiện có. Đề nghị các doanh nghiệp công nghiệp chủ động rà soát kế hoạch sản xuất, tối ưu hóa dây chuyền công nghệ, tăng cường bố trí lao động, tăng ca, tăng kíp phù hợp nhằm nâng cao sản lượng, đặc biệt đối với các ngành có dư địa tăng trưởng lớn như luyện kim, khai khoáng, vật liệu xây dựng và chế biến khoáng sản. Đối với các cơ sở sản xuất feromangan đang tạm dừng hoặc hoạt động cầm chừng do giá thị trường giảm sâu, cần theo dõi sát diễn biến thị trường thế giới, chuẩn bị đầy đủ điều kiện về nguyên liệu, lao động và tài chính để sẵn sàng khôi phục sản xuất ngay khi giá bán phục hồi. Đây là nguồn tăng trưởng có thể bổ sung đáng kể cho giá trị sản xuất công nghiệp mà không cần đầu tư mới.
(4) . Bảo đảm cung ứng điện, nguyên liệu và các điều kiện sản xuất cho doanh nghiệp. Tăng cường phối hợp với ngành điện để bảo đảm cung ứng điện ổn định, liên tục cho hoạt động sản xuất công nghiệp, đặc biệt trong các tháng cao điểm cuối năm. Đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường nguyên liệu đầu vào, giá nhiên liệu, chi phí logistics và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm để kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với các biến động bất lợi của thị trường.
(5) . Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và cải cách thủ tục hành chính. Tiếp tục theo dõi sát tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp; kịp thời giải quyết các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền liên quan đến đầu tư, đất đai, khoáng sản, vật liệu nổ công nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện cơ chế đối thoại thường xuyên với doanh nghiệp để nắm bắt, tháo gỡ khó khăn phát sinh ngay từ cơ sở, hạn chế tình trạng chậm tiến độ dự án hoặc gián đoạn sản xuất.
(6) . Bảo đảm an toàn sản xuất và phát triển bền vững. Trong quá trình đẩy mạnh sản xuất để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng, các doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm các quy định về an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, an toàn hóa chất, an toàn hồ đập thủy điện và bảo vệ môi trường. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, vận hành các công trình năng lượng và xử lý chất thải nhằm bảo đảm phát triển công nghiệp theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.
Xây dựng là một trong những ngành có nguy cơ không hoàn thành kịch bản tăng trưởng năm 2026, trong khi đây là lĩnh vực có khả năng tạo giá trị tăng thêm lớn và tác động lan tỏa đến nhiều ngành kinh tế. Do đó, cần tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:
(1) Tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong điều hành tăng trưởng kinh tế. Chỉ đạo các chủ đầu tư xây dựng kế hoạch giải ngân chi tiết theo từng dự án, từng tháng, từng tuần; thường xuyên rà soát tiến độ thực hiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn phát sinh, bảo đảm hoàn thành mục tiêu giải ngân trên 70% kế hoạch vốn vào hết quý III và phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026.
(2) Khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn đối với các dự án trọng điểm. Tập trung hoàn thiện các thủ tục đầu tư để sớm triển khai Dự án đường bộ cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng; đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, thi công và thanh toán khối lượng hoàn thành đối với các dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, các trường phổ thông dân tộc nội trú tại các xã biên giới, Khu du lịch thác Bản Giốc, Khu công nghiệp Chu Trinh và các công trình hạ tầng động lực khác.
(3) Tăng cường quản lý và bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng phục vụ thi công. Chủ động rà soát nguồn cung đá, cát, đất đắp và các loại vật liệu xây dựng chủ yếu; kịp thời công bố giá vật liệu xây dựng, kiểm soát tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá bất hợp lý; tháo gỡ khó khăn cho các mỏ vật liệu phục vụ các công trình trọng điểm.
(4) Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và hiệu quả tổ chức thực hiện dự án. Gắn kết quả giải ngân và tiến độ thực hiện dự án với trách nhiệm của người đứng đầu chủ đầu tư; tăng cường kiểm tra hiện trường, giao ban tiến độ định kỳ; kịp thời điều chuyển vốn từ các dự án chậm triển khai sang các dự án có khả năng giải ngân tốt hơn.
(5) Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia. Khẩn trương hoàn thiện phương án phân bổ vốn giai đoạn 2026-2030, đẩy nhanh công tác chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà thầu và tổ chức thi công; tập trung tháo gỡ khó khăn cho các địa phương vùng sâu, vùng xa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tạo thêm động lực tăng trưởng cho lĩnh vực xây dựng.
(6) Tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án. Chủ động xử lý các vướng mắc liên quan đến đất đai, quy hoạch, môi trường, thủ tục đầu tư, bồi thường giải phóng mặt bằng và thanh quyết toán công trình; tạo điều kiện thuận lợi để các dự án sớm hoàn thành và đưa vào khai thác, phát huy hiệu quả đầu tư.
Kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm còn thấp, khu vực này cần tăng tốc trong 6 tháng cuối năm để đạt mức tăng khoảng 8,7%. Trọng tâm thời gian tới là phát huy hiệu quả các động lực từ thương mại, tiêu dùng, du lịch, kinh tế cửa khẩu và logistics; đồng thời cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy chuyển đổi số nhằm mở rộng quy mô khu vực dịch vụ, trong đó:
(1) Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp kích cầu tiêu dùng, phát triển thị trường trong nước; tăng cường kết nối cung - cầu, mở rộng hệ thống phân phối hàng hóa, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến mại tập trung, phát triển thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhất là các sản phẩm OCOP, đặc sản và sản phẩm chủ lực của tỉnh.
(2) Tập trung phát triển du lịch trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực dịch vụ; đẩy mạnh quảng bá hình ảnh Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng, thác Bản Giốc và các sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh; tổ chức hiệu quả các sự kiện văn hóa, thể thao, lễ hội, du lịch cuối năm; phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng, du lịch biên giới, du lịch trải nghiệm, du lịch đêm nhằm kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao mức chi tiêu của du khách.
(3) Tăng cường các giải pháp hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu, thương mại biên giới và vận tải hàng hóa; nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống cửa khẩu, hạ tầng logistics, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ thương mại; chủ động phối hợp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động thông quan, tạo điều kiện phục hồi tăng trưởng ngành vận tải và logistics.
(4) Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án đầu tư công, nhất là các dự án giao thông, hạ tầng cửa khẩu, hạ tầng du lịch, đô thị và khu công nghiệp; qua đó tạo thêm nhu cầu đối với các ngành dịch vụ tư vấn, thiết kế, kiểm định kỹ thuật, vận tải, lưu trú, ăn uống và thương mại, góp phần mở rộng quy mô khu vực dịch vụ.
(5) Thúc đẩy chuyển đổi số trong các ngành dịch vụ; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử, nền tảng số trong hoạt động sản xuất kinh doanh; phát triển các dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng số, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng của khu vực dịch vụ.
(6) Tăng cường thu hút đầu tư vào các lĩnh vực du lịch, thương mại, logistics, bất động sản và dịch vụ chất lượng cao; ưu tiên các dự án khách sạn, khu nghỉ dưỡng, trung tâm thương mại, hạ tầng logistics và dịch vụ cửa khẩu, tạo thêm năng lực cung ứng dịch vụ và động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
(7) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dịch vụ, nhất là trong các lĩnh vực du lịch, thương mại, logistics, công nghệ thông tin và dịch vụ số; chú trọng đào tạo kỹ năng nghề, ngoại ngữ, kỹ năng số và kỹ năng phục vụ khách quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập trong giai đoạn mới.
(8) Tăng cường công tác quản lý thị trường, theo dõi sát diễn biến cung cầu và giá cả hàng hóa, dịch vụ; bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, góp phần ổn định thị trường, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh và duy trì đà tăng trưởng của khu vực dịch vụ trong những tháng cuối năm 2026.
2.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp kết quả sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng của nền kinh tế, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với công tác quản lý thu ngân sách nhà nước. Mặc dù 6 tháng đầu năm chỉ tiêu này đạt kết quả tích cực, song để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm, trong 6 tháng cuối năm cần đồng thời thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, xuất nhập khẩu và tăng cường quản lý thu, chống thất thu, mở rộng cơ sở thuế, góp phần vừa hoàn thành dự toán thu ngân sách, vừa bảo đảm chỉ tiêu thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm theo kịch bản tăng trưởng GRDP, trọng tâm là:
(1) Theo dõi sát diễn biến sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo, khai khoáng và xây dựng để kịp thời đánh giá tác động đến các khoản thuế gián thu, nhất là thuế giá trị gia tăng phát sinh trên địa bàn.
(2) Tập trung khai thác các nguồn thu còn dư địa, đặc biệt đối với hộ kinh doanh, thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số; đẩy nhanh triển khai hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, kiểm soát chặt việc sử dụng hóa đơn điện tử nhằm chống thất thu thuế.
(3) Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý thuế theo hướng quản lý rủi ro, tăng cường kiểm tra hồ sơ khai thuế, thanh tra chuyên đề đối với các lĩnh vực có rủi ro cao; đẩy mạnh thu hồi nợ thuế, hạn chế phát sinh nợ mới, nâng cao hiệu quả quản lý người nộp thuế.
(4) Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các sở, ngành và chính quyền địa phương trong quản lý nguồn thu từ khoáng sản, đất đai, xây dựng, kinh doanh bất động sản, chuyển nhượng tài sản và hoạt động thương mại, bảo đảm các khoản thu phát sinh được kê khai, nộp đầy đủ, kịp thời.
(5) Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, thúc đẩy tiến độ các dự án sản xuất, kinh doanh, các dự án đầu tư ngoài ngân sách và hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn nhằm tạo thêm nguồn thu thuế giá trị gia tăng và các khoản thuế gián thu khác, qua đó đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm trong GRDP.
(6) Chủ động theo dõi, đánh giá tác động của các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế do Trung ương ban hành để kịp thời cập nhật kịch bản thu ngân sách và kịch bản tăng trưởng GRDP; đồng thời kiến nghị các giải pháp bù đắp nguồn thu thông qua mở rộng cơ sở thu, chống thất thu và nuôi dưỡng nguồn thu bền vững.
1. Trách nhiệm của các Sở, ban, ngành; UBND các xã, phường
(1) Thủ trưởng các sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các xã, phường chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc Kế hoạch này và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2026, trọng tâm là: Công văn số 2267/UBND-TH ngày 01/7/2026 về việc đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 và tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 10% năm 2026. Công văn số 2411/UBND-TH ngày 10/7/2026 của UBND tỉnh về tập trung xử lý các điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quý III, quý IV năm 2026.
(2) Căn cứ kịch bản tăng trưởng điều chỉnh, các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Kế hoạch này và nhiệm vụ được giao tại Công văn số 2411/UBND-TH ngày 10/7/2026 của UBND tỉnh, các cơ quan, đơn vị khẩn trương xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện của ngành, lĩnh vực, địa phương, hoàn thành trước ngày 20/7/2026; trong đó cụ thể hóa mục tiêu, chỉ tiêu, tiến độ thực hiện, kết quả đầu ra và trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân. Trường hợp đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Công văn số 2411/UBND-TH, căn cứ nội dung Kế hoạch này để rà soát, điều chỉnh, cập nhật, bổ sung cho phù hợp, bảo đảm không trùng lặp về nhiệm vụ và chế độ báo cáo.
(3) Chủ động theo dõi, kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền hoặc báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo đối với các nội dung vượt thẩm quyền.
(4) Thực hiện đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo, giao ban tăng trưởng theo chế độ, nội dung yêu cầu quy định tại Công văn số 2411/UBND-TH ngày 10/7/2026 của UBND tỉnh.
Cung cấp số liệu phục vụ công tác theo dõi, đánh giá và điều hành tăng trưởng hằng tháng, hằng quý; phối hợp chặt chẽ với Sở Tài chính và Thống kê tỉnh trong việc rà soát, đánh giá kết quả thực hiện kịch bản tăng trưởng của ngành, lĩnh vực, kịp thời đề xuất điều chỉnh các giải pháp điều hành theo yêu cầu thực tiễn.
2. Trách nhiệm của Sở Tài chính
Là cơ quan đầu mối tham mưu UBND tỉnh theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện Kế hoạch; chủ trì phối hợp với Thống kê tỉnh và các sở, ban, ngành, địa phương thường xuyên cập nhật tình hình thực hiện kịch bản tăng trưởng, phân tích, đánh giá kết quả theo từng tháng, quý; tham mưu UBND tỉnh các giải pháp điều hành, điều chỉnh kịch bản tăng trưởng phù hợp với diễn biến thực tế, bảo đảm phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 10% năm 2026.
Đồng thời, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị; đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo giải quyết hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.
3. Trách nhiệm của Thống kê tỉnh Cao Bằng
Chủ trì hướng dẫn các sở, ban, ngành, địa phương thống nhất nội hàm, phương pháp tính và hệ thống chỉ tiêu phục vụ theo dõi kịch bản tăng trưởng; bảo đảm việc cung cấp số liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh.
Phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan nâng cao chất lượng công tác thống kê, tăng cường phân tích, đánh giá và dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội; xác định mức đóng góp của từng ngành, lĩnh vực vào tăng trưởng GRDP, kịp thời cảnh báo các chỉ tiêu có nguy cơ không đạt để phục vụ công tác điều hành.
4. Công tác thông tin, tuyên truyền
Giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Báo và Phát thanh, Truyền hình Cao Bằng, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy cùng các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện Kế hoạch, tạo sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận trong xã hội và quyết tâm của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP 10% năm 2026./.
|
|
TM. ỦY BAN
NHÂN DÂN |
[1] Quyết định số 69/QĐ-UBND ngày 24/01/2026 của UBND tỉnh về Ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 04 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa xx về mục tiêu và một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và Nghị quyết số 70/NQ- HĐND ngày 11/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tỉnh Cao Bằng
[2] Công điện số 04/CĐ-UBND ngày 25 tháng 02 năm 2026 về việc chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính; tập trung thực hiện Kết luận của Tổng Bí thư, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội và mục tiêu tăng trưởng hai con số; triển khai 85 ngày cao điểm về đích giai đoạn 1 cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh và đẩy nhanh các công trình trọng điểm. Công điện số 05/CĐ-UBND ngày 6 tháng 3 năm 2026 về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, giảm hội họp hình thức, tăng cường đi cơ sở, kiểm tra, nắm tình hình và giải quyết công việc thực chất. Công điện số 11/CĐ-UBND ngày 12/4/2026 về việc chủ động ứng phó biến động giá xăng dầu, vật liệu xây dựng, bảo đảm tiến độ các dự án trọng điểm và mục tiêu tăng trưởng năm 2026. Công điện số 14/CĐ-UBND ngày 18/4/2026 về việc tập trung khắc phục hậu quả mưa đá, giông lốc và rà soát an toàn công trình. Công văn số 2267/UBND-TH ngày 01/7/2026 về việc đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 và tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 10% năm 2026. Công văn số 2411/UBND-TH ngày 10/7/2026 của UBND tỉnh về tập trung xử lý các điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quý III, quý IV năm 2026.
[3] Công văn số 673/UBND-TH ngày 14/3/2026 về việc rà soát, tính toán kịch bản tăng trưởng kinh tế quý I và cả năm 2026, chủ động các giải pháp điều hành trong bối cảnh biến động kinh tế thế giới. Công văn số 1028/UBND-TH ngày 8/4/2026 về việc rà soát, báo cáo danh mục sản phẩm, dịch vụ chủ yếu phục vụ điều hành kịch bản tăng trưởng năm 2026 và tham mưu điều chỉnh kịch bản tăng trưởng. Công văn số 1223/UBND-VX ngày 24/4/2026 triển khai các giải pháp phát triển du lịch góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Công văn số 3472/VP-VX ngày 19/6/2026 về việc tham mưu xây dựng kịch bản tăng trưởng các ngành công nghiệp văn hóa nhằm đảm bảo kết quả tăng trưởng hai con số. Công văn số 2037/UBND-TH ngày 19/6/2026 về xây dựng, rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2026 và đánh giá tiềm năng, lợi thế phát triển tại các xã, phường;
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh
