Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Báo cáo 2907/BC-BDTTG năm 2025 về kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2024 do Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành

Số hiệu 2907/BC-BDTTG
Ngày ban hành 01/12/2025
Ngày có hiệu lực 01/12/2025
Loại văn bản Báo cáo
Cơ quan ban hành Bộ Dân tộc và Tôn giáo
Người ký Y Vinh Tơr
Lĩnh vực Giáo dục,Văn hóa - Xã hội

BỘ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2907/BC-BDTTG

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2025

 

BÁO CÁO

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 2021 - 2024

Thực hiện Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 16/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình công tác năm 2025 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng đối tượng và địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Báo cáo kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phục vụ xây dựng Đề án như sau:

I. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH

1. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước ta; có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), bảo đảm quốc phòng - an ninh; là địa bàn cư trú chủ yếu của 53 DTTS; là vùng có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ bền vững môi trường sinh thái.

Vùng đồng bào DTTS&MN, nhất là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung vẫn là vùng còn nhiều khó khăn, hạ tầng KT-XH thấp kém, kinh tế chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, vẫn là “lõi nghèo” của cả nước; vùng đồng bào DTTS&MN có địa hình hiểm trở, thường xuyên chịu ảnh hưởng và tác động lớn của thiên tai, lũ lụt; nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao so với mức bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống, trình độ phát triển KT-XH giữa các dân tộc, giữa các vùng ngày càng gia tăng; chất lượng hiệu quả về giáo dục đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS gặp nhiều khó khăn; bản sắc văn hóa tốt đẹp của các DTTS đang dần bị mai một. Vùng đồng bào DTTS&MN còn tồn tại một số hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội như nghiện hút, buôn bán và vận chuyển trái phép ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới.... gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tiền ẩn nhiều vấn đề phức tạp, bức xúc. Mặt khác, đa số người dân ở địa bàn này chưa chủ động tìm hiểu pháp luật; khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, không đồng đều; việc giải quyết các quan hệ của đời sống xã hội đôi khi theo truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của từng dân tộc, từng vùng, miền cũng gây ảnh hưởng đến hiệu quả PBGDPL và thực thi pháp luật.

Các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề “quyền của người dân tộc thiểu số” để xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; thúc đẩy các yêu sách ly khai, tự trị dân tộc, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hoạt động tôn giáo luôn tiềm ẩn yếu tố phức tạp. Hoa Kỳ và các nước phương Tây luôn dùng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo gây sức ép trong quan hệ với Việt Nam; các thế lực thù địch, phản động và các đối tượng cực đoan trong các tôn giáo thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, hoạt động chống phá Việt Nam; một số tổ chức, cá nhân lợi dụng tôn giáo để truyền bá tư tưởng cực đoan, hoạt động trái pháp luật, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Vấn đề đất đai, xây dựng cơ sở thờ tự chưa được giải quyết dứt điểm, dễ phát sinh điểm nóng, khiếu kiện, gây mất an ninh trật tự. Xu hướng tôn giáo mới và hoạt động trên không gian mạng phát triển nhanh gây khó khăn cho công tác quản lý do thiểu hành lang pháp lý, dễ bị lợi dụng truyền bá nội dung sai trái, chống phá Nhà nước.

II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI

1. Công tác chỉ đạo, điều hành

a) Công tác tham mưu trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật

Luật PBGDPL xác định người dân ở vùng DTTS & MN, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn là đối tượng đặc thù. Vì vậy, Bộ Dân tộc và Tôn giáo xác định công tác PBGDPL cho vùng đồng bào DTTS&MN là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị; là nhiệm vụ rất quan trọng trong thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Theo đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành một số chương trình, đề án, dự án về PBGDPL và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động PBGDPL cho đối tượng, địa bàn nêu trên như: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2030; giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025[1] (gồm Tiểu dự án 2 của Dự án 9[2], Tiểu dự án 1 của Dự án 10[3]); Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng DTTS giai đoạn 2015-2025”[4]; Đề án “Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng DTTS giai đoạn 2018-2025”[5]; Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đồng bào DTTS phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS Việt Nam giai đoạn 2019 - 2025”[6]; Chính sách "Cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng DTTS &MN, vùng đặc biệt khó khăn"[7]..., đảm bảo công tác PBGDPL cho vùng đồng bào DTTS&MN được thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân.

Ngoài các chương trình, đề án, dự án trên, Bộ Dân tộc và Tôn giáo còn xây dựng Kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện công tác PBGDPL thông qua một số đề án, dự án có liên quan, như: tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS tích cực tham gia vào hoạt động phòng, chống ma túy, HIV/AIDS, mại dâm, chống trồng và tái trồng cây có chứa chất ma túy, mua bán người, chấp hành pháp luật về an toàn giao thông cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN và công tác tuyên truyền cho các DTTS dọc theo tuyến biên giới Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia theo Nghị quyết 16/NQ-CP ngày 01/6/2018 của Chính phủ; tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người có uy tín theo Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg (được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 28/2023/QĐ-TTg); thông tin, tuyên truyền đối ngoại về vùng đồng bào DTTS &MN Quyết định số 2152/QĐ-TTg; tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường... để tổ chức triển khai thực hiện công tác PBDGPL cho vùng đồng bào DTTS&MN sâu rộng, ổn định, thường xuyên.

b) Công tác xây dựng Kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Để tổ chức triển khai thực hiện công tác PBGDPL cho đối tượng đặc thù là đồng bào DTTS có hiệu quả, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện công tác này với các mục tiêu: i) Đưa công tác PBGDPL vào chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị; mỗi cán bộ, công chức, đảng viên xác định việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật, gương mẫu chấp hành pháp luật là nhiệm vụ thường xuyên để từ đó, vận động nhân dân chấp hành, tuân thủ pháp luật; ii) Cùng với việc thực hiện chính sách dân tộc (CSDT), tôn giáo, xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở vùng đồng bào DTTS&MN còn phải “Xóa nghèo pháp luật” cho người dân, giúp cho đồng bào hiểu rằng pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của mình, từ hiểu chính sách, pháp luật sẽ giúp họ chấp hành và thực hiện tốt; iii) Nâng cao hiệu quả PBGDPL với phương châm “Mưa dầm thấm lâu”, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân; iv) Nghiên cứu, đổi mới, nhân rộng mô hình PBGDPL hiệu quả, phù hợp với tập quán, văn hóa truyền thống và khả năng nhận thức pháp luật của người DTTS. Trên cơ sở đó, Bộ đã:

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện công tác PBGDPL cho giai đoạn 2021-2025; đồng thời, hằng năm xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện công tác PBGDPL cho vùng đồng bào DTTS&MN tại các địa phương; chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, chỉ đạo, hướng dẫn về nội dung, hình thức, mô hình PBGDPL để các địa phương tổ chức thực hiện PBGDPL có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với thực tế, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân ở vùng đồng bào DTTS&MN, chú trọng PBGDPL liên quan đến những vấn đề nóng, phức tạp tại địa phương[8]; đôn đốc, đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo cơ quan chuyên môn liên quan xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí tổ chức thực hiện PBGDPL cho đồng bào DTTS theo quy định của Luật PBGDPL gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể tại các Đề án PBGDPL triển khai tại địa phương, đưa công tác PBGDPL cho đồng bào DTTS vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan.

- Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã tổ chức khảo sát thực tế, nắm bắt tình hình, đánh giá nhu cầu để lựa chọn nội dung, hình thức, mô hình PBGDPL phù hợp với đối tượng đặc thù là người DTTS, vùng đồng bào DTTS&MN. Ngoài ra, Bộ cũng chỉ đạo các đơn vị trực thuộc chủ động lồng ghép thực hiện công tác PBGDPL với các Chương trình, Đề án, Dự án khác do Bộ quản lý để đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm; đồng thời, tổ chức sơ kết, tổng kết triển khai thực hiện các Chương trình, Đề án, Dự án để đánh giá những kết quả đã đạt được, khó khăn, vướng mắc và đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp triển khai thực hiện công tác PBGDPL đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở vùng đồng bào DTTS&MN.

UBND các tỉnh/thành phố đã xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện các Chương trình, Đề án, Dự án về PBGDPL khá đồng bộ, hiệu quả[9]; ở một số địa phương Ban Dân tộc các tỉnh đã xây dựng và ký kết Chương trình phối hợp công tác PBGDPL với các ngành, đoàn thể như: Sở Tư pháp, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Tỉnh đoàn, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hạt kiểm lâm[10]... Qua các Chương trình phối hợp đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia thực hiện công tác PBGDPL cho vùng đồng bào DTTS&MN, khuyến khích, tạo điều kiện và huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia thực hiện công tác này. Các cơ quan báo chí ở địa phương đã tích cực tham gia PBGDPL cho đồng bào DTTS tại địa phương.

2. Kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân tộc thiểu số và vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

a) Kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Bộ Dân tộc và Tôn giáo

Trong giai đoạn 2021-2024, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã tổ chức triển khai thực hiện công tác PBGDPL theo các chương trình, đề án, dự án liên quan cho vùng đồng bào DTTS&MN, trong đó, chú trọng các quy định của pháp luật có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đời sống sinh hoạt hàng ngày và tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN[11]; hình thức triển khai thực hiện phong phú, đa dạng để kịp thời cung cấp thông tin pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật cho đồng bào DTTS; đồng thời triển khai các chuyên đề về kỹ năng PBGDPL đặc thù vùng DTTS &MN cho báo cáo viên trên phạm vi toàn quốc, kết quả nổi bật như sau:

- Tổ chức 60 lớp tập huấn[12] về kỹ năng PBGDPL và hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách dân tộc cho 7.408 lượt người; 01 hội thi tìm hiểu pháp luật cấp khu vực[13] (bằng hình thức sân khấu hóa cho 160 thí sinh của 8 đội thi thu hút khoảng 500 người tham dự);

- Tổ chức 05 hội thảo trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm PBGDPL tại 05 khu vực cho 785 đại biểu[14], kịp thời chia sẻ, trao đổi những bài học kinh nghiệm tuyên truyền, phổ biến, thực thi pháp luật và CSDT, mô hình PBGDPL hiệu quả, cách làm hay phù hợp với văn hóa truyền thống, tập quán, điều kiện sinh hoạt thực tế của đối tượng đặc thù là đồng bào DTTS ở từng vùng, miền, địa phương;... nhằm nâng cao hiệu quả PBGDPL, nhất là giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, thúc đẩy bình đẳng giới, bảo vệ môi trường sinh thái ở vùng DTTS&MN.

- Xây dựng, duy trì hoạt động của 8 mô hình điểm ở xã để PBGDPL, vận động đồng bào DTTS[15] để nắm tình hình kinh tế - xã hội, an ninh, trật tự an toàn xã hội, chấp hành pháp luật tại địa bàn, nhất là tình hình vi phạm pháp luật về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống mua, bán người, phòng chống ma túy, pháp luật về hôn nhân và gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới; giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết trong đồng bào DTTS... Từ đó, kịp thời tổ chức các hoạt động PBGDPL; ký cam kết toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên địa bàn xã; đối thoại chính sách pháp luật với người dân; phổ biến pháp luật trên loa truyền thanh cơ sở; lồng ghép nội dung tuyên truyền pháp luật vào sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và các hoạt động khác; biểu dương, khen thưởng gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến trong chấp hành và thực hiện pháp luật tại địa bàn; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị cấp xã trong việc tuyên truyền PBGDPL và phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật.

- Tổ chức biên soạn, phát hành sách, sổ tay, tài liệu song ngữ PBGDPL với số lượng 30.470 cuốn; cung cấp đầu 3.400 cuốn sách pháp luật cho cán bộ ở cơ sở và đồng bào DTTS tham dự các hội nghị, lớp tập huấn và các mô hình, câu lạc bộ ở xã để tra cứu, sử dụng làm tài liệu PBGDPL cho đồng bào DTTS tại cơ sở.

- Phối hợp với Đài Truyền hình, Đài Tiếng nói Việt Nam sản xuất, phát sóng 201 chương trình truyền hình, 1.027 chương trình phát thanh để PBGDPL kịp thời cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Trong đó, chú trọng đến các quy định của pháp luật về chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, khám chữa bệnh, hôn nhân và gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới; giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết; thông tin đối ngoại vùng đồng bào ĐTTS miền núi về hợp tác giao lưu kinh tế, thương mại, văn hóa của Việt Nam với các nước có chung biên giới, tuyên truyền giáo dục, củng cố tăng cường tình hữu nghị của cộng đồng dân tộc thiểu số dọc tuyến biên giới Việt Nam - Lào và Việt Nam - Campuchia.

- Sản xuất 46 bộ băng, đĩa, pa nô, áp phích để tuyên truyền, kịp thời cung cấp thông tin pháp luật cơ bản nhất đến với đồng bào DTTS ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...