Thông báo 216/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại cuộc họp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về tình hình thực hiện chương trình công tác, kế hoạch nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và rà soát cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh theo Kết luận 18-KL/TW do Văn phòng Chính phủ ban hành
| Số hiệu | 216/TB-VPCP |
| Ngày ban hành | 26/04/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 26/04/2026 |
| Loại văn bản | Thông báo |
| Cơ quan ban hành | Văn phòng Chính phủ |
| Người ký | Đỗ Ngọc Huỳnh |
| Lĩnh vực | Bộ máy hành chính |
|
VĂN PHÒNG CHÍNH
PHỦ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 216/TB-VPCP |
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2026 |
KẾT LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ LÊ MINH HƯNG TẠI CUỘC HỌP VỚI BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC, KẾ HOẠCH NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2026 VÀ RÀ SOÁT CẮT GIẢM THỦ TỤC HÀNH CHÍNH, ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THEO KẾT LUẬN SỐ 18-KL/TW NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 2026
Ngày 25 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì cuộc họp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để nghe báo cáo về tình hình thực hiện chương trình công tác, kế hoạch nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và rà soát cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”. Tham dự cuộc họp có Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh; lãnh đạo các Bộ, cơ quan: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tài chính, Công an, Khoa học và Công nghệ, Tư pháp, Nội vụ và Văn phòng Chính phủ.
Sau khi nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ý kiến phát biểu Lãnh đạo các bộ, cơ quan và Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kết luận như sau:
1. Ghi nhận, đánh giá cao cố gắng, nỗ lực và những kết quả quan trọng đạt được của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong thực hiện chương trình công tác và nhiệm vụ được giao. Một số kết quả nổi bật như: thể chế, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, báo chí và truyền thông đã từng bước được hoàn thiện qua đó, tạo được hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng, minh bạch và tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách nhất là đã khẩn trương, chủ động tham mưu, tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; trình Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam tại Kỳ họp thứ Nhất; trình Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW và 03 Nghị định; văn hóa truyền thống, di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy; công nghiệp văn hóa, văn hóa số, kinh tế sáng tạo phát triển mạnh; thể dục, thể thao có bước tiến rõ nét; du lịch tiếp tục là điểm sáng; lần đầu tiên Việt Nam đón 21,5 triệu khách quốc tế/năm, tổng thu du lịch ước đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng (năm 2025); về chuyển đổi số, cơ bản hoàn thành 04 cơ sở dữ liệu (di sản văn hóa, hiện vật, quyền tác giả, báo chí); bước đầu hình thành nền tảng số du lịch quốc gia tích hợp đa nguồn dữ liệu thông tin, báo chí, truyền thông tạo nhiều dấu ấn quan trọng...
2. Bên cạnh kết quả đạt được, lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch còn một số hạn chế, bất cập cần tập trung khắc phục; trong đó, số lượng văn bản, đề án, nhiệm vụ được giao chậm, muộn, chưa hoàn thành còn nhiều; các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật còn chưa đầy đủ, chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, một số lĩnh vực còn thiếu hoặc chưa có luật điều chỉnh; các giá trị đạo đức xã hội, văn hóa gia đình, trường học chưa được quan tâm đứng mức; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; thể thao thành tích cao của Việt Nam còn có khoảng cách khá xa so với châu lục và thế giới; phát triển và đóng góp của du lịch, công nghiệp văn hóa chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ quản lý, cán bộ cấp chiến lược chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực; nguy cơ mai một các nghệ nhân dân gian... Những hạn chế, bất cập nêu trên có cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; trong đó nổi lên là: Quyết tâm chính trị ở một số nơi chưa cao, chậm đổi mới tư duy và phương pháp làm việc; Cơ chế phối hợp liên ngành chưa thật hiệu quả; Kỷ luật, kỷ cương hành chính còn chưa nghiêm; Nguồn lực đầu tư cho văn hóa thể thao và du lịch còn hạn chế...
3. Thời gian tới, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần nỗ lực, cố gắng, quyết tâm cao hơn nữa, hành động quyết liệt, tập trung thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ trưởng Chính phủ; quán triệt tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; lưu ý một số định hướng sau:
a) Tập trung chỉ đạo xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện; chỉ đạo Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế, đổi mới lề lối làm việc, tạo bước chuyển mạnh mẽ, căn bản về tư duy, phương pháp triển khai nhiệm vụ, nhằm tạo bước chuyển căn bản trong chất lượng hiệu quả hoạt động của các đơn vị trong Bộ, tăng cường, đề cao trách nhiệm, thẩm quyền của người đứng đầu, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang phục vụ, kiến tạo, không gian phát triển mới; triển khai cơ chế theo dõi, báo cáo, đánh giá kết quả (KPI), kịp thời thay thế cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, không bảo đảm chất lượng công việc.
b) Khẩn trương thể chế, cụ thể hóa các quan điểm, định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Nghị quyết số 80-NQ/TW; Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; Kết luận số 18-KL/TW, các Chương trình hành động của Chính phủ. Kiên quyết không để chậm, muộn ban hành các văn bản quy định chi tiết các Luật, Nghị quyết của Quốc hội; xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, thời hạn thực hiện, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai; đây là cơ sở để đánh giá cán bộ theo quy định.
c) Tập trung triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, bám sát mục tiêu, nguyên tắc, tiêu chí, đối tượng thụ hưởng, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, có trọng tâm, trọng điểm. Triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm, mang tính dẫn lối, mở đường, tạo sức lan tỏa. Thực hiện hiệu quả Chiến lược, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.
d) Tạo đột phá trong phát triển thể thao Việt Nam; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, y học thể thao và chuyển đổi số trong huấn luyện và thi đấu; thúc đẩy thể dục, thể thao quần chúng, lấy sức khỏe nhân dân làm nền tảng cho sự phát triển của quốc gia, phát động phong trào “Mỗi người dân - Một môn thể thao”.
đ) Tái cấu trúc, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phấn đấu năm 2026 đón 25 triệu lượt khách du lịch quốc tế và phục vụ 150 triệu lượt khách du lịch nội địa.
e) Tăng cường quản lý nhà nước, phát huy vai trò xung kích của báo chí, truyền thông, nhất là trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Chủ động định hướng dư luận; xây dựng không gian truyền thông lành mạnh, hiện đại; hình thành những diễn đàn lý luận văn hóa sắc bén, có tầm ảnh hưởng khu vực; tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin cơ sở.
g) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong toàn ngành văn hóa, thể thao và du lịch; tập trung hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành về văn hóa, thể thao và du lịch; chủ động tái cấu trúc, quy trình thủ tục hành chính trên môi trường số; xác lập các bộ chỉ số đo lường, đánh giá, theo dõi kết quả một số lĩnh vực quản lý của Bộ.
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ tập trung rà soát, thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ được giao theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kết luận số 18-KL/TW, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; không bỏ sót nhiệm vụ, chậm muộn và không bảo đảm chất lượng; trong đó chú trọng một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
a) Về các nhiệm vụ phải hoàn thành ngay trong tháng 4 năm 2026:
- Tập trung xây dựng Nghị quyết của Chính phủ cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo trình tự, thủ tục rút gọn, trình Chính phủ chậm nhất trong ngày 27 tháng 4 năm 2026.
- Khẩn trương hoàn thiện Phương án cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, xây dựng Nghị quyết trình Chính phủ.
- Tập trung hoàn thiện, trình ban hành các văn bản, đề án: (i) 03 Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Báo chí, trình Chính phủ trong tháng 4 năm 2026; (ii) Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2015/NĐ-CP về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại, trình Chính phủ trong tháng 4 năm 2026.
b) Các nhiệm vụ phải hoàn thành trong Quý II năm 2026:
- Nghị định quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản; trình Chính phủ trước ngày 05 tháng 5 năm 2026.
- Nghị định quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp, chế độ bồi dưỡng luyện tập và chế độ bồi dưỡng biểu diễn đối với viên chức, người lao động chuyên môn tại các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị nghệ thuật thuộc lực lượng vũ trang trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; trình Chính phủ trước ngày 10 tháng 5 năm 2026.
- Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 119/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP); trình Chính phủ trước ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao, Luật Du lịch, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản: hoàn thiện hồ sơ, trình Chính phủ trong tháng 6 năm 2026.
- Sửa đổi, bổ sung Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 và Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030; trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 6 năm 2026.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 và xây dựng Chiến lược văn hóa đối ngoại Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6 năm 2026.
- Chú trọng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, trong đó sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nghiên cứu, rà soát, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính để kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia; ban hành đầy đủ các quy định, hướng dẫn trên môi trường số; ứng dụng khoa học công nghệ trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch.
c) Về một số nhiệm vụ trọng tâm khác:
|
VĂN PHÒNG CHÍNH
PHỦ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 216/TB-VPCP |
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2026 |
KẾT LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ LÊ MINH HƯNG TẠI CUỘC HỌP VỚI BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC, KẾ HOẠCH NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2026 VÀ RÀ SOÁT CẮT GIẢM THỦ TỤC HÀNH CHÍNH, ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THEO KẾT LUẬN SỐ 18-KL/TW NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 2026
Ngày 25 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì cuộc họp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để nghe báo cáo về tình hình thực hiện chương trình công tác, kế hoạch nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và rà soát cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”. Tham dự cuộc họp có Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh; lãnh đạo các Bộ, cơ quan: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tài chính, Công an, Khoa học và Công nghệ, Tư pháp, Nội vụ và Văn phòng Chính phủ.
Sau khi nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ý kiến phát biểu Lãnh đạo các bộ, cơ quan và Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kết luận như sau:
1. Ghi nhận, đánh giá cao cố gắng, nỗ lực và những kết quả quan trọng đạt được của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong thực hiện chương trình công tác và nhiệm vụ được giao. Một số kết quả nổi bật như: thể chế, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, báo chí và truyền thông đã từng bước được hoàn thiện qua đó, tạo được hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng, minh bạch và tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách nhất là đã khẩn trương, chủ động tham mưu, tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; trình Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam tại Kỳ họp thứ Nhất; trình Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW và 03 Nghị định; văn hóa truyền thống, di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy; công nghiệp văn hóa, văn hóa số, kinh tế sáng tạo phát triển mạnh; thể dục, thể thao có bước tiến rõ nét; du lịch tiếp tục là điểm sáng; lần đầu tiên Việt Nam đón 21,5 triệu khách quốc tế/năm, tổng thu du lịch ước đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng (năm 2025); về chuyển đổi số, cơ bản hoàn thành 04 cơ sở dữ liệu (di sản văn hóa, hiện vật, quyền tác giả, báo chí); bước đầu hình thành nền tảng số du lịch quốc gia tích hợp đa nguồn dữ liệu thông tin, báo chí, truyền thông tạo nhiều dấu ấn quan trọng...
2. Bên cạnh kết quả đạt được, lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch còn một số hạn chế, bất cập cần tập trung khắc phục; trong đó, số lượng văn bản, đề án, nhiệm vụ được giao chậm, muộn, chưa hoàn thành còn nhiều; các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật còn chưa đầy đủ, chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, một số lĩnh vực còn thiếu hoặc chưa có luật điều chỉnh; các giá trị đạo đức xã hội, văn hóa gia đình, trường học chưa được quan tâm đứng mức; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; thể thao thành tích cao của Việt Nam còn có khoảng cách khá xa so với châu lục và thế giới; phát triển và đóng góp của du lịch, công nghiệp văn hóa chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ quản lý, cán bộ cấp chiến lược chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực; nguy cơ mai một các nghệ nhân dân gian... Những hạn chế, bất cập nêu trên có cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; trong đó nổi lên là: Quyết tâm chính trị ở một số nơi chưa cao, chậm đổi mới tư duy và phương pháp làm việc; Cơ chế phối hợp liên ngành chưa thật hiệu quả; Kỷ luật, kỷ cương hành chính còn chưa nghiêm; Nguồn lực đầu tư cho văn hóa thể thao và du lịch còn hạn chế...
3. Thời gian tới, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần nỗ lực, cố gắng, quyết tâm cao hơn nữa, hành động quyết liệt, tập trung thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ trưởng Chính phủ; quán triệt tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; lưu ý một số định hướng sau:
a) Tập trung chỉ đạo xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện; chỉ đạo Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế, đổi mới lề lối làm việc, tạo bước chuyển mạnh mẽ, căn bản về tư duy, phương pháp triển khai nhiệm vụ, nhằm tạo bước chuyển căn bản trong chất lượng hiệu quả hoạt động của các đơn vị trong Bộ, tăng cường, đề cao trách nhiệm, thẩm quyền của người đứng đầu, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang phục vụ, kiến tạo, không gian phát triển mới; triển khai cơ chế theo dõi, báo cáo, đánh giá kết quả (KPI), kịp thời thay thế cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, không bảo đảm chất lượng công việc.
b) Khẩn trương thể chế, cụ thể hóa các quan điểm, định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Nghị quyết số 80-NQ/TW; Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; Kết luận số 18-KL/TW, các Chương trình hành động của Chính phủ. Kiên quyết không để chậm, muộn ban hành các văn bản quy định chi tiết các Luật, Nghị quyết của Quốc hội; xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, thời hạn thực hiện, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai; đây là cơ sở để đánh giá cán bộ theo quy định.
c) Tập trung triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, bám sát mục tiêu, nguyên tắc, tiêu chí, đối tượng thụ hưởng, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, có trọng tâm, trọng điểm. Triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm, mang tính dẫn lối, mở đường, tạo sức lan tỏa. Thực hiện hiệu quả Chiến lược, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.
d) Tạo đột phá trong phát triển thể thao Việt Nam; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, y học thể thao và chuyển đổi số trong huấn luyện và thi đấu; thúc đẩy thể dục, thể thao quần chúng, lấy sức khỏe nhân dân làm nền tảng cho sự phát triển của quốc gia, phát động phong trào “Mỗi người dân - Một môn thể thao”.
đ) Tái cấu trúc, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phấn đấu năm 2026 đón 25 triệu lượt khách du lịch quốc tế và phục vụ 150 triệu lượt khách du lịch nội địa.
e) Tăng cường quản lý nhà nước, phát huy vai trò xung kích của báo chí, truyền thông, nhất là trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Chủ động định hướng dư luận; xây dựng không gian truyền thông lành mạnh, hiện đại; hình thành những diễn đàn lý luận văn hóa sắc bén, có tầm ảnh hưởng khu vực; tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin cơ sở.
g) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong toàn ngành văn hóa, thể thao và du lịch; tập trung hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành về văn hóa, thể thao và du lịch; chủ động tái cấu trúc, quy trình thủ tục hành chính trên môi trường số; xác lập các bộ chỉ số đo lường, đánh giá, theo dõi kết quả một số lĩnh vực quản lý của Bộ.
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ tập trung rà soát, thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ được giao theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kết luận số 18-KL/TW, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; không bỏ sót nhiệm vụ, chậm muộn và không bảo đảm chất lượng; trong đó chú trọng một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
a) Về các nhiệm vụ phải hoàn thành ngay trong tháng 4 năm 2026:
- Tập trung xây dựng Nghị quyết của Chính phủ cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo trình tự, thủ tục rút gọn, trình Chính phủ chậm nhất trong ngày 27 tháng 4 năm 2026.
- Khẩn trương hoàn thiện Phương án cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, xây dựng Nghị quyết trình Chính phủ.
- Tập trung hoàn thiện, trình ban hành các văn bản, đề án: (i) 03 Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Báo chí, trình Chính phủ trong tháng 4 năm 2026; (ii) Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2015/NĐ-CP về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại, trình Chính phủ trong tháng 4 năm 2026.
b) Các nhiệm vụ phải hoàn thành trong Quý II năm 2026:
- Nghị định quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản; trình Chính phủ trước ngày 05 tháng 5 năm 2026.
- Nghị định quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp, chế độ bồi dưỡng luyện tập và chế độ bồi dưỡng biểu diễn đối với viên chức, người lao động chuyên môn tại các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị nghệ thuật thuộc lực lượng vũ trang trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; trình Chính phủ trước ngày 10 tháng 5 năm 2026.
- Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 119/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP); trình Chính phủ trước ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao, Luật Du lịch, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản: hoàn thiện hồ sơ, trình Chính phủ trong tháng 6 năm 2026.
- Sửa đổi, bổ sung Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 và Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030; trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 6 năm 2026.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 và xây dựng Chiến lược văn hóa đối ngoại Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6 năm 2026.
- Chú trọng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, trong đó sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nghiên cứu, rà soát, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính để kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia; ban hành đầy đủ các quy định, hướng dẫn trên môi trường số; ứng dụng khoa học công nghệ trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch.
c) Về một số nhiệm vụ trọng tâm khác:
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương rà soát, cập nhật danh mục nhiệm vụ trọng tâm cần phải thực hiện theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kết luận số 18-KL/TW, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ; xác định rõ các nhiệm vụ công việc và phân công nhiệm vụ theo tinh thần “6 rõ”; tập trung tổ chức thực hiện hiệu quả, kiên quyết không để chậm muộn.
- Chuẩn bị chu đáo và tổ chức thành công các sự kiện chính trị - văn hóa quan trọng của đất nước năm 2026.
- Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, ổn định hoạt động của toàn ngành văn hóa, thể thao và du lịch, bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, thể thao, du lịch đến năm 2030.
- Về kế hoạch đầu tư công trung hạn: Yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ động đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án đã được phân bổ năm 2026; chủ động phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030.
d) Yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải chủ động hơn, quyết liệt hơn; sâu sát hơn, hiệu quả hơn; tập trung tháo gỡ điểm nghẽn để văn hóa thực sự là “nền tảng tinh thần”, “nguồn lực nội sinh”, “sức mạnh mềm” thúc đẩy tăng trưởng; du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; thể dục, thể thao góp phần quan trọng nâng cao tầm vóc, thể lực, sức khỏe cho Nhân dân.
5. Về các kiến nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
a) Về việc xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều, khoản của Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 4 năm 2026): Giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ làm rõ hình thức văn bản của Chính phủ để triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, xây dựng và trình Chính phủ trước ngày 10 tháng 5 năm 2026.
c) Về việc xây dựng Nghị quyết của Chính phủ về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam (Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã cho chủ trương về xây dựng dự án Luật Công nghiệp văn hóa, hoàn thành năm 2028-2029): Giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan liên quan thống nhất hình thức văn bản của Chính phủ; xây dựng và trình Chính phủ trong tháng 6 năm 2026; đồng thời khẩn trương nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Công nghiệp văn hóa để trình cấp có thẩm quyền theo quy định, mục tiêu trình tại Kỳ họp thứ II của Quốc hội khóa XVI.
d) Về đề nghị xem xét, bổ sung chỉ tiêu các ngành công nghiệp văn hóa vào danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia: Đồng ý về chủ trương, giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn phương pháp để bổ sung vào danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia.
đ) Về kiến nghị trong việc phối hợp triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tại các kịch bản tăng trưởng du lịch, công nghiệp văn hóa năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch căn cứ thực tiễn phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch Việt Nam những năm vừa qua để chủ động xây dựng kịch bản tăng trưởng cho các lĩnh vực này trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030, bảo đảm khả thi. Yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổ chức thực hiện; báo cáo cấp có thẩm quyền những vấn đề vượt thẩm quyền.
e) Liên quan đến xử lý khoản nợ tiền thuê đất của Khu Liên hợp Thể thao quốc gia theo Kết luận số 106/KL-TTCP ngày 11 tháng 5 năm 2021 của Thanh tra Chính phủ: Giao Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chủ trì họp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ, các cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nghiên cứu, đề xuất phương án chuyển giao Khu Liên hợp Thể thao quốc gia, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 5 năm 2026; khẩn trương hoàn tất thủ tục chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam theo đúng quy định.
6. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà theo dõi, trực tiếp chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai các nhiệm vụ về văn hóa, thể thao và du lịch, báo chí và truyền thông; hoàn thành bảo đảm chất lượng, tiến độ đối với các nhiệm vụ Bộ Chính trị, Tổng Bí thư giao tại Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kết luận số 18-KL/TW; Văn phòng Chính phủ báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo Bộ Tài chính bảo đảm nguồn lực tài chính chi cho lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, nhất là thực hiện các nhiệm vụ giao tại Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Văn phòng Chính phủ thông báo để các Bộ, cơ quan liên quan biết, thực hiện./.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG,
CHỦ NHIỆM |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh