Quyết định 3123/QĐ-UBND năm 2025 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề gắn với cung ứng và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 - 2030”
| Số hiệu | 3123/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 19/12/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 19/12/2025 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Gia Lai |
| Người ký | Lâm Hải Giang |
| Lĩnh vực | Lao động - Tiền lương |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3123/QĐ-UBND |
Gia Lai, ngày 19 tháng 12 năm 2025 |
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Việc làm ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030;
Căn cứ Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
Căn cứ Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Căn cứ Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nội vụ.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Đào tạo nghề gắn với cung ứng và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 - 2030”.
Điều 2. Giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các xã, phường tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án kèm theo Quyết định này.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các Sở, ngành: Nội vụ; Tài chính; Giáo dục và Đào tạo; Công Thương; Nông nghiệp và Môi trường; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Dân tộc và Tôn giáo; Công an tỉnh; Trưởng ban Ban Quản lý khu kinh tế; Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh; Hiệu trưởng các Trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
ĐÀO TẠO NGHỀ GẮN VỚI CUNG ỨNG VÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
(Kèm theo Quyết định số 3123/QĐ-UBND ngày 19/12/2025 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Gia Lai)
Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động và nâng cao thu nhập cho người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và thị trường lao động. Trong thời gian qua, các cấp, các ngành và các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng cường kết nối cung – cầu lao động, qua đó đã giúp người lao động tìm kiếm việc làm phù hợp, đáp ứng cơ bản nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp. Giai đoạn 2021 – 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 291.731 lao động (bình quân mỗi năm 58.346 lao động), tỷ lệ lao động qua đào tạo dự kiến đạt 65,36% vào cuối năm 2025.
Bên cạnh những kết quả đạt được, qua rà soát, tổng hợp cho thấy, công tác tư vấn, kết nối việc làm, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ kết nối việc làm thành công chưa cao; số lượng người lao động của tỉnh dịch chuyển vào làm việc ở các tỉnh phía Nam có xu hướng ngày càng tăng; tình trạng thiếu lao động cục bộ đã xảy ra trên địa bàn tỉnh, tập trung vào các ngành sử dụng lao động (may mặc, gỗ, …). Đồng thời, qua phân tích dữ liệu về người lao động (từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư) cho thấy còn tồn tại một số hạn chế như: người lao động thất nghiệp còn nhiều, nhất là thất nghiệp khu vực thành thị và thiếu việc làm ở khu vực nông thôn; tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao; công tác quản lý lao động thiếu tính đồng bộ, dữ liệu lao động chưa được cập nhật thường xuyên, đầy đủ, gây khó khăn cho công tác dự báo, hoạch định các chính sách liên quan đến lao động, việc làm.
Trong thời gian đến, dự báo kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai ngày càng phát triển, với nhiều khu, cụm công nghiệp, dự án đầu tư đi vào hoạt động, thu hút hàng chục nghìn lao động mỗi năm. Do đó, cần thiết phải ban hành Đề án “Đào tạo nghề gắn với cung ứng và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 - 2030” nhằm xác định cụ thể các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề gắn với cung ứng và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong thời gian tới. Đồng thời, giúp các cơ quan quản lý thống kê đầy đủ, chính xác tình hình lao động, việc làm, phục vụ công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng lao động, giúp người lao động tìm kiếm được việc làm phù hợp.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3123/QĐ-UBND |
Gia Lai, ngày 19 tháng 12 năm 2025 |
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Việc làm ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030;
Căn cứ Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
Căn cứ Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Căn cứ Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nội vụ.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Đào tạo nghề gắn với cung ứng và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 - 2030”.
Điều 2. Giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các xã, phường tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án kèm theo Quyết định này.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các Sở, ngành: Nội vụ; Tài chính; Giáo dục và Đào tạo; Công Thương; Nông nghiệp và Môi trường; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Dân tộc và Tôn giáo; Công an tỉnh; Trưởng ban Ban Quản lý khu kinh tế; Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh; Hiệu trưởng các Trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
ĐÀO TẠO NGHỀ GẮN VỚI CUNG ỨNG VÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
(Kèm theo Quyết định số 3123/QĐ-UBND ngày 19/12/2025 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Gia Lai)
Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động và nâng cao thu nhập cho người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và thị trường lao động. Trong thời gian qua, các cấp, các ngành và các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng cường kết nối cung – cầu lao động, qua đó đã giúp người lao động tìm kiếm việc làm phù hợp, đáp ứng cơ bản nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp. Giai đoạn 2021 – 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 291.731 lao động (bình quân mỗi năm 58.346 lao động), tỷ lệ lao động qua đào tạo dự kiến đạt 65,36% vào cuối năm 2025.
Bên cạnh những kết quả đạt được, qua rà soát, tổng hợp cho thấy, công tác tư vấn, kết nối việc làm, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ kết nối việc làm thành công chưa cao; số lượng người lao động của tỉnh dịch chuyển vào làm việc ở các tỉnh phía Nam có xu hướng ngày càng tăng; tình trạng thiếu lao động cục bộ đã xảy ra trên địa bàn tỉnh, tập trung vào các ngành sử dụng lao động (may mặc, gỗ, …). Đồng thời, qua phân tích dữ liệu về người lao động (từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư) cho thấy còn tồn tại một số hạn chế như: người lao động thất nghiệp còn nhiều, nhất là thất nghiệp khu vực thành thị và thiếu việc làm ở khu vực nông thôn; tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao; công tác quản lý lao động thiếu tính đồng bộ, dữ liệu lao động chưa được cập nhật thường xuyên, đầy đủ, gây khó khăn cho công tác dự báo, hoạch định các chính sách liên quan đến lao động, việc làm.
Trong thời gian đến, dự báo kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai ngày càng phát triển, với nhiều khu, cụm công nghiệp, dự án đầu tư đi vào hoạt động, thu hút hàng chục nghìn lao động mỗi năm. Do đó, cần thiết phải ban hành Đề án “Đào tạo nghề gắn với cung ứng và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 - 2030” nhằm xác định cụ thể các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề gắn với cung ứng và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong thời gian tới. Đồng thời, giúp các cơ quan quản lý thống kê đầy đủ, chính xác tình hình lao động, việc làm, phục vụ công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ doanh nghiệp tuyển dụng lao động, giúp người lao động tìm kiếm được việc làm phù hợp.
- Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” và Kết luận số 91-KL/TW, ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW;
- Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày 4/5/2023 của Ban Bí thư về đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn;
- Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới;
- Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
- Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
- Kế hoạch hành động số 16-KH/TU, ngày 21/8/2025 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Bộ Luật lao động 2019;
- Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014;
- Luật Việc làm năm 2025;
- Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
- Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
- Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
- Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW.
- Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 05/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030.
- Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
- Quyết định số 1619/QĐ-TTg ngày 14/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Bình Định thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 1750/QĐ-TTg ngày 30/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 1161/QĐ-UBND ngày 04/4/2024 của UBND tỉnh Bình Định về việc ban hành kế hoạch chuyển đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2024-2030.
- Quyết định số 1905/QĐ-UBND ngày 24/9/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai về việc phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.
Tỉnh Gia Lai có diện tích tự nhiên là 21.576,53 km2 (đứng thứ hai cả nước sau tỉnh Lâm Đồng). Toàn tỉnh có 135 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 110 xã và 25 phường. Quy mô dân số năm 2024[1] là 3.153.349 người, trong đó dân số nữ là 1.549.697 người, chiếm tỷ lệ 49,19%; dân số nam là 1.603.352 người, chiếm 50,81%; dân số khu vực thành thị là 1,11 triệu người, chiếm tỷ lệ 35,25%, dân số khu vực nông thôn là 2,039 triệu người, chiếm tỷ lệ 64,75%; Dân tộc thiểu số chủ yếu là: Jrai, Bahnar, Hrê, chiếm 25,9% dân số. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khoảng 1,806 triệu người chiếm tỷ lệ 57,3% tổng dân số. Số lao động đang làm việc trong nền kinh tế khoảng 1,791 triệu người, chiếm tỷ lệ 56,8% dân số toàn tỉnh.
Ước đến cuối năm 2025[2], dân số tỉnh Gia Lai khoảng 3.184.958 người (tăng 31.609 người so với năm 2024). Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khoảng 1,831 triệu người chiếm tỷ lệ 57,5% tổng dân số (phụ lục 1 kèm theo), trong đó lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp khoảng trên 271 nghìn người.
II. KẾT QUẢ ĐÀO TẠO, TƯ VẤN, GIỚI THIỆU VIỆC LÀM, CUNG ỨNG LAO ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN 2021-2025
- Hiện nay, toàn tỉnh có 02 Trường đại học và các phân hiệu trường đại học[3] với quy mô tuyển sinh/tốt nghiệp khoảng 5.000 sinh viên/năm với đa dạng các ngành/chuyên ngành đào tạo.
- Ngoài ra, tính đến ngày 01/8/2025, trên địa bàn tỉnh Gia Lai (mới) có 49 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp, gồm: 07 trường cao đẳng (trong đó, 01 trường đặt phân hiệu, 01 trường đặt địa điểm liên kết đào tạo); 04 trường trung cấp (đặt lớp liên kết đào tạo); 08 trung tâm GDNN; 24 trung tâm GDNN-GDTX; 02 trung tâm khác và 04 doanh nghiệp có tham gia đào tạo nghề nghiệp. Theo loại hình sở hữu: có 31 cơ sở công lập và 18 cơ sở tư thục. Hàng năm, số học sinh, sinh viên, học viên tuyển mới khoảng 36.716 người/năm, bao gồm: trình độ cao đẳng 1.748 người, trình độ trung cấp 2.228 người, trình độ sơ cấp và đào tạo nghề nghiệp khác 32.740 người. Số học sinh, sinh viên được cấp bằng/chứng chỉ sơ cấp/chứng chỉ đào tạo tốt nghiệp ra trường khoảng 26.991 người/năm, gồm: trình độ cao đẳng 1.265 người, trình độ trung cấp 1.494 người, trình độ sơ cấp 24.232 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo hàng năm tăng 2%.
Giai đoạn 2021-2024, số học sinh, sinh viên, học viên tuyển mới là 146.864 người, bao gồm: trình độ cao đẳng 6.990 người, trình độ trung cấp 8.913 người, trình độ sơ cấp và đào tạo nghề nghiệp khác 130.961 người (Trong đó: đào tạo nghề từ nguồn kinh phí sự nghiệp địa phương, các Chương trình mục tiêu quốc gia là 23.727 lao động nông thôn). Số học sinh, sinh viên được cấp bằng/chứng chỉ sơ cấp/chứng chỉ đào tạo tốt nghiệp ra trường là 107.963 người, gồm: trình độ cao đẳng 5.059 người, trình độ trung cấp 5.976 người, trình độ sơ cấp và đào tạo nghề nghiệp khác 96.928 người. Góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo hàng năm trên 2%, đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết HĐND tỉnh giao. Dự kiến năm 2025, số học sinh, sinh viên, học viên tuyển mới là 33.600 người, gồm: trình độ cao đẳng 2.100 người, trình độ trung cấp 1.920 người, trình độ sơ cấp và đào tạo nghề nghiệp khác 29.580 người (trong đó: lao động nông thôn 6.274 người); số học sinh, sinh viên được cấp bằng/chứng chỉ sơ cấp/chứng chỉ đào tạo tốt nghiệp ra trường là 28.133 người, gồm: trình độ cao đẳng 1.450 người, trình độ trung cấp 1.535 người, trình độ sơ cấp và đào tạo nghề nghiệp khác 25.148 người, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 66,3%.
2. Tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 01 trung tâm dịch vụ việc làm (là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Nội vụ). Trong những năm qua, hoạt động giới thiệu việc làm, cung ứng lao động được thực hiện qua nhiều hình thức[4], đã tạo cơ hội cho người lao động, người sử dụng lao động và các cơ sở đào tạo tiếp cận về thông tin thị trường lao động đầy đủ hơn; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong việc học nghề và tìm kiếm việc làm. Kết quả, giai đoạn 2021 - 2025, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Gia Lai cung ứng và giới thiệu việc làm cho 40.029 người, tỷ lệ kết nối việc làm thành công đạt 22,63%.
- Sau sáp nhập, tỉnh Gia Lai có thị trường lao động rộng lớn với sự kết hợp hai vùng Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung bộ; lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh tương đối dồi dào (chiếm khoảng 57,5% tổng dân số), giúp đảm bảo nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ.
- Mạng lưới các cơ sở đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát triển, trong đó có Trường Đại học, Cao đẳng và nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp; chất lượng đào tạo từng bước được nâng cao, đáp ứng nhu cầu cơ bản của thị trường lao động địa phương.
- Khu kinh tế Nhơn Hội và các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đang phát triển mạnh, tạo nhiều cơ hội việc làm tại chỗ, giảm tình trạng di cư lao động; giúp người lao động có cơ hội tiếp cận việc làm nhiều hơn; tạo sự dịch chuyển lao động theo hướng tích cực, thu hút người lao động từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.
- Chất lượng lao động chưa cao, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp so với mặt bằng chung cả nước; kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ, tin học, tác phong công nghiệp của một bộ phận lớn lao động còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và chuyển dịch cơ cấu lao động.
- Cơ cấu ngành nghề chưa đồng bộ, lao động vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực nông nghiệp và các ngành nghề truyền thống, trong khi đó nhu cầu tuyển dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật cao trong công nghiệp - dịch vụ chưa được đáp ứng đầy đủ.
- Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ kết nối việc làm thành công chưa cao.
- Một bộ phận không nhỏ lao động trẻ di chuyển đến các tỉnh, thành phố phía nam để tìm việc làm, gây thiếu hụt nguồn nhân lực tại địa phương, nhất là trong giai đoạn cao điểm sản xuất đối với các ngành thâm dụng lao động.
- Tác động của yếu tố khách quan, biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh đã ảnh hưởng đến thị trường lao động, đặc biệt là khu vực nông thôn, làm tăng nguy cơ thất nghiệp và thiếu việc làm cục bộ. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực phi chính thức còn cao, người lao động có khả năng gặp rủi ro khi mất việc làm mà không được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc như lao động làm việc ở khu vực chính thức.
- Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều, một bộ phận người dân còn lười lao động, tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của nhà nước.
a) Nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao:
- Đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, tạo ra nhu cầu lớn về lao động có kỹ năng nghề nghiệp được đào tạo bài bản trong các ngành như công nghệ thông tin, cơ điện tử, logistics, du lịch, và nông nghiệp công nghệ cao. Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) cũng đặt ra yêu cầu chất lượng lao động cao và chuyên môn hóa, mở ra cơ hội cho các cơ sở đào tạo nghề liên kết, cung cấp nguồn nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp.
- Nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, cụm công nghiệp mới đang được đầu tư xây dựng nên có nhu cầu về lao động kĩ thuật, vận hành máy, dịch vụ hỗ trợ… Đây là cơ hội để địa phương liên kết doanh nghiệp đặt hàng đào tạo, đảm bảo đầu ra cho người học. Đồng thời, lao động nông nghiệp đang chuyển sang công nghiệp và dịch vụ, nhu cầu học nghề, chuyển đổi nghề, cập nhật kỹ năng nghề ngày càng tăng. Các cơ sở đào tạo có cơ hội mở rộng quy mô, đa dạng ngành nghề.
b) Sự thay đổi và phát triển của công nghệ:
- Chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra các nghề mới trong lĩnh vực dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), an ninh mạng, thương mại điện tử, tạo động lực mạnh mẽ buộc người lao động phải học các kỹ năng số và kỹ năng thích ứng để làm chủ công nghệ mới. Nhu cầu đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động để tránh bị đào thải là rất cần thiết.
- Hình thức đào tạo được mở rộng, đa dạng, linh hoạt, nhiều công nghệ hiện nay cho phép triển khai các mô hình đào tạo trực tuyến (online), đào tạo kết hợp (blended learning), giúp người lao động dễ dàng tiếp cận các khóa học mọi lúc, mọi nơi.
c) Cơ chế, chính sách của Nhà nước:
- Luật Việc làm, Luật Giáo dục nghề nghiệp và hệ thống các văn bản hướng dẫn hỗ trợ học nghề, việc làm từng bước được ban hành hoàn thiện. Ngân sách cho đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ học phí… được bố trí đầy đủ tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ cho người lao động, nhất là lao động yếu thế, lao động nông thôn.
- Các chính sách hỗ trợ thuộc chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục được triển khai thực hiện nhằm gắn kết đào tạo nghề với thị trường lao động và giải quyết việc làm bền vững (như hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, người khuyết tật, người bị ảnh hưởng do dịch chuyển cơ cấu kinh tế).
- Hoạt động liên kết hợp tác giữa Doanh nghiệp - Nhà trường từng bước được gắn kết. Doanh nghiệp được tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, cung cấp trang thiết bị, và nhận học viên vào thực tập, cam kết tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.
- Chất lượng đào tạo chưa đồng đều, nhiều cơ sở đào tạo có trang thiết bị lạc hậu, chương trình chậm cập nhật. Người học sau khi tốt nghiệp còn yếu về tay nghề và kỹ năng làm việc, khiến doanh nghiệp phải đào tạo lại. Khoảng cách giữa kỹ năng được dạy và kỹ năng thị trường cần vẫn còn rộng.
- Thiếu thông tin thị trường lao động. Dữ liệu về nhu cầu tuyển dụng, mức lương, ngành nghề thiếu hụt nhân lực… chưa được cập nhật theo thời gian thực. Cả người học, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp đều khó đoán chính xác nhu cầu, dẫn đến đào tạo không sát thực tế.
- Tâm lý chuộng bằng cấp vẫn còn, một bộ phận người dân, học sinh vẫn xem đại học là “lối đi duy nhất”. Điều này làm nhiều ngành nghề kỹ thuật, công nghiệp, dịch vụ chất lượng cao dù có thu nhập tốt vẫn khó tuyển sinh, khiến cung - cầu lao động lệch pha.
- Doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào đào tạo, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ nguồn lực để phối hợp xây dựng chương trình hoặc tiếp nhận thực hành. Nhiều cơ sở đào tạo còn thụ động, dẫn đến mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp khó triển khai rộng.
- Lao động nông thôn, lao động yếu thế gặp rào cản khi học nghề. Người lao động lớn tuổi, khó khăn kinh tế, thiếu thời gian, thiếu động lực… làm cho việc tham gia học nghề không dễ dàng. Khoảng cách giữa nhu cầu hỗ trợ và khả năng tiếp cận vẫn chưa được thu hẹp.
- Yêu cầu kỹ năng thay đổi quá nhanh. Công nghệ mới liên tục xuất hiện. Một người học nghề hôm nay có thể thấy nghề mình thay đổi chỉ sau vài năm. Cơ sở đào tạo phải chạy đua để cập nhật chương trình, trong khi người lao động phải chấp nhận “học suốt đời” để không tụt lại.
- Nhu cầu lao động theo mùa vụ và thiếu việc làm bền vững. Một số ngành có nhu cầu lớn nhưng chỉ mang tính ngắn hạn. Điều này tạo áp lực trong việc định hướng nghề, đảm bảo việc làm dài hơi, ổn định cho người lao động.
- Chuyển đổi số đòi hỏi hạ tầng mạnh, để đưa công nghệ vào đào tạo (mô phỏng ảo, học trực tuyến, thực hành số), các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đầu tư lớn về thiết bị, phần mềm, giảng viên.
- Thu nhập của người lao động trong tỉnh chưa cao, cơ hội nghề nghiệp cho người lao động còn ít so với các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội... dẫn đến giới trẻ có xu hướng di chuyển đến các đô thị lớn để làm việc. Nguy cơ thiếu hụt lao động trẻ có chuyên môn.
DỰ BÁO NHU CẦU LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
I. NHU CẦU LAO ĐỘNG GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
Tổng số nhu cầu lao động của các doanh nghiệp, dự án trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 201.423 người[5]. Trong đó:
1. Đối với các doanh nghiệp/dự án đã đi vào hoạt động có nhu cầu tuyển dụng thêm 60.153 lao động (chi tiết phụ lục 3 kèm theo), trong đó:
|
STT |
KCN/CCN/ Ngoài Khu, cụm công nghiệp |
Dự kiến nhu cầu tuyển dụng lao động (người) |
|
I |
Khu vực Đông Gia Lai |
35.787 |
|
1 |
Khu công nghiệp |
13.871 |
|
2 |
Cụm công nghiệp |
6.329 |
|
3 |
Ngoài Khu, cụm công nghiệp |
15.587 |
|
II |
Khu vực Tây Gia Lai |
24.366 |
|
1 |
Khu công nghiệp |
1.272 |
|
2 |
Cụm công nghiệp |
225 |
|
3 |
Ngoài Khu, cụm công nghiệp |
22.869 |
|
|
Tổng (I+ II) |
60.153 |
2. Đối với các dự án chuẩn bị thu hút đầu tư có nhu cầu tuyển dụng thêm 141.270 lao động (chi tiết phụ lục 4, 4.1, 4.2, 4.3 kèm theo), trong đó:
|
STT |
KKT/KCN/CCN/ Ngoài Khu, cụm công nghiệp |
Tổng số |
|
|
Dự án |
Dự kiến nhu cầu tuyển dụng lao động |
||
|
I |
Khu vực Đông Gia Lai |
714 |
100.480 |
|
1 |
Khu công nghiệp |
145 |
37.420 |
|
2 |
Cụm công nghiệp |
200 |
20.000 |
|
3 |
Ngoài Khu, cụm công nghiệp |
369 |
43.060 |
|
II |
Khu vực Tây Gia Lai |
462 |
40.790 |
|
1 |
Khu công nghiệp |
90 |
4.700 |
|
2 |
Cụm công nghiệp |
170 |
17.000 |
|
3 |
Ngoài Khu, cụm công nghiệp |
202 |
19.090 |
|
|
Tổng (I+ II) |
1.176 |
141.270 |
II. KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU LAO ĐỘNG (NGUỒN CUNG LAO ĐỘNG)
1. Nguồn lao động chưa có việc làm
1.1. Đối với khu vực chính thức
Số lao động chưa có việc làm khoảng 16.811 người (từ nguồn hưởng bảo hiểm thất nghiệp).
1.2. Đối với khu vực phi chính thức
Số lao động chưa có việc làm khoảng 16.646 người, chủ yếu là lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ thu nhập thấp, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, ngư dân, người lao động thuộc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp. Ngoài ra, còn một số nhóm đối tượng đặc thù khác như: Quân nhân xuất ngũ dự kiến khoảng 10.000 người; Người chấp hành xong án phạt tù khoảng 506 người. Trong đó, số lao động cần hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề dự kiến:
- Lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo chưa có việc làm khoảng 5.364 người, trong đó số lao động có nhu cầu học nghề, chuyển đổi nghề khoảng 2.942 người.
- Lao động thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số chưa có việc làm khoảng 5.158 người, trong đó số lao động có nhu cầu học nghề chuyển đổi nghề khoảng 3.468 người.
- Lao động là ngư dân: hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 5.793 chiếc tàu đăng ký hoạt động khai thác hải sản, với khoảng 39.081 ngư dân, trong đó có 509 tàu có nhu cầu xả bản, 499 tàu không đủ điều kiện hoạt động với khoảng 2.966 ngư dân cần hỗ trợ chuyển đổi nghề[6].
- Lao động là diêm dân hiện nay tập trung chủ yếu ở 02 xã An Lương và Đề Gi với khoảng 2.166 người (trong đó xã An Lương: 1.126 người, xã Đề Gi: 1.040 người) là nhóm đối tượng có mức thu nhập thấp, đời sống chưa ổn định.
- Người chấp hành xong án phạt tù: hiện nay, số người thuộc diện tái hòa nhập cộng đồng đang quản lý là 5.272 người, trong đó chấp hành xong án phạt tù là 4.457 người, đặc xá: 815 người, trong số đó có khoảng 506 người chưa có việc làm.
- Nhóm đối tượng là quân nhân xuất ngũ: khoảng 2.000 người/năm.
- Nhóm đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp: Trong giai đoạn tới, trên địa bàn tỉnh có một số dự án trọng điểm tác động đến đời sống một bộ phận người dân như dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, dự án cao tốc Quy Nhơn – Pleiku, dự án công trình giao thông khác ảnh hưởng đến khoảng hơn 2.500 hộ dân, trong đó dự kiến khoảng 2.000 người cần được hỗ trợ học nghề, chuyển đổi nghề.
(Chi tiết theo phụ lục 5 kèm theo)
Số lao động trên địa bàn tỉnh đang làm việc ở khu vực phi chính thức 1.493.565 người (chiếm 83,36% so với số lao động đang làm việc).
4. Nguồn lao động tỉnh Gia Lai đang làm việc tại các tỉnh khác
Qua khảo sát, số lao động của tỉnh Gia Lai đang sinh sống và làm việc tại các tỉnh, thành khác khoảng 145.000 người (có tham gia bảo hiểm xã hội tại các tỉnh, thành khác).
5. Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu lao động
- Lao động phi chính thức và lao động chưa có việc làm trên địa bàn tỉnh hiện nay tương đối lớn, khả năng đáp ứng được nhu cầu lao động của các doanh nghiệp/dự án trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các địa phương trên địa bàn tỉnh.
- Đối với một số ngành có nhu cầu tuyển dụng lao động lớn như: thương mại, dịch vụ và du lịch; đặc biệt là ngành công nghiệp phần mềm, công nghệ thông tin (giai đoạn 2026 - 2030 có nhu cầu tuyển dụng lao động 18.635 người), cần có chính sách thu hút người học; các cơ sở giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp cần tuyển sinh trên toàn tỉnh và các tỉnh/thành phố lân cận để đào tạo, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp.
- Đối với một số ngành thâm dụng lao động (cần sử dụng nhiều lao động) như may mặc; hoặc cần tuyển dụng nhiều lao động nhưng hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có cơ sở đào tạo như chế biến gỗ, chế biến thủy sản, cần có chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp tự đào tạo cho người lao động, giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí, đồng thời gắn với từng vị trí việc làm, đáp ứng được nhu cầu lao động trong doanh nghiệp mà doanh nghiệp không cần phải đào tạo lại.
- Riêng đối với một số ngành, lĩnh vực mới như năng lượng (phát triển công nghiệp năng lượng mới, hydrogen xanh, amoniac xanh, LNG...) cần có chính sách thu hút người học; khuyến khích, tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh mở ngành đào tạo để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.
- Đối với ngành trồng, chế biến các sản phẩm từ cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, cần tiếp tục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về trình độ, kiến thức chuyên môn, kỹ năng lao động,… để nâng cao năng suất lao động, đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp.
- Bên cạnh đó, số lao động của tỉnh Gia Lai đang sinh sống và làm việc tại các tỉnh khác tương đối lớn (chiếm 7,91% lực lượng lao động của tỉnh). Trong thời gian đến nếu các doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định, phát triển tốt, thực hiện chi trả tiền lương, các chế độ phúc lợi tốt (tiền ăn, nhà ở, tiền thưởng, tiền nghỉ lễ,…) thì người lao động của tỉnh đang làm việc tại các tỉnh thành khác sẽ có xu hướng dịch chuyển về lại tỉnh Gia Lai để làm việc, đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng như hiện nay.
1. Mục đích
- Quản lý và điều tiết phát triển thị trường lao động hiện đại, linh hoạt và hiệu quả; tạo điều kiện để dịch chuyển lao động từ khu vực có năng suất lao động thấp sang khu vực có năng suất lao động cao hơn; từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức.
- Phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đáp ứng quá trình công nghiệp hóa; đẩy mạnh việc đổi mới hình thức đào tạo, trong đó triển khai các giải pháp đột phá về phát triển nguồn nhân lực, đầu tư mạnh mẽ vào con người, trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, chủ động thích ứng với xu hướng già hóa dân số và sẵn sàng cho Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý nguồn nhân lực và tổ chức vận hành các yếu tố của thị trường lao động để có sự đột phá trong công tác quản lý nhà nước và hoạt động của thị trường lao động.
2. Yêu cầu
Tăng cường sự gắn kết giữa chính quyền các cấp; cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; ngân hàng chính sách xã hội; doanh nghiệp; người lao động để gắn việc đào tạo theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.
1. Mục tiêu chung
- Người lao động trên địa bàn tỉnh có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có cơ hội tiếp cận thông tin thị trường lao động, tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng và nguyện vọng.
- Hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư tuyển dụng lao động, đảm bảo về số lượng và chất lượng theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh, trong đó ưu tiên lao động tại địa phương.
- Tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường lao động, góp phần huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, đảm bảo kết nối thị trường lao động trong tỉnh với các tỉnh, thành phố trong nước và thị trường lao động quốc tế.
2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 75,2%, trong đó phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 30% trở lên và tỷ lệ lao động có trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên đạt 25% vào năm 2030.
- Đáp ứng trên 90% nhu cầu lao động của các doanh nghiệp/nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh.
- Phấn đấu tỷ lệ thất nghiệp chung ở mức dưới 3% và tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4% vào năm 2030.
- Thường xuyên rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp/nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, thu hút lao động vào làm việc.
- Có chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình đăng ký thành lập và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp để thu hút, sử dụng lao động chính thức, chuyển dần lao động phi chính thức sang chính thức.
- Tổ chức triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ người lao động học nghề, giải quyết việc làm (các văn bản phụ lục 6 kèm theo).
- Chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội.
- Chính sách thu hút nguồn nhân lực trình độ cao nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo đảm bảo phương châm “Dạy tốt - Học tốt”, “Thầy giỏi - Trò giỏi”.
- Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao và tay nghề cao vào làm việc trong các doanh nghiệp.
- Chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động trong công tác đào tạo nguồn nhân lực đối với các ngành nghề, đặc biệt là các ngành thâm dụng lao động, các cơ sở đào tạo chưa đáp ứng hoặc cơ sở đào tạo chưa mở mã ngành để đào tạo.
- Chính sách đặc thù về hỗ trợ đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
3. Đào tạo nâng cao chất lượng lao động gắn với nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp
3.1. Tập trung thực hiện các giải pháp để phân luồng, nâng cao chất lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
- Thực hiện các giải pháp phù hợp để phân luồng học sinh, sinh viên, hướng tới phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao và cơ cấu phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.
- Rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bảo đảm phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh; đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, thiết bị và điều kiện bảo đảm chất lượng cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao; tiếp tục đầu tư cho đào tạo nâng cao tay nghề của người lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp nhằm triển khai các hoạt động đào tạo trên môi trường số, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và đa dạng hóa phương thức tổ chức dạy học.
3.2. Tổ chức đào tạo, cung ứng kịp thời nhân lực cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ.
- Tập trung đào tạo nghề nghiệp cho người lao động cả trước - trong - sau quá trình tham gia thị trường lao động; cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, trình độ của lao động; Tổ chức đào tạo, đào tạo lại cho lực lượng lao động đang làm việc đáp ứng với yêu cầu thực tế, nhất là người lao động đang làm việc tại các cơ sở/hộ kinh doanh phát triển thành doanh nghiệp.
- Đổi mới công tác giáo dục nghề nghiệp theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và nhu cầu xã hội; đào tạo nghề theo đơn đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ nhằm gắn kết giáo dục nghề nghiệp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường lao động; nâng cao chất lượng đào tạo nghề, chú trọng đào tạo công nhân lành nghề bậc cao cho các khu, cụm công nghiệp, lao động có tay nghề cao cho các ngành dịch vụ.
- Tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong kết nối giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp; thí điểm mô hình đào tạo tại doanh nghiệp, trong khu công nghiệp bảo đảm phù hợp đối với đặc điểm, tính chất và điều kiện sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp FDI.
- Nghiên cứu phát triển các chương trình đào tạo về tác phong, kỷ luật, tâm lý người lao động để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI.
- Thiết lập mạng lưới thông tin của những người lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về để thu hút vào làm việc cho các doanh nghiệp FDI tại tỉnh.
- Đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá dạy nghề, đa dạng hoá các hình thức đào tạo nghề, khuyến khích các thành phần kinh tế, nhất là các đơn vị sử dụng lao động tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp để chương trình, nội dung đào tạo gắn liền với thực tiễn, đào tạo theo vị trí việc làm, theo nhu cầu thị trường lao động, đồng thời doanh nghiệp sẽ tham gia vào xây dựng chương trình đào tạo và giám sát cả quá trình đào tạo; phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trong đào tạo nghề.
4. Từng bước ổn định thị trường lao động
- Bám sát thực tiễn, quản trị nguồn nhân lực chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách phát triển thị trường lao động với các thị trường khác để giữ vững ổn định kinh tế của tỉnh, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, trong đó có cung - cầu lao động.
- Rà soát, đánh giá nhu cầu nhân lực theo từng ngành, lĩnh vực để kịp thời kết nối, cung ứng lao động. Đặc biệt là đánh giá nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư nước ngoài đã có dự án và đang đầu tư vào tỉnh.
- Tổ chức thực hiện các biện pháp để giải quyết tình trạng thiếu lao động cục bộ, mất cân đối cung - cầu lao động; phát triển các hình thức giao dịch việc làm theo hướng hiện đại trên nền tảng công nghệ số; thu hút lao động tại chỗ.
5. Phát triển thông tin thị trường lao động, kết nối cung – cầu lao động
- Đầu tư nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh nhằm hiện đại hóa thông tin thị trường lao động; xây dựng sàn giao dịch việc làm trực tuyến và cơ sở dữ liệu việc tìm người – người tìm việc.
- Đổi mới hình thức tổ chức các phiên/sàn giao dịch việc làm, tăng cường tổ chức phiên giao dịch việc làm trực tuyến, tăng tỷ lệ kết nối việc làm thành công, đảm bảo cung – cầu lao động, đáp ứng yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp, người sử dụng lao động và đảm bảo việc làm cho người lao động.
- Thiết lập hệ thống thông tin và dự báo thị trường lao động đa tầng, đa lĩnh vực theo ngành nghề, cấp trình độ phục vụ người lao động, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách lao động - việc làm, giáo dục, đào tạo.
- Hỗ trợ tuyển dụng và sử dụng các nhóm lao động đặc thù, lao động yếu thế, lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, lao động sinh sống trên địa bàn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi tham gia thị trường lao động, có việc làm bền vững; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để tăng hiệu quả tạo kết nối việc làm cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ.
6. Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về lao động, việc làm
Từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu về người lao động, xây dựng hệ thống quản trị thị trường lao động hiện đại, minh bạch có kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác để quản trị được tình trạng lao động, việc làm của người lao động từ khi bắt đầu tham gia thị trường lao động, làm cơ sở xây dựng và tổ chức triển khai các chính sách về lao động, việc làm, an sinh xã hội.
1. Nguồn kinh phí thực hiện Đề án được bố trí từ nguồn kinh phí các Chương trình mục tiêu quốc gia, ngân sách tỉnh, kinh phí xã hội hóa và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
2. Hàng năm, căn cứ vào nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch, các sở, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí thực hiện để bố trí trong dự toán ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các quy định hiện hành.
3. Các sở, ngành và địa phương lồng ghép các hoạt động, đề án, dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác; các dự án phi Chính phủ với hoạt động thuộc Đề án này để triển khai thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tiết kiệm ngân sách.
(Có khái toán kèm theo)
1. Thủ trưởng các sở, ban, ngành của tỉnh, Chủ tịch UBND các xã, phường trên địa bàn tỉnh
- Theo chức năng, nhiệm vụ được giao chỉ đạo xây dựng, ban hành kế hoạch thực hiện Đề án, định kỳ trước ngày 30 tháng 11 hàng năm báo cáo tình hình thực hiện cho Sở Nội vụ để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh theo quy định.
- Hàng năm, rà soát nhu cầu kinh phí triển khai các nhiệm vụ của đề án, gửi Sở Tài chính để tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, bố trí.
- Là cơ quan thường trực, chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án đảm bảo hiệu quả.
- Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện chính sách pháp luật về phát triển thị trường lao động, việc làm.
- Xây dựng mạng lưới thông tin và cơ sở dữ liệu thị trường lao động; thường xuyên phân tích và dự báo thị trường lao động theo ngành, nghề trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, làm cơ sở xây dựng và tổ chức triển khai kịp thời, hiệu quả các chính sách về lao động - việc làm, cung cấp thông tin thị trường lao động cho người lao động, người sử dụng lao động, các cơ sở đào tạo.
- Đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung cầu lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động, bảo đảm cung ứng lao động kịp thời đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, nhà đầu tư và của thị trường lao động; Nghiên cứu đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số để tăng cường kết nối cung - cầu lao động qua nền tảng số.
- Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm để hỗ trợ người lao động sớm tiếp cận với thị trường lao động, có việc làm ổn định, hạn chế tối đa tình trạng người lao động thất nghiệp hoặc có việc làm nhưng chưa ổn định, hoặc thiếu việc làm.
- Thường xuyên phối hợp với Sở Tài chính, Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh nắm bắt nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp (cụ thể về số lượng, vị trí việc làm, mức lương, ...) hàng năm để chủ động trong công tác kết nối cung - cầu lao động.
- Thông tin đến Sở Giáo dục và Đào tạo, các Trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh biết nhu cầu tuyển dụng lao động để chủ động trong việc đào tạo, kết nối việc làm cho sinh viên, học viên sau tốt nghiệp.
- Phối hợp với các địa phương trên địa bàn tỉnh thường xuyên rà soát người lao động chưa có việc làm hoặc việc làm không ổn định, ưu tiên người lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người lao động là người dân tộc thiểu số để tư vấn, định hướng nghề nghiệp, việc làm và cung ứng cho các doanh nghiệp ở các vị trí phù hợp.
- Hàng năm, tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện đề án, trong đó cụ thể hóa nội dung, vấn đề lớn cần giao nhiệm vụ cho từng ngành triển khai đảm bảo tiến độ của Đề án đến năm 2030; Tổ chức sơ kết đánh giá việc triển khai thực hiện Đề án, qua đó kịp thời tham mưu, điều chỉnh, bổ sung Đề án để đảm bảo thực hiện sát với thực tế. Kết thúc giai đoạn, tổ chức tổng kết đánh giá toàn diện Đề án.
- Căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách, phối hợp với các sở, ngành, địa phương, tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí phù hợp để triển khai thực hiện Đề án.
- Đẩy mạnh thu hút, mời gọi các dự án vào đầu tư tại tỉnh, ưu tiên thu hút doanh nghiệp/nhà đầu tư đầu tư vào các cụm công nghiệp của từng địa phương để sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ, giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động chưa có việc làm/việc làm không ổn định, tạo sự dịch chuyển lao động theo hướng tích cực, thu hút lao động từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức.
- Đề xuất cơ chế, chính sách phát triển hộ kinh doanh thành doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động.
- Thường xuyên phối hợp cung cấp thông tin cụ thể về số lượng dự án thu hút đầu tư, các dự án sắp đầu tư vào tỉnh, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp/nhà đầu tư (số lượng, trình độ chuyên môn, vị trí việc làm,…) gửi Sở Nội vụ để tổng hợp, phối hợp với các sở, ngành liên quan chủ động trong công tác đào tạo nghề, kết nối việc làm.
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, địa phương tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành cơ chế, chính sách về hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn tỉnh (chú trọng học sinh, sinh viên thuộc gia đình có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, bộ đội, công an xuất ngũ, thanh niên mới chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương tái hoà nhập cộng đồng, người có đất bị thu hồi,...).
- Đẩy mạnh việc phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông; hướng dẫn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông theo hướng đẩy mạnh phân luồng và đảm bảo quyền lợi của học sinh vừa được học nghề, vừa được học văn hóa ngay tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
- Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bảo đảm phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tỉnh; Sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, hiệu quả.
- Chỉ đạo các đơn vị có tham gia hoạt động giáo dục nghiệp đào tạo nghề theo đơn đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ nhằm gắn kết giáo dục nghề nghiệp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường lao động; tăng cường công tác đào tạo nghề cho người lao động gắn với việc làm; chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo phù hợp nhu cầu hiện nay, giúp người lao động nâng cao kỹ năng tay nghề, đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng.
- Trên cơ sở nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp do Sở Nội vụ cung cấp, phối hợp với Sở Nội vụ làm việc với các doanh nghiệp để có kế hoạch đào tạo nghề phù hợp, góp phần cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho doanh nghiệp và thị trường lao động. Đồng thời giúp cho doanh nghiệp giảm bớt chi phí đào tạo lao động.
- Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực; chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tiếp tục gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp; chú trọng đào tạo lại, đào tạo thường xuyên để nâng cao trình độ kỹ năng nghề, duy trì việc làm cho người lao động.
- Phối hợp cung cấp danh sách doanh nghiệp trong cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh gửi Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo để triển khai khảo sát nhu cầu tuyển dụng lao động (số lượng, trình độ chuyên môn, vị trí việc làm,…) để tổng hợp, chủ động trong công tác đào tạo nghề, kết nối việc làm.
- Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm giúp cho doanh nghiệp ổn định sản xuất, kinh doanh, ổn định việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và giúp người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
6. Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh
- Thường xuyên phối hợp cung cấp thông tin cụ thể về nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp thuộc Khu kinh tế, Khu công nghiệp (số lượng, trình độ chuyên môn, vị trí việc làm,…) gửi Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo để chủ động trong công tác đào tạo nghề, kết nối việc làm.
- Tăng cường công tác thu hút các doanh nghiệp, dự án đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu kinh tế nhằm tạo việc làm cho người lao động.
- Phối hợp xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu lao động trong các Khu công nghiệp, Khu kinh tế kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống thông tin thị trường lao động của tỉnh để quản lý hiệu quả.
7. Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Hướng dẫn tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo hướng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp xanh và bảo đảm an toàn, hiệu quả gắn với nhu cầu của thị trường, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn.
- Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn; phát triển mô hình đào tạo nghề nông nghiệp kết hợp với học văn hóa trung học phổ thông ngay tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho học sinh, góp phần đẩy mạnh phân luồng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngành nghề nông thôn nhằm giúp người lao động tận dụng thời gian nhàn rỗi để tạo thêm việc làm, góp phần tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân ở vùng nông thôn.
- Phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo rà soát số lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chưa qua đào tạo, đào tạo nghề để xây dựng kế hoạch đào tạo cho phù hợp.
8. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch
- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh; các địa phương trên địa bàn tỉnh chủ động, tăng cường công tác tuyên truyền, nhằm kịp thời cung cấp thông tin về lao động, việc làm, giáo dục, đào tạo, tạo sự quan tâm, đồng thuận và huy động toàn xã hội tích cực tham gia công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hỗ trợ phát triển thị trường lao động.
- Phối hợp với Hiệp hội du lịch tỉnh Bình Định, các sở, ngành liên quan rà soát, thống kê nhu cầu tuyển dụng lao động trong lĩnh vực du lịch để chủ động trong công tác đào tạo nghề, cung ứng lao động cho doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh.
- Phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo rà soát số lao động đang làm việc trong lĩnh vực du lịch nhưng chưa qua đào tạo, đào tạo nghề để xây dựng kế hoạch đào tạo cho phù hợp.
- Chỉ đạo Công an cấp xã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức cập nhật thông tin về người lao động vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo quy định.
- Tổng hợp, cung cấp các số liệu về lao động từ hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia cho Sở Nội vụ để phục vụ công tác quản lý lao động trên địa bàn tỉnh.
10. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh
- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người lao động, đặc biệt đối với người lao động là người dân tộc thiểu số về tầm quan trọng của việc làm trong giảm nghèo; Vận động đồng bào thay đổi tư duy "trông chờ, ỷ lại", chuyển từ tự cung tự cấp sang tìm kiếm việc làm ổn định.
- Vận động người lao động là người dân tộc thiểu số chủ động tham gia các chương trình việc làm, sàn/phiên giao dịch việc làm để được tiếp cận với thông tin thị trường lao động; thường xuyên phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan phổ biến thông tin về các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề, tuyển dụng từ các doanh nghiệp đến người lao động.
11. Ngân hàng Chính sách xã hội
Tiếp tục triển khai thực hiện các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi giải quyết việc làm, đào tạo nghề đối với người lao động và các đối tượng chính sách, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.
12. Các Trường Đại học, Cao đẳng và cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh
- Trên cơ sở nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp/nhà đầu tư do Sở Nội vụ, sở Giáo dục và Đào tạo cung cấp, các Trường Đại học, Cao đẳng và cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ động nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, đào tạo theo địa chỉ, trong đó chú trọng quan tâm đến nhu cầu của các doanh nghiệp trong tỉnh, các doanh nghiệp/nhà đầu tư chuẩn bị đầu tư vào tỉnh.
- Nghiên cứu mở các chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, hợp tác với doanh nghiệp để tăng cường năng lực trong chuyển giao, tiếp cận công nghệ sản xuất mới… nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
- Phối hợp với các ngành, địa phương, doanh nghiệp, Trung tâm Dịch vụ việc làm kết nối việc làm cho số học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp nhằm triển khai các hoạt động đào tạo trên môi trường số, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và đa dạng hóa phương thức tổ chức quá trình dạy học.
13. Ủy ban nhân dân các xã, phường
- Tiếp nhận thông tin đăng ký của người lao động trên địa bàn, chuyển đến Công an cấp xã để cập nhật vào cơ sở dữ liệu dữ liệu quốc gia về dân cư, phục vụ cho công tác quản lý lao động tại địa phương.
- Trên cơ sở kết quả dữ liệu được cập nhật, kết xuất dữ liệu về người lao động đang thất nghiệp/người lao động có việc làm nhưng chưa ổn định/người lao động đang thiếu việc làm; phân tích theo từng nhóm ngành nghề, lĩnh vực, nhóm tuổi, trình độ chuyên môn,… để xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ đào tạo nghề, kết nối việc làm phù hợp cho người lao động. Chú trọng lao động làm việc ở khu vực phi chính chức để phối hợp với Trung tâm Dịch vụ việc làm Gia Lai tổ chức tuyên truyền, tư vấn, định hướng nghề nghiệp, vận động người lao động chuyển đổi việc làm từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức.
- Trên cơ sở các nhiệm vụ, giải pháp tại Đề án này, UBND các xã, phường xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện công tác quản lý lao động tại địa phương, giúp người lao động tiếp cận nhanh với thị trường lao động, hạn chế tối đa tình trạng người lao động thất nghiệp, việc làm chưa ổn định, thiếu việc làm.
14. Các doanh nghiệp/nhà đầu tư
- Thường xuyên cung cấp thông tin cụ thể nhu cầu tuyển dụng lao động của đơn vị đến Sở Tài chính, Sở Công Thương, Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh/Trung tâm Dịch vụ việc làm Gia Lai để Sở Nội vụ tổng hợp, có kế hoạch tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động cho phù hợp, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.
- Trên cơ sở kế hoạch đào tạo nghề; tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động giữa các sở, ngành liên quan và doanh nghiệp, doanh nghiệp/nhà đầu tư thực hiện cam kết tuyển lao động của tỉnh vào làm việc sau khi được đào tạo, đào tạo nghề.
- Quan tâm đến năng suất lao động, tiền lương và các chế độ phúc lợi để thu hút lao động và tạo điều kiện để người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Nghiên cứu trả lương tương xứng với các doanh nghiệp ngoài tỉnh để thu hút lực lượng lao động đang làm việc ngoài tỉnh quay trở về tỉnh làm việc.
Trên đây là Đề án đào tạo, cung ứng lao động cho người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 - 2030. Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, địa phương phản ánh về Sở Nội vụ để hướng dẫn thực hiện hoặc tổng hợp, báo cáo đề xuất UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo./.
[1] Số liệu niên giám thống kê năm 2024;
[2] Công văn số 61/TKT-NNXH ngày 25/7/2025 của Cục Thống kê tỉnh Gia Lai.
[3] Đại học Quy Nhơn, Đại học Quang Trung và các Phân hiệu Trường Đại học: FPT Quy Nhơn, Đại học Nông lâm TP HCM, Đại học Lâm nghiệp, Đại học Sư phạm TP HCM,….
[4] Tổ chức trực tiếp tại Trụ sở chính, Cơ sở 2 và tại các điểm giao dịch vệ tinh của Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Gia Lai, đồng thời thông qua các phiên giao dịch việc làm trực tiếp và trực tuyến,…
[5] Phụ lục 2: Dự báo nhu cầu tuyển dụng lao động theo trình độ đào tạo kèm theo.
[6] Nguồn: Tờ trình số 308/TTr-SNNMT ngày 03/9/2025 của Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh
