Quyết định 3109/QĐ-UBND năm 2025 giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026
| Số hiệu | 3109/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 18/12/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 18/12/2025 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Cần Thơ |
| Người ký | Trương Cảnh Tuyên |
| Lĩnh vực | Thương mại,Văn hóa - Xã hội |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3109/QĐ-UBND |
Cần Thơ, ngày 18 tháng 12 năm 2025 |
VỀ VIỆC GIAO CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2026
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Quyết định số 2638/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026;
Căn cứ Quyết định số 2691/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2026 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương;
Căn cứ Nghị quyết số 269/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch tài chính 05 năm giai đoạn 2026 - 2030 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số 270/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, thu, chi ngân sách địa phương năm 2026 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số 271/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về phân bổ dự toán ngân sách năm 2026 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số 274/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030;
Căn cứ Nghị quyết số 275/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh năm 2026;
Căn cứ Nghị quyết số 276/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc giao, cho ý kiến kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 thành phố Cần Thơ các nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính tại Tờ trình số 579/TTr-STC ngày 17 tháng 12 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Giao chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026 cho các sở, ban ngành thành phố, Ủy ban nhân dân xã, phường (đính kèm Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026 và các Phụ lục).
Điều 2. Giao Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành phố căn cứ Điều 1 Quyết định này và theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương tổ chức triển khai quyết định phân bổ và giao chỉ tiêu kế hoạch cho Ủy ban nhân dân xã, phường, các đơn vị, bộ phận trực thuộc về nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch trước ngày 31 tháng 12 năm 2025; báo cáo kết quả về Sở Tài chính tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố giám sát, kiểm tra theo quy định; thường xuyên hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch được giao; kịp thời phân tích, đánh giá, báo cáo tình hình và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện đạt và vượt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026, góp phần thực hiện đạt cao nhất các chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030.
Điều 3. Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2026
(Kèm theo Quyết định số 3109/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban
nhân dân thành phố)
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH NĂM 2025
I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2025
Năm 2025, trong bối cảnh tình hình kinh tế, an ninh, chính trị thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; các xung đột quân sự, bất ổn chính trị tại một số khu vực, sự điều chỉnh chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, căng thẳng thương mại và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng đã tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư, kinh doanh và thương mại toàn cầu. Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, thị trường toàn cầu biến động và thu hẹp; các xu hướng mới về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, tạo sức ép lớn đối với các quốc gia đang phát triển phải cơ cấu lại mạnh mẽ hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng để không tụt hậu. Thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu diễn ra cực đoan và khó lường hơn, ảnh hưởng sâu rộng đến chuỗi cung ứng và sản xuất, kinh doanh.
Trong nước, mặc dù ngay từ đầu năm đã dự báo nhiều khó khăn, thách thức, nhưng phạm vi và mức độ tác động của các diễn biến bất lợi từ bên ngoài và trong nước lớn hơn dự báo, nhất là thiên tai liên tục vào những tháng cuối năm. Trong khi phải xử lý khối lượng công việc thường xuyên lớn, các bộ, ngành, địa phương đồng thời triển khai nhiều quyết sách quan trọng về cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học công nghệ, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng. Đặc biệt, cả nước thực hiện thành công cuộc cải cách hành chính quy mô lớn, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tổ chức bộ máy Chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành từ ngày 01/7/2025 là một nhiệm vụ mang tính lịch sử, có tác động sâu rộng tới Chính quyền địa phương và không gian phát triển mới của các vùng, trong đó có Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Trước sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, căn cứ Kết luận số 97-KL/TW ngày 05/10/2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về kinh tế - xã hội năm 2024 - 2025; Kết luận số 123-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đề án bổ sung về phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; Nghị quyết số 158/2024/QH15 ngày 12/11/2024 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025; Nghị quyết số 192/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về bổ sung Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố/UBND tỉnh đã tham mưu đề xuất Thành ủy/Tỉnh ủy lồng ghép vào Nghị quyết nhiệm vụ năm 2025, trình Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố/ HĐND tỉnh thông qua nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 tại kỳ họp thường lệ cuối năm 2024; giao chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 kịp thời, đúng thời gian quy định.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3109/QĐ-UBND |
Cần Thơ, ngày 18 tháng 12 năm 2025 |
VỀ VIỆC GIAO CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2026
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Quyết định số 2638/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026;
Căn cứ Quyết định số 2691/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2026 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương;
Căn cứ Nghị quyết số 269/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch tài chính 05 năm giai đoạn 2026 - 2030 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số 270/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, thu, chi ngân sách địa phương năm 2026 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số 271/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về phân bổ dự toán ngân sách năm 2026 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số 274/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030;
Căn cứ Nghị quyết số 275/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh năm 2026;
Căn cứ Nghị quyết số 276/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc giao, cho ý kiến kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 thành phố Cần Thơ các nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính tại Tờ trình số 579/TTr-STC ngày 17 tháng 12 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Giao chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026 cho các sở, ban ngành thành phố, Ủy ban nhân dân xã, phường (đính kèm Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026 và các Phụ lục).
Điều 2. Giao Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành phố căn cứ Điều 1 Quyết định này và theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương tổ chức triển khai quyết định phân bổ và giao chỉ tiêu kế hoạch cho Ủy ban nhân dân xã, phường, các đơn vị, bộ phận trực thuộc về nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch trước ngày 31 tháng 12 năm 2025; báo cáo kết quả về Sở Tài chính tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố giám sát, kiểm tra theo quy định; thường xuyên hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch được giao; kịp thời phân tích, đánh giá, báo cáo tình hình và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện đạt và vượt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026, góp phần thực hiện đạt cao nhất các chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030.
Điều 3. Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2026
(Kèm theo Quyết định số 3109/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban
nhân dân thành phố)
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH NĂM 2025
I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2025
Năm 2025, trong bối cảnh tình hình kinh tế, an ninh, chính trị thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; các xung đột quân sự, bất ổn chính trị tại một số khu vực, sự điều chỉnh chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, căng thẳng thương mại và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng đã tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư, kinh doanh và thương mại toàn cầu. Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, thị trường toàn cầu biến động và thu hẹp; các xu hướng mới về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, tạo sức ép lớn đối với các quốc gia đang phát triển phải cơ cấu lại mạnh mẽ hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng để không tụt hậu. Thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu diễn ra cực đoan và khó lường hơn, ảnh hưởng sâu rộng đến chuỗi cung ứng và sản xuất, kinh doanh.
Trong nước, mặc dù ngay từ đầu năm đã dự báo nhiều khó khăn, thách thức, nhưng phạm vi và mức độ tác động của các diễn biến bất lợi từ bên ngoài và trong nước lớn hơn dự báo, nhất là thiên tai liên tục vào những tháng cuối năm. Trong khi phải xử lý khối lượng công việc thường xuyên lớn, các bộ, ngành, địa phương đồng thời triển khai nhiều quyết sách quan trọng về cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học công nghệ, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng. Đặc biệt, cả nước thực hiện thành công cuộc cải cách hành chính quy mô lớn, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tổ chức bộ máy Chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành từ ngày 01/7/2025 là một nhiệm vụ mang tính lịch sử, có tác động sâu rộng tới Chính quyền địa phương và không gian phát triển mới của các vùng, trong đó có Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Trước sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, căn cứ Kết luận số 97-KL/TW ngày 05/10/2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về kinh tế - xã hội năm 2024 - 2025; Kết luận số 123-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đề án bổ sung về phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; Nghị quyết số 158/2024/QH15 ngày 12/11/2024 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025; Nghị quyết số 192/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về bổ sung Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố/UBND tỉnh đã tham mưu đề xuất Thành ủy/Tỉnh ủy lồng ghép vào Nghị quyết nhiệm vụ năm 2025, trình Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố/ HĐND tỉnh thông qua nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 tại kỳ họp thường lệ cuối năm 2024; giao chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 kịp thời, đúng thời gian quy định.
Sau sắp xếp, sáp nhập, dựa trên kết quả thực hiện các nhiệm vụ và kết quả tăng trưởng kinh tế thành phố 6 tháng đầu năm 2025 do Cục Thống kê công bố, UBND thành phố tham mưu Đảng ủy UBND thành phố đề xuất với Ban Thường vụ Thành ủy thống nhất kịch bản tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm 2025 làm cơ sở để tổ chức thực hiện. Đồng thời, UBND thành phố trình HĐND thành phố thông qua Nghị quyết số 164/NQ-HĐND ngày 31/7/2025 về nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh 6 tháng cuối năm 2025.
Ngày 05/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 226/NQ-CP về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực, địa phương và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để bảo đảm tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8,3 - 8,5%; nhằm đảm bảo tính thống nhất trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong 6 tháng cuối năm 2025, UBND thành phố trình HĐND thành phố thông qua Nghị quyết số 189/NQ-HĐND ngày 29/8/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 164/NQ-HĐND ngày 31/7/2025 của HĐND thành phố về nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh 6 tháng cuối năm 2025; trong đó, phấn đấu hoàn thành kịch bản tăng trưởng kinh tế theo chỉ tiêu Chính phủ giao (cả năm tăng từ 10,0% trở lên, 6 tháng cuối năm tăng 11,9% trở lên).
Thể chế hóa các Nghị quyết của HĐND thành phố, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch số 34/KH-UBND ngày 19/8/2025 triển khai nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh 6 tháng cuối năm 2025 đề ra cụ thể các nội dung công việc, nhiệm vụ cho từng sở, ban ngành cần triển khai trong 6 tháng cuối năm 2025; Công văn số 1114/UBND-TH ngày 09/9/2025 về triển khai thực hiện kết luận của Ban Thường vụ Thành ủy tại cuộc họp ngày 22/8/2025, Nghị quyết số 189/NQ-HĐND của HĐND thành phố và Kế hoạch số 34/KH-UBND của UBND thành phố giao cụ thể mức tăng trưởng cho các ngành phấn đấu thực hiện theo từng quý, 9 tháng và cả năm. Bên cạnh đó, UBND thành phố thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Cùng với đó là sự đồng thuận, ủng hộ, tham gia tích cực của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn là yếu tố quyết định góp phần cho kinh tế - xã hội thành phố giữ được ổn định, từng bước phục hồi ở nhiều lĩnh vực; đời sống người dân được quan tâm chăm lo; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; các nhiệm vụ lớn, phức tạp trong năm được triển khai cơ bản đúng tiến độ, tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới của thành phố Cần Thơ trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
1. Ước kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu
1.1. Các chỉ tiêu kinh tế
(1) Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn ước đạt 7,23%[1] (khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tăng 3,79%; khu vực công nghiệp - xây dựng ước tăng 8,01% (trong đó: công nghiệp ước tăng 6,79%); khu vực dịch vụ ước tăng 8,79%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,99%) (Kế hoạch giao tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn 10%, tương ứng từng khu vực: 3,53%; 12,6%; 12,1% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,5%).
Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người ước đạt 94,94 triệu đồng/người/năm (Kế hoạch 96,9 triệu đồng/người/năm).
(2) Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 20,97%, công nghiệp - xây dựng chiếm 28,05%, dịch vụ chiếm 45,67% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,31% (Kế hoạch tương ứng từng khu vực: 20,95%; 28,37%; 45,36% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,32%).
(3) Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 84.680 tỷ đồng, tăng 10,45% so với năm 2024 (Kế hoạch tăng 15%).
(4) Tổng thu ngân sách Nhà nước tăng 4,82% so với dự toán Bộ Tài chính giao. Phấn đấu thực hiện tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 đạt 100% (Kế hoạch: Phấn đấu tổng thu ngân sách Nhà nước tăng 20% so với dự toán. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 phấn đấu đạt 100%).
(5) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 47,6%[2] (Kế hoạch 50,31%).
(6) Thực hiện 1.397 căn nhà ở xã hội[3] (Kế hoạch 1.397 căn).
1.2. Các chỉ tiêu xã hội
(7) Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi: Trẻ vào học mẫu giáo đạt 95%, bậc tiểu học đạt 99,5%, bậc trung học cơ sở đạt 95%, có 75% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung học phổ thông và giáo dục nghề nghiệp (Kế hoạch tương ứng từng cấp học 95%, 99,5%, 95%, ít nhất 75%).
(8) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 73,67%[4] (Kế hoạch 73,67%).
(9) Giá trị năng suất lao động đạt 182,93 triệu đồng/lao động (Kế hoạch: đạt tối thiểu từ 189 triệu đồng/lao động trở lên).
(10) Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,59% (Kế hoạch: 0,63%).
(11) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95% (Kế hoạch: 95%).
(12) Duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu (Kế hoạch: Duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu).
1.3. Các chỉ tiêu môi trường
(13) Tỷ lệ hộ dân được cung cấp nước sạch khu vực đô thị đạt 95% (Kế hoạch: 100%); tỷ lệ hộ dân nông thôn được cung cấp nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn đạt 82,74% (Kế hoạch: 82,66%).
(14) Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn ở đô thị đạt 96,76%[5] (Kế hoạch: 96,76%).
1.4. Chỉ tiêu quốc phòng, an ninh
(15) Tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự đạt 75% trở lên (Kế hoạch: 75% trở lên).
2. Kết quả đạt được của các nhóm nhiệm vụ, giải pháp
a) Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, rà soát bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật không còn phù hợp, chồng chéo:
Công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng quy định, trong năm đã thực hiện kiểm tra 166 Quyết định quy phạm pháp luật do UBND thành phố ban hành. Kịp thời cụ thể hóa, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền, cụ thể: HĐND, UBND thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang (trước ngày 01/7/2025) đã ban hành 193 văn bản quy phạm pháp luật (27 Nghị quyết và 166 Quyết định); sau sắp xếp, đã chủ động tham mưu cơ quan có thẩm quyền xử lý hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành trước sáp nhập, đáp ứng yêu cầu thực hiện Chính quyền hai cấp; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội[6]. Qua rà soát đến thời điểm hiện tại, tổng số văn bản quy phạm pháp luật của 03 địa phương (thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang cũ) ban hành còn hiệu lực khoảng 1.310 văn bản (481 Nghị quyết, 829 Quyết định). Hiện thành phố đang tiếp tục rà soát, lập danh mục và đề xuất thời gian, hình thức xử lý cụ thể đối với từng văn bản; đã xử lý xong 399 văn bản (135 Nghị quyết, 264 Quyết định).
Triển khai thực hiện đúng quy định pháp luật về hộ tịch; giải quyết kịp thời các yêu cầu về quốc tịch cho công dân. Vận hành Phần mềm hộ tịch điện tử, thực hiện liên thông 02 nhóm thủ tục hành chính (lĩnh vực hộ tịch) trên địa bàn thành phố. Kết quả triển khai thực hiện Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030: Đến nay, đã hoàn thành các mục tiêu phục vụ 05 nhóm tiện ích của Đề án 06; triển khai 31/44 mô hình điểm thúc đẩy Đề án 06 tại địa phương; hoàn thành 21/21 chỉ tiêu làm sạch dữ liệu dân cư; thu nhận 139.222/141.360 hồ sơ cấp đổi Thẻ đảng viên, đạt tỷ lệ 98,48%; tiếp nhận trực tuyến 15.336/18.537 hồ sơ cấp phiếu lý lịch tư pháp từ các nguồn trên VNeID, đạt tỷ lệ 83,9%; cấp trên 3,4 triệu thẻ Căn cước/Căn cước công dân; thu nhận 16.367 hồ sơ định danh tổ chức (đạt 94,76%); kích hoạt 2.472.719 tài khoản định danh điện tử mức 2, đạt 99,05%
Thực hiện công tác quản lý Nhà nước về công tác luật sư và công tác tư vấn pháp luật theo quy định. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; xây dựng xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật phục vụ tốt nhu cầu của cá nhân và tổ chức. Thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về công tác giám định tư pháp; đấu giá tài sản, trọng tài thương mại, quản tài viên và hành nghề thanh lý tài sản, trợ giúp pháp lý, thừa phát lại, hòa giải thương mại theo quy định. Tổ chức Hội nghị triển khai, phổ biến các Luật, Nghị quyết được Quốc hội Khóa XV, Kỳ họp thứ 7, 8, 9 thông qua. Triển khai đồng bộ, hiệu quả[7] Chương trình số 02-CTr/TU ngày 26/9/2025 của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
b) Cải cách hành chính (CCHC):
Công tác CCHC tiếp tục được quan tâm triển khai. UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch CCHC, Kế hoạch tuyên truyền CCHC, Kế hoạch kiểm tra công tác CCHC. Đến ngày 30/6/2025, thành phố (sau sáp nhập) đã hoàn thành công bố, công khai danh mục thủ tục hành chính (TTHC) áp dụng trên địa bàn; đóng giao diện Cổng dịch vụ công cấp tỉnh; đồng thời, đã đồng bộ thông tin hồ sơ TTHC từ Hệ thống thông tin giải quyết TTHC cấp tỉnh lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; thực hiện kiểm thử lại toàn bộ dịch vụ công trực tuyến cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia… Qua rà soát, đến nay tổng số TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết tại địa phương là 2.685 thủ tục, gồm 2.089 TTHC cấp thành phố; 596 TTHC cấp xã. Thực hiện số hóa 100% hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đang còn hiệu lực và có giá trị sử dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của thành phố, cấp xã. Có 100% thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố, có đủ điều kiện, được cung cấp trực tuyến toàn trình; trong đó có 80% TTHC được tích hợp, cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ đạt 50%. Hồ sơ thủ tục hành chính các cơ quan, đơn vị được giải quyết đúng và trước hạn đạt trên 90%.
Triển khai thực hiện đảm bảo về tiến độ Kế hoạch số 56/KH-UBND ngày 03/9/2025 của UBND thành phố về thực hiện Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026; kết quả đến cuối năm 2025, thành phố đã chủ động giảm ít nhất 30% thời gian giải quyết của các TTHC, 30% chi phí tuân thủ TTHC; 100% TTHC liên quan đến doanh nghiệp được cung cấp, thực hiện trực tuyến, thông suốt, liền mạch, hiệu quả, bảo đảm minh bạch, giảm tối đa giấy tờ; 100% TTHC được thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi thành phố; 100% TTHC nội bộ giữa các cơ quan hành chính Nhà nước và trong từng cơ quan hành chính Nhà nước được rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, thời gian giải quyết, chi phí thực hiện và sửa đổi, hoàn thiện để phù hợp với việc thực hiện tinh gọn, sắp xếp bộ máy, đồng thời bảo đảm thông suốt, hiệu quả.
a) Về tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn ước tăng 7,23%, thấp hơn 2,77 điểm phần trăm so với Nghị quyết số 226/NQ-CP ngày 05/8/2025 của Chính phủ và Nghị quyết của HĐND thành phố giao (Nghị quyết số 164/NQ-HĐND ngày 31/7/2025; Nghị quyết số 189/NQ-HĐND ngày 29/8/2025); trong đó:
- Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản (KVI) ước tăng 3,79%; cao hơn 0,26 điểm phần trăm so với Nghị quyết HĐND thành phố giao.
- Khu vực công nghiệp - xây dựng (KVII) ước tăng 8,01%; thấp hơn 4,60 điểm phần trăm so với Nghị quyết HĐND thành phố giao (trong đó công nghiệp ước tăng 6,79%; thấp hơn 5,39 điểm phần trăm).
- Khu vực dịch vụ (KVIII) ước tăng 8,79%; thấp hơn 3,34 điểm phần trăm so với Nghị quyết HĐND thành phố giao.
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 4,99%; thấp hơn 1,45 điểm phần trăm so với Nghị quyết HĐND thành phố giao.
Quy mô nền kinh tế cả năm 2025 ước đạt 306.170 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người ước đạt 94,94 triệu đồng/người/năm (thấp hơn mục tiêu Nghị quyết HĐND thành phố giao khoảng 1,96 triệu đồng/người và tăng 8,39 triệu đồng/người so với năm 2024). Thu nhập bình quân đầu người trên tháng ước đạt 5,50 triệu đồng/người/tháng (tăng 0,45 triệu đồng/người so với năm 2024). Giá trị năng suất lao động ước đạt 182,93 triệu đồng/lao động (thấp hơn mục tiêu Nghị quyết HĐND thành phố giao khoảng 6,07 triệu đồng/lao động và tăng 11,95 triệu đồng/ lao động so với năm 2024).
b) Thu, chi ngân sách:
Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước thực hiện đạt 25.947 tỷ đồng, vượt 4,82% dự toán Trung ương giao, hụt 3,48% dự toán HĐND thành phố giao; trong đó, thu nội địa 25.130 tỷ đồng, vượt 4,98% dự toán Trung ương giao, hụt 1,45% dự toán HĐND thành phố giao; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 817 tỷ đồng, vượt 0,07% dự toán Trung ương giao và hụt 40,83% dự toán HĐND thành phố giao. Các chính sách miễn, giảm thuế đã hỗ trợ, tạo nguồn lực cho cá nhân, tổ chức khôi phục và tái đầu tư, sản xuất kinh doanh tuy nhiên cũng tác động giảm nguồn thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố trong năm 2025 khoảng 1.680 tỷ đồng.
Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện năm 2025 đạt 73.372 tỷ đồng, đạt 94,28% dự toán HĐND thành phố giao. Trong đó, tổng chi đầu tư phát triển là 28.959 tỷ đồng, đạt 96,02% dự toán HĐND thành phố giao và chi thường xuyên là 22.981 tỷ đồng, đạt 91,78% dự toán HĐND thành phố giao.
c) Về giá cả thị trường:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 11 tháng năm 2025[8] tăng 3%, cả năm ước duy trì dưới 4%, thấp hơn mục tiêu đề ra[9]. Tình hình thị trường cơ bản ổn định, không xảy ra hiện tượng thiếu hàng, sốt hàng, tăng giá đột biến. Lượng hàng hóa trên thị trường tương đối dồi dào, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn. Tình hình nguồn cung khan hiếm do ảnh hưởng bởi thiên tai, đồng thời chi phí đầu vào tăng cao đã tác động mạnh đến giá cả mặt hàng rau, củ, quả; dự báo giá cả mặt hàng, rau củ quả trên thị trường vẫn còn giữ ở mức cao vào thời điểm cuối năm. Giá vàng và giá đô la Mỹ biến động do ảnh hưởng của thị trường thế giới. UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 2198/QĐ-UBND ngày 04/11/2025 ban hành Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng thiết yếu, thúc đẩy hoạt động thương mại năm 2025, Tết Nguyên đán năm 2026 trên địa bàn thành phố Cần Thơ[10].
Công tác quản lý thị trường được chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn, mở các đợt cao điểm ngăn chặn hành vi vi phạm và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường kiểm tra đối với nhiều mặt hàng, đặc biệt là thực phẩm, dược phẩm, thuốc lá và xăng dầu, kết quả có 490 vụ kiểm tra, vi phạm 401 vụ, xử lý 419 vụ[11].
d) Về xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng tích cực với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thủy sản, gạo, nông sản, dệt may…; Thành phố tổ chức nhiều hội nghị kết nối cung - cầu, giao thương quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tham gia hội chợ, xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới; làm việc với các đối tác, các tập đoàn phân phối quốc tế để mở rộng thị trường và thúc đẩy hợp tác xuất khẩu với các thị trường chủ lực như: Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Đức, Australia… Thành phố chủ động đánh giá tác động chính sách thuế đối ứng từ thị trường Hoa Kỳ, hướng dẫn doanh nghiệp ứng phó và kiến nghị cấp thẩm quyền tháo gỡ khó khăn. Kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ ước đạt 5.508 triệu USD, đạt kế hoạch năm và tăng 10,8% so với năm 2024. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.313 triệu USD, tăng 17,1% so với năm 2024; hàng hóa nhập khẩu của thành phố chủ yếu là hàng hóa phục vụ loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất…
đ) Huy động các nguồn lực:
Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội ước năm 2025 đạt 84.680 tỷ đồng, tăng từ 10,45% so với năm 2024; trong đó, vốn Nhà nước đạt 33.980 tỷ đồng, chiếm 40,12% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tăng 6,74%; vốn ngoài Nhà nước đạt 48.750 tỷ đồng, chiếm 57,57%, tăng 13,32%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.950 tỷ đồng, chiếm 2,30%, tăng 7,61%.
Tổng số vốn kế hoạch đầu tư công năm 2025 của thành phố được Thủ tướng Chính phủ giao là 28.958.933 triệu đồng. Ước giá trị giải ngân đến hết niên độ ngân sách năm 2025 đạt 100% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao, đạt 96,02% kế hoạch HĐND thành phố giao.
Đăng ký kinh doanh: Năm 2025, có 4.500 doanh nghiệp đăng ký mới, với tổng vốn đăng ký là 26.280 tỷ đồng, tăng 32,76% về số lượng doanh nghiệp và giảm 3,16% về vốn so cùng kỳ. Số lượng doanh nghiệp giải thể tự nguyện 450 doanh nghiệp các loại hình, tăng 30% về số lượng doanh nghiệp so với cùng kỳ; 800 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 23,12% về số lượng doanh nghiệp so với cùng kỳ, có 1.440 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Lũy kế toàn thành phố có khoảng 25.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Ước hồ sơ đăng ký qua mạng đạt tỷ lệ 90%.
Thu hút đầu tư ngoài ngân sách[12]: Trong năm 2025, thành phố thu hút 22 dự án đầu tư mới; trong đó, có 01 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)[13] với vốn đầu tư 100 triệu USD và 21 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 20.215,636 tỷ đồng[14]. Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 124 dự án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 7.451,8 triệu USD (trong khu công nghiệp 46 dự án; ngoài khu công nghiệp 78 dự án); có 1.031 dự án đầu tư trong nước được cấp đăng ký đầu tư với tổng vốn đầu tư hơn 451.542,23 tỷ đồng[15].
Kinh tế tập thể: Năm 2025, thành phố đã ban hành nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện cho các hợp tác xã (HTX) tham gia các chương trình dự án hỗ trợ HTX về vốn, công nghệ, thị trường, đào tạo nhân lực; từng bước hình thành mô hình HTX hoạt động hiệu quả, góp phần xây dựng chuỗi sản xuất - tiêu thụ bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và có tính nhân rộng cao, giúp cho thành viên có đầu ra ổn định thông qua các hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp, nhà máy chế biến, công ty, siêu thị. Ước năm 2025, thành lập mới 48 HTX, giải thể 21 HTX; lũy kế đến nay thành phố có 735 HTX đang hoạt động, 155 HTX tạm ngừng và ngừng hoạt động. Doanh thu bình quân của HTX: 6,19 tỷ đồng/năm (tăng 846 triệu đồng với năm 2024); có 51.050 thành viên, tổng số lao trong động trong HTX là 36.274 người, trong đó có 10.360 lao động là thành viên HTX. Thành lập mới 02 liên hiệp HTX, nâng tổng số thành phố có 08 liên hiệp HTX. Toàn thành phố hiện có có 3.760 tổ hợp tác, trong đó có 3.600 tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư - diêm nghiệp.
e) Hoạt động ngân hàng:
Chấp hành tốt các quy định về tín dụng, lãi suất, tỷ giá, ngoại hối, bảo đảm hoạt động ngân ngân hàng ổn định và an toàn. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay ổn định so với thời điểm cuối năm 2024. Ước cuối năm 2025, dư nợ toàn địa bàn đạt 335.000 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2024. Mạng lưới ngân hàng tiếp tục được mở rộng và hoạt động ổn định, toàn thành phố có 105 tổ chức tín dụng (20 Quỹ tín dụng nhân dân), 30 chi nhánh cấp 2, các điểm giao dịch phân phối đều ở các xã, phường trong thành phố tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế và người dân tiếp cận dịch vụ ngân hàng.
a) Công tác phân cấp, phân quyền giữa các cấp Chính quyền được đẩy mạnh, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, quy hoạch, quản lý đất đai, tài chính - ngân sách, bảo vệ môi trường, giao thông. Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, vận hành Chính quyền địa phương hai cấp, UBND thành phố đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn và UBND xã, phường nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; chủ động rà soát, đánh giá khả năng thực hiện tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình để kịp thời đề xuất điều chỉnh, hướng dẫn, sửa đổi hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản mới phù hợp với yêu cầu, lộ trình và tình hình thực tiễn. UBND thành phố đã trình HĐND thành phố thông qua việc thành lập 14 cơ quan chuyên môn; tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ[16]; hiện tại, thành phố Cần Thơ có 14 cơ quan chuyên môn[17] và 01 tổ chức hành chính[18]. Chính quyền địa phương xã, phường đã hoàn thành việc thành lập 299 phòng chuyên môn cấp xã và 103 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã. 100% cơ quan cấp thành phố và cấp xã đã ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức. Thành phố hiện có 1.440 đơn vị sự nghiệp công lập (354 đơn vị sự nghiệp công lập cấp thành phố, 1.086 đơn vị sự nghiệp công lập cấp xã); UBND thành phố đã ban hành Phương án sắp xếp cơ cấu tổ chức bên trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Đồng thời, khẩn trương triển khai các quy định, hướng dẫn của Trung ương về xây dựng Đề án vị trí việc làm công chức, viên chức; cơ cấu ngạch công chức, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp, sáp nhập. Thực hiện giao biên chế, phê duyệt số lượng người làm việc năm 2025[19] với tổng số là 62.355[20]. Triển khai Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15/6/2025 của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế, UBND thành phố đã ban hành Công văn số 3015/UBND-NC ngày 26/6/2025 để triển khai, thực hiện; đã tiếp nhận là 1.241 trường hợp (trong đó, đã phê duyệt đối với 857 trường hợp)[21]. Thực hiện điều động 968 công chức từ sở ngành, quận huyện (cũ) về cơ quan, đơn vị mới do sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy Chính quyền địa phương hai cấp. Bố trí 480 cán bộ, công chức, viên chức có trình độ, năng lực thuộc cấp thành phố về xã, phường công tác tại các vị trí đang khuyết, đang thiếu để giúp các xã, phường hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Kiện toàn và bố trí đủ 100% số lượng Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND xã, phường, trong đó: 103/103 Phó Chủ tịch HĐND, 207/207 Phó Chủ tịch UBND (có 01 xã không thành lập Phòng chuyên môn thuộc UBND xã nên được bố trí 03 Phó Chủ tịch UBND xã).
Thực hiện Nghị định số 178/2024/NĐ-CP và 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ, thành phố đã ban hành Hướng dẫn số 01/HD-UBND về tiêu chí đánh giá, rà soát đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; kết quả đến nay, đã giải quyết nghỉ việc cho 2.719 trường hợp theo chính sách, chế độ quy định. Triển khai Nghị quyết của HĐND thành phố quy định chế độ hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động sau khi sắp xếp đơn vị hành chính với mức 5.000.000 đồng/người/tháng, bao gồm: chi phí xăng xe đi lại; hỗ trợ tiền ăn; hỗ trợ tiền thuê chỗ nghỉ.
b) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra. Trong kỳ báo cáo, đã triển khai 335 cuộc thanh tra, kiểm tra (trong đó có 77 cuộc thanh tra hành chính và 258 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành). Qua thanh tra, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhiều quy định, cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực, phát hiện vi phạm 10,55 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi 5,46 tỷ đồng; kiến nghị xử lý khác 5,09 tỷ đồng; kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm đối với 15 tập thể, 143 cá nhân và chuyển cơ quan điều tra 02 vụ; ban hành 107 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 11,3 tỷ đồng, đã thu nộp ngân sách Nhà nước 11,1 tỷ đồng.
Công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được các cấp, các ngành tập trung quan tâm, chỉ đạo thực hiện theo quy định, chú trọng phối hợp giải quyết dứt điểm, kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Các cơ quan hành chính đã tiếp 4.536 lượt với 4.868 người (có 15 lượt đoàn đông người); tiếp nhận và xử lý kịp thời đơn thư; cấp có thẩm quyền đã thụ lý 2.395 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và đã giải quyết 2.069/2.395 vụ, đạt 86,38%; các vụ việc khiếu nại, tố cáo, phức tạp kéo dài được tập trung xem xét, chỉ đạo giải quyết dứt điểm, tránh phát sinh điểm nóng, gây bức xúc, dư luận trong dân.
Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt đã quán triệt thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phòng, ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, tổ chức, địa phương; từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần giữ vững kỷ cương hành chính, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được quan tâm triển khai thực hiện tích cực bằng nhiều kênh thông tin, với nhiều hình thức phong phú. Kết quả đã tổ chức 683 lớp/cuộc với 31.050 lượt cán bộ, công chức viên chức, người lao động và Nhân dân tham gia; tuyên truyền qua Đài Truyền thanh 1.407 lượt với tổng thời lượng 9.971 phút.
Tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt động của các Ban chỉ đạo các công trình, dự án trọng điểm, các Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ để kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia, hạ tầng đô thị lớn. Phối hợp với Trung ương cơ bản hoàn thành Dự án thành phần đoạn Cần Thơ - Hậu Giang và Dự án thành phần đoạn Hậu Giang - Cà Mau thuộc Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ Dự án thành phần 2; Dự án thành phần 3; Dự án thành phần 4 thuộc Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1 (đã bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công đạt tỷ lệ 100%; khối lượng thi công đạt 47,2%; hoàn thành 100% các khu tái định cư và bàn giao cho địa phương để bố trí cho người dân; tổ chức di dời xong các công trình hạ tầng kỹ thuật); cơ bản hoàn thành tuyến đường trục phát triển kinh tế Đông Tây tỉnh Sóc Trăng (khối lượng thi công đạt 98%). Hệ thống hạ tầng văn hóa, y tế, giáo dục, thủy lợi... tiếp tục được cải thiện, đảm bảo về tiến độ thực hiện. Thành phố đăng ký 02 công trình khởi công chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh; dự kiến khởi công, khánh thành 18 công trình chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; 07 công trình chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn đầu tư tư nhân).
UBND thành phố đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận triển khai thủ tục đầu tư, nâng cấp các hạng mục Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ theo Quy hoạch. Theo đó, UBND thành phố tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với Cục Hàng không Việt Nam rà soát Quy hoạch, đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và khu vực, làm cơ sở đầu tư. Về đầu tư phát triển, đối với đường cất hạ cánh và đường lăn: trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026 - 2030, Bộ Xây dựng đã đề xuất nhu cầu khoảng 2.661 tỷ đồng cho Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ để cải tạo đường cất hạ cánh hiện hữu, xây dựng đường lăn song song, hệ thống đường lăn nối đồng bộ để nâng cao năng lực khai thác. Trên cơ sở nguồn vốn được Quốc hội, Chính phủ phân bổ, Bộ Xây dựng sẽ quyết định danh mục các dự án đầu tư giai đoạn 2026 - 2030 phù hợp với nguồn vốn và tiêu chí được cấp có thẩm quyền quyết định. Doanh nghiệp cảng hàng không có trách nhiệm đầu tư các hạ tầng thiết yếu còn lại.
Thúc đẩy phát triển hạ tầng số trên 04 thành phần chính gồm : Hạ tầng viễn thông và Internet; Hạ tầng dữ liệu; Hạ tầng vật lý - số; Hạ tầng tiện ích số và Công nghệ số. Các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn đã mở rộng vùng phủ sóng đến nông thôn, nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ; tổng số có 3.774.110 thuê bao di động, 70.913 thuê bao cố định, 3.220.558 thuê bao internet, với 82,95% hộ gia đình kết nối cáp quang. Tỷ lệ phủ sóng 3G, 4G đạt 100%, 5G đạt 25%; mạng băng rộng phủ 100% xã, phường, cơ sở giáo dục và y tế. Hạ tầng viễn thông gồm 5.839 trạm BTS, trong đó 912 trạm 5G. Mạng bưu chính thành phố có 608 điểm phục vụ, đảm bảo mỗi xã, phường tối thiểu một điểm, phục vụ cả khu vực thành thị và nông thôn, 100% điểm có kết nối internet băng rộng, bán kính phục vụ là 2,07 km/điểm. Khu công nghệ thông tin tập trung Cần Thơ đã giải phóng mặt bằng được 5,3 ha (đạt khoảng 26%) và đang hoàn tất thủ tục điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500 để triển khai xây dựng hạ tầng giai đoạn tiếp theo. Khu Công nghệ số tỉnh Hậu Giang (28,5 ha, tổng mức đầu tư 450 tỷ đồng) đã hoàn thành 3 khối nhà phục vụ điều hành, đào tạo, ươm tạo doanh nghiệp và văn phòng doanh nghiệp BPO, có 09 doanh nghiệp đăng ký hoạt động.
a) Cơ cấu kinh tế:
Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 20,97%; Khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 28,05%; Khu vực dịch vụ chiếm 45,67% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,31% (Cơ cấu kinh tế năm 2024 tương ứng là 22,36%; 27,78%; 44,41%; 5,45%).
b) Sản xuất công nghiệp - xây dựng:
Sản xuất công nghiệp tiếp tục đà phục hồi tích cực, nhất là trong lĩnh vực chế biến, chế tạo với một số ngành chủ lực như: chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, dược phẩm, vật liệu xây dựng... Ước cả năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10% so với năm 2024.
Sản lượng điện thương phẩm năm 2025 ước đạt 6,383 tỷ kWh, tăng 3,23% so với cùng kỳ và đạt 100,32% so với kế hoạch (6,363 tỷ kWh). Sản lượng điện tiết kiệm năm 2025 ước đạt 155,8 triệu kWh, tăng 2,85% so với năm 2024, tương ứng tiết kiệm 2,44% sản lượng điện thương phẩm.
Lĩnh vực xây dựng: thành phố triển khai nhiều công trình, dự án lớn thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước và vốn ngoài Nhà nước: Tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1, đoạn qua địa bàn thành phố Cần Thơ, đang được tập trung thi công, đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thành tuyến cao tốc trục ngang quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL); 02 công trình khởi công chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh; 18 công trình dự kiến khởi công, khánh thành chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Bên cạnh đó, nhiều công trình nâng cấp các tuyến đường giao thông, xây dựng nhà máy, trụ sở làm việc, khách sạn, sửa chữa trường học đã hoàn thành và đưa vào sử dụng.
c) Lĩnh vực thương mại - dịch vụ:
Hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, hầu hết doanh thu của các lĩnh vực đều tăng so với cùng kỳ năm 2024.
Các doanh nghiệp kinh doanh thương mại tổ chức nhiều chương trình kích cầu tiêu dùng, hàng hóa tại các chợ truyền thống, siêu thị, trung tâm thương mại và chuỗi cửa hàng tiện ích phong phú, đa dạng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Giá cả thị trường được kiểm soát tốt, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng hay tăng giá bất hợp lý; các cơ sở kinh doanh thực hiện nghiêm quy định về niêm yết và bán hàng theo giá niêm yết. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2025 thực hiện được 360.072 tỷ đồng, đạt kế hoạch năm và tăng 20,02% so với năm 2024.
Hoạt động xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng tích cực với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thủy sản, gạo, nông sản, dệt may…; kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ ước đạt 5.508 triệu USD, đạt kế hoạch năm và tăng 10,8% so với năm 2024. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.313 triệu USD, tăng 17,1% so với năm 2024; hàng hóa nhập khẩu của thành phố chủ yếu là hàng hóa phục vụ loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất…
Hoạt động du lịch: Tổ chức các hoạt động tạo điểm nhấn, xúc tiến, quảng bá du lịch, thu hút khách du lịch đến thành phố[22]. Ước năm 2025, thành phố đón gần 11 triệu lượt khách, đạt kế hoạch năm và tăng 16% so với năm 2024; trong đó, khách lưu trú ước đạt hơn 4,9 triệu lượt khách (430.000 nghìn lượt khách quốc tế), tăng khoảng 23%; doanh thu đạt 9.979 tỷ đồng, tăng khoảng 20% so với năm 2024.
d) Lĩnh vực nông nghiệp:
Tổng diện tích gieo trồng lúa 718.461 ha, vượt 0,97% kế hoạch, giảm 1,01% so với cùng kỳ. Sản lượng 4.710.308 tấn, vượt 0,81% kế hoạch, tăng 0,44% so với cùng kỳ; các giống lúa đặc sản, thơm (ST, Đài thơm 8, RVT,…) chiếm gần 40%, chất lượng cao (Giống OM5451, OM18, OM380,...) chiếm gần 60%, chất lượng trung bình (IR50404) chiếm tỷ lệ 1%. Diện tích cây ăn trái toàn thành phố đạt 102.194 ha với một số loại chủ lực như cam, xoài, mãng cầu, sầu riêng, vú sữa...; sản lượng thu hoạch đạt 1.154.000 tấn, đạt 100% kế hoạch, tăng 8,66% so với cùng kỳ.
Triển khai Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển trồng trọt đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” trên địa bàn thành phố; đã chuyển đổi đất canh tác kém hiệu quả sang trồng rau, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, nuôi trồng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao hơn với diện tích 5.169 ha[23]; hình thành vùng sản xuất tập trung với diện tích cánh đồng lúa lớn 84.819 ha[24], cây ăn trái trên 40.000 ha/500.000 tấn[25], rau màu trên 10.000 ha/160.000 tấn[26]; hỗ trợ xây dựng và kiểm tra, giám sát mã số vùng trồng trên lúa, cây ăn trái, rau màu với 601 mã số vùng trồng với tổng diện tích 9.835 ha[27]; 26 mã số cơ sở đóng gói với 16 doanh nghiệp tham gia[28]; khuyến khích phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn,… Đến nay, hộ nông dân trồng lúa, rau màu, cây ăn trái được hướng dẫn đạt chứng nhận sản xuất theo quy trình VietGAP, GlobalGAP với diện tích 3.897 ha/2.730 hộ[29]; nông dân sản xuất lúa hữu cơ với diện tích 20.759 ha.
Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm ổn định với số lượng tổng đàn và sản lượng xuất chuồng. Tổng đàn chăn nuôi gia súc, gia cầm 16.674.353 con, đạt 100% kế hoạch[30]; sản lượng thịt hơi các loại 171.304 tấn[31], đạt 100% kế hoạch, tăng 8,49% so với cùng kỳ. Thành phố hiện có 1.110 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm[32] và khoảng 90.000 nông hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm; 35 cơ sở chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP[33]; 35 cơ sở/vùng (cấp xã) chăn nuôi được chứng nhận an toàn dịch bệnh còn hiệu lực[34]. Phát triển chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi với 04 chuỗi[35]; 30 trang trại chăn nuôi heo, gia cầm quy mô lớn[36]. Dịch bệnh xảy ra ở diện hẹp, được kịp thời phát hiện, khoanh vùng xử lý, không để lây lan, công tác giám sát được thực hiện chặt chẽ[37].
Diện tích nuôi 97.078 ha, vượt 0,6% kế hoạch, tăng 0,51% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thủy, hải sản đạt 782.958 tấn[38], đạt 100% kế hoạch, tăng 2,81% so với cùng kỳ (sản lượng nuôi một số loại chủ yếu như cá tra 250.000 tấn, tôm thẻ chân trắng 205.200 tấn, tôm sú 24.500 tấn, ca thát lát 13.500 tấn). Chú trọng quy hoạch vùng nuôi, trồng thủy sản, chú trọng phát triển nuôi các đối tượng chủ lực tôm nước lợ, cá tra, cá rô phi, cá thát lát, từng bước áp dụng các mô hình nuôi công nghệ cao, nuôi tuần hoàn nước, kiểm soát môi trường tự động, cá lồng bè trên sông kết hợp du lịch sinh thái.
a) Giáo dục - đào tạo:
Triển khai thực hiện tốt Chương trình, đề án, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; giáo dục mầm non tiếp tục được củng cố, 100% cơ sở thực hiện tốt chương trình và chuyên đề “Lấy trẻ làm trung tâm”, đảm bảo an toàn, dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý được bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn. Giáo dục phổ thông triển khai đồng bộ Chương trình giáo dục phổ thông mới, đẩy mạnh giáo dục STEM, kỹ năng công dân số, ngoại ngữ; tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh dạy thêm, học thêm; phối hợp nhiều tổ chức quốc tế hỗ trợ hoạt động giáo dục và thư viện thân thiện; công tác lựa chọn sách giáo khoa, bồi dưỡng giáo viên được thực hiện nghiêm túc. Giáo dục thường xuyên đẩy mạnh triển khai chương trình “Đơn vị học tập”, “Cộng đồng học tập”, “Công dân học tập”, góp phần hoàn thành các mục tiêu của Phong trào thi đua về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia còn thời hạn 05 năm[39] là 743/1.149 trường, đạt 64,66%; trong đó: mầm non 263/334 trường, đạt 78,70%; tiểu học: 287/486 trường, đạt 59,05%; trung học cơ sở: 151/238 trường, đạt 63,45%; trung học phổ thông: 42/91 trường, đạt 46,15%.
Tổ chức thành công các kỳ thi, hội thi; trong đó, Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 của toàn thành phố đạt 30.872/31.083 học sinh, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,32%; Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia trung học phổ thông năm học 2024 - 2025 đoạt 112 giải (01 giải Nhất, 08 giải Nhì, 32 giải Ba và 71 giải Khuyến khích); Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia học sinh trung học năm học 2024 - 2025 đoạt 01 giải Khuyến khích, 01 giải Tư và 01 giải triển vọng; 20 học sinh đoạt giải tại Cuộc thi Toán Trí tuệ PAMA quốc tế năm 2025; Kỳ thi Đình cấp quốc gia “Trạng nguyên tiếng Việt” năm 2025 đoạt 01 giải Nhất, 03 giải Ba và 08 giải Khuyến khích; Ngày hội khởi nghiệp Quốc gia của học sinh, sinh viên lần thứ VII năm 2025 đạt giải Ba và 01 tập thể, 01 cá nhân được tặng Bằng khen Bộ Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2017 - 2025; Cuộc thi “Bác Hồ với thiếu nhi - Thiếu nhi với Bác Hồ” năm 2025 do Hội đồng Đội Trung ương tổ chức đoạt 01 giải Nhì; 01 giải Nhì, 02 giải Tư; Cuộc thi “Ngôi nhà mơ ước” 2025 do Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam tổ chức đạt 21 giải triển vọng; tham gia Trại hè Phương Nam lần thứ VIII năm 2025 (tại tỉnh Tây Ninh) đoạt 64 giải (08 huy chương vàng, 23 huy chương bạc, 33 huy chương đồng).
Giáo dục nghề nghiệp đạt kết quả tích cực, tuyển sinh đào tạo nghề cho 43.108 người ở các trình độ (gồm cao đẳng: 9.932 người; trung cấp: 1.999 người; sơ cấp và dưới 03 tháng 31.177 người). Củng cố hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu nhân lực của địa phương. Chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sử dụng lao động của thị trường lao động. Trên 80% người tốt nghiệp đã có việc làm, trong đó 70-75% người tốt nghiệp có việc làm đúng ngành, nghề đào tạo.
b) Phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:
Hoạt động nghiên cứu, thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của thành phố được quan tâm[40]. Duy trì tốt các hoạt động sở hữu trí tuệ[41], kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa[42]; hoạt động thử nghiệm, kiểm định và hiệu chuẩn đã hỗ trợ tốt cho các cơ quan, doanh nghiệp của thành phố và các tỉnh ĐBSCL[43].
Hoàn thành công tác tham mưu thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhất là rà soát, cập nhật nhiệm vụ, giải pháp triển khai để áp dụng cho thành phố Cần Thơ sau sáp nhập[44].
Tiến độ triển khai các Dự án trọng điểm về hạ tầng khoa học, công nghệ như: (1) Khu Công nghệ thông tin tập trung đang tiếp tục thực hiện điều chỉnh quy hoạch chi tiết, chi trả bồi thường, hỗ trợ tái định cư, thu hồi đất sạch và điều chỉnh dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật trong khu; tổ chức giới thiệu tiềm năng lợi thế, thông tin, cơ hội đầu tư vào Khu Công nghệ thông tin tập trung; xem xét việc triển khai Khu Công nghệ thông tin tập trung thành phố Cần Thơ và Khu Công nghệ số tỉnh Hậu Giang sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh; (2) Đề án thành lập Khu Công nghệ cao Cần Thơ trình Bộ Khoa học và Công nghệ lấy ý kiến thẩm định; (3) Triển khai Quyết định số 1603/QĐ-UBND ngày 25/6/2025 của UBND thành phố thành lập Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ trên cơ sở hợp nhất Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ và Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông; (4) UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch hành động số 97/KH-UBND ngày 02/10/2025 về phát triển đô thị thông minh trên địa bàn thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Đề án Xây dựng thành phố Cần Thơ phát triển thành đô thị thông minh giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và đề xuất mở rộng triển khai các nhiệm vụ, dự án phát triển đô thông minh trên địa bàn thành phố Cần Thơ giai đoạn 2025 - 2030.
Về chuyển đổi số: Trước sáp nhập, các địa phương đã ban hành các kế hoạch năm và triển khai quyết liệt các nhiệm vụ về chuyển đổi số, với nhiều chuyển biến tích cực trên cả 3 trụ cột Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Sau sáp nhập, thành phố đã nhanh chóng rà soát các nhiệm vụ, hoàn thiện hạ tầng số cấp cơ sở, chuẩn hóa và liên thông cơ sở dữ liệu giữa các ngành, đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp và người dân ứng dụng số trong sản xuất, quản lý và giao tiếp xã hội; toàn thành phố hiện có 93 xã, phường quyết định thành lập 93 Đội phản ứng nhanh (1.443 thành viên) và 1.725 Tổ công nghệ số cộng đồng (11.025 thành viên) hỗ trợ người dân giải quyết thủ tục hành chính và thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số tại địa phương. Ước năm 2025, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 7,4%.
a) Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng:
Theo dõi chặt chẽ và ứng phó kịp thời với các tình huống dịch bệnh trên địa bàn nhất là diễn biến bất thường của sốt xuất huyết, tay chân miệng và sởi. Hệ thống các bệnh viện chuyên sâu, đa khoa, trung tâm y tế, trạm y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp; chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục được nâng cao; triển khai áp dụng kỹ thuật mới, kỹ thuật cao trong khám, chẩn đoán và điều trị bệnh; xã hội hóa hoạt động y tế ngày càng đa dạng, y tế tư nhân tiếp tục phát triển, góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân trên địa bàn và khu vực. Ước thực hiện năm 2025, thành phố đạt 14,83 bác sĩ/vạn dân và 43,90 giường bệnh/vạn dân. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số tiếp tục được triển khai đồng bộ, công tác bảo trợ xã hội và phòng, chống tệ nạn xã hội được quan tâm, đẩy mạnh; công tác đảm bảo an toàn thực phẩm được triển khai hiệu quả. Công tác chuyển đổi số y tế tiếp tục được tăng cường, đến nay 100% cơ sở y tế có giường bệnh trên địa bàn đã triển khai hồ sơ bệnh án điện tử.
b) Giải quyết việc làm, giảm nghèo và các chính sách an sinh xã hội:
Công tác giới thiệu việc làm được triển khai thực hiện hiệu quả. Năm 2025, thành phố đã giới thiệu việc làm cho 115.084 lao động (cung ứng lao động đi làm việc ở nước ngoài là 2.377 người). Tổ chức thu thập và nhập thông tin để thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu được 11.050 lượt người tìm việc; tư vấn chính sách lao động, việc làm, học nghề cho 242.139 lượt người. Tổ chức nhiều hoạt động giao dịch việc làm, đã thu hút được 28.104 người lao động tham dự, có 1.327 lượt nhà tuyển dụng tham gia.
UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 77/KH-UBND ngày 17/9/2025 về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2025; Kế hoạch số 90/KH-UBND ngày 29/9/2025 về rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình và người lao động có thu nhập thấp năm 2025 trên địa bàn thành phố; thực hiện rà soát phân bổ kinh phí, trách nhiệm triển khai các dự án thuộc nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; tỷ lệ hộ nghèo năm 2025 giảm còn 0,59%; hộ cận nghèo giảm còn 2,61%.
Quan tâm, chăm lo cho Người có công với cách mạng, thực hiện trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho 18.200 lượt người có công với cách mạng và thân nhân, với tổng kinh phí khoảng 51 tỷ đồng/tháng; thực hiện điều dưỡng năm 2025 cho 7.772 người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ trên địa bàn thành phố. Ngoài ra, công tác quản lý, cải tạo và nâng cấp các công trình ghi công liệt sĩ; công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính liệt sĩ được quan tâm thực hiện thường xuyên; thực hiện chế độ phụ cấp, bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho người có công với cách mạng và thân nhân họ được triển khai đầy đủ, kịp thời; thành phố thường xuyên tổ chức thăm hỏi người có công với cách mạng nhân các dịp lễ, tết; thực hiện các chính sách, chế độ ưu đãi trong giáo dục, đào tạo,...theo đúng quy định .
Chi tiền Tết độc lập cho 3.867.719 lượt công dân; hưởng ứng Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước” do Thủ tướng Chính phủ phát động, thành phố rà soát có 11.462 căn phải xây dựng và sửa chữa, trong đó: người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ: 1.860 căn; hộ nghèo, hộ cận nghèo: 9.132 căn; hộ nghèo hỗ trợ nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số: 470 căn; với tổng nguồn lực kinh phí thực hiện trên 312,47 tỷ đồng. Đến ngày 29/6/2025, thành phố đã hoàn thành 100% số lượng nhà ở phải xây dựng và sửa chữa.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế (BHXH, BHTN, BHYT); triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển người tham gia; giao cơ quan BHXH các cấp rà soát danh sách, cập nhật, báo cáo Ban chỉ đạo xã, phường hàng tháng để đôn đốc, kiểm tra; đôn đốc thu, giảm số tiền chậm đóng, không để phát sinh số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN; thường xuyên rà soát, hoàn thiện cơ sở dữ liệu người chưa tham gia để xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động tham gia BHXH tự nguyện; BHYT hộ gia đình; giải quyết chi trả kịp thời, đầy đủ các quyền lợi về BHXH, BHYT, BHTN cho người tham gia. Kết quả năm 2025, tỷ lệ bao phủ BHYT của thành phố đạt 95%; Tỷ lệ tham gia BHXH của lực lượng lao động trong độ tuổi là 45% (trong đó tỷ lệ người tham gia BHXH bắt buộc là 39%, BHXH tự nguyện là 6%). Tỷ lệ tham gia BHTN là 35%.
c) Văn hóa, thể dục và thể thao:
Tổ chức đa dạng các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ, sự kiện của đất nước và thành phố tạo không khí phấn khởi, vui tươi cho Nhân dân[45]. Quan tâm xây dựng đời sống văn hóa và xây dựng người Cần Thơ; phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.
Thể dục thể thao cho mọi người được duy trì[46]; ước đến cuối năm 2025, tổ chức, phối hợp tổ chức 10 giải, hội thao trên địa bàn thành phố, có khoảng 28.000 vận động viên (VĐV) tham dự, 92.000 lượt xem và cổ vũ[47]. Đăng cai tổ chức, phối hợp tổ chức 09 giải thể thao quốc gia, có 1.004 VĐV tham dự, ước khoảng 35.000 lượt người xem và cổ vũ[48]. Kiểm tra, giám sát việc tập luyện của các đội thể thao; rà soát, tuyển chọn, nâng tuyến và đào thải huấn luyện viên, vận động viên (VĐV) các môn thể thao thành tích cao theo quy định. Quyết định cử đoàn VĐV tham dự giải thể thao theo lịch thi đấu của Cục Thể dục Thể thao, các giải thể thao khu vực và quốc tế. Tham dự 105 giải thể thao quốc gia ước đạt 779 huy chương (211 huy chương vàng, 210 huy chương bạc, 358 huy chương đồng).
đ) Công tác dân tộc - tôn giáo:
Công tác dân tộc - tôn giáo luôn được chú trọng, tình hình triển khai chính sách dân tộc được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện và hỗ trợ kịp thời, cùng với các chính sách an sinh xã hội khác đã tạo cơ hội cho hộ nghèo, hộ cận nghèo có điều kiện đầu tư, phát triển sản xuất tăng thu nhập để thoát nghèo và vươn lên trung bình, khá góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn. Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn cơ bản ổn định, hoạt động đạo sự theo đúng Hiến chương, giáo lý, giáo luật được Nhà nước công nhận và tuân thủ quy định pháp luật Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
e) Công tác thanh niên:
Công tác tuyên truyền, quán triệt và phổ biến Luật Thanh niên, Nghị định của Chính phủ và các Thông tư đã được thành phố triển khai, thực hiện tốt; hình thức triển khai phong phú và đa dạng phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Nhận thức của các cấp ủy đảng, Chính quyền và Nhân dân về thanh niên và công tác thanh niên đã được nâng lên và có nhiều chuyển biến tích cực; gia đình và xã hội đã có sự quan tâm hơn đối với việc chăm lo cho thế hệ trẻ; nhiều chính sách đối với thanh niên đã được các ngành, địa phương tham mưu UBND thành phố Cần Thơ ban hành lồng ghép vào chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, địa phương để tạo mọi điều kiện cho thanh niên phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
g) Công tác bình đẳng giới:
Thành phố đã triển khai đồng bộ Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2025, gắn với các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và địa phương. Nhận thức của các cấp, ngành và cộng đồng về bình đẳng giới được nâng cao, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong cơ quan Nhà nước đạt 68,61%[49]; tỷ lệ nữ chủ doanh nghiệp đạt 32%. Công tác phòng, chống bạo lực gia đình được chú trọng, 100% nạn nhân bị bạo lực giới được hỗ trợ, tư vấn. Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tỷ lệ hoàn thành cấp học của học sinh nữ dân tộc thiểu số và tỷ lệ nữ học viên nghề đạt mục tiêu đề ra. Thành phố đảm bảo nam, nữ được bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin. Nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, bảo tồn di sản được tổ chức với sự tham gia đông đảo của phụ nữ.
Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được triển khai có hiệu quả, chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Từ đó, triển khai nhiều hoạt động bảo vệ môi trường như trồng cây xanh, ra quân dọn dẹp vệ sinh môi trường, mít-tinh tập huấn, lắp đặt pano tuyên truyền, truyền thông đa phương tiện góp phần cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao nhận thức của cộng đồng. Hoạt động thu gom, xử lý chất thải được chú trọng; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn ở đô thị đạt 96,76%[50]; tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý 98%. Tăng cường công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, giám sát chặt chẽ việc thực thi quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp trên địa bàn. Duy trì việc cấp nước liên tục, đủ áp lực, chất lượng nước; mở rộng mạng lưới cung cấp nước sạch; ước đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được cung cấp nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn đạt 82,74%.
Thực hiện quan trắc và phân tích chất lượng không khí xung quanh thành phố, chất lượng nước mặt, thủy sinh, trầm tích. Hệ thống quan trắc được duy trì, nâng cao chất lượng dữ liệu, phục vụ hiệu quả công tác giám sát môi trường; hoàn thành công tác quan trắc môi trường với 57 đợt (gồm quan trắc không khí xung quanh, nước mặt, nước dưới đất và đất, thủy sinh, trầm tích); vận hành 17 trạm quan trắc xâm nhập mặn tự động, liên tục và quản lý 24 trạm quan trắc tự động, liên tục.
Công tác quản lý đất đai được triển khai đồng bộ, đảm bảo quy trình, quy định bám sát yêu cầu phát triển đô thị và triển khai các dự án trọng điểm[51]; đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất, bồi thường, tái định cư triển khai các dự án trọng điểm; trình phê duyệt Danh mục dự án phải chuyển mục đích sử dụng đất có diện tích đất trồng lúa trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2025.
Công tác phòng, chống thiên tai: Xảy ra 114 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển với tổng chiều dài 2.982 m, thiệt hại ước tính trên 26 tỷ đồng. Mưa kèm theo giông lốc xảy ra 76 đợt, ước tổng thiệt hại khoảng 10,8 tỷ đồng. Ngập lụt do triều cường xảy ra 05 đợt, làm hơn 700 nhà hộ dân bị ngập và hơn 1.600 ha diện tích nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng. Hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô xuất hiện 13 đợt xâm nhập mặn trên các sông, kênh, rạch: sông Hậu tại Trần Đề; sông Cái Lớn; sông Cái Côn; sông Mỹ Thanh tại Dù Tho; kênh Quản lộ Phụng Hiệp; ghi nhận 14 cơn bão xuất hiện trên Biển Đông. Theo dõi tình hình thiệt hại, tổng hợp nhu cầu hỗ trợ, xem xét bố trí nguồn kinh phí từ Quỹ phòng chống thiên tai để hỗ trợ cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai kịp thời và hiệu quả. Tổng số tiền đã hỗ trợ khắc phục thiệt hại do thiên tai gây ra trên địa bàn thành phố từ đầu năm 2025 đến nay là 1.402,5 triệu đồng, trong đó, UBND thành phố đã phê duyệt hỗ trợ 937 triệu đồng và 411,5 triệu đồng tạm ứng từ Quỹ phòng chống thiên tai thành phố.
a) Công tác quy hoạch, kiến trúc, quản lý xây dựng, phát triển đô thị:
Hoàn thành công tác rà soát, thống nhất nội dung điều chỉnh Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Triển khai công tác lập quy hoạch chung thành phố Cần Thơ đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ lập, điều chỉnh các quy hoạch xây dựng, dự án quy hoạch đô thị. Qua rà soát, trên địa bàn thành phố có 992 đồ án (Cần Thơ cũ 268 đồ án; Hậu Giang cũ 409 đồ án; Sóc Trăng cũ 315 đồ án) quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được duyệt; tiếp tục tổ chức quản lý, phân công quản lý để đảm bảo tính xuyên suốt trong quản lý trật tự xây dựng, quy hoạch đô thị và nông thôn. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về Quy chế quản lý kiến trúc, Chương trình phát triển đô thị nhằm bảo đảm tính minh bạch, đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư và phát triển bền vững; tỷ lệ đô thị hóa năm 2025 ước đạt 47,6%[52].
Thực hiện rà soát, tháo gỡ các vướng mắc pháp lý và đôn đốc tiến độ các dự án nhà ở, khu đô thị, nhất là các dự án chậm triển khai, đã có quyết định chủ trương đầu tư; trong đó phân loại nhóm dự án cần xử lý, tái khởi động hoặc điều chỉnh quy hoạch; góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển minh bạch, bền vững. Kết quả rà soát trên địa bàn hiện có 171 dự án nhà ở thương mại (Cần Thơ cũ 97 dự án (gồm 30 dự án đã bàn giao về địa phương quản lý, 67 dự án đang triển khai); Sóc Trăng cũ có 36 dự án đang triển khai, Hậu Giang cũ có 26 dự án đang triển khai).
Triển khai các chương trình phát triển nhà ở xã hội theo quy hoạch và chỉ tiêu được giao tại Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 27/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Lũy kế kết quả thực hiện trong giai đoạn từ năm 2021 - 2024, thành phố Cần Thơ đã hoàn thành 2.252 căn nhà ở xã hội. Năm 2025, thực hiện 1.397 căn, đạt chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao[53].
Công tác cấp phép xây dựng, quản lý các công trình xây dựng trên địa bàn được thực hiện chặt chẽ, lũy kế đến thời điểm báo cáo đã cấp 04 giấy phép xây dựng; cấp 171 chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, 02 chứng chỉ hành nghề kiến trúc; cấp 32 chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng ; cấp 01 giấy phép hoạt động xây dựng cho nhà thầu nước ngoài; thông báo hợp quy sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng cho 03 đơn vị; tổ chức kiểm tra công tác nghiệm thu và ra thông báo kết quả kiểm tra 266 công trình; triển khai thẩm định và trả kết quả thông báo thẩm định 110 hồ sơ[54].
Tăng cường quản lý và sử dụng lòng đường, vỉa hè trên địa bàn, không gian dành cho giao thông công cộng, bãi giữ xe. Thực hiện kiểm tra an toàn điện trang trí, điện chiếu sáng công cộng, cây xanh trong dịp lễ, Tết, ngày kỷ niệm và trong mùa mưa.
b) Xây dựng nông thôn mới:
Thực hiện rà soát, đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới ở cấp xã sau sáp nhập; dự kiến cuối năm 2025, thành phố duy trì và nâng chất 59/72 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 81,94%; trong đó, 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Thành phố hiện có 895 sản phẩm OCOP trong đó có 04 sản phẩm OCOP đạt 5 sao, 242 sản phẩm OCOP 4 sao và 649 sản phẩm OCOP 3 sao.
c) Liên kết vùng, liên kết hợp tác:
Tiếp tục phối hợp chặt chẽ các địa phương trong vùng thực hiện các hoạt động liên kết phát triển, tạo sự gắn kết giữa các địa phương. Tiếp tục triển khai thực hiện Thông báo Kết luận của Chủ tịch Hội đồng điều phối vùng ĐBSCL tại Hội nghị Hội đồng điều phối vùng lần thứ năm. Triển khai kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh, thành vùng ĐBSCL; tăng cường ký kết hợp tác với các tỉnh, thành trên cả nước.
Tổng kết Chương trình hợp tác giữa UBND thành phố và Trường Đại học Cần Thơ giai đoạn 2020 - 2025; ký kết Chương trình hợp tác giữa UBND thành phố với Đại học Cần Thơ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Tây đô, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học Nam Cần Thơ, Đại học Võ Trường Toản.
Công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh tiếp tục được triển khai quyết liệt, toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Tập trung sắp xếp tổ chức quân sự địa phương theo mô hình tổ chức Chính quyền địa phương hai cấp, xây dựng lực lượng, thế trận và tiềm lực quốc phòng trong khu vực phòng thủ. Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới vùng biển, công tác tuần tra, kiểm soát, phòng chống xuất, nhập cảnh trái phép bằng đường biển; quản lý tốt người, phương tiện ra, vào, hoạt động tại khu vực biên giới biển, khai thác, vận chuyển cát thuộc vùng biển.
Công tác tuyển quân, tuyển sinh quân sự được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, đúng kế hoạch; trong đó, đã tổ chức thành công lễ giao nhận quân, kết quả đã giao 4.794 công dân cho Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đạt 100% chỉ tiêu; tiếp nhận 392 chiến sĩ cho 03 Trung đoàn; tổng kết công tác tuyển chọn và gọi công nhân nhập ngũ năm 2025 đúng quy định. Triển khai kế hoạch tuyển chọn và gọi công nhân nhập ngũ năm 2026, đã đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu cho 26.345 công dân tuổi 17 tuổi; tổ chức xét duyệt nghĩa vụ quân sự lần một được 75.701 công nhân đủ điều kiện sơ tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự. Giải quyết cho 177 quân nhân xuất ngũ và đón 3.177 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trở về địa phương đăng ký vào ngạch dự bị.
Các lực lượng vũ trang đã tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm công tác sẵn sàng chiến đấu, thực hiện tuần tra, kiểm soát, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tình hình tội phạm được kiềm chế, phát hiện 2.009 vụ, giảm 446 vụ so với cùng kỳ; điều tra khám phá 1.548 vụ, bắt xử lý 2.863 đối tượng, tỷ lệ điều tra khám phá tội phạm đạt 77,05%; trong đó, phát hiện 150 vụ vi phạm quản lý kinh tế, khởi tố 38 vụ, 77 bị can, xử lý hành chính 56 vụ; 106 vụ sử dụng công nghệ cao phạm tội, khởi tố 60 vụ; 200 vụ vi phạm môi trường, khởi tố 03; phát hiện 350 vụ, bắt xử lý 855 đối tượng, thu giữ 4 kg ma túy các loại và 1.019 viên ma túy tổng hợp, khởi tố mới 397 vụ với 764 bị can. Năm 2025, trên địa bàn thành phố có 25 xã, phường không ma túy (chiếm tỷ lệ 20% trên tổng số xã, phường).
Sẵn sàng lực lượng, phương tiện tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; trong năm 2025 đã đều đặn 1.697 lượng bộ đội thường trực, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ tham gia cứu nạn thành công 03 vụ tàu cá ngư dân gặp nạn, khắc phục 75 vụ thiên tai, hỏa hoạn và 02 đợt triều cường, giúp nhân dân di dời tài sản đến nơi an toàn, ổn định cuộc sống.
Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, xử lý các hành vi vi phạm về an toàn giao thông. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông, xây dựng phương án phân luồng, phân tuyến giao thông, hạn chế xảy ra ùn tắc giao thông tại các tuyến đường trọng điểm, các điểm vui chơi giải trí công cộng, các sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng diễn ra trên địa bàn. Lũy kế đến thời điểm báo cáo[55]: xảy ra 563 vụ tai nạn giao thông, làm chết 357 người, bị thương 340 người, thiệt hại tài sản khoảng 2,917 tỷ đồng; so với cùng kỳ: giảm 105 vụ; tăng 32 người chết; giảm 164 người bị thương. Trên địa bàn xảy ra 16 vụ cháy, không gây thiệt hại về người, tài sản thiệt hại ước tính 3,163 tỷ đồng; so với cùng kỳ, giảm 09 vụ cháy, giảm 02 người chết và giảm 03 người bị thương; nguyên nhân chủ yếu do sự cố về điện; không xảy ra các vụ cháy cấp III, IV, V; nổ không xảy ra
2.11. Hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế
Hoạt động đối ngoại được triển khai đồng bộ, hiệu quả bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với điều kiện thực tế; triển khai thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới[56]. Hoạt động giao lưu quốc tế, xúc tiến đầu tư, quảng bá địa phương ở nước ngoài được đẩy mạnh. Thành phố đã ký kết 04 bản ghi nhớ hợp tác và các hình thức thỏa thuận quốc tế khác với đối tác từ các quốc gia: Nhật Bản, Senegal, Hàn Quốc; tiếp và làm việc với 510 đoàn với 3.483 lượt khách nước ngoài; có 07 đoàn với 33 lượt phóng viên báo chí nước ngoài đến tác nghiệp; 42 hội nghị, hội thảo quốc tế được tổ chức trên địa bàn; tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (APF) và Diễn đàn nghị viện hợp tác Pháp ngữ về Nông nghiệp bền vững, An ninh lương thực và Ứng phó Biến đ ổi khí hậu tại thành phố Cần Thơ; Hội nghị Gặp gỡ Nhật Bản - Khu vực ĐBSCL và đón tiếp Đoàn đại biểu Liên minh Nghị sĩ Hữu nghị Nhật - Việt tại thành phố Cần Thơ; giải quyết 45 vụ việc liên quan đến công tác lãnh sự và bảo hộ công dân.
Cung cấp thông tin tuyên truyền cho các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương, thực hiện tuyên truyền đầy đủ, chính xác, kịp thời. Hạ tầng viễn thông trên địa bàn thành phố đã được chú trọng đầu tư, phát triển. Hệ thống máy chủ Hội nghị truyền hình vận hành ổn định và phục vụ hiệu quả các cuộc họp trực tuyến . Tiếp tục duy trì hệ thống quản lý văn bản, điều hành triển khai từ cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp từ cấp thành phố đến cấp xã, liên thông Trục liên thông văn bản của thành phố với Trục liên thông văn bản Quốc gia bảo đảm việc gửi, nhận văn bản điện tử liên thông từ Trung ương đến cấp xã. Triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu triển khai Cổng Dịch vụ công quốc gia trở thành “điểm một cửa số” tập trung, duy nhất của quốc gia; triển khai thống nhất một hệ thống dùng chung cho thành phố Cần Thơ sau khi sáp nhập với tỉnh Hậu Giang và Sóc Trăng, chính thức vận hành từ ngày 01/7/2025.
Tăng trưởng kinh tế đạt khá, các khu vực đều có mức tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất công nghiệp phục hồi, duy trì chỉ số sản xuất tăng 10%; nhiều dự án hạ tầng giao thông và đô thị lớn được đẩy nhanh tiến độ (cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; các tuyến đường tỉnh; các nút giao thông trọng điểm, hạ tầng khu công nghiệp, các dự án hạ tầng năng lượng…). Thương mại - dịch vụ tăng trưởng tốt đúng kịch bản phấn đấu. Sản xuất nông nghiệp ổn định, sản lượng lúa 4,7 triệu tấn, thủy sản 783 nghìn tấn; nhiều vùng sản xuất tập trung, VietGAP, GlobalGAP được mở rộng; ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiệu quả.
Triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từng bước tạo thành nền tảng tốt cho tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định ngân sách.
Thành phố chủ động triển khai các nhiệm vụ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nhiều nhiệm vụ, phần việc đã thực hiện hoàn thành vượt tiến độ.
Chính sách an sinh xã hội được quan tâm thực hiện; thực hiện tốt công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề, chú trọng chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Các chính sách hỗ trợ người nghèo, đối tượng yếu thế, vùng dân tộc thiểu số được triển khai đồng bộ, kịp thời. Phong trào “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn thành phố” hoàn thành vượt tiến độ.
Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin - truyền thông, chuyển đổi số và công tác dân tộc, tôn giáo đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Bộ máy chính quyền hai cấp được kiện toàn, vận hành ổn định sau sáp nhập.Công tác cải cách hành chính, xây dựng Chính quyền số được đẩy mạnh.
Tình hình quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững, trật tự an toàn xã hội cơ bản được đảm bảo.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa mục tiêu đề ra, tăng trưởng chưa đồng đều trong nội bộ ngành: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao trong lĩnh vực công nghiệp nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn từ thị trường, lượng hàng tồn kho tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp khá cao, công suất, năng lực đầu tư mới, đầu tư mở rộng tăng chậm. Bên cạnh đó, sản lượng ngành sản xuất và phân phối điện giảm do lượng mưa lớn, các nhà máy thủy điện vận hành tối đa, dẫn đến Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1 giảm công suất h uy động; là yếu tố tác động đáng kể đến giá trị tăng thêm trong năm của toàn ngành công nghiệp và toàn nền kinh tế. Một số công trình trọng điểm tiến độ còn chậm, chưa đóng góp vào tăng trưởng. Dịch vụ chất lượng cao phát triển chưa đồng đều; du lịch chưa khai thác hết tiềm năng của địa phương, chưa xây dựng được sản phẩm du lịch đặc thù, liên kết trong hoạt động du lịch lữ hành gắn với cơ sở lưu trú trên địa bàn chưa phát huy hiệu quả; hoạt động xuất khẩu dễ bị ảnh hưởng bởi các chính sách thuế, rào cản kỹ thuật; phát triển thương mại điện tử chưa thật sự bền vững.
Kết quả giải ngân vốn Kế hoạch đầu tư công năm 2025 vẫn chưa đáp ứng yêu cầu tiến độ.
Thu hút đầu tư ngoài ngân sách, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa đạt kỳ vọng. Một số chương trình tín dụng chưa phát sinh dư nợ hoặc dư nợ còn thấp như: chương trình cho vay nhà ở xã hội, cho vay lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp.
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tuy được quan tâm nhưng thiếu tính đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của đô thị sau sáp nhập. Tình trạng tình trạng ứ đọng rác thải trên kênh rạch, ao hồ vẫn còn xảy ra, làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, đường thoát nước,…
Cơ sở hạ tầng giao thông mặc dù được thành phố quan tâm đầu tư, nâng cấp, duy tu, sửa chữa định kỳ nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của địa phương; thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông cục bộ vào giờ cao điểm tại một số vị trí nút giao thông khu vực nội ô.
Các điều kiện về giáo dục, y tế, chuyển đổi số còn chênh lệch về mức độ phát triển tại vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số.
Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy sau sáp nhập vẫn còn khó khăn, lúng túng trong quản lý, triển khai thực hiện, nhất là trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng phục vụ thi công các công trình, dự án; công tác đồng bộ các cơ sở dữ liệu, phần mềm giải quyết thủ tục hành chính trong các cơ quan đơn vị, nhất là cơ sở dữ liệu về đất đai,…
Tội phạm sử dụng công nghệ cao có chiều hướng gia tăng, tai nạn giao thông giảm về số vụ nhưng tăng số người tử vong.
3. Nguyên nhân hạn chế, khó khăn
3.1. Nguyên nhân khách quan
Tình hình kinh tế thế giới có nhiều diễn biến khó lường, gây tác động đến kinh tế trong nước, từ đó ảnh hưởng đến tình hình tăng trưởng các ngành, lĩnh vực của các địa phương.
Chi phí sản xuất trong các ngành đều tăng, sản xuất công nghiệp phụ thuộc nhiều vào sự phục hồi kinh tế và sức mua của thị trường. Nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ảnh hưởng đến tiêu thụ hàng hóa. Sức mua thị trường thương mại truyền thống sụt giảm, người tiêu dùng có xu hướng mua sắm trên các trang thương mại điện tử.
Cơ sở pháp lý để thực hiện các nhiệm vụ sau sắp xếp tổ chức bộ máy chưa được hoàn thiện đồng bộ, ảnh hướng đến công tác triển khai ở cấp địa phương. Việc vận hành đồng bộ cơ sở dữ liệu trên các ứng dụng phần mềm trong thời gian đầu sau sáp nhập còn nhiều lỗi kỹ thuật (cụ thể như: phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu đất đai và phần mềm một cửa chưa đồng bộ thống nhất; việc kê khai, biên tập và xử lý trên phần mềm còn chậm…).
Tác động của thời tiết bất thường, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, giông lốc diễn biến phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và hạ tầng dân sinh.
3.2. Nguyên nhân chủ quan
Công tác phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương chưa thật sự chặt chẽ; Công tác dự báo và xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế chưa linh hoạt, một số ngành chưa chủ động trong đề xuất nhiệm vụ.
Công tác giải ngân còn nhiều khó khăn do việc khảo sát, thu thập số liệu để lập chủ trương đầu tư, dự án đầu tư chưa chuẩn xác, đặc biệt là việc khái toán kinh phí hỗ trợ, bồi thường và tái định cư còn thấp so với giá thị trường, dẫn đến khi triển khai thực hiện rất nhiều dự án có kinh phí bồi thường thực tế tăng nhiều so với quyết định đầu tư đã được cấp thẩm quyền phê duyệt và làm vượt tổng mức đầu tư được duyệt, từ đó phải thực hiện các thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án, mất nhiều thời gian; Một số xã, phường chưa ban hành chính sách hỗ trợ khác, giá đất cụ thể; thiếu nền tái định cư, người dân còn khiếu kiện về giá bồi thường và chính sách tái định cư nhất là các dự án giao thông, kè chống sạt lở có quy mô đầu tư trải dài; Năng lực của một số Chủ đầu tư còn hạn chế; Tình trạng khan hiếm nguồn vật liệu xây dựng như cát, đá... làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công; Công tác bàn giao tài khoản, mã đơn vị quan hệ ngân sách , dữ liệu dự toán ngân sách giữa đơn vị cũ và đơn vị mới phải thực hiện thủ công, mất nhiều thời gian trong công tác đối chiếu và xác nhận.
Một bộ phận cán bộ, công chức còn lúng túng trong triển khai cơ chế mới sau sáp nhập, tinh giản biên chế lớn nên thiếu hụt nhân lực ở một số vị trí, vào một số thời điểm nhất định.
Cải cách hành chính tuy có chuyển biến nhưng chưa thực sự đột phá; ứng dụng chuyển đổi số còn thiếu đồng bộ giữa các hệ thống.
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH NĂM 2026
Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm, xu hướng bảo hộ, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và phân cực công nghệ diễn ra mạnh mẽ. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng tài nguyên và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt ảnh hưởng đến các quốc gia đang phát triển. Cùng với đó, các xu hướng lớn như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực chính cho tăng trưởng. Sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới đặt ra cả cơ hội và thách thức trong điều chỉnh mô hình phát triển, cơ cấu lao động và quản trị xã hội.
Trong nước, tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ vững, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Quy mô, tiềm lực và vị thế quốc gia được nâng cao; môi trường đầu tư, kết cấu hạ tầng, đời sống Nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức như nguy cơ tụt hậu, năng lực tự chủ và sức cạnh tranh còn hạn chế, tình trạng già hóa dân số gia tăng, biến đổi khí hậu, thiên tai ngày càng gay gắt.
Việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh tạo ra không gian phát triển rộng hơn, nguồn lực lớn hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc mô hình phát triển, phân bổ lại nguồn lực, nâng cao năng lực quản trị vùng, phát huy vai trò trung tâm động lực, dẫn dắt vùng ĐBSCL. Đồng thời, năm 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng, là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030. Thành phố cần chủ động thích ứng với mô hình quản lý mới, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, phát huy tiềm năng tổng hợp của các địa phương sau sáp nhập, đồng thời giải quyết hài hòa các vấn đề đặt ra như chênh lệch phát triển, liên kết hạ tầng, bảo vệ môi trường và an ninh nguồn nước. Chủ động nâng cao năng lực nội tại, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và tăng cường hội nhập quốc tế để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, lấy năm 2026 là năm nền tảng vững chắc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, từng bước khẳng định vai trò trung tâm, động lực vùng ĐBSCl, cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia.
II. MỤC TIÊU, CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
Tập trung ổn định tổ chức bộ máy sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, bảo đảm hoạt động thông suốt của mô hình Chính quyền địa phương hai cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển kinh tế tư nhân. Tập trung tháo gỡ khó khăn, khơi thông các động lực tăng trưởng kinh tế. Thực hiện hiệu quả các giải pháp đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chú trọng phát triển lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu. Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững những năm tiếp theo.
(1) Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tính theo giá hiện hành đạt tối thiểu 360.821 tỷ đồng; tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người (GRDP/người) đạt tối thiểu 111,04 triệu đồng/người/năm; tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt từ 10 - 10,5% trở lên; kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ tăng 11% so với năm 2025; thu nhập bình quân đầu người đạt tối thiểu 5.928.000 đồng/người/tháng.
(2) Tổng thu ngân sách phấn đấu tăng khoảng 15% so với năm 2025.
(3) Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP): Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 19,94%; công nghiệp - xây dựng chiếm 28,49% (trong đó, công nghiệp chiếm 23,03%); dịch vụ chiếm 46,45% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,12%.
(4) Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá hiện hành đạt tối thiểu 117.740 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng 32,63% GRDP.
(5) Nâng cao các chỉ số: cải cách hành chính (PAR INDEX); sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS), hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); phấn đấu đạt kết quả xếp hạng trong “Nhóm 15 địa phương có chất lượng điều hành tốt”.
(6) Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế thành phố ở mức trên 25%.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 8,3%.
- Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt tối thiểu 65%.
- Phấn đấu bố trí 3% tổng chi ngân sách cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10 - 15% so với năm 2025.
- Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo tăng 11,5%.
- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 10 người trên một vạn dân; số lượng đơn vị đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10% so với năm 2025.
(7) Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt từ 10%/năm trở lên.
(8) Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công phấn đấu đạt 100% tổng kế hoạch vốn đầu tư công được Chính phủ giao.
(9) Dân số trung bình đến năm 2026 là 3.249.504 người.
(10) Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt tối thiểu 0,73.
(11) Giá trị năng suất lao động theo giá hiện hành đạt trên 214,94 triệu đồng/lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ 29,5%; số lao động có việc làm trong nền kinh tế phấn đấu đạt 1.678.712 người; tỷ lệ lao động có việc làm trong nền kinh tế khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 38,73%, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 25,29%, khu vực dịch vụ đạt 35,98%; duy trì tỷ lệ thất nghiệp dưới 3,16%.
(12) Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 76,21 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 66 năm.
(13) Phấn đấu đạt 15,66 bác sỹ/vạn dân; 43,92 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt 95,4%[57]; tỷ lệ người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần đạt 100%.
(14) Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia phấn đấu đạt 68,6%. Trong đó: Mầm non đạt 81,1%; tiểu học đạt 63,4%; trung học cơ sở đạt 67,2%; trung học phổ thông đạt 51,7%. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở.
(15) Tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1 - 1,5%.
(16) Tỷ lệ cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường phấn đấu đạt 100%.
(17) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 95%; tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tối thiểu 98%; tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100%.
(18) Tập trung rà soát, nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các xã; phấn đấu có ít nhất 06 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030; tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn phấn đấu đạt 83,13%.
(19) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 1,8%.
2.4. Chỉ tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng
(20) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 48,2% trở lên.
(21) Triển khai các nhiệm vụ về phát triển đô thị thông minh.
(22) Hoàn thành 1.897 căn nhà ở xã hội.
2.5. Chỉ tiêu về quốc phòng, an ninh, đối ngoại
(23) Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục quốc phòng, an ninh hoàn thành 100% chỉ tiêu hàng năm.
(24) Đảm bảo tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự” từ 75% trở lên; tiếp tục xây dựng thêm 20% xã, phường không ma túy trong tổng số xã, phường chưa được công nhận.
(25) Ký kết ít nhất 01 thỏa thuận cấp thành phố với các địa phương, đối tác quốc tế; tham gia ít nhất 01 tổ chức quốc tế/diễn đàn đa phương có tôn chỉ, mục đích hoạt động phù hợp với mục tiêu phát triển của thành phố; phấn đấu 100% trường hợp được hỗ trợ hiệu quả qua công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài.
Tăng cường kết nối cung - cầu lao động; hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động gắn với ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Nâng cao năng lực dự báo nhu cầu sử dụng lao động, nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp theo hướng sát thực về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề và trình độ. Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, hiện đại; đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng kỹ năng cho người lao động, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp và các ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động trong bối cảnh mới, góp phần nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động. Dự kiến năm 2026, giải quyết việc làm cho 120.000 lao động; tuyển sinh đào tạo nghề 45.000 người; góp phần nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động đạt 74,67%, trong đó: tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 29,5%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị 3,16%.
Tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về quản lý tài chính - ngân sách; tổ chức triển khai kịp thời dự toán ngân sách Nhà nước được giao; tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính; bảo đảm cân đối ngân sách địa phương, sử dụng ngân sách Nhà nước tiết kiệm, hiệu quả, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Tiếp tục đẩy mạnh CCHC, hiện đại hóa công tác quản lý thu; tăng cường phối hợp giữa các ngành, các cấp trong quản lý nguồn thu; triển khai đồng bộ các giải pháp chống thất thu, xử lý nợ đọng thuế, mở rộng và khai thác hiệu quả các nguồn thu mới, nhất là từ đất đai, tài sản công, hoạt động kinh tế số, thương mại điện tử. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra thuế, chống chuyển giá, gian lận thuế; bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định pháp luật. Dự kiến năm 2026, thu ngân sách theo dự toán giao là 26.878 tỷ đồng (trong đó: thu nội địa 26.217 tỷ đồng, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 661 tỷ đồng); phấn đấu tăng thu ngân sách tăng khoảng 15% so với năm 2025[58] (mục tiêu phấn đấu theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030).
Điều hành chi ngân sách chặt chẽ theo dự toán và thứ tự ưu tiên; tập trung nguồn lực cho chi đầu tư phát triển, các công trình trọng điểm và nhiệm vụ có tính lan tỏa, tạo động lực tăng trưởng; quản lý chặt chẽ chi thường xuyên, triệt để tiết kiệm các khoản chi chưa thật sự cần thiết. Bảo đảm đầy đủ, kịp thời các khoản chi tiền lương, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ cấp bách; tăng cường kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước, kiên quyết phòng, chống thất thoát, lãng phí. Dự kiến năm 2026, tổng chi ngân sách địa phương 48.738,805 tỷ đồng (trong đó: chi cân đối ngân sách địa phương 28.588,292 tỷ đồng, chi từ nguồn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương 10.150,513 tỷ đồng).
Bảo đảm cân đối hài hòa giữa tăng trưởng tín dụng và an toàn hệ thống, đóng góp tích cực vào sự ổn định và phát triển bền vững của địa phương; trong đó, tăng trưởng huy động vốn đảm bảo đáp ứng ít nhất 70% hoạt động tín dụng; tăng trưởng tín dụng phải đáp ứng được các tiêu chí: (1) Phù hợp với sức hấp thụ của nền kinh tế nhưng vẫn phải đảm bảo mức tăng trưởng đủ mạnh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương; (2) Không đánh đổi tăng trưởng ngắn hạn với chất lượng tín dụng (nợ xấu), phấn đấu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức an toàn (dưới 3%); (3) Hướng nguồn vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; chủ động cân đối nguồn vốn tín dụng hỗ trợ thực hiện các Chương trình, Đề án trọng tâm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Dự kiến năm 2026, tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm tỷ trọng tối thiểu 32,63% GRDP. Quản lý, phân bổ và sử dụng vốn đầu tư công thống nhất, chặt chẽ, bảo đảm phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tuân thủ nghiêm các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công theo quy định của pháp luật. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời đẩy mạnh hợp tác công - tư, tạo điều kiện thu hút và dẫn dắt các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển. Thực sự coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của tăng trưởng, tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để khơi thông dòng vốn trong nước; thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và tăng cường liên kết giữa các khu vực kinh tế. Ưu tiên huy động nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ cao, công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi năng lượng; đồng thời tập trung tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng kéo dài nhằm sớm đưa nguồn lực đầu tư vào nền kinh tế. Tiếp tục phát triển đa dạng mô hình kinh tế tập thể, HTX thu hút ngày càng đông hộ gia đình và cá nhân tham gia; góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của các thành viên, hộ gia đình.
4.1. Đầu tư công
Kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 thành phố Cần Thơ các nguồn vốn ngân sách Nhà nước địa phương phân bổ chi tiết như sau:
- Nguồn vốn ngân sách địa phương: 12.325.900 triệu đồng.
- Nguồn vốn ngân sách Trung ương: 5.606.650 triệu đồng.
- Số vốn còn lại 1.334.000 triệu đồng vốn ngân sách Trung ương sẽ được giao chi tiết cho dự án Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ, quy mô 500 giường sau khi đảm bảo các điều kiện bố trí vốn theo quy định tại Điều 56 Luật Đầu tư công.
4.2. Huy động nguồn lực ngoài ngân sách
Dự kiến có tối thiểu 4.700 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn 32.900 tỷ đồng, tăng 4% về số lượng doanh nghiệp và tăng 25% về vốn so với năm 2025; thu hút tối thiểu 06 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký 130 triệu USD. Phấn đấu thành lập mới 55 HTX, trong đó tập trung xây dựng từ ít nhất 03 HTX có quy mô lớn trong lĩnh vực nông nghiệp; dự kiến đạt doanh thu bình quân HTX 3,3 tỷ đồng.
4.3. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ công tác thoái vốn tại các doanh nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tăng cường công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn Nhà nước, kiểm soát quyền lực, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định.
Thường xuyên theo dõi tình hình khôi phục hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và tuyên truyền thực hiện các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết và có hiệu lực. Tăng cường công tác xúc tiến, thúc đẩy việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, các chuỗi cung ứng. Dự kiến năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ và thu ngoại tệ ước thực hiện 6.060 triệu USD, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 1.450 triệu USD.
6. Khoa học công nghệ và chuyển đổi số
Tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và ưu tiên nguồn lực tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đẩy mạnh xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu trọng điểm gắn với các ngành công nghệ chiến lược; phát triển đồng bộ cơ sở dữ liệu, đưa dữ liệu trở thành tài nguyên phục vụ quản lý và phát triển. Tăng cường đầu tư hạ tầng nghiên cứu, phát triển công nghệ cao; đẩy mạnh liên kết hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước, thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học tham gia nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trên địa bàn. Dự kiến năm 2026, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 8,3%.
IV. ĐỊNH HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
1.1. Phát triển công nghiệp - xây dựng
Duy trì đà phục hồi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp chế biến các sản phẩm nông, lâm, thủy sản hướng vào xuất khẩu, mở rộng sản xuất những sản phẩm tinh chế, đa dạng hóa các mặt hàng, nâng cao giá trị xuất khẩu gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ; từng bước phát triển ngành công nghiệp xanh, sạch, theo hướng hiện đại. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp năm 2026 dự kiến tăng 11 - 13%.
Tập trung phát triển các khu công nghiệp (KCN), tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư và phát triển các dự án công nghiệp kỹ thuật cao, công nghiệp chế biến chuyên sâu; dự kiến hình thành 03 dự án kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Đại Ngãi, KCN Đông Phú, KCN Tân Hòa; điều chỉnh chủ trương đầu tư KCN Hưng Phú 1 (Cụm A); khuyến khích các cơ sở công nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng hiện đại, phấn đấu đến năm 2026 trên 80% doanh nghiệp trong KCN ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, giải pháp số vào hoạt động sản xuất kinh doanh; trên 30% doanh nghiệp trong KCN có hoạt động đổi mới sáng tạo. Đầu tư và hoàn chỉnh đồng bộ hạ tầng kỹ thuật chủ yếu cho các KCN đang hoạt động. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong KCN trong kết nối cung cầu lao động, giới thiệu việc làm, nhất là nguồn lao động đã qua đào tạo. Chú trọng công tác xử lý môi trường theo đúng các tiêu chuẩn hiện hành của pháp luật trong quá trình hoạt động và sản xuất của các doanh nghiệp KCN. Tiếp tục kêu gọi đầu tư hạ tầng các Cụm công nghiệp theo quy hoạch được duyệt.
Triển khai các giải pháp nhằm đảm bảo nguồn điện đáp ứng nhu cầu năng lượng và an toàn cho sản xuất, sinh hoạt; tăng cường kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động điện lực, bảo đảm an toàn công trình lưới điện cao áp và chấp hành các quy định của pháp luật trong sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hiệu quả; dự kiến sản lượng điện tiêu thụ năm 2026 tăng 10% so với cùng kỳ; điện năng tiết kiệm khoảng 168 triệu kWh.
Đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại, thông minh, bảo đảm tiến độ và chất lượng các công trình hạ tầng chiến lược, nhất là các dự án giao thông trọng điểm, hạ tầng kết nối vùng; phát triển hệ thống hạ tầng đô thị, năng lượng và hạ tầng phục vụ chuyển đổi số. Đồng thời, rà soát, điều chỉnh quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị theo hướng đồng bộ, khả thi, phù hợp với bối cảnh phát triển mới; tăng cường quản lý trật tự xây dựng, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, giám sát đầu tư xây dựng, bảo đảm phát triển đô thị bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu. Theo dõi diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn thị trưởng, đặc biệt là các vật liệu chủ yếu.
1.2. Phát triển thương mại, dịch vụ
Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, hàm lượng tri thức và công nghệ cao như công nghệ thông tin, viễn thông, logistics, hàng không, phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ cho sản xuất và cho các khu, cụm công nghiệp; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm, văn hóa - thể thao, công nghệ thông tin...
Xây dựng chương trình xúc tiến có trọng tâm, trọng điểm; lồng ghép các hoạt động xúc tiến thương mại phát triển thị trường vào các chương trình kích cầu tiêu dùng, kết nối cung cầu hàng hóa; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại ra nước ngoài nhằm kết nối, hỗ trợ phát triển thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của thành phố tạo thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến phát triển; hướng dẫn các cơ sở sản xuất, kinh doanh thiết lập mô hình mua bán, phân phối hàng hóa để kết nối cung cầu, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phù hợp với quy mô thị trường của từng địa bàn; thúc đẩy ứng dụng rộng rãi thương mại điện tử trong doanh nghiệp và người tiêu dùng nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ cho doanh nghiệp thành phố. Khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh xây dựng mô hình điểm bán sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc sản, đặc trưng vùng miền trên địa bàn thành phố nhằm giới thiệu, quảng bá và kết nối tiêu thụ sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc sản, đặc trưng vùng miền của thành phố và các tỉnh, thành phố trong cả nước; tăng cường kết nối tiêu thụ sản phẩm thông qua các hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện ích và chợ, nhất là chợ đầu mối. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ năm 2026 ước đạt tối thiểu 400.000 tỷ đồng. Hoàn thiện các quy định về quản lý hàng hóa lưu thông trên thị trường: quy định về nhãn mác hàng hóa, nguồn gốc xuất xứ, truyền thông quảng cáo, thông tin thị trường, tăng cường công tác bình ổn thị trường, chủ động tổ chức thực thi chặt chẽ các quy định của pháp luật đối với lĩnh vực chống bán phá giá, kiểm soát tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm lợi ích của người tiêu dùng.
Định hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững, chuyên nghiệp và hiện đại; tập trung triển khai hiệu quả các đề án, chương trình phát triển du lịch, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, du lịch nông nghiệp, du lịch đường sông và kinh tế ban đêm nhằm đa dạng hóa sản phẩm, thu hút khách và kéo dài thời gian lưu trú. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng du lịch thông minh, tăng cường quảng bá, xúc tiến và xây dựng thương hiệu du lịch thành phố; chú trọng phát triển nguồn nhân lực du lịch có chất lượng, đồng thời tăng cường quản lý Nhà nước, bảo đảm an ninh, an toàn và nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo môi trường du lịch văn minh, thân thiện và hấp dẫn. Dự kiến năm 2026, phấn đấu tiếp đón 12,3 triệu lượt khách, phục vụ lưu trú khoảng 5,43 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 490.000 lượt; dự kiến doanh thu ngành du lịch đạt 11.400 tỷ đồng.
Chú trọng phát triển vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng lực, hiệu quả, chất lượng dịch vụ vận tải, giảm chi phí logistics; chủ động đề xuất với cấp thẩm quyền về các chính sách, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương tham gia quản lý trực tiếp hoạt động vận tải, đề xuất tăng cường các đường bay quốc tế tại Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ; cải thiện khả năng kết nối giao thông đường thủy; kêu gọi đầu tư xây dựng cảng tàu khách theo quy hoạch để phục vụ việc đón các tàu khách du lịch trọng tải lớn và cao cấp, thúc đẩy phát triển du lịch đường thủy.
1.3. Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, trách nhiệm theo hướng “Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Phát triển sản xuất nông lâm thủy sản hàng hóa tích hợp đa giá trị, dựa trên lợi thế địa phương, theo hướng hiện đại có năng suất, chất lượng, hiệu quả, bền vững và sức cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, an ninh dinh dưỡng. Nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống, vai trò và vị thế của người tham gia sản xuất nông nghiệp; tạo việc làm phi nông nghiệp để phát triển sinh kế đa dạng, giảm nghèo bền vững cho người dân nông thôn. Phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh. Chủ động phối hợp với các viện, trường để tăng cường hướng dẫn nông dân ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng nông sản.
Dự kiến năm 2026, diện tích lúa cả năm 661.195 ha với tổng sản lượng đạt trên 4.396.165 tấn; cây hàng năm khác 96.876 ha với sản lượng đạt trên 1.551.844 tấn. Cây ăn quả 102.194 ha với sản lượng trên 1.158.783 tấn. Tổng đàn gia súc, gia cầm 16.729.983 con, sản lượng thịt các loại 171.489 tấn. Diện tích nuôi thủy sản 96.500 ha với tổng sản lượng 809.991 tấn (sản lượng nuôi 736.491 tấn; sản lượng khai thác 73.500 tấn).
Phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng đồng bộ, hiện đại, công bằng và hội nhập; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận giáo dục có chất lượng, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, khu vực, xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo của vùng ĐBSCL. Phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và ngoài công lập; ưu tiên đầu tư cho vùng còn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời; từng bước xây dựng xã hội học tập với hệ thống giáo dục đa dạng, linh hoạt, liên thông, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển thành phố. Phấn đấu nâng cao tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia năm 2026 đạt 68,6%.
Tập trung chỉ đạo phát triển ngành y tế theo hướng đồng bộ, hiện đại, lấy người dân làm trung tâm; nâng cao năng lực y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh; củng cố y tế cơ sở, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm y tế. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng y tế, hoàn thành các công trình y tế trọng điểm; bảo đảm đủ thuốc, vật tư, trang thiết bị phục vụ điều trị. Tăng cường chuyển đổi số y tế, triển khai bệnh án điện tử, sổ sức khỏe điện tử và dịch vụ y tế thông minh; đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường y tế và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân ; góp phần nâng cao tỷ lệ người dân hài lòng với dịch vụ y tế trên 90%, đáp ứng lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân đến năm 2026 đạt 95,4%.
Triển khai đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội đối với nhóm yếu thế, bảo vệ và chăm lo toàn diện cho các đối tượng cần hỗ trợ. Tăng cường các hoạt động phát triển thanh niên, thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Tiếp tục phối hợp triển khai đồng bộ các chương trình văn hóa - xã hội, bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh, hướng đến mục tiêu phát triển con người Cần Thơ toàn diện. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương và thành phố về giảm nghèo bền vững; thực hiện các giải pháp hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo, cận nghèo; ưu tiên các nhóm yếu thế, vùng khó khăn, khu vực nông thôn. Đẩy mạnh lồng ghép các chương trình, dự án giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo nghề, tín dụng chính sách, nhà ở, y tế, giáo dục. Triển khai thực hiện tốt Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát”, dự kiến năm 2026 thực hiện đạt tỷ lệ nghèo đa chiều theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030 là 6,42%; tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của lực lượng lao động trong độ tuổi là 48% (trong đó bắt buộc là 41,8%; tự nguyện 6,2%); tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 39%. Giải quyết tốt các vấn đề an sinh, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện công tác giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các dân tộc trong cộng đồng. Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để các tôn giáo hoạt động tôn giáo theo truyền thống, trong khuôn khổ của pháp luật quy định cho phép, theo quan điểm của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
2.4. Phát triển văn hóa, thể dục thể thao
Phát triển lĩnh vực văn hóa theo hướng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát huy giá trị con người Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; triển khai hiệu quả Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cổ động trực quan. Tăng cường bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với giáo dục truyền thống, số hóa di sản và phát triển du lịch văn hóa; nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật, tổ chức các sự kiện, liên hoan, biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Đồng thời, chú trọng xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc; phòng, chống bạo lực gia đình.
Phát triển lĩnh vực thể dục, thể thao theo hướng toàn diện, bền vững, nâng cao thể lực, tầm vóc và đời sống tinh thần của Nhân dân; đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phát triển thể thao trường học, thể thao trong lực lượng vũ trang. Mở rộng và đa dạng các hoạt động thể thao quần chúng, duy trì sử dụng thường xuyên 100% công trình thể thao với 1.658.930 người tập thể dục thể thao thường xuyên và 256.494 gia đình thể thao. Đồng thời, tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho thể thao thành tích cao và từng bước phát triển thể thao chuyên nghiệp; ưu tiên các môn mũi nhọn, tăng cường đào tạo, tuyển chọn, quản lý huấn luyện viên, vận động viên; tham gia, đăng cai các giải thể thao quốc gia, quốc tế; dự kiến phát triển thêm 20 môn thể thao cấp quốc gia với 155 vận động viên đẳng cấp quốc gia.
2.5. Thông tin và truyền thông
Bảo đảm thông tin, truyền thông kịp thời, chính xác, phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu tiếp cận thông tin của Nhân dân. Tăng cường công tác chỉ đạo, định hướng báo chí; xử lý thông tin báo chí, mạng xã hội sai sự thật liên quan đến thành phố. Đẩy mạnh thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại, nâng cao chất lượng tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh và các nền tảng số. Đồng thời, thúc đẩy phát triển văn hóa đọc, đổi mới và chuyển đổi số hoạt động thư viện; tổ chức các hoạt động, sự kiện sách và thông tin chuyên đề; tăng cường phối hợp liên ngành nhằm lan tỏa tri thức, phục vụ học tập suốt đời, góp phần xây dựng xã hội học tập và nâng cao dân trí trên địa bàn thành phố.
Triển khai thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ giải pháp tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bám sát quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết, quyết định quy phạm pháp luật của HĐND, UBND thành phố theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành.
Hoàn thành việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế các văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ trước sáp nhập đang được áp dụng sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy Nhà nước theo mô hình Chính quyền hai cấp đạt hiệu quả.
Thường xuyên rà soát, sửa đổi/đề xuất sửa đổi góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch, khoáng sản, sở hữu trí tuệ, phá sản, xây dựng… Tiếp tục thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng, đồng bộ trong các lĩnh vực tài chính, đầu tư, xây dựng, đất đai và các lĩnh vực khác.
Bám sát các quy định Trung ương, thể chế hiệu quả các cơ chế, chính sách cho địa phương trong triển khai các mô hình kinh tế mới như: kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trung tâm logistics, khu kinh tế; khuyến khích phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ tiên tiến ứng dụng trong điều hành, sản xuất và quản lý xã hội.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp Chính quyền địa phương với các sở, ban, ngành; bảo đảm thống nhất quản lý Nhà nước, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của cấp cơ sở. Thực hiện nghiêm phương châm “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm”; tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm, gắn phân quyền với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm người đứng đầu.
Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp CCHC nhằm đạt các mục tiêu đề ra trong Chương trình tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 (theo Nghị quyết số 76/NQ-CP) và Chương trình CCHC thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030. Tiếp tục tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong quản lý, điều hành; xây dựng Chính quyền thành phố Cần Thơ hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, trách nhiệm, nâng cao năng lực điều hành, hiệu quả quản trị và chất lượng dịch vụ hành chính công của Chính quyền hai cấp.
Triển khai Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2025 và 2026, trong đó chủ động giảm ít nhất 50% thời gian giải quyết của các TTHC, 50% chi phí tuân thủ TTHC so với năm 2024; 100% thủ tục quy định tại quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng phải được công bố, rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa; 100% chế độ báo cáo của doanh nghiệp được thực hiện điện tử; 100% TTHC nội bộ trong từng cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện quản trị nội bộ trên môi trường điện tử; 100% thông tin, giấy tờ, tài liệu trong các TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ cung cấp một lần cho cơ quan hành chính Nhà nước; 100% TTHC đủ điều kiện được thực hiện trực tuyến toàn trình.
Tập trung chuẩn bị điều kiện cần thiết để chủ động triển khai thực hiện, tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Tiếp tục quán triệt, đẩy nhanh tiến độ thể chế hóa Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 30/8/2021 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ; tranh thủ hỗ trợ của Bộ, ngành Trung ương kịp thời tham mưu Chính phủ đề xuất Quốc hội sửa đổi, điều chỉnh Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11/02/2022 của Quốc hội, nhằm tạo thêm nguồn lực cho thành phố phát triển nhanh và bền vững trong tình hình mới.
Tổ chức thực hiện nghiêm Luật Thuế, Luật Quản lý thuế và các nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước ngay từ đầu năm 2026. Bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Tài chính và Nghị quyết của HĐND thành phố để triển khai đồng bộ các giải pháp tăng thu, phấn đấu thu vượt dự toán được giao, bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ chi và xử lý các nhiệm vụ phát sinh.
Quản lý chặt chẽ các nguồn thu, người nộp thuế; đẩy mạnh công tác thu hồi nợ đọng thuế, hạn chế phát sinh nợ thuế mới; thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách; tăng cường rà soát, kiểm tra việc sử dụng hóa đơn điện tử; tập trung vào các lĩnh vực, ngành nghề có rủi ro cao, hoạt động liên kết, chuyển giá, thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số, chuyển nhượng vốn. Phối hợp chặt chẽ trong quản lý thu thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn. Thực hiện thu hồi kịp thời các khoản thuế, tiền phạt và các khoản phải thu theo kiến nghị của cơ quan kiểm toán, kết luận thanh tra và cơ quan có thẩm quyền.
Điều hành chi ngân sách chặt chẽ, đúng dự toán, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; cắt giảm các khoản chi chưa thật sự cần thiết; chỉ ban hành chính sách làm tăng chi khi có nguồn bảo đảm.
Chủ động quản lý nợ công và nợ Chính quyền địa phương, bảo đảm an toàn nợ; thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra, kiểm toán; tăng cường công khai, minh bạch và kỷ luật tài chính - ngân sách, đề cao trách nhiệm người đứng đầu.
Rà soát, khai thác hiệu quả nguồn lực tài chính từ tài sản công, nhất là đất đai, tài nguyên, tài sản kết cấu hạ tầng; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án có thu tiền sử dụng đất nhằm huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Tiếp tục thực hiện đấu giá nhà, đất dôi dư sau sắp xếp; đấu giá quyền sử dụng đất theo kế hoạch, bảo đảm hoàn thành dự toán thu tiền sử dụng đất do HĐND thành phố giao.
Thực hiện nghiêm các nguyên tắc quản lý, phân bổ và sử dụng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 theo quy định của pháp luật; bố trí vốn đúng thứ tự ưu tiên, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; tăng cường phối hợp, phân công rõ trách nhiệm giữa các sở, ngành, UBND xã, phường và chủ đầu tư, bảo đảm triển khai dự án đúng tiến độ, không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo, Tổ công tác thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; tăng cường kiểm tra hiện trường, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là đối với các dự án, công trình trọng điểm của thành phố. Tập trung tháo gỡ vướng mắc về bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và tái định cư; tăng cường đối thoại với người dân, bảo đảm thực hiện đúng quy định pháp luật. Chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương trong quá trình kiểm tra, hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án đầu tư công trên địa bàn.
Phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh khu vực 14 tăng cường quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngoại hối và hoạt động ngân hàng trên địa bàn; triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo điều hành của Ngân hàng Nhà nước; thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và thế mạnh của địa phương gắn với kiểm soát chất lượng tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, nợ xấu; đẩy mạnh thanh tra, giám sát bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh; triển khai hiệu quả thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; ổn định thị trường ngoại hối, vàng, bảo đảm cung ứng tiền mặt kịp thời phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Theo dõi sát diễn biến thị trường và tình hình cung - cầu hàng hóa để kịp thời thực hiện biện pháp bình ổn thị trường. Công bố danh sách những điểm bán lẻ bình ổn, các mặt hàng bình ổn cho các ngành, đơn vị chức năng liên quan, UBND các xã, phường và cơ quan báo, đài cho người dân trên địa bàn thành phố biết, tham gia mua sắm. Tập trung lực lượng kiểm tra, kiểm soát đối với những mặt hàng thiết yếu, có nhu cầu tiêu dùng lớn trong dịp lễ, tết, sự kiện lớn của thành phố; tăng cường kiểm tra, xử lý hoạt động sản xuất, kinh doanh, buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng; hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại; không để xảy ra tình trạng đầu cơ, tăng giá bất hợp lý đảm bảo ổn định thị trường để phục vụ nhu cầu cho Nhân dân.
Chủ động nắm bắt các tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp trên địa bàn để kịp thời có giải pháp tháo gỡ, thúc đẩy xuất khẩu theo thẩm quyền, quy định pháp luật. Thường xuyên cập nhật thông tin, tình hình từ các tỉnh biên giới để khuyến cáo các hộ nông dân, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu nông sản và trái cây trên địa bàn chủ động kế hoạch sản xuất, đóng gói, giao nhận, xuất khẩu hàng hóa, tránh để phát sinh ùn ứ và các tác động bất lợi khác. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu mở rộng thị trường, nhất là các thị trường trọng điểm và tiềm năng như: Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Đông Bắc Á, ASEAN, Trung Đông và châu Phi; tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết.
Đẩy mạnh thực hiện Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; triển khai các giải pháp điều chỉnh phụ tải điện, tiết kiệm điện trong sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt, nhất là trong các tháng cao điểm. Chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai các giải pháp đảm bảo tiến độ và chất lượng các công trình nguồn điện, lưới điện theo Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII và Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tăng cường công tác quản lý an toàn điện, phòng chống cháy nổ; tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp trong việc sử dụng điện an toàn, tiết kiệm, hiệu quả. Khuyến khích phát triển các loại hình năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (điện mặt trời mái nhà, điện gió, điện sinh khối, điện rác) theo cơ chế phù hợp.
2.2. Cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới
Thực hiện hiệu quả các đề án, chương trình phát triển công nghiệp đã được phê duyệt; ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là chế biến nông sản, thủy sản, thực phẩm. Hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng tham gia chuỗi giá trị; thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị, sản xuất, logistics và tiêu thụ sản phẩm. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp công nghiệp với khu vực nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và logistics mở rộng hợp tác liên vùng, kết nối với các trung tâm công nghiệp, thị trường lớn trong và ngoài nước; từng bước hình thành các chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ gắn với vùng nguyên liệu. Tiếp tục xây dựng và phát triển nhóm ngành công nghiệp mới, công nghệ cao, công nghệ xanh, tuần hoàn như năng lượng tái tạo, thông minh, kỹ thuật số…
Đẩy nhanh hoàn thành các khu công nghiệp Vĩnh Thạnh (VSIP, Phú Mỹ 3), An Nghiệp, Trần Đề, Sông Hậu 2, Đông Phú 2… nhằm đẩy nhanh tiến độ thu hút, lấp đầy các khu công nghiệp; đưa vào vận hành hệ thống các nhà máy nhiệt điện than Long Phú I (Sóc Trăng), Sông Hậu I (Hậu Giang).
Tiếp tục kêu gọi đầu tư theo quy hoạch các khu công nghiệp Thới Lai - Cờ Đỏ; đô thị - công nghiệp - cảng - logistics Thốt Nốt; trung tâm năng lượng - công nghiệp - công nghệ cao Ô Môn; thúc đẩy liên kết và hội nhập hành lang kinh tế đô thị - công nghiệp từ Cần Thơ đến các tỉnh miền Đông Nam Bộ.
Phát triển mạnh hệ thống phân phối, bán lẻ hiện đại; nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa thành phố với các địa phương trong và ngoài vùng; phát huy vai trò đầu mối thương mại của thành phố. Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, kinh tế số trong lĩnh vực thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh tham gia sàn thương mại điện tử, bán hàng trực tuyến, ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt.
Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế với các dịch vụ được ưu tiên phát triển như logistics, du lịch, y tế, giáo dục, tài chính, ngân hàng, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin, giao thông vận tải, vui chơi giải trí, mua sắm, văn hóa - thể thao… Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm, văn hóa - thể thao, dịch vụ công nghệ thông tin tại các khu vực đô thị và điểm dân cư nông thôn.
Tổ chức hiệu quả các sự kiện, lễ hội du lịch trọng điểm, gắn với quảng bá văn hóa, ẩm thực, thu hút khách du lịch và kích cầu tiêu dùng. Tổ chức khảo sát, xây dựng sản phẩm cho các điểm vườn, hộ dân, khu, điểm du lịch; thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp gắn với bản sắc địa phương. Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch Cần Thơ; xây dựng, chuyển giao bộ nhận diện thương hiệu du lịch cho các tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch; nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, truyền thông, khẳng định hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện, chuyên nghiệp. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xúc tiến, quảng bá du lịch; tăng cường quảng bá du lịch Cần Thơ trên các nền tảng số, mạng xã hội; tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp Hệ thống du lịch thông minh thành phố phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của du khách. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về du lịch; triển khai kiểm tra điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ của cơ sở lưu trú du lịch; điểm tham quan trên địa bàn thành phố. Triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tăng số lượt lưu trú của khách du lịch đến Cần Thơ.
Thực hiện hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với phát triển nông thôn và kinh tế nông thôn; phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân; trong đó: Triển khai thực hiện Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển trồng trọt đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn thành phố Cần Thơ; Kế hoạch thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” trên địa bàn thành phố Cần Thơ, các chương trình, kế hoạch đã được UBND thành phố phê duyệt. Sử dụng linh hoạt đất trồng lúa chuyển sang phát triển các loại cây ăn trái có giá trị, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp gắn với các loại hình du lịch nông nghiệp. Phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, chất lượng cao; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị; xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý và thương hiệu nông sản. Đẩy mạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, tuần hoàn; cơ giới hóa đồng bộ từ sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, chế biến; tăng cường dự báo và phòng, chống sinh vật gây hại, thúc đẩy sử dụng vật tư nông nghiệp sinh học, thân thiện môi trường.
Phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, công nghệ cao, an toàn sinh học, gắn với thị trường và xây dựng thương hiệu sản phẩm; mở rộng áp dụng VietGAP, mô hình chăn nuôi sinh thái, hữu cơ. Tập trung nguồn lực triển khai các dự án ưu tiên theo quy hoạch, nhất là phát triển giống, hạ tầng vùng chăn nuôi tập trung, cơ sở giết mổ tập trung và chuyển giao khoa học công nghệ. Nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường; xây dựng chuỗi thịt, trứng an toàn từ sản xuất đến tiêu dùng; thúc đẩy xử lý chất thải chăn nuôi gắn với sản xuất phân bón hữu cơ, phát triển kinh tế tuần hoàn.
Tổ chức nuôi trồng, khai thác thủy sản phù hợp yêu cầu thị trường; đẩy mạnh nuôi thâm canh, siêu thâm canh, ứng dụng công nghệ cao; phát triển hiệu quả các đối tượng thủy sản chủ lực, có giá trị kinh tế cao. Phát triển đồng bộ cả khai thác và nuôi trồng; chuyển đổi các nghề xâm hại lớn đến nguồn lợi, sử dụng nhiên liệu sang các nghề thân thiện với môi trường; phát triển nuôi hiệu quả các đối tượng chủ lực và các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao gắn với lợi thế của địa phương, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; áp dụng quy trình, kỹ thuật nuôi, khai thác hiện đại gắn với chế biến, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch, đa dạng hóa sản phẩm thủy sản chế biến. Đồng thời, đáp ứng tiêu chuẩn, quy định về nuôi trồng và khai thác thủy sản; cấp mã số vùng nuôi, truy xuất nguồn gốc; hướng dẫn, quản lý việc đánh bắt thủy sản theo đúng các quy định, duy trì ổn định vùng nguyên liệu xuất khẩu.
Giữ ổn định diện tích đất lâm nghiệp, tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp trên địa bàn thành phố. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong việc theo dõi, đánh giá trữ lượng rừng, trồng và bảo vệ rừng. Phát triển mô hình nông lâm kết hợp; tiếp tục hoàn thiện và thực thi hiệu quả chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng và thúc đẩy phát triển kinh tế rừng.
Tổ chức thể chế hóa và thực hiện đầy đủ, đồng bộ, nhất quán các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, triển khai đầy đủ các cơ chế chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân tại Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ.
Quyết liệt thực hiện cải cách TTHC, cắt giảm điều kiện kinh doanh theo đúng lộ trình Nghị quyết số 66/NQ-CP của Chính phủ; kiên quyết loại bỏ các quy định chồng chéo, không cần thiết, cản trở sự phát triển của doanh nghiệp. Ứng dụng triệt để chuyển đổi số nhằm cắt giảm tối đa thời gian xử lý TTHC, chi phí tuân thủ pháp luật và điều kiện kinh doanh trong các quy định về gia nhập, rút lui khỏi thị trường, đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, thuế, hải quan, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn... Triển khai cung cấp dịch vụ công cho hộ kinh doanh không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Khẩn trương rà soát điều kiện đầu tư kinh doanh để sửa đổi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi nhằm chuyển căn bản các điều kiện kinh doanh dưới hình thức giấy phép, chứng nhận sang thực hiện công bố điều kiện kinh doanh và nâng cao hiệu quả công tác hậu kiểm, trừ một số ít lĩnh vực bắt buộc phải thực hiện thủ tục cấp phép theo quy định và thông lệ quốc tế, hoàn thành trong năm 2026.
Khẩn trương rà soát, thống nhất với Bộ, ngành Trung ương về phương án xử lý đối với nhà, đất là tài sản công chưa sử dụng hoặc không sử dụng tại địa phương để cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thuê phục vụ sản xuất, kinh doanh. Ban hành danh mục tài sản công cho thuê và quy định về tiêu chí, mức hỗ trợ, hình thức hỗ trợ, trình tự, thủ tục cho thuê đối với từng loại tài sản và thực hiện công bố công khai trên trang thông tin điện tử của địa phương.
Vận hành hiệu quả chuyên mục riêng về phát triển kinh tế tư nhân tại trang, cổng thông tin điện tử của đơn vị để tiếp thu, kịp thời giải quyết các vướng mắc, phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Công bố công khai kế hoạch kiểm tra trên cổng thông tin để cộng đồng doanh nghiệp, hộ kinh doanh biết, phối hợp thực hiện. Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra trực tuyến, từ xa; ưu tiên kiểm tra dựa trên các dữ liệu điện tử, giảm tối đa kiểm tra trực tiếp. Xây dựng, công bố tại trang, cổng thông tin của đơn vị công cụ, giải pháp cảnh báo sớm cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh về các nguy cơ vi phạm pháp luật trên cơ sở tích hợp dữ liệu quản lý, cảnh báo từ các cơ quan quản lý Nhà nước.
Rà soát, phân loại đối tượng kiểm tra, chấm dứt tình trạng kiểm tra chồng chéo, trùng lắp, kéo dài về cùng một nội dung, lĩnh vực; số lần kiểm tra tại doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bao gồm cả kiểm tra liên ngành không được quá một lần một năm, trừ trường hợp cần kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng. Đối với cùng một nội dung quản lý Nhà nước, trường hợp đã tiến hành hoạt động thanh tra thì không thực hiện hoạt động kiểm tra hoặc đã tiến hành hoạt động kiểm tra thì không thực hiện hoạt động thanh tra doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong cùng một năm, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng. Xử lý nghiêm các hành vi lạm dụng kiểm tra để nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Kịp thời công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn, danh mục kêu gọi đầu tư trong từng giai đoạn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố.Tích cực phối hợp với tổ chức chính trị, xã hội hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tạo sự ủng hộ, đồng thuận của nhân dân trong vùng dự án.
4. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Triển khai đầy đủ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Ưu tiên công tác xây dựng danh mục các nhiệm vụ, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nhất là trong lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chip bán dẫn, vi mạch, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi…, ưu tiên bố trí vốn ngân sách Nhà nước theo mục tiêu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị bảo đảm hiệu quả, trọng tâm, trọng điểm.
Tổ chức tuyển chọn, xét giao trực tiếp tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2026. Triển khai hiệu quả các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được UBND thành phố phê duyệt. Hướng dẫn, hỗ trợ các xã, phường triển khai hiệu quả nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách Nhà nước cấp xã. Đồng thời, phối hợp với các Viện, Trường, tổ chức khoa học và công nghệ giới thiệu, tư vấn các kết quả nghiên cứu, các công nghệ mới phù hợp với tiềm năng, nhu cầu của xã, phường để thực hiện ứng dụng, chuyển giao.
Triển khai các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII), phấn đấu Cần Thơ có chỉ số xếp hạng thuộc nhóm 7 tỉnh/thành phố dẫn đầu cả nước.
Triển khai chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đổi mới công nghệ, thiết bị, thúc đẩy khả năng tiếp cận, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, các tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp và mang lại hiệu quả, giúp doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã phát triển, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Tiếp tục hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ và triển khai thực hiện Đề án thành lập Quỹ Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành phố.
Triển khai hiệu quả Chiến lược sở hữu trí tuệ, Chương trình phát triển tài sản trí tuệ, Nghị quyết Quy định mức hỗ trợ đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ; áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tăng cường, đổi mới hoạt động đo lường hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Tăng cường hiệu quả công tác quản lý về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
Tăng cường quản lý an toàn bức xạ và hạt nhân; sử dụng thiết bị bức xạ đúng quy định; chủ động kiểm tra, giám sát và xây dựng phương án ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân trên địa bàn.
Đẩy mạnh đầu tư, hoàn thiện hạ tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa các ngành, lĩnh vực; tổ chức triển khai các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung của thành phố theo lộ trình, bảo đảm hoạt động thống nhất, hiệu quả. Trong năm 2026, tập trung hoàn thành và đưa vào khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu dùng chung, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thành kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan Nhà nước, triển khai các sáng kiến mở dữ liệu, từng bước hình thành nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số. Phát triển Chuyên trang cơ sở dữ liệu về khoa học và công nghệ của thành phố, phục vụ kết nối, khai thác thông tin khoa học, công nghệ trong nước và quốc tế.
Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, các công nghệ số mới trong hoạt động quản lý Nhà nước và các lĩnh vực trọng điểm như: đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, y tế, giáo dục, tài nguyên và môi trường, giao thông, logistics. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng cường kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo thông qua các chương trình, sự kiện trong nước và quốc tế.
Thực hiện Chuyển đổi giao thức Internet của toàn bộ các hệ thống ứng dụng công nghệ thành phố từ phiên bản IPv4 sang giao thức phiên bản IPv6. Phát triển hạ tầng Internet vạn vật (IoT); xây dựng lộ trình và triển khai tích hợp cảm biến và ứng dụng công nghệ số đối với các hạ tầng thiết yếu như: Giao thông, môi trường, quản lý đô thị, an ninh trật tự…; Phát triển hạ tầng băng rộng di động chất lượng cao (4G/5G) trên phạm vi toàn thành phố; thực hiện lộ trình dừng công nghệ di động cũ (2G/3G). Triển khai ngầm hóa hạ tầng thông tin trên các tuyến đường trung tâm xã, phường đạt ít nhất 70% các tuyến đường. Mở rộng triển khai hệ thống Wifi công cộng tại các cụm, khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, điểm du lịch,... trên địa bàn thành phố để đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin, tương tác với Chính quyền của người dân và doanh nghiệp. Tăng cường phối hợp, chia sẻ, sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động để tăng hiệu quả đầu tư, phát triển, xây dựng hạ tầng của doanh nghiệp bảo đảm mỹ quan và an toàn cho người dân.
Phát huy hiệu quả đầu tư Khu công nghệ số (đang trình chính phủ phê duyệt thành Khu công nghệ thông tin tập trung); Đề án thành lập Khu Công nghệ cao Cần Thơ; Đề án tổ chức lại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ và Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông thành Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ.
Triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Trung ương thành các kế hoạch, chương trình, đề án phát triển giáo dục - đào tạo cấp địa phương, gắn với điều kiện thực tế của từng địa bàn (đô thị, nông thôn, dân tộc thiểu số...).
Khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo, ưu tiên rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền của địa phương nhằm bảo đảm đồng bộ, liên thông, phù hợp thực tiễn và yêu cầu đổi mới giáo dục. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục và đào tạo. Triển khai thực hiện hiệu quả các quy định về tự chủ đối với cơ sở giáo dục công lập; nghiên cứu áp dụng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu cung ứng dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên: Tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục mầm non; tiếp tục thực hiện Chương trình Làm quen với tiếng Anh cho trẻ mẫu giáo ở những đơn vị đủ điều kiện. Tăng cường các điều kiện đảm bảo triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018 về đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và nhà giáo, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; tổ chức kế hoạch giáo dục nhà trường, kế hoạch dạy học các môn học, hoạt động giáo dục và kế hoạch bài dạy theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của từng đơn vị; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh; thúc đẩy và nâng cao chất lượng giáo dục STEM/STEAM, giáo dục phát triển năng lực số, giáo dục sử dụng trí tuệ nhân tạo, giáo dục hướng nghiệp; chú trọng nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026; bồi dưỡng đội tuyển tham dự Kỳ thi chọn học sinh giỏi THPT cấp quốc gia năm học 2025 - 2026. Triển khai thực hiện Chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS và cấp THPT chất lượng, hiệu quả; triển khai kế hoạch về giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông theo hướng mở; đổi mới nội dung, hình thức giáo dục hướng nghiệp gắn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường lao động; triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 - 2030”; Phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023 - 2030”; Chương trình nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2030 trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Đẩy mạnh phát triển giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với thị trường lao động: Tiếp tục quan tâm đầu tư, cải tạo, nâng cấp các cơ sở GDNN công lập; đảm bảo đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học; nâng cấp, cải tạo, xây dựng cơ sở GDNN. Theo dõi việc triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học; công tác tuyển sinh năm học 2025 - 2026 của các cơ sở GDNN. Đổi mới chương trình, giáo trình đối với các ngành, nghề đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy đăng ký hoạt hoạt động GDNN. Phát triển mới chương trình, giáo trình đào tạo đối với các ngành, nghề xã hội có nhu cầu và có xu hướng phát triển mạnh trong thời gian tới, đặc biệt là các ngành, nghề thuộc tiềm năng, lợi thế như logistics, vận tải biển, thương mại điện tử, kỹ thuật may mặc, quản lý công nghiệp, điện - điện tử, chế biến thủy sản, nông nghiệp công nghệ cao,... Đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng số cho người dân góp phần phát triển kinh tế số, xã hội số khu vực nông thôn và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tiếp tục thực hiện đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số theo Chương trình mục tiêu quốc gia và các đối tượng đặc thù.
Tập trung phát triển giáo dục đại học theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và vùng. Ưu tiên phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, các ngành, lĩnh vực mũi nhọn; đẩy mạnh tự chủ đại học gắn với nâng cao năng lực quản trị và trách nhiệm giải trình. Tăng cường liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, viện nghiên cứu. Mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, từng bước nâng cao năng lực ngoại ngữ và vị thế giáo dục đại học của thành phố .
Đảm bảo công bằng trong cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng cho người học, đẩy mạnh triển khai thực hiện chương trình xóa mù chữ; ti ếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập THCS mức độ 2 tiến tới đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3, xóa mù chữ mức độ 2. Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các cơ sở giáo dục phổ thông ở vùng ven, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển các phương thức giáo dục hòa nhập, chuyên biệt và bán chuyên biệt để đáp ứng quyền được học tập của người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật.
Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển giáo dục mở và giáo dục thông minh. Bảo đảm nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo, thực hiện tốt công tác kiểm định chất lượng và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia. Mở rộng hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo; khuyến khích liên kết đào tạo, nghiên cứu với các cơ sở giáo dục uy tín trong và ngoài nước.
Đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định và phê duyệt Dự án điều chỉnh Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung thành phố sau khi sắp xếp đơn vị hành chính; đồng thời, tập trung rà soát, lập, điều chỉnh quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, quy hoạch kỹ thuật, quy hoạch chuyên ngành theo hướng tích hợp, đồng bộ, thống nhất với hệ thống quy hoạch cấp trên. Tiếp tục rà soát, cập nhật, quản lý chặt chẽ hệ thống các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được phê duyệt, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý trật tự xây dựng và phát triển đô thị.
Tập trung huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực để tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch sau khi được phê duyệt, gắn với đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đô thị, trong đó ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống giao thông, cấp thoát nước, xử lý nước thải, chiếu sáng công cộng, cây xanh và các công trình hạ tầng xã hội thiết yếu; cụ thể hóa các chương trình, đề án, dự án phát triển đô thị theo đúng định hướng quy hoạch, bảo đảm sự đồng bộ giữa quy hoạch và kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm của thành phố.
Nâng cao chất lượng công tác lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất làm cơ sở để thực hiện nhanh chóng, đúng quy định các thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; hoàn thiện và liên thông cơ sở dữ liệu đất đai giữa các cơ quan quản lý Nhà nước. Chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chuẩn bị đầy đủ quỹ đất, quỹ nền tái định cư phục vụ các dự án, công trình trọng điểm. Tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý, khai thác và bố trí sử dụng đất công; kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích, sai quy hoạch.
Tập trung hoàn thiện và ban hành Quy chế quản lý kiến trúc đô thị trên toàn địa bàn thành phố sau sắp xếp đơn vị hành chính, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý không gian, kiến trúc và cảnh quan đô thị; thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng trong công tác quản lý kiến trúc; tăng cường kiểm soát trật tự xây dựng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác cấp phép xây dựng; xử lý nghiêm các trường hợp xây dựng không phép, sai phép, lấn chiếm hè phố, lòng đường, hành lang kênh rạch. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý trật tự đô thị; tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên việc chấp hành các quy định về trật tự xây dựng, trật tự đô thị; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, góp phần xây dựng môi trường đô thị văn minh, sạch đẹp, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong giai đoạn mới. Rà soát, triển khai các phương án sắp xếp, tổ chức giao thông, nâng cấp, cải tạo các nút giao, các tuyến đường trọng điểm nhằm hạn chế ùn tắc giao thông cục bộ, nhất là trong khu vực nội ô vào giờ cao điểm.
Triển khai hiệu quả Chương trình phát triển nhà ở, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu nhà ở xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ giao theo tiến độ hàng năm (trong đó năm 2026 phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu 1.897 căn nhà ở xã hội) . Đồng thời, vận dụng hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển nhà ở xã hội; xây dựng và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án nhà ở xã hội; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt.
Tập trung triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là các dự án trọng điểm; đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: cao tốc Bắc - Nam phía Đông (đoạn Cần Thơ - Hậu Giang), cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; đường vành đai phía Tây, đường Nam Sông Hậu; Dự án Tuyến đường trục phát triển kinh tế Đông Tây tỉnh Sóc Trăng; Đường Vành đai I và II, thành phố Sóc Trăng; các Chương trình mục tiêu Quốc gia; các tuyến đường tỉnh...); Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 91 (đoạn từ Km0- Km7); Dự án cải tạo, mở rộng 5 nút giao thông trọng điểm; Dự án Xây dựng cầu vượt tại Nút giao số 1 (Mậu Thân - 3 Tháng 2 - Trần Hưng Đạo) và nút giao số 4 (Nguyễn Văn Linh - Ba Tháng Hai); Dự án Đường vành đai phía Tây thành phố Cần Thơ (nối Quốc lộ 91 và Quốc lộ 61C).
Quán triệt nghiêm túc, triển khai có hiệu quả Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022; trong đó ưu tiên dành nguồn lực tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án liên kết vùng sau sáp nhập; đề xuất các cơ chế chính sách đặc thù của vùng; xây dựng cơ sở dữ liệu về thông tin của bộ, ngành, địa phương và thông tin vùng; tích cực đối thoại, trao đổi để kịp thời nắm bắt tình hình nhằm huy động mọi nguồn lực triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gắn với lộ trình phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất trong phát triển kinh tế - xã hội vùng bền vững. Triển khai thực hiện tốt các bản thỏa thuận liên kết hợp tác giữa thành phố Cần Thơ và các tỉnh/thành, trường đại học.
Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Tập trung rà soát, xây dựng kế hoạch, lộ trình đầu tư nâng cấp, hoàn thiện cơ sở vật chất hệ thống y tế tuyến cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện thủ tục, triển khai đầu tư mới, nâng cấp, mở rộng các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thành phố quản lý phục vụ hiệu quả, kịp thời nhu cầu khám, điều trị bệnh của người dân thành phố, của vùng và quốc tế.
Tiếp tục chủ động bám sát diễn biến tình hình dịch bệnh trên địa bàn, nhất là diễn biến bất thường của cúm, sốt xuất huyết, tay chân miệng và sởi. Duy trì Trạm Y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế theo quy định tại Quyết định số 1300/QĐ-BYT ngày 09/3/2023 của Bộ Y tế. Tiếp tục mở rộng triển khai mô hình Bác sĩ gia đình tại tuyến y tế cơ sở.
Đảm bảo công tác khám chữa bệnh, cấp cứu cho Nhân dân; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao hiệu quả các phương pháp điều trị, thực hiện tốt quy chế bệnh viện, quy chế chuyên môn. Duy trì thực hiện “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”. Triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới và chuyên sâu tại các bệnh viện; tăng cường chuyển giao kỹ thuật từ tuyến trên xuống tuyến dưới. Thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh BHYT trên địa bàn thành phố; tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế toàn ngành y tế.
Hướng dẫn và đôn đốc công tác đấu thầu thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm và thiết bị y tế phục vụ nhu cầu điều trị tại các cơ sở y tế trực thuộc; bảo đảm đủ thuốc thiết yếu phục vụ công tác điều trị. Khẩn trương thực hiện hoàn thành dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ (quy mô 500 giường) trong năm 2026 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tập trung thực hiện quyết toán các dự án công trình tồn đọng; thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, đầu tư các dự án đầu tư công năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 lĩnh vực y tế. Triển khai đấu thầu thuốc tập trung 2025 - 2027.
Duy trì các hoạt động dân số, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, sàng lọc trước sinh và sơ sinh; chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình; triển khai thực hiện các hoạt động, sự kiện hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ em như: Lễ phát động, Diễn đàn trẻ em, Tập huấn, truyền thông công tác trẻ em. Đẩy mạnh các biện pháp đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Tăng cường hoạt động kiểm tra công tác quản lý chất thải y tế của các cơ sở khám chữa bệnh, vệ sinh môi trường lao động trên địa bàn.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, triển khai hiệu quả các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”. Tiếp tục lồng ghép công tác bình đẳng giới vào các chương trình, đề án phát triển văn hóa - xã hội, tăng cường truyền thông và hỗ trợ nhóm yếu thế. Tiếp tục triển khai thực hiện các Chương trình, Kế hoạch phát triển thanh niên của Trung ương giai đoạn 2026 - 2030 phù hợp thời kỳ mới; lồng ghép các chỉ tiêu, mục tiêu phát triển thanh niên khi xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hằng năm và từng giai đoạn.
Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2035, triển khai thực hiện tốt Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát”. Thực hiện đồng bộ, đầy đủ, kịp thời, đúng quy định các chương trình, đề án, chính sách về trợ giúp xã hội. Đẩy mạnh chi trả trợ cấp ưu đãi không dùng tiền mặt. Tổ chức thực hiện tốt chính sách hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật, phục hồi chức năng cho người tâm thần .
Thực hiện có hiệu quả các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; triển khai các giải pháp mở rộng độ bao phủ và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Quán triệt, triển khai đầy đủ, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương và Thành ủy về công tác dân tộc, tôn giáo; tăng cường phối hợp các sở, ngành và địa phương tổ chức thực hiện đồng bộ các chương trình, dự án, chính sách dân tộc, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; theo dõi sát tình hình đời sống, sản xuất của đồng bào để kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống. Tổ chức tốt các hoạt động lễ hội truyền thống trong đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là tổ chức các hoạt động mừng Chôl Chnăm Thmây, lễ Sene Đôlta và lễ hội Oóc Om Bóc - Đua ghe Ngo thành phố Cần Thơ năm 2026.
Thực hiện tốt công tác vận động, tuyên truyền đồng bào tham gia thực hiện tốt nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; thường xuyên công tác cơ sở để chủ động nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng, đời sống và nhu cầu phát sinh mới trong đồng bào dân tộc thiểu số, giải quyết thỏa đáng các nhu cầu chính đáng phát sinh mới trong đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường nối kết, phát huy hiệu quả lực lượng cốt cán người có uy tín tại cơ sở nhằm nắm bắt thông tin chính xác, kịp thời tình hình thực tế địa phương.
7.4. Phát triển văn hóa, thể dục thể thao
Tiếp tục triển khai hiệu quả các đề án, chương trình, kế hoạch phát triển văn hóa, thể thao giai đoạn 2021 - 2030; rà soát, cập nhật, bổ sung các nội dung phù hợp với tình hình thực tiễn; xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, góp phần khai thác hiệu quả giá trị văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Tăng cường bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích, di sản văn hóa; tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội truyền thống tiêu biểu; đẩy mạnh số hóa dữ liệu di sản, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác di tích gắn với giáo dục truyền thống và phát triển du lịch bền vững.
Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ cơ sở; tiếp tục nâng cao chất lượng Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và mô hình Chính quyền địa phương hai cấp; chú trọng bồi dưỡng, lan tỏa các giá trị văn hóa, hình mẫu con người Cần Thơ “Trí tuệ - Năng động - Nhân ái - Hào hiệp - Thanh lịch”.
Quan tâm đầu tư, nâng cấp, quản lý và khai thác hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở sau sáp nhập đơn vị hành chính; duy trì, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao quần chúng; tăng cường đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở.
Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035; sử dụng hiệu quả việc phân bổ và sử dụng nguồn lực, bảo đảm tiến độ và hiệu quả thực hiện các mục tiêu đề ra.
Tổ chức Đại hội Thể dục thể thao thành phố Cần Thơ lần thứ X năm 2026. Đẩy mạnh phát triển thể dục thể thao quần chúng gắn với nâng cao sức khỏe Nhân dân; tăng cường tuyên truyền, tổ chức các hoạt động thể thao phong trào, giáo dục thể chất và thể thao học đường; phát triển phong trào thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang, góp phần xây dựng lối sống lành mạnh, củng cố quốc phòng, an ninh.
Tập trung đầu tư phát triển thể thao thành tích cao và thể thao trọng điểm của thành phố; nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, đào tạo vận động viên; tham gia đầy đủ các giải thể thao cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; đăng cai tổ chức một số giải thể thao lớn nhằm nâng cao vị thế, hình ảnh thể thao thành phố.
8. Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương, của thành phố về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; chủ động xây dựng kế hoạch, quy hoạch, huy động, sử dụng nguồn vốn đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng giao thông, phòng, chống và khắc phục sạt lở bờ sông, bờ biển và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền và bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức cho người dân và các tổ chức, doanh nghiệp về bảo vệ môi trường. Tích cực hợp tác với các địa phương trong nước và quốc tế về bảo vệ môi trường.
Tăng cường đầu tư, nâng cấp và mở rộng hệ thống cấp nước sạch đô thị, bảo đảm chất lượng và phạm vi phục vụ, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ dân khu vực đô thị được cung cấp nước sạch đạt 100%; từng bước hạn chế việc khai thác, sử dụng nguồn nước ngầm, ưu tiên sử dụng nước từ hệ thống cấp nước tập trung. Đồng thời, đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các khu đô thị, khu dân cư; hoàn thiện đồng bộ hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và chất thải y tế; từng bước xử lý dứt điểm các điểm ngập úng trọng yếu, nâng cao năng lực tiêu - thoát nước đô thị, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững.
Tập trung đầu tư xây dựng, hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trọng điểm theo hướng hiện đại, đồng bộ; bảo đảm các cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường; lồng ghép các yêu cầu về bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo trong quy hoạch và đầu tư phát triển khu, cụm công nghiệp. Từng bước hình thành và phát triển khu công nghiệp công nghệ cao nhằm thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng, tạo động lực mới cho tăng trưởng các ngành công nghiệp chủ lực của thành phố.
Tập trung chỉ đạo quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Quân khu và Thành ủy, HĐND thành phố về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương và xây dựng khu vực phòng thủ. Chủ động nghiên cứu, dự báo sát tình hình, kịp thời xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh ngay từ cơ sở, không để bị động, bất ngờ; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cấp, các ngành trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Tổ chức triển khai Đề án “Bảo đảm quốc phòng giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2050”; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình quốc phòng theo quy hoạch, quản lý chặt chẽ đất quốc phòng, bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.
Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên bảo đảm số lượng, chất lượng theo chỉ tiêu nghị quyết đề ra; triển khai hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng đạt 100% kế hoạch; nâng cao chất lượng tuyển sinh quân sự và công tác quân sự cơ sở. Tổ chức huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao theo kế hoạch, bảo đảm an toàn, hiệu quả; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
Chỉ đạo triển khai đồng bộ công tác phòng thủ dân sự; nâng cao hiệu quả ứng phó sự cố, thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; duy trì hiệu quả hoạt động Tổng đài 112; bảo đảm an ninh, trật tự, quản lý vùng trời, tàu bay không người lái, chống khai thác IUU; tổ chức rà soát, thu gom bom mìn, vật liệu nổ.
Thực hiện có hiệu quả các cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm; hoạt động tệ nạn xã hội, “tín dụng đen”; tội phạm liên quan đến thanh, thiếu niên; tội phạm mua bán người; các đường dây mua bán, vận chuyển ma túy, các tụ điểm phức tạp về ma túy; xử lý nghiêm tội phạm và các vi phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao, lừa đảo trên không gian mạng, các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030. Tăng cường đảm bảo an ninh tôn giáo, giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp, khiếu kiện, nhất là vụ việc liên quan đến đất đai, tôn giáo, dân tộc, không để kẻ địch lợi dụng chống phá, không để hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự.
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự nhất là quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài, làm tốt công tác nắm hộ, nắm người. Triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, trật tự công cộng, hạn chế tình trạng ùn tắc giao thông tại các tuyến giao thông trọng điểm; tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm hành vi vi phạm về nồng độ cồn, sử dụng ma túy khi điều khiển phương tiện giao thông. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, triển khai đồng bộ các biện pháp kiềm chế cháy, nổ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết người do nguyên nhân chủ quan, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản.
10. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, hiệu quả hoạt động đối ngoại
Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động đối ngoại theo hướng thiết thực, hiệu quả; nâng cao chất lượng đối ngoại trong tình hình mới, gắn đối ngoại với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Đẩy mạnh đối ngoại nhân dân, ngoại giao văn hóa; tăng cường giao lưu, củng cố tình hữu nghị với Nhân dân các nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác với các đối tác phù hợp định hướng phát triển của thành phố.
Tập trung triển khai ngoại giao kinh tế, tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại có trọng tâm, trọng điểm đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài. Ưu tiên xúc tiến tại các thị trường là đối tác chiến lược của thành phố, các ngành, lĩnh vực khuyến khích đầu tư; phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương thúc đẩy triển khai các dự án động lực, có tính lan tỏa. Tăng cường hợp tác phát triển hạ tầng thương mại, logistics, năng lượng mới, năng lượng tái tạo; thúc đẩy thương mại hài hòa, bền vững với Hoa Kỳ và các đối tác quan trọng.
Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, bảo đảm kết nối, trao đổi thông tin thường xuyên, hai chiều với Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự trong và ngoài nước. Tiếp tục triển khai hiệu quả các thỏa thuận quốc tế đã ký kết với các địa phương, đối tác nước ngoài; gắn với quảng bá hình ảnh, thương hiệu thành phố Cần Thơ, nâng cao vị thế, uy tín của địa phương trong hợp tác quốc tế.
Chủ động hội nhập, liên kết hợp tác với các doanh nghiệp trong nước và quốc tế; mở rộng quan hệ đối ngoại trong việc vận động các nguồn vốn, nguồn viện trợ các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ, nguồn lực của các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài; tổ chức các hoạt động hướng tới việc kết nối, thu hút, vận động kiều bào tham gia đầu tư, đóng góp, xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
1. Căn cứ mục tiêu, các chỉ tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và theo chức năng, nhiệm vụ được giao; Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành phố, Chủ tịch UBND xã, phường và cơ quan, đơn vị có liên quan:
1.1. Xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể, sát với tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương và khẩn trương giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc.
1.2. Chủ trì, tham mưu đề xuất giải pháp thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu được giao tại khoản 2 mục II Phần thứ hai Kế hoạch này; thường xuyên theo dõi tiến độ, đề xuất giải pháp thực hiện phù hợp, kịp thời và hiệu quả, phấn đấu hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, cụ thể:
a) Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Thống kê thành phố và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm các chỉ tiêu số (1), (2), (3), (4), (7), (8), (10);
b) Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (5), (11);
c) Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (6);
d) Sở Y tế chủ trì, phối hợp với Thống kê thành phố và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm các chỉ tiêu số (9), (12), (13);
đ) Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (14);
e) Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (15), (16), (17), (18), (19);
g) Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (20), (21), (22);
h) Bộ Chỉ huy quân sự thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (23);
i) Công an thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (24);
k) Sở Ngoại vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (25).
2. Đề nghị Thủ trưởng cơ quan được tổ chức đóng trên địa bàn thành phố có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được phân công khẩn trương giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc; thường xuyên theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch của đơn vị, địa phương; tiến độ thực hiện các chỉ tiêu được giao, đề ra giải pháp thực hiện hiệu quả, phấn đấu hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu Kế hoạch giao; thực hiện chế độ thông tin báo cáo hàng tháng tình hình thực hiện gửi về Sở Tài chính tổng hợp, báo cáo UBND thành phố theo quy định.
Trên đây là Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, các cơ quan, đơn vị phản ánh về Sở Tài chính để tổng hợp, tham mưu UBND thành phố xem xét, chỉ đạo./.
(Đính kèm các Phụ lục)
[1] Tại thời điểm Cục Thống kê công bố số liệu ước tính lần 2 vào tháng 12/2025.
[2] Do sắp xếp địa giới hành chính, Chính phủ đang chỉ đạo xây dựng các quy định về tiêu chuẩn đơn vị hành chính, phân loại đơn vị hành chính và phân loại đô thị, số liệu trên là số ước tính do Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính rà soát thông qua tỷ lệ dân số thành thị.
[3] Trong đó có 324 căn ghi nhận trong năm 2025 nhưng thi công hoàn thành trong quý I/2026 (đã được Đoàn Công tác Bộ Xây dựng thống nhất ghi nhận tại buổi làm việc với thành phố Cần Thơ ngày 17/9/2025).
[4] Giai đoạn 2026 - 2030, chỉ tiêu được lấy theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 là “Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ”. Qua rà soát kết quả năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 18,98%.
[5] Qua rà soát, chỉ tiêu theo quy định mới giai đoạn 2026 - 2030, tương đương kết quả năm 2025 “Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn” đạt 95%.
[6] Nghị quyết số 171/NQ-HĐND ngày 31/7/2025 về việc thông qua Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành, lựa chọn tiếp tục áp dụng; Nghị quyết số 172/NQ- HĐND ngày 31/7/2025 về việc bãi bỏ các Nghị quyết do Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành; Quyết định số 932/QĐ-UBND ngày 22/8/2025 về việc ban hành Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành, lựa chọn tiếp tục áp dụng; Quyết định số 933/QĐ-UBND ngày 22/8/2025 về việc bãi bỏ các Quyết định do UBND thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành.
[7] UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 115/KH-UBND ngày 14/10/2025 để triển khai thực hiện.
[8] Số liệu thu thập tại thời điểm xây dựng báo cáo.
[9] Mục tiêu của Trung ương, Quốc hội là 4-4,5%.
[10] Chương trình nhận được đăng ký tham gia của 16 doanh nghiệp (đến tháng 10/2025) với tổng giá trị dự trữ hàng hóa hơn 4.108 tỷ đồng (trong đó: Nhóm hàng lương thực thực phẩm hơn 327 tỷ đồng; Nhóm hàng nhiên liệu hơn 3.781 tỷ đồng).
[11] Tổng số tiền thu nộp ngân sách 4.511.200.461 đồng; trị giá hàng hóa tịch thu 798.302.000 đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy: 1.328.719.500 đồng.
[12] Trong khu công nghiệp và ngoài khu công nghiệp.
[13] Dự án Nhà máy Công nghệ thể thao Bestway Cần Thơ (Khu Công nghiệp VSIP).
[14] Trong đó: Thu hút đầu tư trong nước (ngoài khu công nghiệp) có 16 dự án đầu tư được cấp mới đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký 2.458,956 tỷ đồng; thu hút đầu tư trong nước (trong khu công nghiệp) có 05 dự án đầu tư được cấp mới đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký 17.756,68 tỷ đồng (701,914 triệu USD).
[15] Trong đó, ngoài khu công nghiệp có 697 dự án, tổng vốn đầu tư 316.645,457 tỷ đồng; trong khu công nghiệp có 334 dự án, tổng vốn đầu tư 134.896,773 tỷ đồng.
[16] Trên cơ sở hợp nhất Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ, Ban Quản lý khu công nghiệp tỉnh Hậu Giang và Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Sóc Trăng (Quyết định số 1496/QĐ-TTg ngày 08/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ).
[17] Sở Công Thương; Sở Y tế; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Nội vụ; Sở Ngoại vụ; Sở Tài chính; Sở Xây dựng; Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Tư pháp; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Dân tộc và Tôn giáo; Văn phòng UBND thành phố; Thanh tra thành phố.
[18] Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ.
[19] Nghị quyết số 87/NQ-HĐND ngày 01/7/2025 của HĐND thành phố về việc giao biên chế công chức trong cơ quan hành chính năm 2025; Nghị quyết số 88/NQ-HĐND ngày 01/7/2025 của HĐND thành phố về việc phê duyệt số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách Nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, tự bảo đảm một phần chi thường xuyên năm 2025.
[20] Biên chế công chức trong cơ quan, tổ chức hành chính: 9.951 biên chế; Số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, tự bảo đảm một phần chi thường xuyên năm 2025 là 52.404 người làm việc.
[21] Tính đến ngày 31/10/2025.
[22] Tổ chức các chuỗi sự kiện chào năm mới 2025, mừng Ðảng quang vinh - mừng Xuân Ất Tỵ; Lễ hội Kỳ Yên Thượng Điền Đình Bình Thủy năm 2025; Chương trình giao lưu hữu nghị Việt Nam - Hoa Kỳ tại thành phố Cần Thơ; tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); Chương trình nghệ thuật, bắn pháo hoa chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ; Lễ hội Óc Om Bóc; Lễ hội Văn hóa sông nước; Hội nghị các doanh nghiệp du lịch và trưng bày sản phẩm du lịch hưởng ứng kỷ niệm 65 năm Ngày Du lịch Việt Nam; tổ chức Giải đua xe mô tô cúp vô địch quốc gia “Tranh Cúp Caltex Havoline Cub Prix” lần thứ I năm 2025; Giải Marathon Quốc tế “Vietcombank Mekong Delta” lần thứ VI năm 2025; Hội nghị gặp gỡ các Lãnh đạo thành phố với Doanh nghiệp du lịch thành phố Cần thơ năm 2025; tham gia Hội chợ Mùa thu 2025 tại Hà Nội…
[23] Chuyển đổi sang trồng cây hàng năm là 726 ha, chuyển đổi sang trồng cây lâu năm là 419 ha và chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với trồng lúa là 4.023 ha.
[24] Có trên 30% diện tích (tương đương 215.236 ha) được Công ty/DN/HTX/THT liên kết tiêu thụ.
[25] Gồm các loại cây trồng như: Dâu Hạ Châu Phong Điền, sầu riêng, xoài cát Hòa Lộc Sông Hậu, nhãn, vú sữa, khóm,...với sản lượng gần 500 ngàn tấn.
[26] Gồm có cây mía, hành tím và rau màu các loại với sản lượng trên 160 ngàn tấn.
[27] Trong đó, mã số còn hoạt động: 523 mã số với tổng diện tích 8.437 ha; mã số bị thu hồi: 58 mã số.
[28] Trong đó, mã số còn hoạt động: 20 mã số (11 doanh nghiệp); mã số bị thu hồi: 05 mã số (05 doanh nghiệp).
[29] Lúa: 2.583 ha/1.587 hộ; Cây ăn trái: 1.272 ha/ 1.053 hộ; Rau màu: 42 ha/90 hộ.
[30] Đàn trâu 4.116 con; đàn bò 62.847 con; đàn dê 20.148 con; đàn heo 498.759 con; đàn gia cầm 16.088.483 con; chim yến 1.171 cơ sở/1.285 nhà yến.
[31] Thịt gia súc 105.544 tấn, thịt gia cầm 99.649 tấn; trứng 720.351.000 quả.
[32] 46 trang trại chăn nuôi quy mô lớn, 169 trang trại chăn nuôi quy mô vừa, 895 trang trại chăn nuôi quy mô nhỏ. Trong đó, 23 trang trại chăn nuôi (18 trang trai chăn nuôi heo và 05 trang trại chăn nuôi gà) hợp đồng chăn nuôi gia công, bao tiêu sản phẩm với Công ty Cổ phần chăn nuôi CP, Công ty TNHH De Heus, Công Ty TNHH Japfa Comfeed.
[33] 15 cơ sở chăn nuôi bò, 13 cơ sở chăn nuôi heo, 01 cơ sở chăn nuôi gà và 06 cơ sở chăn nuôi vịt
[34] 17 cơ sở an toàn với bệnh Dịch tả heo Châu Phi; 01 cơ sở an toàn với bệnh Dịch tả heo cổ điển và bệnh Lở mồm long móng; 11 cơ sở an toàn với bệnh Lở mồm long móng gia súc; 02 cơ sở an toàn với bệnh Cúm gia cầm; 02 vùng an toàn với bệnh Dại (cấp xã) và 02 cơ sở nuôi tôm giống an toàn với các bệnh Đốm trắng, Hoại tử gan tụy cấp tính, bệnh Hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô.
[35] (1) Chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sữa bò tươi của HTX Chăn nuôi bò sữa Long Hòa và khoảng 26 hộ chăn nuôi liên kết sản xuất với Công ty CP sữa Vinamilk Việt Nam - Nhà máy sữa Cần Thơ, sản lượng tiêu thụ bình quân 2.000 tấn/năm; (2) Chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ thịt heo của Xí nghiệp chế biến thực phẩm I liên kết sản xuất với Công ty TNHH MTV Nông nghiệp Cờ Đỏ và khoảng 10 hộ chăn nuôi heo, sản lượng tiêu thụ bình quân 50 tấn/tháng; (3) Chuỗi cung ứng trứng vịt muối của Công ty TNHH Vân Anh Nguyễn, sản lượng tiêu thụ 9,6 - 9,8 triệu quả/năm; (4) Chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ thịt heo của Công ty TNHH Tường An liên kết tiêu thụ với Công ty CP Bách hóa xanh và siêu thị MM Mega market Hưng Lợi sản lượng bình quân 9,0 tấn/tháng.
[36] Liên kết nuôi gia công, bao tiêu sản phẩm với Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP, Công ty TNHH De Heus, Công Ty TNHH Japfa Comfeed.
[37] Từ đầu năm đến nay toàn thành phố đã xảy ra dịch tả heo Châu Phi tại 06 xã: An Thạnh, Thạnh Thới An, Trần Đề, Tài Văn, Cù Lao Dung và Long Phú chưa qua 21 ngày, tiến hành tiêu hủy 2.321 con heo mắc bệnh và chết với khối lượng là 139.103,2 kg.
[38] Sản lượng nuôi 705.958 tấn, khai thác 77.000 tấn.
[39] Tính đến ngày 15/9/2025.
[40] Từ đầu năm đến nay Tổ chức 04 Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN). Tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện 31 nhiệm vụ KH&CN. Thẩm định nội dung và kinh phí kinh phí 25 nhiệm vụ KH&CN. Tổ chức Hội đồng tư vấn đánh giá giữa kỳ 10 nhiệm vụ KH&CN. Ký kết hợp đồng thực hiện 13 nhiệm vụ KH&CN và nghiệm thu 25 nhiệm vụ KH&CN.
[41] Hướng dẫn 50 lượt tổ chức, cá nhân về thủ tục bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, quyền tác giả). Thống kê số đơn và văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp từ tháng 01 đến tháng 9/2025, thành phố có 810 đơn đăng ký bảo hộ (754 nhãn hiệu, 13 sáng chế và 43 kiểu dáng công nghiệp) và 652 văn bằng (634 nhãn hiệu, 12 kiểu dáng công nghiệp và 06 sáng chế) được Cục Sở hữu trí tuệ cấp mới.
[42] Thực hiện 01 cuộc kiểm tra chuyên ngành theo kế hoạch về TCĐLCL và nhãn hàng hóa lưu thông trên thị trường đối với 15 cơ sở sản xuất, kinh doanh xăng, dầu, dầu nhờn động cơ đốt trong và khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) trên địa bàn thành phố; Tổ chức 03 Đoàn kiểm tra về đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa sản phẩm điện - điện tử, đồ chơi trẻ em, khí dầu mỏ hóa lỏng và hàng đóng gói sẵn lưu thông trên thị trường tại 83 cơ sở.
[43] Hoạt động thử nghiệm, kiểm định và hiệu chuẩn đã hỗ trợ 992 cơ quan, doanh nghiệp của thành phố và các tỉnh ĐBSCL với số phương tiện đo được kiểm định là 7.844 phương tiện, hiệu chuẩn 4.995 phương tiện; thử nghiệm 28.492 mẫu với 143.176 chỉ tiêu về các lĩnh vực: môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng xăng dầu. Ngoài ra, kiểm định, thử nghiệm cho 323 thiết bị yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.
[44] Ban hành Quyết định số 698/QĐ-UBND ngày 30/7/2025 của Chủ tịch UBND thành phố thành lập Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06; Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 25/8/2025 của UBND thành phố về thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP; Kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 23/9/2025 của UBND thành phố thực hiện Kế hoạch số 426-KH/TU ngày 28/6/2025 của Thành ủy thực hiện Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Quyết định số 31/QĐ-BCĐ ngày 24/9/2025 của Trưởng ban Ban Chỉ đạo thành phố phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về việc ban hành Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo; Chương trình số 33/CTr-BCĐ ngày 25/9/2025 của Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về Chương trình công tác năm 2025 của Ban Chỉ đạo.
[45] Các chương trình nghệ thuật chào năm mới, Mừng Đảng - Mừng Xuân Ất Tỵ 2025; Đường hoa nghệ thuật; Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam; Giỗ Tổ Hùng Vương; Lễ hội Bánh dân gian Nam bộ; Lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Ngày Quốc tế Lao động (01/5) và 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2025); Các hoạt động chào mừng Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây; Chương trình họp mặt và Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025);…
[46] Ước thực hiện chỉ tiêu năm 2025: số người tập luyện thể dục thể thao (TDTT) thường xuyên: 1.420.878 người, đạt 100% kế hoạch; số gia đình thể thao: 235.158 hộ, đạt 100 % kế hoạch năm, số câu lạc bộ TDTT: 3.495 câu lạc bộ, đạt 100% kế hoạch.
[47] (1) Giải vô địch Xe đạp thể thao thành phố Cần Thơ mở rộng “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Ất Tỵ 2025”, có 266 VĐV của 21 đội Xe đạp đến từ thành phố Cần Thơ (cũ) và 07 tỉnh, thành, ước khoảng 3.000 lượt xem và cổ vũ; (2) Giải vô địch Lân - Sư - Rồng thành phố Cần Thơ mở rộng “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Ất Tỵ 2025” có 240 VĐV của thành phố Cần Thơ (cũ) và 03 tỉnh (An Giang, Tây Ninh, Vĩnh Long), ước khoảng 6.000 lượt xem và cổ vũ; (3) Phối hợp tổ chức vòng loại khu vực Tây Nam Bộ Giải Bóng đá Thanh Niên Sinh viên Việt Nam lần III - năm 2025 Cúp THACO tại sân vận động Cần Thơ; (4) Giải Việt dã thành phố Cần Thơ lần thứ IV năm 2025 tại Đền thờ Vua Hùng, có 4.200 VĐV tham dự, ước khoảng 1000 lượt xem và cổ vũ; (5) Giải vô địch các nhóm tuổi Vovinam thành phố Cần Thơ năm 2025, có 317 VĐV tham dự, ước khoảng 3.000 lượt xem và cổ vũ; (6) Giải vô địch Bóng đá nhi đồng thành phố Cần Thơ mở rộng năm 2025 “tranh cúp Hưng Thịnh” có 120 VĐV 08 câu lạc bộ đến từ 04 tỉnh, thành, ước khoảng 2000 lượt xem và cổ vũ; (7) Giải Đua thuyền ván Sup thành phố Cần Thơ năm 2025, có 500 VĐV tham dự, ước khoảng 4.200 lượt xem và cổ vũ; (8) Phối hợp Báo VnExpress tổ chức Giải chạy VnExpress Marathon Can Tho 2025, có 9.084 VĐV tham dự, ước khoảng 20.000 lượt xem và cổ vũ; (9) Giải Đua ghe Ngo thành phố Cần Thơ năm 2025, ước khoảng 5.000 VĐV tham dự, 20.000 lượt xem và cổ vũ; (10) Giải chạy Can Tho Heritage Marathon 2025, ước khoảng 8.000 - 8.500 VĐV tham dự, 20.000 lượt xem và cổ vũ.
[48] (03) Giải đua xe mô tô sân tròn Cúp vô địch quốc gia lần thứ I năm 2025 (chặng I, II, III) tại sân vận động Cần Thơ; (04) Giải Vô địch Bóng rổ 5x5 quốc gia năm 2025; (05) Giải Vô địch Bóng rổ 3x3 quốc gia năm 2025; (06) Giải Vô địch Cờ vua đồng đội quốc gia năm 2025; (07) Hỗ trợ tổ chức Cuộc đua Xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 37-2025 “Non sông liền một dải”, trong đó có lộ trình qua thành phố Cần Thơ (từ ngày 27/4 đến ngày 28/4/2025); (08) Giải vô địch trẻ và vô địch các nhóm tuổi Thể dục dụng cụ quốc gia năm 2025; (9) Giải vô địch trẻ và vô địch quốc gia môn Bóng chuyền bãi biển 2x2 đồng đội năm 2025, có 132 VĐV tham dự, ước khoảng 4.800 lượt xem và cổ vũ.
[49] Tổng cộng: 94/137, tỷ lệ 68,61%. Trong đó, cấp xã 72/103, tỷ lệ 69,90%; sở, ngành thành phố và các đơn vị sự nghiệp thuộc UBND thành phố 22/34, tỷ lệ 54,71%.
[50] Qua rà soát, chỉ tiêu theo quy định mới giai đoạn 2026 - 2030, tương đương kết quả năm 2025 “Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn” đạt 95%.
[51] Lập hợp đồng thuê đất đối với 06 trường hợp; ban hành Quyết định: Thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 01 trường hợp; thu hồi đất 03 trường hợp; giao đất 02 trường hợp; điều chỉnh Quyết định giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất 07 trường hợp.
[52] Kết quả thực hiện sau khi rà soát các quy định mới về khu vực đô thị
[53] Còn lại 324 căn sẽ ghi nhận hoàn thành trong kỳ kế hoạch năm 2026 (đã được Đoàn công tác của Bộ Xây dựng ghi nhận tại buổi làm việc với thành phố Cần Thơ ngày 17/9/2025).
[54] 42 hồ sơ Thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, 41 hồ sơ thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở, 27 hồ sơ báo cáo kinh tế kỹ thuật.
[55] Số liệu 11 tháng đầu năm.
[56] Ban hành Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 20/8/2025 của UBND thành phố triển khai Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
[57] Căn cứ theo Quyết định số 38/QĐ-TTg ngày 11/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam đến năm 2030:
[58] Phấn đấu thực hiện chỉ tiêu thu ngân sách của địa phương đạt 29.839 tỷ đồng.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh