Quyết định 2102/QĐ-UBND năm 2026 phê duyệt Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hưng Yên
| Số hiệu | 2102/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 01/07/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 01/07/2026 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Hưng Yên |
| Người ký | Lại Văn Hoàn |
| Lĩnh vực | Tài nguyên - Môi trường |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2102/QĐ-UBND |
Hưng Yên, ngày 01 tháng 7 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2026-2030 TỈNH HƯNG YÊN
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ngày 11/12/2025;
Căn cứ Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 472/TTr-SNNMT ngày 27/5/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026 - 2030 tỉnh Hưng Yên.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
KẾ HOẠCH
PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2026 - 2030 TỈNH HƯNG YÊN
(Ban
hành kèm theo Quyết định số 2102/QĐ-UBND Ngày 01/6/2026 của UBND tỉnh)
Chương I
CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ LẬP KẾ HOẠCH
Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ngày 11/12/2025;
Luật Phòng thủ dân sự ngày 20/6/2023; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật về quân sự, quốc phòng ngày 27/6/2025;
Luật Thủy lợi ngày 19/6/2017;
Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều;
Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự;
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày 05/02/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; Kết luận số 213-KL/TW, ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 06/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, đến năm 2030”;
Quyết định số 379/QÐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2102/QĐ-UBND |
Hưng Yên, ngày 01 tháng 7 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2026-2030 TỈNH HƯNG YÊN
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ngày 11/12/2025;
Căn cứ Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 472/TTr-SNNMT ngày 27/5/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026 - 2030 tỉnh Hưng Yên.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
KẾ HOẠCH
PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2026 - 2030 TỈNH HƯNG YÊN
(Ban
hành kèm theo Quyết định số 2102/QĐ-UBND Ngày 01/6/2026 của UBND tỉnh)
Chương I
CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ LẬP KẾ HOẠCH
Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường ngày 11/12/2025;
Luật Phòng thủ dân sự ngày 20/6/2023; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật về quân sự, quốc phòng ngày 27/6/2025;
Luật Thủy lợi ngày 19/6/2017;
Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều;
Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự;
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày 05/02/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; Kết luận số 213-KL/TW, ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 06/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, đến năm 2030”;
Quyết định số 379/QÐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai;
Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương được sửa đổi tại Thông tư số 18/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Thông tư số 13/2021/TT-BNNPTNT ngày 27/10/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quản lý, vận hành sử dụng các khu khai thác khoáng sản, khu khai thác tài nguyên thiên nhiên khác; đô thị, du lịch, công nghiệp; di tích lịch sử; điểm du lịch; điểm dân cư nông thôn; công trình phòng, chống thiên tai, giao thông, điện lực, viễn thông và hạ tầng kỹ thuật khác;
Thông tư số 18/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chi tiết về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai.
Chương II
MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
I. Mục đích và yêu cầu
1. Mục đích
Bảo đảm an toàn cho tỉnh Hưng Yên trước thiên tai, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững.
Tăng cường quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai, nâng cao năng lực, tính chủ động của toàn xã hội trong phòng, chống thiên tai, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống thiên tai, kết hợp giữa phòng, chống thiên tai với phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà nước, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào phòng, chống thiên tai.
Làm cơ sở để tổ chức thực hiện các hoạt động phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh.
Trên cơ sở Kế hoạch phòng, chống thiên tai (PCTT) này, địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh chủ động xây dựng, rà soát, tổ chức thực hiện sát với tình hình thực tế nhằm xây dựng một xã hội an toàn trước thiên tai.
2. Yêu cầu
Phòng, chống thiên tai là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội với phương châm Nhà nước và Nhân dân cùng làm; chú trọng công tác quản lý rủi ro thiên tai, lấy phòng ngừa là chính; bám sát phương châm “4 tại chỗ”. Thực hiện các giải pháp quản lý tổng hợp, đồng bộ theo hệ thống, lưu vực, liên ngành; ứng dụng khoa học công nghệ kết hợp với kinh nghiệm truyền thống.
Bảo đảm thống nhất, thông suốt trong toàn hệ thống; phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và đề cao vai trò người đứng đầu trong công tác phòng, chống thiên tai.
Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, nâng cấp trang thiết bị về phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.
Nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai, giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và Nhân dân, nhất là đối với hạn hán, lũ, sạt lở đất, bão, áp thấp nhiệt đới, sạt lở bờ sông, ngập lụt.
Thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, thực hiện đồng bộ các hoạt động phòng, chống thiên tai gắn với phát triển kinh tế - xã hội và phát triển của các ngành, nâng cao hiệu quả đầu tư.
Chương III
ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI, CƠ SỞ HẠ TẦNG CHỦ YẾU
I. Vị trí địa lý
Sau sáp nhập, tỉnh Hưng Yên có diện tích tự nhiên 2.514,81km² và quy mô dân số khoảng 3.235.167 người; là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp cửa ngõ phía Đông Nam Thủ đô Hà Nội, có vai trò chiến lược trong phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tỉnh Hưng Yên có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp Thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình;
- Phía Đông giáp thành phố Hải Phòng và Biển Đông;
- Phía Tây giáp Thủ đô Hà Nội.

Hình 3. 1: Bản đồ hành chính tỉnh Hưng Yên
II. Đặc điểm địa hình, địa chất
Địa hình tỉnh Hưng Yên khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1-2m so với mực nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Hưng Yên là một tỉnh duy nhất của vùng đồng bằng sông Hồng không có núi.
Tỉnh Hưng Yên nằm trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông Hồng, được cấu tạo bằng các trầm tích bở rời thuộc kỷ Đệ Tứ, có chiều dày từ 150 đến 160m. Theo thứ tự, địa tầng bao gồm các loại đất đá như sau:
- Các trầm tích Phistoxen, bề dày 130m đến 140m với các trầm tích vụn thô gồm: Sạn, sỏi, cát thô, cát trung có xen kẹp các thấu kính bột, bao gồm các tầng bồi tích sông kiểu đá cuội, sạn, cát đa khoáng xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 75m đến 80m và kiểu hỗn hợp cát, sét, sét cát màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 50m đến 60m.
- Các trầm tích Haloxen, bề dày 5m đến 30m thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột, sét chứa hữu cơ, phân bổ trên mặt địa tầng bao gồm các lớp:
+ Bồi tích sông biển hỗn hợp từ cát, cát sét, chiều dày trên dưới 10m.
+ Bồi tích biển từ sét cát, sét màu xám, chiều dày 3m đến 7m.
+ Bồi tích sông hiện đại, chủ yếu phân bổ ở dải cục bộ ven sông Hồng, có chiều dày 3m đến 5m, thành phần là sét pha cát, cát pha sét.
III. Đặc điểm khí tượng, thủy văn, hải văn, tình hình thiên tai trên địa bàn
1. Đặc điểm khí tượng
Hưng Yên thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, bốn mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hằng năm từ 23,8 - 24,1°C, nhiệt độ trung bình mùa hè 28,9°C, mùa đông 20,1°C (chuỗi số liệu từ 1996-2025); nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 12,4°C, tháng cao nhất: 31,5 °C (Số liệu từ 1996-2025). Số giờ nắng trung bình hằng năm dao động 1.346 – 1.399 giờ.
Lượng mưa năm trung bình 1.600-1.800mm, phân bố không đều trong năm. Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) tập trung tới 82 - 84% lượng mưa cả năm, gây úng lụt, ảnh hưởng xấu đến sản xuất. Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) lạnh và thường có mưa phùn (số liệu trung bình hằng năm tính từ 1996-2025).
2. Đặc điểm thủy văn, hải văn
Hưng Yên có mạng lưới thủy văn dày đặc, hai mặt giáp sông, một mặt giáp biển. Hệ thống sông ngòi của Hưng Yên khá dày và phân bố khá đều giữa các vùng nội tỉnh, chủ yếu thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Các sông chính trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, bao gồm:
- Sông Hồng chảy qua địa phận Hưng Yên bắt đầu từ cửa sông Bắc Hưng Hải (xã Phụng Công) và đổ ra biển tại cửa Ba Lạt (xã Hưng Phú). Chiều dài sông trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 140km, bề rộng lòng sông trung bình từ 300-400m
- Sông Luộc là phân lưu của sông Hồng, chảy qua địa phận Hưng Yên, từ xã Long Hưng đến xã A Sào, có chiều dài 71km, chiều rộng lòng sông trung bình 100 - 300m.
- Sông Trà Lý là phân lưu của sông Hồng, toàn bộ dòng chảy thuộc địa phận tỉnh Hưng Yên, bắt đầu từ xã Hồng Minh sau đó đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà Lý, sông có tổng chiều dài 65km. Bề rộng lòng sông trung bình 100 - 200m.
- Sông Hóa là phân lưu của sông Luộc, bắt nguồn từ xã A Sào chảy dọc địa giới hành chính giữa Hưng Yên và Hải Phòng, sau đó đổ vào sông Thái Bình tại xã Đông Thụy Anh, sông có độ dài 28km, bề rộng lòng sông trung bình 70-120m.
- Sông Thái Bình trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là hợp lưu giữa sông Hóa và sông Thái Bình bắt đầu từ xã Đông Thụy Anh đổ ra cửa Thái Bình, đoạn sông có độ dài khoảng 7km, bề rộng lòng sông trung bình 150 - 200m.
Chế độ thủy triều ở tỉnh Hưng Yên là nhật triều khá thuần nhất. Biên độ dao động tối đa của thủy triều từ 3,0 đến 3,8m, trung bình từ 1,7 đến 1,9m và tối thiểu từ 0,3 đến 0,5m. Mực nước triều lớn nhất nhiều năm có thể đạt 4,3m và thấp nhất khoảng 0,08m. Độ cao thủy triều trung bình 1,9m, độ cao tuyệt đối từ 0,6 đến 3,8m. Số ngày triều cường từ 3m trở lên có từ 152 đến 243 ngày. Do biên độ thủy triều lớn nên độ mặn 4‰ xâm nhập vào các cửa sông khá sâu: Trên 25km trên sông Hồng, trên 30km trên sông Trà Lý.
3. Đặc điểm tình hình thiên tai trên địa bàn tỉnh
Những năm gần đây, do diễn biến bất thường của thời tiết, nhất là ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cùng với tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tình hình thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp. Hằng năm, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thường xuyên chịu ảnh hưởng của các loại hình thiên tai: Bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, ngập lụt, nắng nóng, rét đậm, dông, sét,... gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái. Theo số liệu thống kê, báo cáo từ Văn phòng Ban Chỉ huy PCTT và tìm kiếm cứu nạn (TKCN) tỉnh Hưng Yên cũ và tỉnh Thái Bình cũ từ năm 2020 đến 2025, tình hình thiên tai trên địa bàn tỉnh Hưng Yên xảy ra khốc liệt, cực đoan, trái quy luật. Cụ thể một số thiên tai điển hình trên địa bàn tỉnh như sau:
3.1. Bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ)
Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên bão và áp thấp nhiệt đới là loại hình thiên tai có tần suất xuất hiện khá cao, phạm vi tác động rộng và mang tính liên vùng rõ rệt. Mặc dù phần lớn các cơn bão không đổ bộ trực tiếp vào toàn bộ địa bàn tỉnh, song hoàn lưu bão, áp thấp nhiệt đới sau khi đi vào Vịnh Bắc Bộ và đất liền Bắc Bộ thường gây gió mạnh, mưa to đến rất to, lũ trên các sông lớn, ngập úng nội đồng, sự cố đê điều và thiệt hại sản xuất trên phạm vi cả tỉnh. Tác động của bão, ATNĐ gây mưa lớn do hoàn lưu sau bão, ngập úng trên diện rộng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và làm gia tăng mực nước trên sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa, sông Trà Lý. Giai đoạn 2020-2025, số lượng bão ảnh hưởng tương đối nhiều, dao động từ 4 đến 6 cơn mỗi năm; đáng chú ý là cơn bão số 2 năm 2022 gây mưa 200-330mm, bão số 7 năm 2020 gây mưa 100-200mm. Năm 2023 mức độ ảnh hưởng giảm, chủ yếu từ bão số 1 (Talim). Năm 2024, bão số 2 (Prapiroon) và đặc biệt bão số 3 (Yagi) đã gây mưa lớn diện rộng, gió mạnh cấp 8-9, giật cấp 10-12, gây ra lũ đặc biệt lớn trên các hệ thống sông trong tỉnh, mực nước đỉnh lũ sông Hồng tại trạm Hưng Yên đạt 7,50m (cao hơn báo động cấp III 0,50m), mực nước đỉnh lũ sông Luộc tại trạm Triều Dương đạt 6,67m (cao hơn báo động cấp III 0,57m); mực nước đỉnh lũ sông Trà Lý tại trạm Thái Bình đạt 4,26m (cao hơn báo động cấp III 0,76m) vượt mức lũ lịch sử năm 1971. Tổng thiệt hại trên địa bàn tỉnh Hưng Yên ước khoảng 5.116,6 tỷ đồng. Năm 2025 các cơn bão số 3, số 5, số 6, số 10 và ATNĐ giữa tháng 8 đã tác động đồng thời đến cả khu vực đồng bằng và ven biển của tỉnh; trong đó bão số 10 kèm lốc xoáy gây 02 người chết, 17 người bị thương, 560 nhà bị hư hỏng, nhiều diện tích lúa, nuôi trồng thủy sản, hệ thống điện, bờ bao và đê bối bị ảnh hưởng.
Bảng 3. 1: Tổng hợp ảnh hưởng của bão, ATNĐ giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Số cơn bão, ATNĐ hoạt động trên Biển Đông |
Số cơn bão ảnh hưởng đến Hưng Yên (cũ), Thái Bình |
Tổng hợp diễn biến, tác động chính |
|
2020 |
14 cơn bão, 01 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 06 cơn bão; Thái Bình (cũ): 02 cơn bão trực tiếp |
Hưng Yên (cũ) chịu ảnh hưởng nổi bật của bão số 2 (Sinlaku) và bão số 7 (Nangka), gây mưa 100-200mm, riêng Tiên Lữ 360,8 mm; phát sinh nứt, sạt mái đê tả sông Hồng, sạt lở kè Phi Liệt và kè Mai Xá. Thái Bình (cũ) chịu tác động trực tiếp của bão số 2 và số 7, gây mưa lớn, ngập úng nuôi trồng thủy sản, hư hỏng giao thông, điện và một số tuyến đê, kè ven sông - ven biển. |
|
2021 |
09 cơn bão, 03 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 04 cơn bão; Thái Bình (cũ): 04 cơn bão, 01 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ) chịu ảnh hưởng của bão số 2, 3, 7, 8; bão số 2 (Koguma) và bão số 7 (Lionrock) gây mưa lớn, phát sinh sự cố kè, mái đê và ảnh hưởng hoa màu. Thái Bình (cũ) chịu tác động mạnh của bão số 7 và đặc biệt bão số 8; lúa mùa đổ nghiêng 5.271 ha, cây màu vụ đông ảnh hưởng 4.930 ha, thủy sản bị ảnh hưởng 1.461 ha, xảy ra lỗ rò, tràn và vỡ bờ bao ở khu vực đê bối. |
|
2022 |
07 cơn bão, 02 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 05 cơn bão; Thái Bình (cũ): 03 cơn bão |
Hưng Yên (cũ) chịu ảnh hưởng của bão số 1, 2, 3, 4, 6; riêng bão số 2 (Mulan) gây mưa 200-330mm, bão số 3 (Ma-on) gây mưa 60-190mm, làm gia tăng sạt lở kè, mái đê, thủy lợi hư hỏng. Thái Bình (cũ) chịu ảnh hưởng của bão số 2, 3, 4; mưa lớn do ATNĐ suy yếu từ bão số 2 gây úng 3.449,1 ha lúa, 2.119 ha hoa màu; năm 2022 toàn tỉnh ghi nhận 07 người chết, 842 ha lúa và 1.354 ha rau màu bị ảnh hưởng, 04 đoạn đê - kè sạt lở và 03 vụ chìm tàu. |
|
2023 |
05 cơn bão, 02 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 01 cơn bão; Thái Bình (cũ): 01 cơn bão, 01 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ) chỉ chịu ảnh hưởng của bão số 1 (Talim), tác động chủ yếu là gió mạnh và mưa nhỏ; tuy nhiên trong năm vẫn xảy ra nhiều thiệt hại do mưa lớn, dông, lốc, sét và sự cố đê điều. Thái Bình (cũ) chịu ảnh hưởng của bão số 1 và 01 ATNĐ; rìa phía bắc ATNĐ kết hợp rãnh áp thấp cuối tháng 9 gây mưa rất to, có nơi trên 400mm, làm ngập khoảng 11 nghìn ha lúa mùa, trên 3 nghìn ha cây vụ đông và ghi nhận 02 người chết do sét. |
|
2024 |
09 cơn bão, 01 ATNĐ; |
Hưng Yên (cũ): 02 cơn bão; Thái Bình (cũ): 02 cơn bão |
Hưng Yên (cũ) chịu tác động nổi bật của bão số 2 (Prapiroon) và bão số 3 (Yagi). Tại Hưng Yên (cũ), hoàn lưu bão số 2 gây mưa 150-250mm; bão số 3 gây gió mạnh cấp 8-9, giật 10-12, mưa 310-550mm, lũ sông Hồng tại trạm Hưng Yên vượt báo động cấp III 0,5 m; tổng thiệt hại khoảng 3.637,6 tỷ đồng. Tại Thái Bình (cũ), bão số 3 và lũ tháng 9 tạo nên đợt lũ đặc biệt lớn, nhiều trạm vượt báo động cấp III, riêng trạm Thái Bình vượt lũ lịch sử năm 1971; tổng thiệt hại ước khoảng 1.479 tỷ đồng. |
|
2025 |
15 cơn bão, 05 ATNĐ |
Tỉnh Hưng Yên sau hợp nhất: 04 cơn bão và 01 ATNĐ |
Năm 2025 số liệu được tổng hợp theo địa bàn tỉnh Hưng Yên sau hợp nhất. Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng của bão số 3, số 5, số 6, số 10 và ATNĐ. Bão số 3 gây gió cấp 7-8, mưa to đến rất to; bão số 5 gây gió mạnh ven biển và phía nam tỉnh, mưa có nơi trên 300mm; bão số 10 gây gió cấp 7-8, mưa 40-110mm, nước dâng 0,5-0,7m và một trận lốc xoáy lớn ở Thái Thụy. Từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10 xuất hiện đợt lũ lớn trên sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý; riêng bão số 10 và lốc xoáy làm 02 người chết, 17 người bị thương, thiệt hại ước khoảng 68,9 tỷ đồng. |
Nhìn chung, bão và ATNĐ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không chỉ gây thiệt hại trực tiếp do gió mạnh trên biển, trên đất liền mà còn kéo theo các hệ quả tổng hợp như: Mưa lớn kéo dài, lũ trên hệ thống sông, ngập úng nội đồng và phát sinh sự cố đê điều. Do đó, công tác phòng ngừa và ứng phó cần được tổ chức triển khai ứng phó trên biển, khu vực ven biển và theo đặc điểm không gian rủi ro khác nhau giữa khu vực phía bắc tỉnh và khu vực phía nam tỉnh, đồng thời bảo đảm chỉ huy thống nhất trên quy mô toàn tỉnh.
3.2. Mưa lớn
Mưa lớn là loại hình thiên tai xuất hiện thường xuyên, phân bố rộng và có khả năng gây tác động tổng hợp đến sản xuất, dân sinh, hạ tầng và an toàn công trình phòng, chống thiên tai. Mưa lớn thường hình thành dưới tác động của rãnh áp thấp, dải hội tụ nhiệt đới, hội tụ gió trên cao, không khí lạnh nén rãnh thấp, hoàn lưu bão hoặc áp thấp nhiệt đới.
Mưa lớn gây lũ lụt, ngập úng thường xuyên xảy ra trên địa bàn tỉnh, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa lớn. Trung bình hằng năm có khoảng 14-15 đợt mưa lớn trên diện rộng, lượng mưa phổ biến từ (100 - 200)mm, cá biệt có những đợt mưa từ (150 - 400)mm, kéo dài từ 3 đến 13 ngày và tần suất các trận mưa lớn trong các năm gần đây có xu hướng gia tăng.
Với đặc điểm địa hình thấp trũng, mạng lưới sông Hồng - Luộc - Trà Lý và khu vực ven biển, mưa lớn trên địa bàn tỉnh thường gây ngập úng nội đồng, ngập khu dân cư, áp lực tiêu thoát nước lớn và làm gia tăng nguy cơ sự cố đê điều, bờ bao, đê bối.
Các năm 2020-2022 và 2024 ghi nhận số lượng đợt mưa lớn diện rộng nhiều, dao động từ 13 đến 19 đợt/năm; các đợt lớn tập trung từ tháng 5 đến tháng 10. Nổi bật có đợt mưa do bão số 2 năm 2022 với lượng mưa 200-330mm; đợt ngày 07-08/6/2021 lượng mưa phổ biến 50-150mm, riêng thành phố Hưng Yên đạt 183,6 mm; đợt 22-25/7/2024 do hoàn lưu bão số 2 với lượng mưa phổ biến 150-250mm, riêng thành phố Hưng Yên đạt 271,9mm; đợt 07-12/9/2024 do bão số 3, tổng lượng mưa 310-550mm, riêng Phù Cừ 578mm.
Năm 2023, đợt mưa từ ngày 25-29/9 do rìa phía bắc ATNĐ kết hợp rìa tây nam áp cao lục địa tăng cường, lượng mưa trung bình khoảng 300mm, có nơi cao hơn như: Đông Hưng 465,8mm, Thái Phúc 384,6mm, Tân Lập 360,3mm; gây ảnh hưởng trực tiếp đến trên 11.000 ha lúa mùa và trên 6.700 ha rau màu vụ đông.
Năm 2024, mưa do bão số 3 và hoàn lưu sau bão đạt trung bình toàn khu vực 484,6mm, nơi cao nhất tại Tiền Hải đạt 623,3mm, làm phát sinh đợt lũ đặc biệt lớn trên hệ thống sông tháng 9/2024.
Năm 2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 08 đợt mưa lớn diện rộng, tập trung trong tháng 7, tháng 8 và cuối tháng 9 - đầu tháng 10. Các đợt mưa lớn nổi bật gồm: 21-23/7; 15-18/8; 25-27/8; 30/8-01/9; 27-30/9 và 13-14/10. Nhiều đợt có lượng mưa phổ biến 100-200mm, có nơi trên 300mm như: Đông Hoàng 306,7mm, Nam Cường 370,7mm, Nghĩa Trụ 300,2mm, Bình Thanh 369,6mm. Mưa lớn kéo dài đã gây ngập úng, thiệt hại lúa mùa, hoa màu, cây trồng lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đồng thời hình thành đợt lũ lớn đầu tháng 10 trên các sông chính của tỉnh.
Bảng 3. 2: Tổng hợp đặc điểm mưa lớn tiêu biểu giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Khu vực phía bắc tỉnh (Hưng Yên cũ) |
Khu vực phía nam, ven biển của tỉnh (Thái Bình cũ) |
Đặc điểm nổi bật |
|
2020 |
Có 14 đợt mưa lớn diện rộng; nổi bật đợt 01–07/8 lượng mưa 150–250mm, đợt 14 -16/10 có nơi rất lớn. |
Mưa tháng 8 và tháng 10 cao hơn TBNN; mưa lớn gắn với bão số 2 và số 7, gây thiệt hại nông nghiệp, NTTS và giao thông cục bộ. |
Mưa lớn tập trung vào mùa bão, gây ngập úng và ảnh hưởng rõ tới sản xuất nông nghiệp. |
|
2021 |
Có 19 đợt mưa lớn diện rộng; nổi bật đợt 07-08/6 (50-150 mm), 05-10/7 (100- 170 mm), 23-27/9 (200-300 mm). |
Mưa lớn nhiều đợt trong mùa mưa, gắn với bão số 7, số 8; gây thiệt hại lúa mùa, cây màu, NTTS và công trình đê điều ven biển. |
Là năm mưa nhiều, phân bố kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. |
|
2022 |
Có 17 đợt mưa lớn diện rộng; nổi bật đợt 10-12/8 do bão số 2 với lượng mưa 200- 330 mm, đợt 25-26/8 do rìa xa bão số 3. |
Tổng lượng mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 đều cao hơn TBNN 50-90%; mưa lớn đi kèm lũ giữa tháng 6 và các đợt bão số 2, 3, 4. |
Mưa lớn xuất hiện dày hơn trung bình nhiều năm, làm tăng áp lực tiêu úng và an toàn đê điều. |
|
2023 |
Có 06 đợt mưa lớn diện rộng; đợt lớn nhất cuối tháng 9 gây mưa 130-240 mm, riêng Tiên Lữ 303,4 mm. |
Mưa lớn cuối tháng 9 do ATNĐ cho lượng mưa phổ biến khoảng 300mm, có nơi 360-466mm; ảnh hưởng trên 11.000 ha lúa mùa và hơn 6.700 ha rau màu. |
Mặc dù không phải năm mưa quá nhiều, song xuất hiện đợt mưa cực đoan cục bộ ở khu vực ven biển và hạ du. |
|
2024 |
Có 13 đợt mưa lớn diện rộng; nổi bật đợt 22-25/7 (150-250mm), đợt 07-12/9 (310-550mm, Phù Cừ 578mm). |
Mưa do bão số 3 và hoàn lưu sau bão đạt trung bình 484,6 mm, cao nhất 623,3mm tại Tiền Hải; gây lũ lớn lịch sử tháng 9. |
Là năm mưa lớn rất nghiêm trọng, tạo áp lực đồng thời lên tiêu úng, đê điều và phòng chống lũ toàn tỉnh. |
|
2025 |
Sau sáp nhập, toàn tỉnh xảy ra 08 đợt mưa lớn diện rộng; nhiều đợt tập trung trong tháng 7, 8, 9, 10; có nơi trên 300 mm. |
Khu vực ven biển và phía nam tỉnh chịu ảnh hưởng rõ do mưa lớn kết hợp bão số 5, số 6, số 10, thủy triều và lũ hạ du. |
Mưa lớn kéo dài gây ngập úng, thiệt hại lúa mùa, hoa màu, NTTS và góp phần hình thành đợt lũ lớn đầu tháng 10 trên các sông chính. |
Mưa lớn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là loại hình thiên tai có tác động liên vùng, liên hệ chặt chẽ với chế độ lũ trên hệ thống sông Hồng - Thái Bình, công tác tiêu thoát nước, vận hành công trình thủy lợi và bảo đảm an toàn đê điều. Xu thế xuất hiện các đợt mưa lớn cường độ cao, thời gian tập trung ngắn, phạm vi ảnh hưởng rộng và gắn với các tổ hợp bất lợi của bão - lũ - triều cho thấy yêu cầu phải tiếp tục rà soát phương án phòng, chống ngập úng, nâng cao năng lực dự báo - cảnh báo, hoàn thiện hệ thống tiêu thoát nước, tăng cường an toàn công trình và chủ động hơn trong tổ chức ứng phó theo phương châm “bốn tại chỗ”.
3.3. Lốc, sét, mưa đá
Lốc, sét, mưa đá là nhóm thiên tai có tính cục bộ cao, diễn ra rất nhanh, thời gian cảnh báo ngắn và thường xuất hiện trong các tháng giao mùa, cao điểm từ tháng 4 đến tháng 9 hằng năm. Đối với tỉnh Hưng Yên, loại hình thiên tai này xảy ra trên cả khu vực đồng bằng nội địa và khu vực ven biển, bãi triều, cửa sông; trong đó các không gian sản xuất nông nghiệp trống trải, vùng nuôi trồng thủy sản, khu vực dân cư có nhiều nhà xưởng mái nhẹ và các hoạt động lao động ngoài trời là những nơi dễ bị tổn thương nhất.
Giai đoạn 2020-2025 cho thấy sét là tác nhân gây thiệt hại lớn về người; lốc thường gây tốc mái nhà ở, nhà xưởng, trường học, chuồng trại, gãy đổ cây xanh và ảnh hưởng mạnh đến chuối, rau màu, cây ăn quả; còn mưa đá tuy xuất hiện ít hơn nhưng khi xảy ra thường gây hư hại nhanh đối với cây trồng và vật kiến trúc mái nhẹ. Các sự kiện nổi bật gồm mưa đá và dông lốc tại Khoái Châu năm 2020, các vụ sét đánh gây chết người tại Ân Thi, Tiên Lữ và Thái Bình cũ năm 2023, và trận lốc xoáy lớn tại khu vực Thái Thụy trong ảnh hưởng của bão số 10 năm 2025.
Xét theo không gian ảnh hưởng, rủi ro lốc, sét, mưa đá trên địa bàn tỉnh tập trung ở các vùng đồng ruộng trống trải; khu vực canh tác chuyên canh cây ăn quả, chuối, rau màu; khu vực bãi triều, nuôi trồng thủy sản, ven biển; và các khu dân cư, công trình công cộng, nhà xưởng có kết cấu mái nhẹ. Đây là loại hình thiên tai cần ưu tiên cảnh báo cực ngắn, bảo đảm an toàn cho người lao động ngoài trời, ngư dân, người làm việc tại bãi triều, đồng ruộng, công trình và các điểm trường học, cơ sở y tế, nhà văn hóa ở khu vực dễ bị gió giật mạnh tác động.
Bảng 3. 3: Tổng hợp các trận lốc, sét, mưa đá giai đoạn 2020 - 2025
|
Năm |
Loại hình |
Thời điểm xảy ra |
Thiệt hại, ảnh hưởng chính |
|
2020 |
Mưa dông, mưa đá, lốc, sét |
Ngày 25/01 và 28/8 tại khu vực Khoái Châu; trong năm trên địa bàn Thái Bình cũ tiếp tục ghi nhận thiệt hại do sét. |
Mưa đá, dông lốc tại Khoái Châu làm gãy đổ khoảng 45 ha chuối, thiệt hại khoảng 20 ha rau màu; đợt dông lốc ngày 28/8 làm thiệt hại 74,88 ha chuối, 93,6 ha chuối/đu đủ/táo, 1,8 ha đu đủ, 1,8 ha rau màu và tốc mái khoảng 7.560 m² nhà kho, phân xưởng, chuồng trại; thiệt hại riêng tại Khoái Châu ước khoảng 26 tỷ đồng. Thái Bình cũ ghi nhận 01 người chết do sét đánh. |
|
2021 |
Mưa dông, lốc, sét |
Ngày 20/9 tại Kim Động và rải rác trong mùa mưa trên địa bàn tỉnh |
Dông lốc tại Kim Động làm thiệt hại 12 ha chuối mức 30-70% và 51,54 ha chuối thiệt hại trên 70%. Năm 2021 trên địa bàn Hưng Yên cũ xuất hiện trên 25 đợt sét lớn, nhỏ gây hư hỏng hệ thống viễn thông, ước thiệt hại khoảng 1,93 tỷ đồng. Thái Bình cũ ghi nhận 06 người bị thương do dông lốc. |
|
2022 |
Dông, lốc kèm mưa, sét |
Ngày 05/7 tại Kim Động; tại Thái Bình cũ ghi nhận các đợt ngày 16/4, 22/6 và 25-26/8. |
Dông lốc tại Kim Động làm thiệt hại 22,4 ha chuối trên 70%. Trên địa bàn Thái Bình cũ ghi nhận 01 người bị thương do dông, lốc, sét; thiệt hại chủ yếu mang tính cục bộ, xảy ra rải rác trong mùa mưa. |
|
2023 |
Dông, lốc, sét |
Ngày 13/6 và 28/6 tại Ân Thi, Tiên Lữ; ngày 28/5 và 28/8 trên địa bàn Thái Bình cũ. |
Hưng Yên cũ ghi nhận 03 người chết do sét đánh tại Ân Thi và Tiên Lữ. Thái Bình cũ ghi nhận 02 người chết và 01 người bị thương do sét đánh. Đây là năm có thiệt hại về người nổi bật nhất trong giai đoạn tổng hợp đối với loại hình thiên tai này. |
|
2024 |
Mưa dông, lốc, sét |
Rải rác trong mùa mưa; trên địa bàn Thái Bình cũ ghi nhận thiệt hại ngày 19/5. |
Báo cáo tổng hợp của Hưng Yên cũ không tách riêng vụ việc dông lốc, sét thành nhóm thiệt hại độc lập quy mô lớn; trên địa bàn Thái Bình cũ ghi nhận 01 người chết do sét đánh ngày 19/5. Thiệt hại chủ yếu mang tính cục bộ, phân tán. |
|
2025 |
Dông, lốc, sét; lốc xoáy |
Đặc biệt gần trưa ngày 29/9 tại khu vực Thái Thụy trong ảnh hưởng của bão số 10. |
Ghi nhận trận lốc xoáy lớn tại khu vực Thái Thụy. Thiên tai do bão số 10 kết hợp lốc xoáy gây 02 người chết, 17 người bị thương, 560 nhà bị hư hại, 62 cột điện gãy đổ và 856 cây gãy đổ; tổng thiệt hại ước khoảng 68,9 tỷ đồng. Đây là sự kiện dông lốc cực đoan nổi bật nhất trên địa bàn tỉnh sau sáp nhập trong năm 2025. |
3.4. Lũ, ngập lụt
Với đặc điểm địa hình thấp trũng, bằng phẳng, mạng lưới sông dày đặc gồm sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa và hệ thống kênh tiêu nội đồng rộng khắp, tỉnh Hưng Yên hiện nay có mức độ phơi lộ cao trước nguy cơ lũ, ngập lụt. Các khu vực ngoài đê bối, vùng bãi sông, khu nuôi trồng thủy sản ven biển và ven cửa sông, các ô trũng nội đồng, khu dân cư và hạ tầng nằm sát sông hoặc phụ thuộc tiêu thoát bằng trạm bơm, cống dưới đê là những khu vực dễ bị ảnh hưởng khi mưa lớn kéo dài trùng với kỳ triều cao hoặc khi xuất hiện lũ muộn trên hệ thống sông chính.
Diễn biến giai đoạn 2020-2023 cho thấy lũ trên địa bàn Hưng Yên cũ chủ yếu ở mức thấp đến trung bình, không xuất hiện lũ tiểu mãn, đỉnh lũ năm nhìn chung đều dưới báo động I; trong khi đó trên địa bàn Thái Bình cũ, chế độ lũ cũng chủ yếu dao động theo thủy triều và điều tiết hồ chứa, chỉ xuất hiện một số đợt lũ nhỏ hoặc lũ vừa cục bộ. Tuy nhiên từ năm 2024 trở đi, xu thế cực đoan gia tăng rõ rệt. Năm 2024 ghi nhận trận lũ đặc biệt lớn trong tháng 9 trên địa bàn Thái Bình cũ và đợt lũ lớn trên sông Hồng qua Hưng Yên cũ; sang năm 2025, sau sáp nhập, tỉnh tiếp tục chịu ảnh hưởng của đợt lũ muộn đầu tháng 10 với mực nước nhiều trạm vượt báo động II đến báo động III, cho thấy rủi ro lũ, ngập lụt trên địa bàn tỉnh mới đã chuyển sang trạng thái phức tạp hơn, phạm vi ảnh hưởng rộng hơn và yêu cầu điều hành liên vùng, liên hệ thống cao hơn.
Xét theo không gian, khu vực có nguy cơ ngập lụt cao tập trung dọc các tuyến sông lớn và vùng trũng thuộc các địa bàn ven sông Hồng, sông Luộc của tỉnh Hưng Yên cũ như Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ và thành phố Hưng Yên; đồng thời mở rộng ra các khu vực ven biển, ven cửa sông, vùng bờ bao và nội đồng thấp của tỉnh Thái Bình cũ như Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng, Tiền Hải, Thái Thụy, Hưng Hà và thành phố Thái Bình. Khi xảy ra mưa bão lớn, nước sông dâng cao, bờ bao và đê bối rất dễ bị tràn, thẩm lậu hoặc phát sinh lỗ rò, sạt trượt, từ đó làm gia tăng nguy cơ ngập sâu diện tích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, khu dân cư và hạ tầng thiết yếu.
Bảng 3.4: Tổng hợp đặc trưng lũ, ngập lụt giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Đặc trưng lũ, mực nước |
Diễn biến ngập lụt, thiệt hại và sự cố tiêu biểu |
|
2020 |
Hưng Yên cũ: 01 trận lũ trên sông Hồng, đỉnh lũ năm thấp; mực nước cao nhất tại trạm Hưng Yên 3,86m (21/8), thấp hơn báo động I 1,64m. Thái Bình cũ: Năm ít lũ, không xuất hiện lũ tiểu mãn, cả mùa chỉ xuất hiện 3 đợt lũ nhỏ, đỉnh lũ thấp hơn nhiều so với trung bình nhiều năm và dưới báo động I. |
Ngập, tràn cục bộ tại một số vùng nuôi trồng thủy sản và bờ bao; phát sinh sạt lở, lở mái đê bối An Hạ 2 và một số sự cố nhỏ về công trình đê điều, giao thông ở Thái Bình cũ. Trên Hưng Yên cũ chưa ghi nhận trận lũ lớn nhưng sau mưa bão đã phải xử lý, tu sửa nhiều hạng mục kè, cống, thân đê bị nứt, lún sụt, sạt lở. |
|
2021 |
Hưng Yên cũ: Không có lũ tiểu mãn, chỉ xuất hiện 01 trận lũ; đỉnh lũ tại trạm Hưng Yên 2,52m (24/7), thấp hơn báo động I 2,98m. Thái Bình cũ: Là năm ít lũ, mùa lũ đến muộn, đỉnh lũ thấp hơn nhiều so với trung bình nhiều năm. |
Mưa lớn do bão số 7 và số 8 gây ngập diện tích lúa, cây màu, thủy sản và làm phát sinh sự cố tràn, lỗ rò, vỡ bờ bao, ngập 560ha ao đầm nuôi trồng thủy sản ở Thái Bình cũ; trên Hưng Yên cũ lũ cơ bản không lớn nhưng vẫn phải xử lý, gia cố các đoạn đê, kè xung yếu sau mưa bão. |
|
2022 |
Hưng Yên cũ: Không có lũ tiểu mãn, xuất hiện 03 trận lũ; đỉnh lũ cao nhất tại trạm Hưng Yên 4,65m (17/6), thấp hơn báo động I: 0,85m. Thái Bình cũ: Mùa lũ đến sớm, giữa tháng 6 xuất hiện 01 đợt lũ do hồ Hòa Bình xả 5 cửa xả đáy, mực nước sông Trà Lý lên đến báo động II; tháng 8 có thêm một dao động lũ nhỏ. |
Một số vị trí bờ bao ở Vũ Thư, Kiến Xương bị tràn; xuất hiện thẩm lậu, lỗ rò, sạt lở kè và mái đê ở các tuyến đê cửa sông, đê bối tại Thái Bình cũ. Trên Hưng Yên cũ lũ ở mức trung bình, song vẫn đòi hỏi theo dõi sát công trình đê điều và chuẩn bị hộ đê. |
|
2023 |
Hưng Yên cũ: Không có lũ tiểu mãn, xuất hiện 02 trận lũ; đỉnh lũ cao nhất tại trạm Hưng Yên 2,46m (29/8), thấp hơn báo động I 3,04m. Thái Bình cũ: Năm rất ít lũ, tháng 5 không có lũ tiểu mãn, tháng 8 chỉ có dao động nhỏ, đỉnh lũ năm rất thấp. |
Dù lũ nhỏ, mưa lớn cuối tháng 9 tại Thái Bình cũ vẫn làm ảnh hưởng trực tiếp trên 11.000ha lúa mùa và hơn 6.700ha rau màu vụ đông; đồng thời phát sinh sạt lở kè Đông Minh tại Tiền Hải. Trên Hưng Yên cũ chủ yếu là úng, ngập cục bộ do các đợt mưa lớn, chưa xuất hiện trận lũ lớn trên sông Hồng. |
|
2024 |
Hưng Yên cũ: Xuất hiện lũ lớn trong tháng 9; trạm Hưng Yên đạt 7,50m (12/9), cao hơn báo động III 0,50m; trong năm có 02 trận lũ, trong đó trận lũ 09/9- 21/9 có biên độ lũ lên 4,59m. Thái Bình cũ: Năm nhiều lũ, đặc biệt từ 09/9-15/9 xảy ra đợt lũ rất lớn, các trạm Tiến Đức, Triều Dương, Quyết Chiến, Thái Bình đều vượt báo động III từ 0,57m đến 1,80m; tại trạm Thái Bình mực nước đạt 4,25m, cao hơn lũ lịch sử năm 1971 là 0,04m. |
Đây là năm thiên tai lũ lụt đặc biệt nghiêm trọng trên phạm vi địa bàn tỉnh hiện nay. Hưng Yên cũ ước thiệt hại khoảng 3.637,6 tỷ đồng; Thái Bình cũ ước thiệt hại khoảng 1.479 tỷ đồng. Nhiều diện tích lúa, hoa màu, cây lâu năm, thủy sản, công trình đê điều, thủy lợi, điện, giao thông, y tế, giáo dục và văn hóa bị ảnh hưởng nặng; nhiều vị trí bờ bao, đê bối bị tràn, thẩm lậu, sạt trượt, phát sinh lỗ rò. |
|
2025 |
Sau sáp nhập, tỉnh Hưng Yên chịu ảnh hưởng của 04 cơn bão và 01 áp thấp nhiệt đới; trong mùa xuất hiện 02 trận lũ và 02 dao động nhỏ. Đợt lũ lớn nhất từ 30/9- 14/10 do hoàn lưu bão số 10 kết hợp xả lũ hồ chứa; đỉnh lũ tại trạm Hưng Yên 6,12m (thấp hơn báo động II 0,18m), Tiến Đức 5,81m (cao hơn báo động II 0,21m), Triều Dương 5,60m (cao hơn báo động II 0,20m), Quyết Chiến 4,77m (cao hơn báo động III 0,87m), Thái Bình 3,62m (cao hơn báo động III 0,12m). |
Mưa lớn và lũ đầu tháng 10 gây tràn, sạt lở, thẩm lậu một số bờ bao, kè, đường giao thông ven sông; riêng đợt bão số 10 và lũ kèm theo ước thiệt hại khoảng 68,9 tỷ đồng. Mặc dù quy mô chưa bằng năm 2024, đây vẫn là đợt lũ muộn đáng chú ý, cho thấy rủi ro lũ cuối mùa trên địa bàn tỉnh mới tiếp tục ở mức cao. |
Bảng 3.5: Mực nước lũ đặc trưng tại một số trạm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong đợt lũ đầu tháng 10 năm 2025
|
Trạm |
Sông |
Đỉnh lũ |
So sánh cấp báo động |
|
Hưng Yên |
Sông Hồng |
6,12m (18h30 ngày 02/10/2025) |
Thấp hơn báo động II 0,18m |
|
Tiến Đức |
Sông Hồng |
5,81m (19h20 ngày 02/10/2025) |
Cao hơn báo động II 0,21m |
|
Triều Dương |
Sông Luộc |
5,60m (18h10 ngày 02/10/2025) |
Cao hơn báo động II 0,20m |
|
Quyết Chiến |
Sông Trà Lý |
4,77m (17h10 ngày 02/10/2025) |
Cao hơn báo động III 0,87m |
|
Thái Bình |
Sông Trà Lý |
3,62m (15h15 ngày 02/10/2025) |
Cao hơn báo động III 0,12m |
Nhìn chung, lũ và ngập lụt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có xu hướng chuyển từ trạng thái chủ yếu là lũ nhỏ, ngập cục bộ trong giai đoạn 2020-2023 sang trạng thái xuất hiện các đợt lũ lớn, lũ muộn và ngập diện rộng trong hai năm 2024-2025. Điều này đòi hỏi tỉnh phải tiếp tục rà soát, cập nhật phương án hộ đê toàn tuyến, bảo vệ bờ bao, đê bối, tăng cường năng lực tiêu úng nội đồng, hoàn thiện hệ thống cảnh báo - chỉ huy điều hành liên vùng và chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vật tư, phương tiện theo phương châm “bốn tại chỗ”, nhất là tại các khu vực ven sông lớn, khu vực ngoài đê bối, vùng nuôi trồng thủy sản ven biển, khu dân cư trũng thấp và các đô thị, khu công nghiệp trọng điểm.
3.5. Nắng nóng
Nắng nóng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là loại hình thiên tai khí tượng xảy ra thường xuyên trong mùa hè, chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9, tập trung nhiều trong các tháng 5 đến tháng 8. Phạm vi ảnh hưởng của nắng nóng bao trùm cả khu vực nội đồng, đô thị, công nghiệp, vùng trũng thấp, vùng ven sông và vùng ven biển. Đặc trưng nổi bật của loại hình thiên tai này là nền nhiệt cao kéo dài nhiều ngày liên tiếp, kết hợp độ ẩm không khí lớn, làm gia tăng cảm giác oi bức, gây áp lực lớn đối với sức khỏe cộng đồng, sinh hoạt dân sinh, nhu cầu sử dụng điện, cấp nước, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và hoạt động lao động ngoài trời.
Nắng nóng có xu hướng biến động khá mạnh theo từng năm, song nhìn chung vẫn duy trì ở mức cao. Năm 2020 ghi nhận 09 đợt nắng nóng diện rộng, với tổng số 32 ngày nắng nóng, nhiệt độ cao nhất đạt 40,5°C; năm 2021 tiếp tục xuất hiện 09 đợt, với tổng số 51 ngày nắng nóng, nhiệt độ cao nhất đạt 40,3°C; năm 2021 của tỉnh Thái Bình cũ ghi nhận 06 đợt nóng, nắng nóng gay gắt, nhiệt độ cao nhất năm đạt 39,2°C vào ngày 20/6; đồng thời đánh giá đây là năm xuất hiện các đợt nóng, nắng nóng gay gắt đáng chú ý; năm 2022 giảm còn 06 đợt với tổng số 33 ngày nắng nóng, nhiệt độ cao nhất 38,2°C; năm 2023 tăng lên 13 đợt với 63 ngày nắng nóng, nhiệt độ cao nhất 39,4°C; đến năm 2024 xuất hiện 10 đợt nắng nóng với 46 ngày nắng nóng, trong đó ngày 27/4/2024 ghi nhận mức nhiệt cao nhất 41,2°C. Diễn biến này cho thấy cường độ nắng nóng tại khu vực nội tỉnh cũ không ổn định nhưng có xu thế xuất hiện sớm hơn và có những đợt gay gắt hơn trong các năm gần đây.
Nắng nóng không phải là loại hình thiên tai gây thiệt hại đột ngột như bão, lũ hay dông lốc, nhưng lại có đặc điểm tích lũy và lan rộng theo không gian, thời gian. Khi xảy ra liên tiếp trong nhiều ngày, nắng nóng làm gia tăng nguy cơ mất an toàn điện, cháy nổ, thiếu nước sinh hoạt cục bộ, phát sinh dịch bệnh do thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh trưởng của lúa, rau màu, cây ăn quả, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Đối với các khu vực đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu dân cư tập trung, hiện tượng đảo nhiệt và bề mặt bê tông hóa càng làm gia tăng mức độ tác động. Đối với khu vực ven biển và bãi triều, nắng nóng kéo dài kết hợp gió mạnh, độ mặn và bốc hơi lớn có thể ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất muối, nuôi trồng thủy sản và cấp nước phục vụ dân sinh.
Từ các đặc điểm trên có thể nhận định rằng nắng nóng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cần được theo dõi như một loại hình thiên tai khí tượng có xu hướng gia tăng về cường độ tác động trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Việc tổ chức theo dõi, dự báo sớm, bảo đảm cấp điện, cấp nước, hướng dẫn điều chỉnh mùa vụ, cơ cấu cây trồng, thời gian lao động, các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phương án ứng phó cho các khu vực sản xuất tập trung là yêu cầu cần thiết nhằm giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm an toàn dân sinh và ổn định phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn tỉnh.
Bảng 3. 6: Tổng hợp một số đặc trưng nắng nóng tại khu vực tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2020 - 2025
|
Năm |
Số đợt |
Số ngày nắng nóng |
Tmax (°C) |
Đặc điểm nổi bật |
|
2020 |
09 đợt |
32 ngày |
40,5 |
Các đợt nắng nóng kéo dài nhiều ngày, có thời điểm gay gắt và đặc biệt gay gắt. |
|
2021 |
09 đợt |
51 ngày |
40,3 |
Nền nhiệt cao hơn trung bình nhiều năm; nắng nóng xuất hiện liên tục trong mùa hè. |
|
2022 |
06 đợt |
33 ngày |
38,2 |
Số đợt giảm so với 2020-2021, nhưng vẫn ảnh hưởng trên phạm vi toàn tỉnh. |
|
2023 |
13 đợt |
63 ngày |
39,4 |
Là năm có số đợt và số ngày nắng nóng lớn, thể hiện xu hướng kéo dài hơn. |
|
2024 |
10 đợt |
46 ngày |
41,2 |
Ghi nhận mức nhiệt cực đại rất cao; nắng nóng xuất hiện sớm ngay từ cuối tháng 4. |
3.6. Rét hại, sương muối
Trong giai đoạn 2020-2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thiên tai rét hại, sương muối chủ yếu biểu hiện dưới dạng các đợt không khí lạnh tăng cường mạnh gây rét đậm, rét hại; thời gian xuất hiện tập trung từ tháng 12 năm trước đến tháng 2, tháng 3 năm sau. So với các tỉnh miền núi phía Bắc, cường độ rét trên địa bàn Hưng Yên thấp hơn do đặc điểm địa hình đồng bằng; tuy nhiên do mật độ dân cư cao, sản xuất nông nghiệp thâm canh, nhiều vùng nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi tập trung, các đợt rét kéo dài vẫn gây ảnh hưởng rõ đến cây trồng vụ Đông Xuân, mạ, lúa mới gieo cấy, rau màu, gia súc, gia cầm và đời sống sinh hoạt của người dân.
Trong giai đoạn 2020-2024, năm nào cũng ghi nhận 04 đợt rét đậm, rét hại. Nhiệt độ thấp nhất quan trắc được lần lượt là 10,6°C năm 2020; 8,6°C năm 2021; 7,8°C năm 2022; 8,3°C năm 2023; 8,2°C năm 2024. Đợt rét kéo dài nhất được ghi nhận khoảng 6-8 ngày, tập trung chủ yếu vào cuối tháng 01, tháng 02 hoặc giữa tháng 12. Đáng chú ý, đợt rét từ ngày 19/02 đến 22/02/2022 tại huyện Văn Lâm (cũ) đã gây thiệt hại trên 70% đối với 487,07 ha lúa, cho thấy rét hại vẫn có thể gây tổn thất đáng kể ngay tại khu vực đồng bằng.
Đối với hiện tượng sương muối, giai đoạn 2020-2025 chưa ghi nhận sương muối là loại hình thiên tai gây thiệt hại đáng kể trên địa bàn, chỉ có sương mù nhẹ đi kèm các đợt không khí lạnh; điều này phù hợp với đặc điểm địa hình thấp, bằng phẳng, ít chênh cao và chịu ảnh hưởng của khí hậu đồng bằng, ven biển. Vì vậy, sương muối không phải là loại hình thiên tai điển hình của tỉnh Hưng Yên nhưng vẫn cần được theo dõi trong các đợt không khí lạnh rất mạnh kéo dài, đặc biệt đối với cây trồng mẫn cảm ở giai đoạn sinh trưởng đầu vụ.
Từ thực tế trên có thể thấy, mặc dù rét hại và sương muối không phải là nhóm thiên tai gây thiệt hại lớn nhất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, song đây vẫn là loại hình cần theo dõi chặt chẽ trong mùa Đông Xuân. Công tác dự báo, cảnh báo sớm; hướng dẫn bảo vệ mạ, lúa, rau màu; che chắn chuồng trại; dự trữ thức ăn cho vật nuôi; chủ động điều tiết nước, giữ ấm cho cây trồng và bảo vệ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương cần tiếp tục được lồng ghép trong các phương án ứng phó thiên tai của tỉnh.
Bảng 3. 7: Tổng hợp các đợt rét đậm, rét hại tại khu vực tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Số đợt rét đậm, rét hại |
Đợt kéo dài nhất |
Nhiệt độ thấp nhất |
Ghi chú |
|
2020 |
04 đợt |
24/01-31/01 (8 ngày) |
10,6°C |
Có ghi nhận sương mù nhẹ trong một số đợt không khí lạnh; chưa ghi nhận sương muối gây thiệt hại. |
|
2021 |
04 đợt |
07/01-12/01 (6 ngày) |
8,6°C |
Rét đậm, rét hại tập trung đầu tháng 01 và cuối tháng 12. |
|
2022 |
04 đợt |
19/02-25/02 (7 ngày) |
7,8°C |
Đợt rét 19-22/02 gây thiệt hại trên 70% đối với 487,07 ha lúa tại huyện Văn Lâm. |
|
2023 |
04 đợt |
16/12-30/12 (đợt rét đậm, rét hại 6 ngày) |
8,3°C |
Nhiệt độ thấp nhất ghi nhận ngày 23/12; rét tập trung đầu năm và cuối năm. |
|
2024 |
04 đợt |
21/01-26/01 (6 ngày) |
8,2°C |
Ngoài đợt kéo dài 6 ngày còn xuất hiện các đợt rét ngắn ngày cuối tháng 01, cuối tháng 02 và đầu tháng 3. |
|
2025 |
|
|
|
Không ghi nhận rét hại, sương muối là loại hình gây thiệt hại nổi bật; trọng tâm thiệt hại trong năm tập trung vào bão, mưa lớn và lũ. |
Rét hại trên địa bàn tỉnh có tính chất xảy ra hằng năm nhưng chủ yếu ở cấp độ nhẹ đến trung bình so với khu vực trung du, miền núi. Vấn đề cần quan tâm không nằm ở giá trị nhiệt độ cực thấp tuyệt đối, mà ở thời gian kéo dài của rét, sự xuất hiện đồng thời của mưa nhỏ, ẩm lạnh, gió mùa Đông Bắc và tác động cộng hưởng đối với sản xuất vụ Đông Xuân, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và sức khỏe cộng đồng.
3.7. Sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy
Qua tổng hợp giai đoạn 2020-2025 cho thấy nguy cơ sạt lở tập trung tại các tuyến đê, kè ven sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý và khu vực cửa sông, ven biển thuộc địa bàn Hưng Yên cũ và Thái Bình cũ. Các điểm đã từng xảy ra sự cố gồm: khu vực thành phố Hưng Yên cũ, Văn Giang, Khoái Châu; các tuyến kè Nghi Xuyên, Hàm Tử, Phú Hùng Cường; các tuyến đê cửa sông, đê bối, bờ bao nuôi trồng thủy sản tại Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng, Thái Thụy, Tiền Hải.
Đáng lưu ý, tính chất sạt lở trên địa bàn tỉnh có xu hướng chuyển từ sự cố cục bộ đơn lẻ sang dạng sự cố tổng hợp gắn với tổ hợp mưa lớn - lũ lớn - nước rút nhanh - biến đổi dòng chảy. Một số sự cố không chỉ làm hư hỏng thân đê, mái kè và bờ bao mà còn trực tiếp đe dọa đến an toàn nhà dân, giao thông, sản xuất nông nghiệp và vùng nuôi trồng thủy sản ven sông, ven biển.
Bảng 3.8: Tổng hợp một số sự cố sạt lở, sụt lún, hư hỏng công trình giai đoạn 2020-2025
|
Năm |
Khu vực/địa điểm |
Diễn biến chính |
Nhận định, tác động |
|
2020 |
Thành phố Hưng Yên cũ |
Sau bão số 2 xuất hiện nứt mặt đê tả sông Hồng tại K123+920- K123+980; tiếp đó xảy ra sạt lở mái đê tại K122+237-K122+312, phường Lam Sơn. |
Cho thấy nguy cơ mất ổn định thân đê, mái đê ven sông Hồng khi mưa lớn kết hợp dòng chảy thay đổi. |
|
2021 |
Khoái Châu, thành phố Hưng Yên cũ; Tiền Hải, Kiến Xương, Thái Thụy |
Hình thành cung sạt tại kè Nghi Xuyên, Phú Hùng Cường; tại Thái Bình cũ xảy ra lở nhẹ mái đê cửa sông tả Hồng Hà, vỡ bờ bao Trà Giang, tràn bờ bao vùng đầm nuôi trồng thủy sản. |
Rủi ro lan rộng từ tuyến đê sông sang đê cửa sông, bờ bao và vùng nuôi trồng thủy sản ngoài đê bối. |
|
2022 |
Khoái Châu |
Mưa lớn làm sạt trượt, sụt lún tại kè Nghi Xuyên và khu vực hạ lưu mỏ hàn số 5 tuyến kè Hàm Tử. |
Biến đổi dòng chảy và mưa lớn kéo dài làm gia tăng nguy cơ hư hỏng kè bảo vệ bờ sông Hồng. |
|
2023 |
Văn Giang |
Mưa lớn tháng 9 gây sạt trượt mái đê phía đồng tại K83+370-K83+400 đê tả sông Hồng, thôn Phi Liệt, xã Liên Nghĩa. |
Sự cố phải công bố tình huống khẩn cấp, phản ánh mức độ nhạy cảm của các đoạn đê nền địa chất yếu. |
|
2024 |
Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng |
Lũ cuối tháng 7 và đầu tháng 9 gây sạt trượt mái đê bối Vũ Vân; xuất hiện lỗ rò tại các bờ bao huyện Kiến Xương; thẩm lậu, lở nhẹ chân đê tả Trà Lý huyện Đông Hưng. |
Tổ hợp mưa lớn, lũ lớn và triều cao làm gia tăng sự cố trên hệ thống đê, bờ bao khu vực hạ du và cửa sông. |
|
2025 |
Hồng Vũ, Thư Vũ, kè Hà Xá, Hàm Tử |
Bão số 3 làm tràn, sạt lở một số bờ bao; lũ đầu tháng 10 gây xô tụt mái kè Hà Xá khoảng 30m, sập hư hỏng mái kè khu vực mỏ hàn số 01 kè Hàm Tử và tràn bờ bao khoảng 700m. |
Xu thế nguy cơ chuyển sang dạng sự cố tổng hợp trên cả đê, kè, bờ bao khi có lũ muộn, nước sông lên nhanh và rút nhanh. |
Nguy cơ sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ, dòng chảy cần được theo dõi theo ba nhóm chính: các tuyến đê, kè ven sông; các khu vực đê cửa sông, bờ bao, đê bối ngoài đê chính; và các vùng bãi sông, bãi biển, khu nuôi trồng thủy sản chịu tác động mạnh của dòng chảy, triều, sóng.
3.8. Hạn hán
Hạn hán trên địa bàn tỉnh Hưng Yên chủ yếu biểu hiện dưới dạng thiếu mưa, thiếu nguồn nước và khô hạn cục bộ trong mùa khô; mức độ diễn biến thường chậm hơn so với bão, lũ, mưa lớn nhưng tác động kéo dài tới sản xuất nông nghiệp, cấp nước và đời sống dân sinh. Giai đoạn 2020-2025 của Hưng Yên hạn hán hầu như năm nào cũng xuất hiện, tập trung trong các tháng Đông Xuân, phổ biến từ tháng 01 đến tháng 04 và các tháng cuối năm như tháng 11, tháng 12; thời kỳ khô hạn nặng nhất thường rơi vào tháng 01 đến tháng 03. Hạn hán thể hiện ở việc thiếu nguồn nước bổ sung cho hệ thống thủy lợi, khó khăn trong lấy nước phục vụ gieo cấy, chăm sóc lúa và cây màu vụ xuân. Đối với khu vực ven biển, cửa sông thuộc Thái Bình cũ, hạn hán không chỉ làm giảm nguồn nước ngọt mà còn làm gia tăng rủi ro xâm nhập mặn, ảnh hưởng đến tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản và vận hành hệ thống cống lấy nước - tiêu thoát nước.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nắng nóng kéo dài, phân bố mưa không đều và nguồn nước thượng lưu biến động, hạn hán có thể chuyển từ thiếu nước cục bộ sang trạng thái gây ảnh hưởng rõ hơn đối với sản xuất nông nghiệp và dân sinh.
Bảng 3.9: Khái quát tình hình hạn hán, thiếu nước trên địa bàn tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập giai đoạn 2020-2025
|
Năm |
Thời kỳ khô hạn chủ yếu |
Nhận định tổng hợp |
|
2020 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Khô hạn tập trung mùa Đông Xuân; ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống tại hầu hết địa phương. |
|
2021 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Thiếu nước cục bộ tiếp tục xuất hiện; thời kỳ khô hạn nặng chủ yếu trong các tháng đầu năm. |
|
2022 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Khô hạn mùa cạn vẫn là nguy cơ thường niên; cần chủ động lấy nước, điều tiết nước phục vụ sản xuất. |
|
2023 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Hạn hán tiếp tục tập trung trong các tháng 01- 03; ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt tại nhiều nơi. |
|
2024 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Các báo cáo tiếp tục ghi nhận tình trạng khô hạn trong mùa Đông Xuân; yêu cầu chống hạn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm song song với chống úng, bão, lũ. |
|
2025 |
Mùa cạn đầu năm và cuối năm |
Báo cáo năm 2025 không ghi nhận thiệt hại nổi bật do hạn hán, song nguy cơ thiếu nước, khó khăn lấy nước và áp lực vận hành hệ thống thủy lợi vẫn hiện hữu, nhất là trong điều kiện mưa phân bố không đều và nguồn nước thượng lưu biến động. |
Do đó, đối với tỉnh Hưng Yên, công tác phòng, chống hạn hán cần tập trung vào điều tiết, tích trữ và phân phối nguồn nước hợp lý; phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị quản lý thủy lợi trong lấy nước, giữ ngọt, tiêu úng và cấp nước; chủ động chuyển đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng tại các khu vực khó khăn về nguồn nước; đồng thời tăng cường theo dõi chất lượng nước tại các vùng cửa sông, ven biển để kịp thời ứng phó khi hạn hán kết hợp xâm nhập mặn.
3.9. Xâm nhập mặn
Xâm nhập mặn là loại hình thiên tai có tính đặc thù đối với tỉnh Hưng Yên xuất hiện chủ yếu tại khu vực ven biển, cửa sông và vùng ngoài đê bối thuộc địa bàn Thái Bình cũ. So với bão, mưa lớn và lũ, xâm nhập mặn chưa phải là loại hình gây thiệt hại nổi trội nhất trong thống kê tổng hợp hằng năm giai đoạn 2020-2025; tuy nhiên đây là nguy cơ thường xuyên trong mùa khô, nhất là khi nguồn nước ngọt từ thượng lưu suy giảm, triều cường hoạt động mạnh và việc vận hành hệ thống cống lấy nước, giữ ngọt gặp khó khăn.
Về bản chất, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh không tác động đồng đều theo không gian. Khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp là các xã, phường ven biển, cửa sông, các vùng nuôi trồng thủy sản ven sông, ven biển, các bãi bồi ngoài đê bối và các vùng lấy nước phụ thuộc mạnh vào diễn biến mực nước - độ mặn trên sông. Khu vực nội đồng chịu ảnh hưởng gián tiếp thông qua khó khăn lấy nước ngọt, gia tăng chi phí vận hành công trình thủy lợi và nguy cơ suy giảm chất lượng nguồn nước trong thời kỳ khô hạn kéo dài.
Bảng 3.10: Khu vực và đối tượng có nguy cơ xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Khu vực/đối tượng |
Biểu hiện nguy cơ chính |
Tác động, yêu cầu quản lý |
|
Vùng ven biển, cửa sông thuộc Thái Thụy, Tiền Hải và các khu vực giáp biển |
Độ mặn tăng trong mùa khô, triều cường đẩy mặn sâu vào hệ thống sông, kênh và công trình lấy nước. |
Nguy cơ ảnh hưởng đến lấy nước tưới, cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản; cần vận hành linh hoạt cống, trạm bơm và theo dõi độ mặn thường xuyên. |
|
Vùng bãi bồi, bờ bao, đầm nuôi trồng thủy sản ngoài đê bối tại Kiến Xương, Thái Thụy, Tiền Hải và khu vực cửa sông |
Nguồn nước trong ao, đầm và vùng bãi chịu tác động trực tiếp của mặn, triều và sóng. |
Dễ phát sinh thiệt hại cho nuôi trồng thủy sản; cần gắn quản lý xâm nhập mặn với phòng, chống tràn, vỡ bờ bao và an toàn đê bối. |
|
Các công trình cống dưới đê, đê biển, đê cửa sông và hệ thống thủy lợi ven biển |
Áp lực giữ ngọt - tiêu thoát nước - ngăn mặn diễn ra đồng thời, nhất là trong mùa cạn hoặc khi có triều cao. |
Đòi hỏi điều hành công trình chặt chẽ, liên thông giữa các đơn vị quản lý; ưu tiên bảo đảm an toàn công trình và cấp nước cho sản xuất. |
|
Khu vực nội đồng phụ thuộc nguồn nước từ sông trục và hệ thống thủy lợi liên vùng |
Chịu ảnh hưởng gián tiếp khi dòng chảy nước ngọt suy giảm, làm khó khăn cho lấy nước và duy trì chất lượng nước. |
Cần chủ động trữ nước, bố trí thời vụ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp và phối hợp liên vùng trong điều tiết nguồn nước. |
Xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập cần được quản lý như một rủi ro gắn với hạn hán, thiếu nước và biến động thủy triều vùng ven biển. Công tác ứng phó trọng tâm là theo dõi độ mặn, điều tiết công trình, giữ ngọt, cấp nước an toàn cho sản xuất và sinh hoạt, đồng thời bảo vệ vùng nuôi trồng thủy sản và đê biển, đê cửa sông.
3.10. Sương mù
Sương mù là hiện tượng khí tượng xuất hiện tương đối phổ biến trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, nhất là trong mùa đông, đầu xuân và các thời kỳ chuyển mùa, khi độ ẩm không khí cao, gió yếu, nền nhiệt thấp và chênh lệch nhiệt giữa ngày và đêm lớn. Với đặc điểm địa hình đồng bằng thấp, mạng lưới sông ngòi dày đặc, nhiều vùng bãi sông, vùng trũng, khu vực ven biển và cửa sông, hiện tượng sương mù thường xuất hiện vào ban đêm, sáng sớm, có những ngày kéo dài đến gần trưa, làm giảm tầm nhìn và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giao thông, sản xuất và đời sống dân sinh.
Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, sương mù không phải là loại hình thiên tai gây thiệt hại lớn, đột biến như bão, lũ, mưa lớn, dông lốc hoặc nắng nóng; tuy nhiên đây là hiện tượng bất lợi khí tượng có tần suất xuất hiện khá thường xuyên, nhất là trong các tháng từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Sương mù thường đi kèm các đợt không khí lạnh ẩm, mưa nhỏ, mưa phùn, thời tiết nồm ẩm hoặc trạng thái gió yếu kéo dài. Trong điều kiện đó, tầm nhìn ngang bị suy giảm, mặt đường, mặt cầu, bến bãi, đường đê, tuyến giao thông thủy và khu vực sản xuất ngoài trời trở nên trơn trượt, ẩm ướt, làm gia tăng nguy cơ mất an toàn trong vận hành, đi lại và lao động.
Giai đoạn 2020-2025 cho thấy hiện tượng sương mù xuất hiện hằng năm trên cả khu vực Hưng Yên cũ và Thái Bình cũ, song chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình, phân tán theo từng đợt không khí lạnh hoặc hình thế thời tiết ẩm. Các năm 2020, 2021, 2022 và 2024 đều ghi nhận trong các đợt không khí lạnh có mưa nhỏ, mưa phùn và sương mù nhẹ; năm 2023, sương mù xuất hiện xen kẽ trong các đợt không khí lạnh đầu năm và cuối năm. Trên địa bàn tỉnh chưa ghi nhận sương mù là loại hình gây thiệt hại lớn độc lập về người và tài sản, nhưng tác động gián tiếp là đáng lưu ý, đặc biệt đối với giao thông đường bộ, đường thủy nội địa, hoạt động nghề cá ven biển, vận hành cảng bến, sản xuất nông nghiệp buổi sáng sớm và các hoạt động thi công, vận tải, học tập, sinh hoạt ngoài trời.
Đối với khu vực nội đồng, sương mù làm giảm khả năng quan sát trên các tuyến giao thông liên huyện, liên xã, các tuyến đê kết hợp giao thông, cầu, cống, nút giao với quốc lộ và khu vực gần sông. Đối với khu vực ven biển, cửa sông và bãi triều, sương mù có thể ảnh hưởng đến việc xác định hướng đi, nhận diện vật cản, luồng tuyến, phương tiện và mốc dẫn đường, làm gia tăng nguy cơ va chạm, mắc cạn hoặc mất an toàn đối với tàu thuyền hoạt động gần bờ, tàu cá ra vào khu neo đậu, phương tiện khai thác thủy sản và lực lượng làm việc ngoài bãi triều. Đối với sản xuất nông nghiệp, sương mù kéo dài kết hợp ẩm lạnh có thể làm gia tăng sâu bệnh, nấm bệnh trên mạ, rau màu, cây vụ đông và ảnh hưởng đến sinh trưởng, chăm sóc cây trồng trong thời kỳ nhiệt độ thấp.
Với tính chất là hiện tượng khí tượng bất lợi xảy ra khá thường xuyên nhưng chủ yếu gây tác động gián tiếp, sương mù trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cần được theo dõi, cảnh báo và lồng ghép trong công tác bảo đảm an toàn giao thông, an toàn khai thác thủy sản, an toàn lao động ngoài trời và tổ chức sản xuất nông nghiệp mùa đông, đầu xuân. Trọng tâm ứng phó là tăng cường thông tin dự báo, cảnh báo sớm; hướng dẫn người dân, người điều khiển phương tiện giao thông và tàu thuyền giảm tốc độ, tăng quan sát, bật đầy đủ tín hiệu; bố trí, kiểm soát chặt chẽ hoạt động tại các bến bãi, khu neo đậu, tuyến đê giao thông, khu vực cầu cống, cửa sông và các điểm có nguy cơ tai nạn cao.
Bảng 3. 11: Khái quát đặc điểm sương mù trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2020 - 2025
|
Năm |
Thời kỳ xuất hiện chủ yếu |
Đặc điểm nổi bật |
Tác động chính |
|
2020 |
Tháng 01–3 và cuối năm |
Xuất hiện trong các đợt không khí lạnh ẩm, mưa nhỏ, mưa phùn, sương mù nhẹ. |
Giảm tầm nhìn giao thông, ảnh hưởng đi lại và sản xuất ngoài trời. |
|
2021 |
Đầu năm và cuối năm |
Sương mù xuất hiện kèm các đợt rét, mưa nhỏ, thời tiết ẩm lạnh. |
Ảnh hưởng giao thông đường bộ, đường thủy và sinh hoạt dân sinh. |
|
2022 |
Tháng 01–3; cuối tháng 12 |
Sương mù xuất hiện xen kẽ trong các đợt không khí lạnh, rét đậm, rét hại. |
Gia tăng bất lợi cho sản xuất vụ Đông Xuân, giao thông sáng sớm. |
|
2023 |
Đầu năm và cuối năm |
Không ghi nhận thiệt hại lớn độc lập; chủ yếu là sương mù nhẹ, phân tán |
Làm giảm tầm nhìn, tăng nguy cơ mất an toàn giao thông cục bộ. |
|
2024 |
Tháng 01–3 và cuối năm |
Tiếp tục xuất hiện cùng các đợt không khí lạnh, mưa nhỏ, thời tiết ẩm. |
Ảnh hưởng đi lại, lao động ngoài trời, vận hành phương tiện và sản xuất nông nghiệp. |
|
2025 |
Mùa đông, đầu xuân |
Không ghi nhận là loại hình gây thiệt hại nổi bật; chủ yếu là hiện tượng khí tượng bất lợi cần theo dõi. |
Tác động gián tiếp đến giao thông, khai thác thủy sản, sản xuất và sinh hoạt. |
Nhìn chung, sương mù không phải là loại hình thiên tai điển hình gây thiệt hại nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, nhưng là hiện tượng khí tượng bất lợi xuất hiện tương đối thường xuyên, có khả năng ảnh hưởng rộng đến giao thông, sản xuất và đời sống trong mùa đông và đầu xuân. Trong bối cảnh quy mô không gian của tỉnh đã mở rộng, bao gồm cả khu vực đồng bằng nội địa, ven sông, cửa sông và ven biển, việc theo dõi, cảnh báo sương mù cần tiếp tục được duy trì chặt chẽ, nhất là tại các khu vực giao thông trọng điểm, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, vùng sản xuất nông nghiệp tập trung và các khu vực dân cư có mật độ đi lại lớn vào sáng sớm.
3.11. Nước dâng
Nước dâng do bão là loại hình thiên tai có tính đặc thù đối với tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập, tập trung chủ yếu tại khu vực ven biển, cửa sông và các vùng ngoài đê bối thuộc địa bàn Thái Bình cũ. Đây là hiện tượng mực nước biển, mực nước cửa sông tăng cao bất thường dưới tác động đồng thời của gió mạnh do bão, áp thấp nhiệt đới kết hợp với thủy triều, làm gia tăng nguy cơ tràn đê biển, đê cửa sông, ngập sâu các vùng bãi triều, nuôi trồng thủy sản, khu dân cư thấp trũng ven biển và gây áp lực lớn đối với hệ thống công trình phòng, chống thiên tai.
Xét theo không gian ảnh hưởng, khu vực có nguy cơ chịu tác động rõ nhất của nước dâng gồm các xã, phường ven biển, cửa sông và vùng thấp trũng thuộc Thái Thụy, Tiền Hải, Đồng Châu, Nam Cường, Hưng Phú, Nam Tiền Hải và các khu vực ven cửa sông Trà Lý, sông Hóa, sông Hồng. Đây là nơi tập trung hệ thống đê biển, đê cửa sông, bờ bao, khu neo đậu tàu thuyền, vùng nuôi trồng thủy sản, bãi bồi và các khu dân cư, hạ tầng thiết yếu có cao trình thấp, rất nhạy cảm khi bão mạnh trùng với triều cường hoặc mưa lớn kéo dài.
Theo các tài liệu thống kê cho thấy khu vực Quảng Ninh - Thái Bình - Thanh Hóa đã ghi nhận mực nước dâng do bão cao nhất khoảng 3,5 m và mực nước dâng lớn nhất có thể xảy ra khoảng 4,9 m. Đồng thời, theo các kịch bản nước biển dâng và ngập ven biển đã được sử dụng trong hồ sơ phương án, nếu mực nước biển dâng 100 cm thì khoảng 38,22% diện tích tỉnh Thái Bình cũ có nguy cơ bị ngập, trong đó Tiền Hải và Kiến Xương là các địa bàn có nguy cơ cao. Điều này cho thấy nước dâng không chỉ là rủi ro trong thời điểm bão đổ bộ mà còn là yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm của ngập lụt ven biển, mất an toàn đê điều và gián đoạn sản xuất, dân sinh trên diện rộng.
Trong giai đoạn 2020-2025, nguy cơ nước dâng luôn gắn liền với các cơn bão ảnh hưởng đến khu vực ven biển Hưng Yên. Đặc biệt năm 2024, bão số 3 (Yagi) gây gió rất mạnh, mưa lớn và lũ lớn trên hệ thống sông; sang năm 2025, bão số 10 được ghi nhận gây nước dâng khu vực cửa sông, ven biển từ 0,5 đến 0,7 m, kèm theo gió mạnh cấp 7-8, giật cấp 9 và một trận lốc xoáy lớn tại Thái Thụy. Các tổ hợp bất lợi giữa bão, triều và nước dâng này làm gia tăng rõ rệt nguy cơ tràn bờ bao, hư hỏng công trình, ngập vùng nuôi trồng thủy sản và đe dọa an toàn dân cư ven biển.
Đối với tỉnh Hưng Yên, nước dâng cần được xem là loại hình thiên tai có tính tổ hợp cao, thường không xuất hiện đơn lẻ mà đi kèm bão mạnh, mưa lớn, lũ, ngập lụt và gió mạnh trên biển. Vì vậy, công tác phòng ngừa, theo dõi và cảnh báo cần tập trung vào quản lý chặt chẽ khu vực ven biển, cửa sông; rà soát phương án sơ tán dân cư ngoài đê, dân cư thấp trũng; bảo đảm an toàn đê biển, cống dưới đê, khu neo đậu tránh trú bão, vùng nuôi trồng thủy sản; đồng thời chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vật tư, phương tiện và hậu cần theo phương châm “bốn tại chỗ” để xử lý kịp thời khi nước dâng xảy ra cùng với bão hoặc triều cường lớn.
Bảng 3.12: Khái quát nguy cơ và đặc điểm nước dâng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Nội dung |
Thông tin khái quát |
Nhận định |
|
Khu vực chịu ảnh hưởng chính |
Ven biển, cửa sông, ngoài đê bối; trọng tâm tại Thái Thụy, Tiền Hải và các vùng bãi triều, cửa sông Trà Lý, sông Hóa, sông Hồng. |
Là không gian có mức độ phơi lộ cao nhất trước nước dâng do bão kết hợp triều cường. |
|
Tác nhân hình thành |
Bão, áp thấp nhiệt đới mạnh kết hợp thủy triều và gió mạnh trên biển. |
Nước dâng thường đi kèm các tình huống bão mạnh, không tách rời với mưa lớn và ngập lụt ven biển. |
|
Mức nước dâng tham khảo |
Khu vực Quảng Ninh - Thái Bình - Thanh Hóa đã ghi nhận mực nước dâng do bão cao nhất khoảng 3,5 m; mực nước dâng lớn nhất có thể xảy ra khoảng 4,9m. |
Thể hiện nguy cơ cao đối với hệ thống đê biển, đê cửa sông và khu dân cư, sản xuất ven biển. |
|
Biểu hiện tác động chính |
Tràn bờ bao, ngập vùng nuôi trồng thủy sản, uy hiếp đê biển - đê cửa sông, ảnh hưởng tàu thuyền, khu neo đậu và dân cư thấp trũng. |
Thiệt hại thường phát sinh theo dạng tổ hợp, phạm vi ảnh hưởng rộng và diễn biến nhanh. |
|
Tình hình nổi bật năm 2025 |
Bão số 10 gây nước dâng khu vực cửa sông, ven biển từ 0,5-0,7m, kèm theo gió mạnh và mưa lớn. |
Là tín hiệu cho thấy rủi ro nước dâng vẫn hiện hữu và cần được lồng ghép trong phương án UPTT hằng năm. |
Nhìn chung, nước dâng là loại hình thiên tai có phạm vi tác động tập trung nhưng mức độ nguy hiểm cao đối với phần lãnh thổ ven biển của tỉnh Hưng Yên. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mực nước biển có xu hướng gia tăng và các cơn bão mạnh có diễn biến thất thường, việc theo dõi nước dâng cần được gắn chặt với công tác chỉ huy ứng phó bão, bảo vệ đê điều, sơ tán dân cư và vận hành công trình ven biển, cửa sông để bảo đảm an toàn cho người dân và hạ tầng trọng yếu.
3.12. Gió mạnh trên biển
Gió mạnh trên biển là loại hình thiên tai có tính đặc thù đối với tỉnh Hưng Yên, ở đây không tính đến gió mạnh trên biển khi có bão, ATNĐ (các bản tin bão, ATNĐ đều có thông tin về gió mạnh trên biển, ven biển và đã được cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai trong các bản tin). Gió mạnh trên biển được ban hành bản tin riêng ( quy định tại khoản 2, Điều 22, Quyết định số 18) khi có khả năng xảy ra các hình thế thời tiết như gió mùa Đông Bắc, gió Tây Nam hoạt động mạnh hoặc khi xảy ra mưa dông mạnh trên biển. Gió mạnh trên biển có khả năng xảy ra trong phạm vi rộng khi ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc hoặc gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh, cũng có khi chỉ xảy ra trong một phạm vi hẹp khi xảy ra mưa dông trên biển.
Về đặc điểm thời gian, gió mạnh trên biển có khả năng xuất hiện tất cả các tháng trong năm, nhưng tập trung chủ yếu vào các tháng đầu mùa đông (từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau) và các tháng từ tháng 5- tháng 9.
Xét theo không gian ảnh hưởng, khu vực có mức độ rủi ro cao tập trung trên các vùng biển ngoài khơi của tỉnh và các đầm nuôi trồng thủy hải sản vùng ven biển, toàn bộ tàu thuyền hoạt động trên biển, ven bờ, nguy cơ chủ yếu là tàu thuyền bị mất liên lạc, trôi dạt, chìm đắm; đồng thời gia tăng nguy cơ sóng lớn, nước dâng, xói lở cục bộ và ảnh hưởng đến hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển.
Từ thực tế trên có thể nhận định rằng gió mạnh trên biển là loại hình thiên tai cần được quản lý chặt chẽ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, nhất là trong bối cảnh các hoạt động khai thác, đánh bắt của các tàu cá, hoạt động của tàu vận tải trên các vùng biển của tỉnh diễn ra sôi động. Trọng tâm ứng phó là theo dõi sát các bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thông tin về gió mạnh trên biển; cảnh báo cho các tàu thuyền hoạt động trên biển biết được mức độ, thời điểm xảy ra gió mạnh để hạn chế ra khơi hoặc tìm nơi trú tránh an toàn.
Bảng 3.13: Khái quát đặc điểm gió mạnh trên biển trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2020-2025
|
Năm |
Thời kỳ xuất hiện chủ yếu |
Đặc điểm nổi bật |
Tác động chính |
|
2020 |
Tháng 11/2019-1/2020 và từ tháng 5- 9/2020 |
Vùng biển Thái Bình cũ chịu tác động gió mùa Đông Bắc mạnh cấp 6, giật cấp 7-8. Gió Tây Nam cấp 5 giật cấp 6-7 |
Ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, đánh bắt của tàu cá và tàu vận tải |
|
2021 |
Tháng 11/2020-1/2021 và từ tháng 5- 10/2021 |
Vùng biển Thái Bình cũ chịu tác động gió mùa Đông Bắc mạnh cấp 6, giật cấp 7-8; gió Tây Nam cấp 6, giật cấp 7 |
Ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, đánh bắt của tàu cá và tàu vận tải |
|
2022 |
Tháng 12/2021-1/2022 và từ tháng 5- 10/2022 |
Vùng biển Thái Bình cũ chịu tác động gió mùa Đông Bắc mạnh cấp 6, giật cấp 7-8; nhiều trận mưa dông có gió giật mạnh |
Ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, đánh bắt của tàu cá và tàu vận tải. Tàu Hà An -01 bị đắm trên vùng biển Thái Thụy ( ngày 8/9/2022) |
|
2023 |
Tháng 11/2022-1/2023 và từ tháng 5- 10/2023 |
Vùng biển Thái Bình cũ chịu tác động gió mùa Đông Bắc mạnh cấp 6, giật cấp 7-8; nhiều trận mưa dông mạnh |
Ảnh hưởng đến hoạt động nghề cá, đi lại trên biển; năm 2023 tại Thái Bình cũ có 01 người chết do gió mạnh, sóng lớn trên biển; |
|
2024 |
Tháng 12/2023-2/2024 và từ tháng 5- 10/2024 |
Vùng biển Thái Bình cũ chịu tác động gió mùa Đông Bắc mạnh cấp 6, giật cấp 7-8; nhiều trận mưa dông mạnh |
Ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, đánh bắt của tàu cá và hoạt động tàu vận tải. gió mạnh kết hợp triều cường gây ra sạt lỡ vỡ bờ bao các đầm nuôi trồng thủy sản khu vực Cồn Vành |
|
2025 |
Tháng 12/2024-1/2025 và từ tháng 5- 10/2025 |
Vùng biển của tỉnh chịu tác động gió mùa Đông Bắc mạnh cấp 6, giật cấp 7-8; nhiều trận mưa dông mạnh |
Ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, đánh bắt thủy hải sản và hoạt động tàu vận tải; |
Gió mạnh trên biển trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong những năm gần đây thường xuyên xảy ra tác động mạnh đến các hoạt động khai thác thủy hải sản trên biển và hoạt động của các tàu vận tải. Vì vậy, việc tổ chức theo dõi, cảnh báo sớm, quản lý chặt chẽ phương tiện hoạt động trên biển, vùng nuôi trồng thủy sản và các công trình ven biển cần tiếp tục được xác định là nội dung trọng tâm trong phương án ứng phó thiên tai của tỉnh.
IV. Đặc điểm dân sinh, kinh tế-xã hội và cơ sở hạ tầng chủ yếu
1. Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội
a) Đặc điểm dân sinh
Năm 2025, dân số tỉnh Hưng Yên sau sắp xếp đơn vị hành chính đạt khoảng 3.235.167 người; trong đó dân số nam 1.605.360 người, chiếm 49,62%; dân số nữ 1.629.807 người, chiếm 50,38%. Với diện tích tự nhiên 2.514,81 km², mật độ dân số bình quân của tỉnh đạt khoảng 1.286 người/km², thuộc nhóm địa phương có mật độ dân số cao trong khu vực phía Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng.
Dân cư của tỉnh phân bố không đồng đều theo không gian phát triển. Khu vực đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các trục giao thông chính và vùng giáp Thủ đô Hà Nội có mật độ dân cư cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều lao động, nhà ở, cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu. Khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân cư, gắn với sản xuất nông nghiệp, thủy sản, làng nghề, chăn nuôi và các hoạt động sinh kế phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, nguồn nước và hệ thống thủy lợi. Khu vực ven sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa, vùng bãi sông, ngoài đê, vùng thấp trũng nội đồng và khu vực ven biển là những không gian dân cư có mức độ phơi lộ cao hơn trước các loại hình thiên tai liên quan đến lũ, ngập lụt, sạt lở bờ sông, nước dâng, triều cường, xâm nhập mặn và gió mạnh trên biển.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh năm 2025 đạt khoảng 1.700 nghìn người; trong đó nam chiếm 48,72%, nữ chiếm 51,28%. Phần lớn lao động vẫn phân bố ở khu vực nông thôn, gắn với sản xuất nông nghiệp, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn và một bộ phận lao động di chuyển hằng ngày đến các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị, trung tâm dịch vụ. Đặc điểm này làm cho rủi ro thiên tai không chỉ tác động đến nơi cư trú mà còn ảnh hưởng đến sinh kế, việc làm, an toàn lao động, giao thông đi lại và khả năng duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân..
Các nhóm dân cư dễ bị tổn thương cần được ưu tiên trong kế hoạch phòng, chống thiên tai gồm: người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người mắc bệnh nặng, người neo đơn, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ chính sách, người lao động có thu nhập thấp, công nhân tại các khu công nghiệp, người dân sinh sống tại khu vực ngoài bãi sông, ven đê, ven biển, khu vực thấp trũng, khu nhà ở chưa bảo đảm an toàn trước bão, lốc, sét, mưa đá và ngập lụt. Đối với các nhóm này, năng lực tự phòng tránh, tự sơ tán, tiếp cận thông tin cảnh báo và phục hồi sau thiên tai thường hạn chế hơn so với mặt bằng chung; do đó, cần được lập danh sách quản lý theo từng xã, phường, từng thôn, tổ dân phố, từng khu vực nguy cơ để phục vụ cảnh báo, hỗ trợ sơ tán, cứu trợ và khắc phục hậu quả.
Về an sinh xã hội, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh hiện ở mức thấp, duy trì dưới 1%; tuy nhiên vẫn còn các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có khó khăn về nhà ở, hộ chính sách và nhóm yếu thế cần được quan tâm trong các tình huống thiên tai. Đây là nhóm có khả năng chống chịu thấp, dễ bị thiệt hại về nhà ở, tài sản, phương tiện sản xuất, vật nuôi, cây trồng và sinh kế khi xảy ra bão, mưa lớn, lũ, ngập lụt hoặc các hiện tượng thời tiết cực đoan. Vì vậy, khi xây dựng phương án ứng phó thiên tai cấp xã cần rà soát cụ thể số hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có nhà ở thiếu kiên cố, hộ ở khu vực ven sông, ven biển, ngoài bãi, thấp trũng, khu vực có nguy cơ sạt lở, ngập sâu để xác định nhu cầu sơ tán, hỗ trợ lương thực, nước sạch, thuốc men, chỗ ở tạm thời và phục hồi sinh kế sau thiên tai.
Đối với dân cư nằm trong vùng có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng thiên tai, trọng tâm cần rà soát là các hộ sinh sống tại khu vực bãi sông, ngoài đê, ven đê, ven kè, ven biển, khu vực có bờ bao, đê bối, vùng nuôi trồng thủy sản, vùng thấp trũng khó tiêu thoát nước, khu dân cư có hệ thống thoát nước hạn chế, khu vực nhà ở tạm, nhà cấp bốn, nhà thiếu khả năng chống chịu gió mạnh, lốc, mưa đá. Các xã, phường cần cập nhật danh sách hộ dân, số nhân khẩu, đối tượng cần hỗ trợ đặc biệt, vị trí sơ tán, tuyến đường sơ tán, phương tiện huy động và địa điểm tiếp nhận an toàn, bảo đảm khi có tình huống thiên tai có thể tổ chức di dời dân kịp thời, đúng đối tượng, không bị động.
Về giáo dục, y tế và trình độ dân trí, Hưng Yên là địa phương có truyền thống hiếu học, hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và mạng lưới y tế cơ sở được duy trì tương đối rộng khắp. Đây là điều kiện thuận lợi để tổ chức tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, diễn tập kỹ năng phòng tránh thiên tai cho học sinh, giáo viên, người lao động và cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, trong thiên tai, các trường học, trạm y tế, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở nuôi dưỡng người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và người tâm thần cần được xác định là nhóm cơ sở ưu tiên bảo vệ, ưu tiên duy trì hoạt động và ưu tiên hỗ trợ khi xảy ra sự cố. Công tác phòng, chống thiên tai cần gắn với bảo đảm an toàn trường học, an toàn y tế, phòng chống dịch bệnh sau ngập lụt, cấp cứu ban đầu, chăm sóc sức khỏe cho nhóm dễ bị tổn thương và bảo đảm nước sạch, vệ sinh môi trường.
b) Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tỉnh Hưng Yên sau sắp xếp đơn vị hành chính là địa phương có quy mô kinh tế lớn trong vùng đồng bằng sông Hồng, có vị trí quan trọng trong không gian phát triển kinh tế phía Đông Nam Thủ đô Hà Nội, đồng thời có khu vực ven biển, cửa sông, vùng bãi, vùng thấp trũng và hệ thống sông lớn liên quan trực tiếp đến công tác phòng, chống thiên tai. Theo dự thảo kế hoạch, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt 166.106 tỷ đồng, tăng 8,78% so với năm 2024; GRDP bình quân đầu người ước đạt 99 triệu đồng; tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh đạt 633.434 tỷ đồng, tăng 10,37%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, trong đó công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng lớn, dịch vụ tiếp tục phát triển, nông nghiệp tuy giảm dần tỷ trọng nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng đối với sinh kế nông thôn, an ninh lương thực, thủy sản và ổn định xã hội.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh cho thấy công nghiệp-xây dựng chiếm khoảng 53,9%; dịch vụ chiếm 28%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 12,3%. Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng ước đạt 515.802 tỷ đồng, tăng 12,9% so với năm 2024. Đây là khu vực tạo động lực tăng trưởng chính của tỉnh, tập trung tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu vực đô thị, ven các trục giao thông lớn và các vùng có điều kiện kết nối thuận lợi với Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình và các tỉnh trong vùng. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp, yêu cầu bảo đảm an toàn trước thiên tai đối với nhà xưởng, kho bãi, hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước, giao thông kết nối, thông tin liên lạc và chuỗi cung ứng trở nên ngày càng cấp thiết. Khi xảy ra bão, mưa lớn, ngập lụt, gió mạnh hoặc sự cố đê điều, khu vực công nghiệp có thể bị gián đoạn sản xuất, đứt gãy cung ứng nguyên vật liệu, ảnh hưởng đến lao động, hàng hóa, thiết bị và hoạt động xuất nhập hàng.
Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản vẫn là khu vực có mức độ phụ thuộc lớn vào điều kiện thời tiết, nguồn nước, thủy lợi và an toàn hệ thống đê điều. Trong sản xuất trồng trọt, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm toàn tỉnh năm 2025 đạt 278.833 ha, trong đó diện tích lúa đạt 193.533 ha, diện tích rau màu các loại đạt 85.299 ha. Trong vụ mùa, địa phương chịu ảnh hưởng của nhiều đợt mưa lớn kéo dài, đặc biệt do tác động của bão số 3 và bão số 5, làm một số diện tích lúa và cây hằng năm bị ngập úng, gãy đổ. Điều này cho thấy sản xuất nông nghiệp của tỉnh, nhất là vùng lúa, rau màu vụ đông, cây ăn quả, vùng bãi ven sông, vùng thấp trũng nội đồng và các khu vực phụ thuộc tiêu thoát nước, là nhóm đối tượng cần được ưu tiên trong kế hoạch phòng, chống thiên tai.
Chăn nuôi là ngành sản xuất có quy mô lớn, đóng vai trò quan trọng trong kinh tế nông thôn nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ thiệt hại cao khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh và ô nhiễm môi trường sau ngập lụt. Đàn trâu của tỉnh đạt 11.891 con, đàn bò 82.913 con, đàn lợn 1.043.481 con, đàn gia cầm khoảng 23,750 triệu con. Cùng thời điểm tháng 10/2025, dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh tại một số địa phương, cho thấy yêu cầu phòng, chống thiên tai cần gắn với phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi, bảo vệ chuồng trại, xử lý môi trường sau mưa lũ, bảo đảm nguồn nước, thức ăn chăn nuôi và tiêu hủy gia súc, gia cầm theo quy định khi có dịch bệnh hoặc thiên tai xảy ra.
Hoạt động khai thác thủy sản biển, nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn, nuôi trồng thủy sản nội đồng và vùng bãi ven sông là những sinh kế chịu tác động trực tiếp của bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển, nước dâng, mưa lớn, ngập lụt, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước sau thiên tai. Năm 2025, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 86.135 tấn; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 200.366 tấn. Vì vậy, kế hoạch phòng, chống thiên tai cần xác định khu vực nuôi trồng thủy sản ven biển, khu vực ao đầm, bãi triều, vùng cửa sông, khu neo đậu tàu thuyền, lao động khai thác biển và các hộ nuôi trồng thủy sản là nhóm trọng điểm cần được cảnh báo sớm, hướng dẫn thu hoạch, gia cố bờ bao, di chuyển người và tài sản khi có tình huống nguy hiểm.
Khu vực thương mại, dịch vụ của tỉnh duy trì tốc độ phát triển khá, gắn với quá trình đô thị hóa, mở rộng hệ thống giao thông, phát triển công nghiệp, du lịch, logistics, tài chính, ngân hàng và dịch vụ dân sinh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt 179.700 tỷ đồng, tăng 6,47% so với cùng kỳ. Doanh thu bán lẻ hàng hóa mười tháng ước đạt 96.786 tỷ đồng, tăng 14,22%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 8.490 tỷ đồng, tăng 18,13%; doanh thu du lịch, lữ hành ước đạt 179 tỷ đồng, tăng 22,89%. Khu vực này có tính nhạy cảm cao với gián đoạn giao thông, ngập úng đô thị, mất điện, mất thông tin liên lạc, đình trệ logistics và suy giảm sức mua sau thiên tai; do đó cần lồng ghép phương án bảo đảm lưu thông hàng hóa thiết yếu, dự trữ nhu yếu phẩm, duy trì dịch vụ công cộng, bảo vệ chợ, siêu thị, kho hàng, cơ sở dịch vụ và các điểm du lịch.
Hoạt động tài chính, ngân hàng tiếp tục mở rộng, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất, kinh doanh và phục hồi kinh tế sau thiên tai. Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 309.000 tỷ đồng; dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt khoảng 256.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ đối với nông nghiệp, nông thôn đạt 112.100 tỷ đồng. Đây là nguồn lực quan trọng phục vụ đầu tư phát triển, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu có cơ chế tín dụng, bảo hiểm, hỗ trợ khôi phục sản xuất, nhất là đối với hộ nông nghiệp, hộ nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các cơ sở sản xuất bị thiệt hại do thiên tai.
Về xã hội, các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, du lịch và truyền thông được duy trì, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân, tăng cường kết nối cộng đồng và hỗ trợ công tác tuyên truyền phòng, chống thiên tai. Trong năm 2025, tỉnh tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, tuyên truyền phục vụ các sự kiện chính trị, văn hóa lớn; ngành y tế tăng cường phòng, chống bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm và tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong điều kiện thiên tai, hệ thống trường học, cơ sở y tế, cơ sở văn hóa, thể thao, trung tâm cộng đồng, nhà văn hóa thôn, tổ dân phố có vai trò quan trọng trong tuyên truyền, sơ tán, trú tránh tạm thời, chăm sóc sức khỏe, cấp cứu ban đầu và hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả.
Nhìn chung, đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên cho thấy địa phương có tốc độ phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp - dịch vụ, nhưng vẫn còn tỷ trọng đáng kể dân cư và sinh kế gắn với nông nghiệp, thủy sản, vùng nông thôn, vùng ven sông, ven biển và vùng thấp trũng. Sự tập trung dân cư, tài sản, nhà xưởng, khu công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản làm gia tăng mức độ phơi lộ trước các loại hình thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, ngập lụt, sạt lở bờ sông, nước dâng, gió mạnh trên biển, hạn hán, xâm nhập mặn và dịch bệnh sau thiên tai. Vì vậy, trong giai đoạn 2026-2030, công tác phòng, chống thiên tai của tỉnh cần được lồng ghép chặt chẽ vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước, y tế, giáo dục và an sinh xã hội; bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với giảm thiểu rủi ro thiên tai, bảo vệ tính mạng Nhân dân, tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.
2. Đặc điểm cơ sở hạ tầng chủ yếu
a) Giao thông
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh phân bố tương đối hợp lý gồm các trục dọc theo hướng Bắc - Nam, các trục ngang theo hướng Đông - Tây (đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, QL5, 38, 38B, 10, 39, 37, 37B và một số trục, đường tỉnh khác). Hệ thống đường bộ đã có bước phát triển mạnh về số lượng trong thời gian vừa qua. Tổng chiều dài đường bộ 15.599,93 km, gồm: Cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh đường đô thị và mạng lưới đường giao thông nông thôn. Về mạng lưới cao tốc qua địa bàn tỉnh Hưng Yên bao gồm cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (CT.04), cao tốc Hưng Yên - Thái Bình (CT.16).
Tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua địa bàn, là tuyến nối thủ đô Hà Nội và cảng biển Hải Phòng dài 101,8km; đoạn qua địa bàn tỉnh Hưng Yên từ Km19+100 đến Km39+500, dài 20,4km có 02 ga. Tuyến có khổ đường 1.000mm, hạ tầng tuyến còn hạn chế.
Cầu đường sắt: Có 2 cầu Như Quỳnh và Bà Sinh được xây dựng với kết cấu giàn với tổng chiều dài 75m. Hiện tại các cầu này đang trong giai đoạn xuống cấp và tốc độ cũng bị giới hạn (40km/h).
Thực trạng đường thủy nội địa: Hưng Yên là tỉnh nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng có tiềm năng phát triển hệ thống đường thủy nội địa. Ngoài các tuyến sông Trung ương qua địa bàn còn có các tuyến sông địa phương có thể tham gia vận tải hàng hóa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và giảm tải cho hệ thống đường bộ của tỉnh. Hệ thống sông do Trung ương quản lý: Tỉnh Hưng Yên có 5 sông do Trung ương quản lý là sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa, sông Thái Bình và sông Trà Lý tổng chiều dài 354,5km; hệ thống sông do địa phương quản lý: Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có 13 tuyến sông do địa phương quản lý với tổng chiều dài khoảng gần 250km; hiện trạng cảng, bến thủy nội địa: Trên các tuyến sông trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có một số cảng, các cảng này tập trung chủ yếu trên tuyến đường thủy nội địa quốc gia (sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa và sông Thái Bình). Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Thái Bình có 05 cảng đã được công bố bao gồm: Cảng thủy nội địa xăng dầu Thái Bình trên sông Hồng (Cảng Hòa Bình); Cảng thủy nội địa hóa chất Vinacomin; Cảng thủy nội địa nhiệt điện Thái Bình 1 trên sông Trà Lý; Cảng thủy nội địa nhiệt điện Thái Bình 2 trên sông Trà Lý; Cảng thủy nội địa ShengLy trên sông Hóa. Ngoài ra, còn có 02 cảng đang triển khai đầu tư xây dựng là cảng Bắc Trà Lý và cảng sông Trà Lý trên sông Trà Lý. Về bến thủy nội địa, hiện tại có 423 bến thủy nội địa.
Thực trạng hàng hải: Tỉnh Hưng Yên có 54km bờ biển, nhưng hiện tại chỉ có 01 luồng hàng hải Diêm Điền, với chiều dài 10,2km, đáy luồng rộng 45m, độ sâu luồng -1,5m.
b) Hệ thống điện
Hiện nay, Hưng Yên có Trung tâm nhiệt điện than, đặt tại xã Đông Thái Ninh với tổng công suất 1.800MW bao gồm 02 nhà máy: Nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) Thái Bình 1 (công suất 2x300MW) do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư và NMNĐ Thái Bình 2 (công suất 2x600MW) do Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) làm chủ đầu tư. Cả 2 nhà máy này sử dụng công nghệ đốt than phun, ngưng hơi truyền thống, thông số hơi dưới tới hạn; đấu nối và phát toàn bộ công suất lên Hệ thống điện Quốc gia thông qua đường dây 220kV NMNĐ Thái Bình - trạm 220kV Thái Bình.
Lưới điện cấp cho phụ tải của Hưng Yên bao gồm lưới siêu cao áp 500 kV, lưới truyền tải 220kV và lưới phân phối từ 110kV trở xuống. Trong đó lưới siêu cao áp
500kV và lưới truyền tải 220kV thuộc quyền quản lý của Công ty truyền tải điện 1 (PTC1), lưới 110kV trở xuống thuộc quyền quản lý của Công ty điện lực Hưng Yên.
Ngoài ra lưới điện Hưng Yên còn được hỗ trợ từ các Tỉnh lân cận như Ninh Bình, Hà Nôi, Hải Phòng... thông qua các đường dây 220-110kV...
c) Hệ thống hạ tầng thông tin, truyền thông
Bưu chính: Đến nay, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có 18 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bưu chính, với trên 652 điểm phục vụ (bán kính bình quân 1,1 km/1 điểm phục vụ (mức bình quân cả nước 2,9 km/1 điểm phục vụ); số dân được phục vụ là 5.460/1 điểm phục vụ. Tỷ lệ điểm phục vụ bưu chính triển khai tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đạt khoảng 18%. Tỷ lệ xã, phường có điểm phục vụ bưu chính có người phục vụ đạt 100%.
Mạng vận chuyển bưu chính: Mạng vận chuyển bưu chính tỉnh chủ yếu vẫn là Bưu điện tỉnh và Bưu chính Viettel và một số doanh nghiệp chuyển phát khác. Mạng vận chuyển bưu chính công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên được tổ chức thành 3 cấp đường thư (I, II và III). Mạng đường thư bao gồm 08 tuyến đường thư cấp I , 09 tuyến đường thư cấp II và 69 tuyến đường thư cấp III. Mạng lưới đường thư tương đối hoàn thiện; đảm bảo phục vụ nhu cầu bưu chính của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân, với mạng vận chuyển bưu chính rộng khắp đến hầu hết các xã, phường. Thời gian đưa phát từ trung tâm tỉnh đến trung tâm xã, phường với tần suất trung bình 2 chuyến/ngày.
Viễn thông: Hiện nay, mạng cáp viễn thông có tổng chiều dài trên 23.177 km các tuyến cáp treo: trong đó Chi nhánh Viettel Hưng Yên có 4.126 km cáp treo, chiếm 17,8%, Viễn thông Hưng Yên có 16.145 km cáp treo, chiếm 69,6%, Mobifone tỉnh Hưng Yên có 2.679km cáp treo chiếm 11,6%, FPT chi nhánh Hưng Yên có 227km cáp treo, chiếm 1%. Phần lớn các tuyến cáp treo hiện đang sử dụng cột điện lực hoặc cột viễn thông do doanh nghiệp tự đầu tư xây dựng, đảm bảo khả năng mở rộng, bảo dưỡng và vận hành linh hoạt. Hệ thống công trình hạ tầng ngầm viễn thông đã được triển khai tại nhiều khu vực trung tâm, góp phần tạo mỹ quan đô thị, bảo đảm an toàn mạng lưới và hỗ trợ phát triển hạ tầng viễn thông bền vững. Tổng chiều dài cáp ngầm viễn thông trên toàn tỉnh hiện đạt khoảng 6.391km, chiếm tỷ lệ khoảng 21,6% tổng chiều dài mạng cáp viễn thông. Các tuyến cáp được ngầm hóa tập trung chủ yếu tại các phường trung tâm có mật độ dân cư cao, hoạt động kinh tế – thương mại phát triển.
Hiện trạng hạ tầng mạng thông tin di động: Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có một số nhà mạng di động đang hoạt động, bao gồm Viettel, Vinaphone, MobiFone, Vietnamobile cung cấp đầy đủ các dịch vụ thông tin di động 3G, 4G và 5G. Đến năm 2025 toàn tỉnh hiện có 6.539 trạm BTS, đạt mật độ trung bình khoảng 1 km/cột, đảm bảo vùng phủ sóng liên tục trên toàn địa bàn. Mức độ chia sẻ hạ tầng giữa các doanh nghiệp còn hạn chế. Tổng số vị trí nhà trạm thu phát sóng thông tin di động của 4 nhà mạng lớn như VNPT, Viettel, Mobifone, VietnamMobile là 3.347 trạm và tỉ lệ dùng chung giữa giữa các đơn vị chiếm khoảng hơn 17%. Chủ yếu tập trung tại các khu vực trung tâm đô thị, khu công nghiệp và trục giao thông chính, nơi có mật độ người dùng cao và điều kiện kỹ thuật thuận lợi cho việc đồng đặt trạm. Phần lớn các doanh nghiệp chủ yếu áp dụng mô hình dùng chung hạ tầng giữa các công nghệ (tức là là triển khai 3G, 4G và 5G trên cùng một trạm, cùng hệ thống cột, nhà trạm và truyền dẫn) hơn là dùng chung giữa các nhà mạng khác nhau. Các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn đã triển khai phần lớn mạng 3G, 4G và 5G trên cùng hạ tầng, góp phần tiết kiệm chi phí đầu tư và tối ưu tài nguyên sẵn có.
Công nghệ thông tin: Hạ tầng máy tính: 100% các cơ quan nhà nước các cấp đã trang bị máy tính, với số lượng cán bộ, công chức nhà nước các cấp được trang bị máy tính (phục vụ công việc ngày càng tăng, đảm bảo làm việc điện tử rộng khắp. Hạ tầng mạng: 100% các đơn vị sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường đã kết nối mạng LAN, Internet tốc độ cao và ứng dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng cấp II (mạng WAN). Trung tâm Tích hợp dữ liệu của tỉnh được đầu tư nâng cấp đáp ứng tiêu chuẩn Tier 3 và duy trì hoạt động thường xuyên với nhiều máy chủ có cấu hình cao để quản lý các hệ thống thông tin dùng chung, chuyên ngành, cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước và được trang bị các hệ thống thiết bị bảo mật, an ninh thông tin. Trung tâm điều hành thông minh tỉnh Hưng Yên (IOC): Đã được xây dựng và đưa vào vận hành thực hiện tổng hợp, khai thác tất cả các nguồn thông tin, dữ liệu hàng ngày của tỉnh, kết nối đến cơ sở dữ liệu của các ngành, các lĩnh vực, qua đó giúp lãnh đạo tỉnh có các thông tin, dữ liệu phục vụ điều hành, xử lý các tình huống, quy hoạch và định hướng phát triển của tỉnh.
Phát thanh, truyền hình: Thiết bị sản xuất chương trình: Đài tỉnh được trang bị 02 hệ thống sản xuất, phát sóng các chương trình phát thanh; các chương trình truyền hình được phát sóng qua máy phát sóng số mặt đất. Ngoài ra, Đài còn được trang bị hệ thống thiết bị thực hiện chương trình phát thanh, truyền hình trực tiếp tại hiện trường, đảm bảo phục vụ các nhiệm vụ chính trị quan trọng của tỉnh. Hạ tầng Phát thanh truyền hình trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đang sử dụng máy phát sóng công suất phát trung bình 2-5 Kw trên hạ tầng cột ăng ten tự đứng cao từ 80-120 m. Đài Phát thanh - Truyền hình được trang bị trên 30 máy phát thanh và máy phát lại truyền hình và các trang thiết bị phục vụ sản xuất khác. Do việc đầu tư nhỏ lẻ, kéo dài nên một số thiết bị không đồng bộ gây khó khăn cho cán bộ tác nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất và lưu trữ chương trình có nhưng ở mức hạn chế. Hệ thống trang thiết bị máy tính, máy thu, đầu thu... được đầu tư nhưng một số nơi đã xuống cấp. Hạ tầng phát sóng phát thanh truyền hình cấp xã: công suất máy phát từ 100 w đến 200 w, được phát trên cột ăng ten từ 20 m - 36 m.
d) Hệ thống hạ tầng cấp, thoát nước
Hạ tầng cấp nước sinh hoạt: Toàn tỉnh Hưng Yên có 120 công trình cấp nước sạch tập trung trong đó 45 công trình cấp nước sạch trên địa bàn Hưng Yên (cũ) và 75 công trình trên địa bàn Thái Bình (cũ) với tổng công suất thiết kế lên đến hơn 613.000 m3/ngày đêm. Chất lượng nước của các nhà máy nước tập trung cơ bản đạt chất lượng theo Quy chuẩn, công tác kiểm tra được tiến hành định kì theo quy định. Nguồn nước thô cấp cho các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh chủ yếu sử dụng nước mặt của các sông như sông Hồng, sông Luộc, sông Thái Bình (Hưng Yên cũ); sông Hồng, sông Hóa, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Kiến Giang, sông Diêm Hộ, sông Tiên Hưng… (Thái Bình cũ); một số trạm cấp nước sử dụng nước ngầm, tuy nhiên nguồn nước ngầm đang dần suy thoái và cạn kiệt gây khó khăn cho khai thác và xử lý. Tỷ lệ đường ống cấp nước dịch vụ (đường ống cấp 3) cơ bản đạt 95-100% tại các xã có dự án cấp nước hoạt động. Chất lượng nước của các NMN tập trung cơ bản đạt chất lượng theo quy chuẩn, công tác nội kiểm và ngoại kiểm được tiến hành định kỳ theo quy định. Tất cả các nhà máy nước đã hoàn thành việc chuyển đổi nguồn nước thô nội đồng sang sử dụng nước mặt sông Hồng, sông Luộc hoặc mua buôn nước sạch từ các nhà máy.
Hạ tầng cấp nước công nghiệp: Hiện trạng hạ tầng cấp nước công nghiệp trên địa bàn tỉnh khá đa dạng hình thành từ hai vùng Hưng Yên và Thái Bình trước đây.
Tại khu vực Hưng Yên cũ hầu hết các khu công nghiệp tự khoan giếng lấy nước ngầm để sử dụng với lượng nước khai thác ước tính 77.500 m3/ngày đêm. Tại khu vực Thái Bình cũ, phần lớn các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp đều được cấp nước từ các công trình cấp nước tập trung. Hệ thống cấp nước công nghiệp toàn tỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng cần tiếp tục đầu tư, kết nối và giảm khai thác nước ngầm trong giai đoạn tới.
Hạ tầng thoát nước mưa, nước thải tại các khu đô thị: Hiện nay, hầu hết các đô thị đều có hệ thống thoát nước thải chung với nước mưa. Tại các khu đô thị mới có xây dựng hệ thống thoát nước riêng, sau đó vẫn chảy vào hệ thống thoát nước mưa, mạng lưới còn thiếu đồng bộ, xây dựng qua nhiều thời kì. Khả năng thu gom và xử lý nước thải đạt khoảng 80% tại thành phố Hưng Yên và Thái Bình cũ. Các khu vực đô thị khác, tỷ lệ thu gom nước thải đạt 30-50%. Nhiều khu đô thị mới đã có hệ thống thoát nước riêng.
Hạ tầng thoát nước mưa, nước thải tại các khu công nghiệp: Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 09 KCN đã có hệ thống xử lý nước tập trung (KCN Phố Nối A: 6.000m3/ng.đ, KCN Dệt may Phố Nối:10.000m3/ng.đ, KCN Thăng Long II: 15.000m3/ng.đ, KCN Yên Mỹ II: 3.000m3/ng.đ, KCN Minh Quang: 2.000m3/ng.đ, KCN Yên Mỹ: 2.000m3/ng.đ thuộc địa phận (Hưng Yên cũ), KCN Nguyễn Đức Cảnh, Phúc Khánh, Gia Lễ thuộc địa phận (Thái Bình cũ).
Hạ tầng thoát nước mưa, nước thải tại các vùng nông thôn: Hệ thống thoát nước khu vực nông thôn trên địa bàn tình chưa được đầu tư xây dựng, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi cơ bản vẫn thoát tự nhiên ra ao hồ và hệ thống kênh, mương thủy lợi, một phần thẩm thấu vào đất. Do vậy, đây là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường rất lớn.
e) Hệ thống hạ tầng thủy lợi, đê điều và phòng chống thiên tai
- Về thủy lợi:
Vùng Bắc sông Luộc có diện tích tự nhiên là 93.022ha, hiện trạng hạ tầng công trình thủy lợi tưới, cấp nước được phân theo vùng trong đê và vùng bãi ngoài đê. Đối với vùng trong đê, hạ tầng tưới, cấp nước hiện trạng có 600 công trình thủy lợi trạm bơm phục vụ tưới, trong đó 454 trạm chuyên tưới, 146 trạm tưới tiêu kết hợp, tổng lưu lượng bơm 1.653.147m3/h có diện tích tưới thực tế đạt 44.247 ha.
Vùng Nam sông Luộc - Bắc Trà Lý có diện tích yêu cầu tưới 57.225ha (trong đó diện tích lúa là 43.908ha, cây hàng năm khác là 4.288ha, cây lâu năm là 942ha và nuôi trồng thủy sản là 8.079ha), nước được dẫn vào các kênh nội đồng chủ yếu qua 28 cống chủ lực dưới đê (trong đó triền sông Hồng có 01 cống, triền sông Luộc có 07 cống, triền sông Hóa có 08 cống, triền sông Trà Lý có 12 cống) lấy nước trữ vào nội đồng kênh Tiên Hưng, Sa Lung và các kênh cấp I, II để tưới trực tiếp một phần, còn tưới tiêu trực tiếp bằng bơm điện với tổng số 964 trạm bơm có tổng công suất tưới là 1.762.342 m3/h (trong đó Công ty TNHH một thành viên KTCTTL Bắc Thái Bình quản lý 41 trạm, HTX nông nghiệp quản lý 923 trạm, các loại máy bơm từ 180m3/h đến 8.000m3/h).
Vùng Nam Trà Lý - Bắc sông Hồng có diện tích yêu cầu tưới 40.840ha (trong đó diện tích lúa là 29.922ha, cây hàng năm khác là 2.546ha, cây lâu năm là 633ha và nuôi trồng thủy sản là 7.719ha), trong đó nước được dẫn vào các kênh nội đồng chủ yếu qua 16 cống dưới đê (trong đó triền sông Hồng có 07 cống, triền sông Trà Lý có 09 cống), lấy nước trữ vào kênh nội đồng như kênh Kiến Giang, kênh Cổ Rồng và các kênh cấp I, II để tưới trực tiếp một phần, còn chủ yếu tưới bằng bơm điện với tổng số 534 trạm bơm có tổng công suất tưới là 1.131.800 m3/h (trong đó Công ty TNHH một thành viên KTCTTL Nam Thái Bình quản lý 46 trạm, HTX nông nghiệp quản lý 488 trạm, các loại máy bơm từ 175m3/h đến 4.000m3/h).
- Về đê điều và phòng chống thiên tai:
Trên địa bàn tỉnh có 18 tuyến đê chính gồm 08 tuyến đê sông, 06 tuyến đê cửa sông, 04 tuyến đê biển với tổng chiều dài 430,3 km đê, đi qua 63 xã, phường. Trong đó: Đê cấp I gồm: Đê Tả Hồng, Tả Hồng Hà II với tổng chiều dài 109,4km; đê cấp II gồm: Đê Tả Luộc, Tả Hồng Hà I và Hữu Trà Lý với tổng chiều dài 84,7km; đê cấp III gồm: Đê Hữu Luộc, Tả Trà Lý, Hữu Hóa, cửa sông Tả Hồng, cửa sông Tả Trà Lý, cửa sông Hữu Trà Lý, cửa sông Hữu Hóa, đê biển 5, đê biển 6, đê biển 7, đê biển 8 với tổng chiều dài 225,6km; đê cấp IV gồm: Đê cửa sông Tả Diêm Hộ, cửa sông Hữu Diêm Hộ với tổng chiều dài 10,6km.
Trên các tuyến đê có 205 cống qua đê (trong đó 12 cống đã lấp, hoành triệt); 134 kè lát mái, hộ bờ, kè mỏ hàn với tổng chiều dài 200,275km; 111 cửa khẩu qua đê; 274 điếm canh đê; 14 Hạt Quản lý đê khu vực; 89 điểm, kho bãi vật tư dự trữ phòng chống lụt bão; 45 giếng giảm áp.
Hệ thống đê sông, đê cửa sông do đê đắp tôn cao qua nhiều thời kỳ, đất đắp không đồng chất, mặt cắt ngang đê nhiều đoạn chưa đủ kích thước thiết kế, địa chất nền đê xấu, thân đê có nhiều ẩn họa… nên khi có lũ từ báo động số II trở lên và kéo dài thì nhiều tuyến đê có hiện tượng thẩm lậu, rò rỉ qua thân đê, mạch sủi qua nền đê và sạt lở trượt mái đê. Cao trình đỉnh đê một số đoạn chưa đủ cao trình đê thiết kế nên khi gặp lũ bão trùng hợp có thể bị nước tràn qua đê.
Hệ thống đê biển hiện đã được nâng cấp đảm bảo chống được bão cấp 10, triều tần suất 5%.
Hệ thống các kè bảo vệ đê, cống dưới đê từng bước được cải tạo, đầu tư nâng cấp đảm bảo phục vụ sản xuất và phòng, chống thiên tai; các tuyến kè hộ bờ, lát mái và kè mỏ thường xuyên được theo dõi, tu bổ, sửa chữa, nâng cấp. Tuy nhiên do kinh phí còn hạn hẹp nên việc đầu tư nâng cấp hệ thống các kè, cống còn hạn chế; một số kè, cống xây dựng từ lâu, đã xuống cấp, một số cống ngắn, không đảm bảo an toàn phòng chống lũ, bão và tưới tiêu.
Mặt đê cơ bản đã được cứng hóa. Tuyến đê tả Hồng và tả Luộc là đường giao thông ĐT378 mặt đê cứng hóa rộng 9m. Ngoài nhiệm vụ chống lũ, các tuyến đê đều kết hợp giao thông, tuy nhiên do còn nhiều phương tiện cơ giới vượt quá tải trọng cho phép đi trên đê, nền đê không đảm bảo nên nhiều đoạn đê mặt đê bị hư hỏng, xuống cấp cần cải tạo, mở rộng mặt để phục vụ ứng cứu hộ đê và phát triển giao thông.
f) Hệ thống trường học
Hệ thống cơ sở hạ tầng trường học trên địa bàn tỉnh Hưng Yên sau sắp xếp đơn vị hành chính được hình thành tương đối đồng bộ, phân bố rộng khắp đến các xã, phường, đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của trẻ em, học sinh và người học ở các cấp học. Đến năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 1.215 cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông, với tổng quy mô khoảng 722 nghìn học sinh. Trong đó, bậc mầm non có khoảng 496 cơ sở giáo dục, hơn 7.000 nhóm, lớp và gần 139 nghìn trẻ; cấp tiểu học có khoảng 196 trường; cấp trung học cơ sở có khoảng 187 trường; cấp trung học phổ thông có khoảng 71 trường; ngoài ra còn có các trường phổ thông nhiều cấp học, trường tiểu học và trung học cơ sở, trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Đây là mạng lưới hạ tầng xã hội quan trọng, trực tiếp phục vụ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội của tỉnh.
Về cơ sở vật chất, hệ thống trường học đã được quan tâm đầu tư theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa và từng bước hiện đại hóa. Nhiều trường học có hệ thống phòng học kiên cố, phòng học bộ môn, khu hành chính, sân chơi, bãi tập, công trình vệ sinh, hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước và các hạng mục phụ trợ phục vụ dạy và học. Riêng đối với khối trường tiểu học và trung học cơ sở, số lượng phòng học tương đối lớn, góp phần bảo đảm tổ chức dạy học ổn định, hạn chế tình trạng thiếu phòng học ở các khu vực trung tâm và khu dân cư đông. Các trường trung học phổ thông, trường phổ thông nhiều cấp học và hệ thống giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được duy trì, nâng cấp, từng bước đáp ứng yêu cầu phân luồng, đào tạo nghề, đào tạo lại lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đô thị hóa, phát triển công nghiệp, gia tăng dân số cơ học tại các khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu vực ven các trục giao thông lớn, một số địa bàn có nguy cơ chịu áp lực về trường lớp, nhất là giáo dục mầm non, tiểu học và các cơ sở giữ trẻ phục vụ con em công nhân, người lao động. Tại một số khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, quỹ đất dành cho cơ sở giáo dục mầm non, nhà trẻ cho người lao động còn hạn chế, cần được tiếp tục rà soát, bổ sung trong quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị, quy hoạch khu công nghiệp và các dự án phát triển nhà ở, dịch vụ xã hội. Đồng thời, một bộ phận cơ sở giáo dục ở khu vực nông thôn, vùng thấp trũng, ven sông, ven biển hoặc khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lớn, bão, lốc, sét, ngập lụt cần được kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn công trình, khả năng thoát nước, an toàn mái, tường bao, cây xanh, hệ thống điện và công trình phụ trợ.
Đối với công tác phòng, chống thiên tai, trường học là nhóm công trình hạ tầng xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Đây vừa là nơi tập trung đông trẻ em, học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, vừa có thể được sử dụng làm điểm tập kết, sơ tán, tránh trú tạm thời trong một số tình huống thiên tai nếu bảo đảm điều kiện an toàn công trình. Dự thảo kế hoạch PCTT cũng xác định trường học là một trong các không gian trọng điểm để truyền thông, tập huấn, hướng dẫn kỹ năng ứng phó thiên tai cho cộng đồng; đồng thời các công trình giáo dục có thể tham gia chức năng hỗ trợ sơ tán dân khi cần thiết.
Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh cần tiếp tục đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống trường học theo hướng an toàn, xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp với yêu cầu phòng, chống thiên tai. Trọng tâm là rà soát các trường học ở khu vực thấp trũng, ven sông, ven biển, khu vực có nguy cơ ngập lụt, gió mạnh, lốc, sét; kiểm tra an toàn kết cấu, mái, cửa, tường rào, cây xanh, hệ thống điện, thoát nước; xây dựng phương án bảo đảm an toàn học sinh khi có bão, mưa lớn, ngập lụt, nắng nóng, rét hại hoặc dịch bệnh sau thiên tai. Đồng thời, cần lồng ghép kiến thức phòng, chống thiên tai, kỹ năng sơ tán, kỹ năng tự bảo vệ và kỹ năng ứng phó khẩn cấp vào hoạt động giáo dục, ngoại khóa, diễn tập trong trường học, góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó thiên tai cho học sinh, giáo viên và cộng đồng dân cư.
g) Hệ thống cơ sở y tế, bệnh viện
Hệ thống cơ sở hạ tầng y tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên sau sắp xếp đơn vị hành chính được tổ chức theo mạng lưới từ tuyến tỉnh đến tuyến cơ sở, gồm các bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế xã, phường và các cơ sở khám, chữa bệnh công lập, ngoài công lập. Mạng lưới này giữ vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân, phòng chống dịch bệnh, cấp cứu, điều trị, phục hồi chức năng, đồng thời là một bộ phận thiết yếu của hệ thống hạ tầng xã hội phục vụ công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và khắc phục hậu quả sau thiên tai.
Theo số liệu năm 2025, mạng lưới y tế công lập của tỉnh có 02 bệnh viện tuyến trung ương trực thuộc các cơ sở đào tạo y dược với tổng quy mô 372 giường bệnh; tuyến tỉnh có 17 bệnh viện, gồm 03 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và 14 bệnh viện chuyên khoa, với tổng quy mô khoảng 5.505 giường bệnh. Trong đó, các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh gồm: Bệnh viện Đa khoa Thái Bình, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên và Bệnh viện Đa khoa Phố Nối; các bệnh viện chuyên khoa gồm các bệnh viện phục hồi chức năng, phổi, mắt, nhi, da liễu, phụ sản, sức khỏe tâm thần, y học cổ truyền, sản - nhi và bệnh nhiệt đới. Ngoài ra, tuyến tỉnh còn có 04 trung tâm y tế chuyên ngành, gồm Trung tâm Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ; Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm; Trung tâm Pháp y và Giám định Y khoa; Trung tâm Kiểm soát bệnh tật.
Ở tuyến khu vực, toàn tỉnh có 12 bệnh viện đa khoa khu vực với tổng quy mô khoảng 2.890 giường bệnh, phân bố tại các khu vực Trần Lãm, Thái Ninh, Hưng Nhân, Phụ Dực, Nam Tiền Hải, Hưng Hà, Thái Thụy, Tiền Hải, Quỳnh Phụ, Vũ Thư, Kiến Xương và Đông Hưng. Bên cạnh đó, tỉnh có 18 trung tâm y tế khu vực, trong đó có 10 trung tâm y tế đa chức năng và 08 trung tâm y tế đơn chức năng. Đây là mạng lưới quan trọng để chia sẻ áp lực với tuyến tỉnh, bảo đảm khám chữa bệnh ban đầu, y tế dự phòng, quản lý sức khỏe cộng đồng và hỗ trợ cấp cứu khi xảy ra thiên tai, ngập lụt, bão, nước dâng hoặc dịch bệnh sau thiên tai.
Ở tuyến cơ sở, tỉnh có 412 trạm y tế xã, phường; toàn bộ 412/412 trạm y tế xã, phường đều triển khai công tác y tế dự phòng, trong đó 292/412 trạm y tế đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã. Hệ thống trạm y tế cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý sức khỏe ban đầu, tiêm chủng, giám sát dịch bệnh, sơ cấp cứu, chăm sóc người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và các nhóm dễ bị tổn thương. Trong điều kiện thiên tai, đây là lực lượng tuyến đầu trong hỗ trợ y tế tại cộng đồng, nhất là tại các vùng thấp trũng, ven sông, ven biển, khu vực có nguy cơ chia cắt giao thông hoặc ngập úng kéo dài.
Đối với khu vực ngoài công lập, toàn tỉnh hiện có 16 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa ngoài công lập với tổng quy mô khoảng 1.495 giường bệnh kế hoạch; đồng thời có 56 phòng khám đa khoa và khoảng 1.350 phòng khám chuyên khoa. Mạng lưới cung ứng thuốc tương đối rộng, gồm các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc, nhà thuốc, quầy thuốc và cơ sở bán lẻ dược liệu, góp phần bảo đảm khả năng tiếp cận thuốc và dịch vụ y tế của người dân trên địa bàn tỉnh.
Như vậy, tính riêng mạng lưới bệnh viện được thống kê trong báo cáo, toàn tỉnh có khoảng 47 bệnh viện, gồm 31 bệnh viện công lập/trực thuộc cơ sở đào tạo và 16 bệnh viện ngoài công lập. Tổng quy mô giường bệnh kế hoạch của các bệnh viện nêu trong mạng lưới đạt khoảng 10.262 giường, trong đó khu vực công lập và trực thuộc cơ sở đào tạo khoảng 8.767 giường, khu vực ngoài công lập khoảng 1.495 giường. Nếu tính các đầu mối y tế công lập chính gồm bệnh viện, trung tâm y tế tuyến tỉnh, bệnh viện đa khoa khu vực, trung tâm y tế khu vực và trạm y tế xã/phường, toàn tỉnh có khoảng 465 cơ sở/đầu mối y tế công lập.
Trong những năm gần đây, cơ sở vật chất ngành y tế từng bước được quan tâm đầu tư, nâng cấp, cải tạo nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng tăng của người dân. Các bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện chuyên khoa, trung tâm y tế khu vực và hệ thống trạm y tế cấp xã, phường là các điểm cung cấp dịch vụ y tế cơ bản, cấp cứu ban đầu, chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiêm chủng, giám sát dịch bệnh và truyền thông y tế cộng đồng. Đối với khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư tập trung, nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế có xu hướng tăng nhanh do mật độ dân số lớn, số lượng lao động đông và yêu cầu chăm sóc sức khỏe thường xuyên. Đối với khu vực nông thôn, ven sông, ven biển, vùng thấp trũng, hệ thống trạm y tế cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiếp cận người dân, sơ cấp cứu ban đầu và hỗ trợ xử lý các tình huống phát sinh trong mưa bão, ngập lụt, rét hại, nắng nóng, dịch bệnh sau thiên tai.
Về chức năng phòng, chống thiên tai, hệ thống y tế không chỉ thực hiện nhiệm vụ khám, chữa bệnh thông thường mà còn trực tiếp tham gia bảo đảm an toàn sức khỏe cộng đồng trong các tình huống khẩn cấp. Khi xảy ra bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, ngập lụt, nước dâng, gió mạnh trên biển hoặc sự cố đê điều, các bệnh viện và trạm y tế là nơi tiếp nhận, cấp cứu, điều trị người bị thương, hỗ trợ người già, trẻ em, phụ nữ mang thai, người khuyết tật, người mắc bệnh nền và các nhóm dễ bị tổn thương. Dự thảo kế hoạch PCTT cũng xác định công trình y tế, bao gồm bệnh viện, trạm y tế, là nhóm công trình công cộng có thể tham gia phục vụ tập kết, sơ tán dân và hỗ trợ cộng đồng khi xảy ra thiên tai.
Công tác y tế dự phòng và kiểm soát dịch bệnh cũng là nội dung cần đặc biệt chú ý trong điều kiện thiên tai. Tỉnh tiếp tục tăng cường phòng, chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm, đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Một số bệnh truyền nhiễm như sởi, sốt xuất huyết Dengue, tay chân miệng, Covid-19, Adeno được theo dõi, giám sát và xử lý theo quy định; các ổ dịch tại cộng đồng, cơ sở giáo dục và nơi tập trung đông người được duy trì kiểm soát. Hoạt động giám sát, phát hiện và xử lý nhanh các chùm ca bệnh, ổ dịch tại trường học, khu công nghiệp, khu du lịch cũng được duy trì, cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống y tế trong bảo vệ sức khỏe cộng đồng trước và sau các tình huống bất lợi.
Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đô thị hóa nhanh, gia tăng dân số cơ học tại các khu công nghiệp và nguy cơ thiên tai ngày càng phức tạp, hệ thống cơ sở y tế của tỉnh cần tiếp tục được rà soát về khả năng chống chịu và duy trì hoạt động liên tục. Các nội dung cần quan tâm gồm: an toàn kết cấu công trình bệnh viện, trạm y tế; khả năng cấp điện dự phòng, cấp nước sạch, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải y tế; dự trữ thuốc, hóa chất, vật tư y tế, thiết bị cấp cứu; phương án vận chuyển bệnh nhân trong điều kiện ngập lụt, chia cắt giao thông; và phương án bảo vệ các cơ sở y tế ở khu vực ven sông, ven biển, thấp trũng hoặc thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa bão.
Nhìn chung, hệ thống cơ sở y tế, bệnh viện của tỉnh Hưng Yên có quy mô tương đối lớn, phân bố rộng từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, cơ bản đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh, phòng chống dịch và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh dân số đông, mật độ dân cư cao, đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh, hệ thống y tế vẫn chịu áp lực lớn về nhu cầu khám chữa bệnh, năng lực cấp cứu, giường bệnh, nhân lực chuyên môn và trang thiết bị. Đối với công tác phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030, cần tiếp tục rà soát, nâng cấp các bệnh viện, trung tâm y tế và trạm y tế ở khu vực có nguy cơ ngập lụt, bão, nước dâng, gió mạnh ven biển; bảo đảm an toàn công trình, điện dự phòng, cấp nước, thoát nước, thuốc, vật tư y tế, phương án vận chuyển bệnh nhân và khả năng duy trì hoạt động liên tục trong tình huống khẩn cấp.
h) Khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Tỉnh Hưng Yên sau sắp xếp đơn vị hành chính có hệ thống khu công nghiệp, cụm công nghiệp tương đối lớn trong vùng đồng bằng sông Hồng, là một trong những không gian tập trung dân cư lao động, tài sản, nhà xưởng, kho bãi, hạ tầng cấp điện, cấp nước, giao thông, logistics và các cơ sở sản xuất có mức độ phơi lộ cao trước thiên tai. Theo số liệu tổng hợp trong báo cáo điều chỉnh quy hoạch, đến năm 2025 toàn tỉnh có khoảng 27 khu công nghiệp theo định hướng đến tháng 7/2025, trong đó khoảng 23 khu công nghiệp đã được thành lập hoặc được chấp thuận quy hoạch. Tổng diện tích quy hoạch khu công nghiệp đến năm 2030 khoảng 6.971 ha; diện tích đất công nghiệp khoảng 4.093 ha; diện tích đất công nghiệp đã cho thuê khoảng 2.656 ha; tỷ lệ lấp đầy trung bình đối với các khu công nghiệp đang hoạt động đạt khoảng 64,9%.
Về phân bố không gian, các khu công nghiệp tập trung chủ yếu tại hai vùng động lực. Khu vực phía Bắc của tỉnh, thuộc vùng Hưng Yên cũ, có khoảng 12 khu công nghiệp phân bố dọc hành lang kinh tế Hà Nội - Hưng Yên - Hải Phòng, gắn với cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, quốc lộ 5, quốc lộ 39 và các trục giao thông liên vùng, với tổng diện tích khoảng 3.123,5 ha. Khu vực phía Nam của tỉnh, thuộc vùng Thái Bình cũ, có khoảng 11 khu công nghiệp trong và ngoài Khu kinh tế ven biển Thái Bình, với tổng diện tích gần 2.769,5 ha. Riêng trong Khu kinh tế ven biển Thái Bình đã có 05 khu công nghiệp được thành lập, gồm: KCN Tiền Hải, Khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ Liên Hà Thái, Khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ Hải Long, KCN VSIP Thái Bình và KCN Hưng Phú.
Về thu hút đầu tư, toàn tỉnh có khoảng 831 dự án đầu tư trong các khu công nghiệp, trong đó cơ cấu tương đối cân bằng giữa dự án có vốn đầu tư nước ngoài và dự án đầu tư trong nước, ước khoảng 52% FDI và 48% DDI. Tổng vốn đầu tư đăng ký trong các khu công nghiệp đạt khoảng 9.216 triệu USD vốn FDI và khoảng 60.065 tỷ đồng vốn DDI. Số lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp khoảng 148.281 người. Giá trị xuất khẩu từ khu vực khu công nghiệp ước đạt khoảng 5-6 tỷ USD/năm. Đây là khu vực đóng góp quan trọng vào tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu, thu ngân sách và chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh.
Đối với cụm công nghiệp, toàn tỉnh sau sáp nhập có khoảng 117 cụm công nghiệp được quy hoạch, với tổng diện tích khoảng 7.096,1 ha. Đến nay đã có 81 cụm công nghiệp được thành lập, tổng diện tích khoảng 4.363,5 ha. Trong đó, khu vực phía Bắc đã thành lập 31 cụm công nghiệp, diện tích khoảng 1.633,8 ha; khu vực phía Nam đã thành lập 50 cụm công nghiệp, diện tích khoảng 2.729,7 ha. Các cụm công nghiệp phân bố rộng trên địa bàn các xã, phường, trong đó nhiều cụm gắn với làng nghề, tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản, cơ khí, dệt may, vật liệu xây dựng và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, mức độ triển khai hạ tầng và thu hút dự án giữa các cụm công nghiệp chưa đồng đều; một số cụm mới đang trong giai đoạn đầu tư hạ tầng, giải phóng mặt bằng hoặc kêu gọi nhà đầu tư thứ cấp.
Trong công tác phòng, chống thiên tai, khu công nghiệp và cụm công nghiệp cần được xác định là nhóm hạ tầng kinh tế trọng điểm cần bảo vệ. Các khu vực này thường có mật độ lao động lớn, nhu cầu điện, nước, giao thông vận tải và thông tin liên lạc cao; đồng thời tập trung nhiều máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hóa chất, kho hàng và công trình phụ trợ. Khi xảy ra bão, mưa lớn, ngập lụt, nước dâng, gió mạnh, nắng nóng kéo dài hoặc sự cố mất điện, mất nước, hoạt động sản xuất có thể bị gián đoạn, phát sinh nguy cơ mất an toàn lao động, cháy nổ, ô nhiễm môi trường và đứt gãy chuỗi cung ứng.
Vì vậy, trong giai đoạn 2026-2030, cần yêu cầu các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các doanh nghiệp thứ cấp xây dựng, cập nhật phương án phòng, chống thiên tai riêng; rà soát hệ thống thoát nước mưa, trạm bơm, hồ điều hòa, cống tiêu, trạm xử lý nước thải, kho hóa chất, hệ thống điện dự phòng, phương án sơ tán công nhân và phương án duy trì sản xuất an toàn. Đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp nằm ở vùng thấp trũng, ven sông, ven biển, khu kinh tế ven biển hoặc khu vực có nguy cơ ngập lụt, cần đặc biệt chú trọng nâng cao nền, cải thiện tiêu thoát nước, bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm an toàn nhà xưởng và tổ chức cảnh báo sớm cho người lao động khi có thiên tai xảy ra.
i) Xử lý môi trường
Thực trạng sắp xếp, phân bố không gian các khu xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên sau sắp xếp cho thấy sự phân hóa rất rõ giữa các vùng về năng lực xử lý, trình độ công nghệ và mức độ đồng bộ trong quản lý. Nhìn chung, hệ thống xử lý chất thải hiện có chưa phát triển cân đối theo không gian lãnh thổ; một số khu vực đã hình thành các cơ sở xử lý tập trung, có công nghệ tương đối hiện đại, trong khi nhiều khu vực vẫn phụ thuộc vào lò đốt nhỏ, bãi chôn lấp cấp xã, hình thành tự phát, chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Vùng phía Bắc hiện là khu vực có năng lực xử lý chất thải tốt nhất, giữ vai trò trung tâm xử lý chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại của toàn tỉnh. Trọng tâm là Khu xử lý chất thải rắn Đại Đồng tại Văn Lâm, đã chuyển từ chôn lấp sang công nghệ đốt chất thải rắn sinh hoạt từ năm 2019, công suất hiện khoảng 200 tấn/ngày và đang tiếp tục mở rộng. Ngoài ra, vùng này còn tập trung nhiều cơ sở xử lý chuyên biệt như Khu xử lý chất thải Ngân Anh, các nhà máy xử lý, tái chế kim loại, xử lý chất thải nguy hại, chất thải công nghiệp tại Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ. Đây là vùng duy nhất có hệ sinh thái xử lý chất thải nguy hại tương đối hoàn chỉnh, đa dạng công nghệ và được cấp phép hoạt động. Tuy nhiên, việc tập trung quá lớn năng lực xử lý tại vùng này cũng tạo ra sự phụ thuộc của các vùng còn lại, đặc biệt đối với chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại, đòi hỏi phải có cơ chế vận chuyển, giám sát và quản lý liên vùng chặt chẽ.
Vùng Trung tâm có tính chất trung gian, tồn tại song song hai mô hình: mô hình xử lý tập trung, quy củ tại thành phố Hưng Yên và mô hình xử lý phân tán, công nghệ thấp tại một số khu vực nông thôn, đô thị hóa. Khu xử lý chất thải thành phố Hưng Yên có công suất khoảng 100 tấn/ngày, xử lý rác thải sinh hoạt đô thị tương đối ổn định. Nhà máy xử lý rác huyện Quỳnh Phụ áp dụng công nghệ phân loại, xử lý hữu cơ, tái chế và chôn lấp phần còn lại, là một điểm tương đối tích cực trong xử lý rác tại chỗ. Tuy nhiên, tại các khu vực như Hưng Hà, Quỳnh Côi vẫn còn nhiều lò đốt công suất nhỏ và bãi chôn lấp cấp xã, được hình thành từ lâu, thiếu thiết kế đồng bộ, không bảo đảm đầy đủ quy chuẩn kỹ thuật. Vì vậy, thách thức lớn của vùng này không chỉ là đầu tư thêm công trình mới, mà quan trọng hơn là hợp nhất, tiêu chuẩn hóa, từng bước đóng cửa các điểm xử lý nhỏ lẻ, lạc hậu và chuyển dòng rác về các khu xử lý tập trung.
Vùng ven biển phía Nam là khu vực yếu nhất về hạ tầng xử lý chất thải. Mặc dù có Nhà máy xử lý rác thành phố Thái Bình, nhưng phần lớn chất thải sinh hoạt vẫn phụ thuộc vào mạng lưới lò đốt cấp xã và bãi chôn lấp thông thường. Các cơ sở này chủ yếu có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, thiếu kiểm soát khí thải, nước rỉ rác và tro xỉ sau đốt, gây áp lực lớn đối với môi trường đất, nước và không khí. Đáng chú ý, vùng này chưa có cơ sở đủ điều kiện xử lý chất thải nguy hại, trong khi lại phát sinh chất thải nguy hại từ các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất và làng nghề. Chất thải công nghiệp thông thường mới chỉ có một số điểm xử lý hạn chế, như bãi chôn lấp tại KCN Tiền Hải; rác thải làng nghề vẫn còn tình trạng thu gom chung với rác sinh hoạt. Đây là bất cập lớn trong quản lý môi trường sau sắp xếp tỉnh.
Đối với chất thải rắn đô thị, tỷ lệ thu gom tại các đô thị lớn đạt tương đối cao, nhất là khu vực phía Bắc và thành phố Hưng Yên. Tuy nhiên, sự khác biệt về mô hình xử lý giữa các vùng rất rõ: phía Bắc theo hướng tập trung hóa và chuyên môn hóa; Trung tâm là mô hình hỗn hợp; vùng ven biển phía Nam còn phân tán, lạc hậu. Việc đóng cửa các lò đốt, bãi chôn lấp nhỏ lẻ là cần thiết nhưng phải đi kèm mạng lưới trạm trung chuyển và hệ thống vận chuyển hợp lý. Nếu chỉ dồn rác từ các điểm phân tán về khu xử lý tập trung mà không tổ chức lại logistics, chi phí vận chuyển sẽ tăng cao và khó khả thi.
Đối với chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại, năng lực xử lý đang phân cực mạnh. Vùng phía Bắc có khả năng xử lý tại chỗ và có thể tiếp nhận từ các vùng khác; trong khi Vùng Trung tâm và Vùng ven biển phía Nam gần như không có năng lực xử lý chất thải nguy hại. Do đó, cần thiết lập hành lang vận chuyển chất thải nguy hại Bắc - Nam trong nội tỉnh, có kiểm soát bằng hồ sơ điện tử, giám sát hành trình GPS và cơ chế phối hợp giữa các địa phương, khu công nghiệp, đơn vị vận chuyển và cơ sở xử lý.
Đối với chất thải y tế, mô hình thuê ngoài tập trung tại Vùng phía Bắc và khu vực đô thị Trung tâm cho thấy hiệu quả tương đối ổn định, 100% chất thải y tế nguy hại được thu gom, vận chuyển, xử lý bởi đơn vị có chức năng. Ngược lại, mô hình xử lý tại chỗ bằng lò đốt hai buồng ở Vùng ven biển phía Nam và một phần khu vực nông thôn Trung tâm bộc lộ hạn chế lớn; nhiều lò đốt đã hỏng, chờ sửa chữa, làm tăng nguy cơ ô nhiễm và mất an toàn vệ sinh môi trường. Vì vậy, xu hướng phù hợp là chuyển dần sang mô hình thu gom, vận chuyển và xử lý tập trung, chuyên nghiệp.
Trong giai đoạn quy hoạch tới, cần ưu tiên tổ chức lại không gian xử lý chất thải theo hướng tập trung, liên vùng, công nghệ cao; đóng cửa các lò đốt, bãi chôn lấp nhỏ lẻ không hợp vệ sinh; bổ sung trạm trung chuyển; kiểm soát vận chuyển chất thải nguy hại; đồng thời gắn việc sắp xếp khu xử lý chất thải với quản lý nghĩa trang, cơ sở hỏa táng, nhà tang lễ theo hướng tiết kiệm đất, bảo đảm vệ sinh môi trường và phù hợp định hướng phát triển đô thị, nông thôn mới.
k) Đường cứu hộ, cứu nạn, cơ sở hạ tầng khác
Mạng lưới đường phục vụ cứu hộ, cứu nạn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên được hình thành trên cơ sở hệ thống giao thông đường bộ, đường đê, đường hành lang chân đê, đường giao thông nông thôn, các tuyến kết nối khu dân cư, khu công nghiệp, vùng bãi sông, vùng ven biển và các tuyến tiếp cận công trình phòng, chống thiên tai. Theo thống kê trong dự thảo, tổng chiều dài hệ thống đường bộ toàn tỉnh khoảng 15.599,93km, gồm đường cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh, đường đô thị và mạng lưới đường giao thông nông thôn. Các trục giao thông chính có vai trò quan trọng trong công tác chỉ huy, tiếp cận hiện trường, sơ tán dân, vận chuyển lực lượng, phương tiện, vật tư cứu hộ, cứu nạn gồm cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, cao tốc Hưng Yên - Thái Bình, các tuyến quốc lộ 5, 10, 37, 37B, 38, 38B, 39 và hệ thống đường tỉnh, đường liên xã, đường ven đê, đường vùng bãi.
Bên cạnh đường bộ, tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng đi qua địa bàn tỉnh với chiều dài khoảng 20,4km, có 02 ga và 02 cầu đường sắt Như Quỳnh, Bà Sinh với tổng chiều dài khoảng 75m. Tuyến đường sắt tuy không phải là hạ tầng cứu hộ, cứu nạn trực tiếp trong mọi tình huống thiên tai, nhưng là bộ phận quan trọng của hệ thống giao thông liên vùng, cần được bảo vệ an toàn trước bão, mưa lớn, ngập lụt, sự cố cây đổ, hư hỏng cầu, cống và ách tắc vận tải.
Đối với giao thông đường thủy, toàn tỉnh có 05 tuyến sông do Trung ương quản lý gồm sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa, sông Thái Bình và sông Trà Lý với tổng chiều dài khoảng 354,5km; đồng thời có 13 tuyến sông do địa phương quản lý với tổng chiều dài gần 250km. Đây là hệ thống có ý nghĩa quan trọng trong vận tải, tiêu thoát lũ, tiếp cận các khu vực ven sông, vùng bãi, vùng ngoài đê và hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn trong các tình huống ngập lụt, chia cắt giao thông đường bộ. Trên địa bàn hiện có 05 cảng thủy nội địa đã được công bố, 02 cảng đang triển khai đầu tư xây dựng và khoảng 423 bến thủy nội địa. Đối với khu vực ven biển, tỉnh có khoảng 54km bờ biển, có 01 luồng hàng hải Diêm Điền dài 10,2km, đáy luồng rộng 45m, độ sâu luồng khoảng -1,5m, phục vụ giao thông thủy, hàng hải và công tác tiếp cận, hỗ trợ khu vực ven biển khi có bão, áp thấp nhiệt đới, nước dâng, gió mạnh trên biển.
Trong danh mục công trình, dự án phục vụ phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030, tỉnh đã xác định một số công trình giao thông kết hợp phòng, chống thiên tai, có ý nghĩa trực tiếp đối với cứu hộ, cứu nạn, sơ tán dân và bảo đảm tiếp cận vùng rủi ro. Đáng chú ý gồm: công trình cải tạo, nâng cấp đường giao thông nông thôn tại 02 xã vùng bãi sông Luộc với kinh phí khoảng 10.700 triệu đồng; công trình cải tạo, nâng cấp đường giao thông nông thôn tại 04 xã vùng bãi sông Hồng với kinh phí khoảng 14.556 triệu đồng; dự án nâng cấp, cải tạo tuyến đê tả Trà Lý đoạn K17+300 đến K32+000 kết hợp giao thông với kinh phí khoảng 580.000 triệu đồng; dự án cải tạo, nâng cấp đường giao thông nông thôn xã Châu Ninh với tổng chiều dài các đoạn khoảng 2,98 km, kinh phí khoảng 50.000 triệu đồng. Ngoài ra, còn có công trình cải tạo, nâng cấp đường hành lang chân đê đoạn K116+300 đến K117+900 đê tả sông Hồng, chiều dài khoảng 1,6km, kinh phí khoảng 20.000 triệu đồng.
Đối với khu vực ven biển và hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển, dự thảo cũng xác định các công trình neo đậu tàu thuyền tránh trú bão, gồm công trình xử lý cấp bách khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá tại cảng cá Cửa Lân, xã Nam Cường với kinh phí khoảng 110.000 triệu đồng và công trình xử lý cấp bách cải tạo, nâng cấp khu neo đậu tránh trú bão tại cửa sông Diêm Hộ, xã Thái Ninh với kinh phí khoảng 45.000 triệu đồng. Đây là nhóm công trình đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm an toàn tàu thuyền, ngư dân, phương tiện khai thác thủy sản và hỗ trợ công tác ứng phó khi có bão, áp thấp nhiệt đới, nước dâng, gió mạnh trên biển.
Về hạ tầng điện, trên địa bàn tỉnh có Trung tâm nhiệt điện than tại xã Đông Thái Ninh với tổng công suất 1.800 MW, gồm Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 1 công suất 2x300 MW và Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 công suất 2x600 MW. Lưới điện cấp cho phụ tải toàn tỉnh gồm lưới siêu cao áp 500 kV, lưới truyền tải 220 kV và lưới phân phối từ 110 kV trở xuống. Hệ thống điện là hạ tầng thiết yếu cần được ưu tiên bảo vệ trong thiên tai, đặc biệt tại các khu vực có nguy cơ ngập lụt, bão, gió mạnh, sét, sự cố cây đổ, đứt đường dây, hư hỏng trạm biến áp và gián đoạn cấp điện cho bệnh viện, trạm bơm, cơ sở chỉ huy, thông tin liên lạc, khu công nghiệp và khu dân cư.
Về hạ tầng thông tin, truyền thông, toàn tỉnh có 18 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bưu chính, với trên 652 điểm phục vụ; bán kính phục vụ bình quân khoảng 1,1km/điểm, số dân được phục vụ bình quân khoảng 5.460 người/điểm; tỷ lệ xã, phường có điểm phục vụ bưu chính có người phục vụ đạt 100%. Mạng đường thư được tổ chức thành 03 cấp, gồm 08 tuyến đường thư cấp I, 09 tuyến đường thư cấp II và 69 tuyến đường thư cấp III, tần suất đưa phát từ trung tâm tỉnh đến trung tâm xã, phường bình quân khoảng 02 chuyến/ngày. Hạ tầng viễn thông có tổng chiều dài cáp treo khoảng 23.177km và cáp ngầm khoảng 6.391km, trong đó cáp ngầm chiếm khoảng 21,6% tổng chiều dài mạng cáp viễn thông. Đây là hệ thống đặc biệt quan trọng để bảo đảm truyền tin cảnh báo thiên tai, chỉ đạo điều hành, tiếp nhận thông tin cứu hộ, cứu nạn và duy trì kết nối trong tình huống khẩn cấp.
Về hạ tầng cấp nước, toàn tỉnh có 120 công trình cấp nước sạch tập trung, gồm 45 công trình trên địa bàn Hưng Yên cũ và 75 công trình trên địa bàn Thái Bình cũ, với tổng công suất thiết kế trên 613.000m³/ngày đêm. Tỷ lệ đường ống cấp nước dịch vụ tại các xã có dự án cấp nước hoạt động cơ bản đạt khoảng 95-100%. Đối với cấp nước công nghiệp, khu vực Hưng Yên cũ hiện vẫn có tình trạng một số khu công nghiệp khai thác nước ngầm với lưu lượng ước tính khoảng 77.500m³/ngày đêm, trong khi khu vực Thái Bình cũ phần lớn doanh nghiệp trong khu, cụm công nghiệp được cấp nước từ các công trình cấp nước tập trung.
Về hạ tầng thoát nước, nước thải, phần lớn các đô thị hiện vẫn sử dụng hệ thống thoát nước thải chung với nước mưa; tại các đô thị mới đã có hệ thống thoát nước riêng nhưng khả năng kết nối, tiêu thoát còn chưa đồng bộ. Khả năng thu gom, xử lý nước thải đạt khoảng 80% tại khu vực thành phố Hưng Yên và Thái Bình cũ; tại các khu vực đô thị khác đạt khoảng 30-50%. Đối với khu công nghiệp, hiện có 09 khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, gồm các KCN Phố Nối A, Dệt may Phố Nối, Thăng Long II, Yên Mỹ II, Minh Quang, Yên Mỹ, Nguyễn Đức Cảnh, Phúc Khánh và Gia Lễ.
Nhìn chung, hệ thống đường phục vụ cứu hộ, cứu nạn và các hạ tầng thiết yếu khác của tỉnh Hưng Yên có quy mô lớn, phân bố rộng, có khả năng hỗ trợ công tác chỉ huy, ứng phó, sơ tán dân, vận chuyển lực lượng, phương tiện, vật tư và khắc phục hậu quả thiên tai. Tuy nhiên, do địa bàn có nhiều vùng thấp trũng, vùng bãi sông, khu vực ngoài đê, ven biển, khu công nghiệp, đô thị và các tuyến giao thông ven sông, ven đê, cần tiếp tục rà soát, phân loại các tuyến đường ưu tiên phục vụ cứu hộ, cứu nạn; xác định các điểm có nguy cơ ngập sâu, chia cắt, sạt lở, hư hỏng cầu, cống; đồng thời cập nhật bản đồ đường tiếp cận an toàn đến từng xã, phường, khu dân cư, bệnh viện, trường học, khu neo đậu, kho vật tư, trạm bơm, công trình đê điều và các khu vực sơ tán tập trung.
Chương IV
HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI
I. Hệ thống văn bản pháp luật chính sách về phòng, chống thiên tai
Trong thời gian qua, trên địa bàn hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình (trước khi sáp nhập), việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống thiên tai được thực hiện nghiêm túc, đồng bộ theo các quy định của Luật Phòng, chống thiên tai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành của Trung ương được cụ thể hóa thông qua các kế hoạch, phương án, chương trình của địa phương; công tác chỉ đạo, điều hành phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai được duy trì thường xuyên.
Đối với cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì tham mưu về công tác phòng, chống thiên tai, tỉnh quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, từng bước nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu, tổng hợp. Hằng năm, tổ chức hoặc cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ do Trung ương tổ chức. Đồng thời, từng bước tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo, điều hành, cập nhật và chia sẻ thông tin về thiên tai.
Đối với lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai các cấp, đặc biệt là lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã, tỉnh đã chỉ đạo kiện toàn tổ chức lực lượng theo quy định; xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng cho lực lượng tham gia phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Nội dung tập huấn tập trung vào các kỹ năng như: sơ tán, cứu hộ cứu nạn, ứng phó cũng như kỹ năng sơ cấp cứu,…
Sau khi thực hiện sáp nhập địa giới hành chính, tỉnh Hưng Yên mới đã từng bước rà soát, điều chỉnh và thống nhất hệ thống kế hoạch, phương án phòng, chống thiên tai phù hợp với phạm vi quản lý mới; bảo đảm tính liên thông, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành giữa các khu vực của tỉnh.
Sau khi thực hiện sắp xếp, hợp nhất, sáp nhập đơn vị hành chính và tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương, tỉnh Hưng Yên đã từng bước rà soát, kiện toàn hệ thống tổ chức, văn bản chỉ đạo, quy chế hoạt động và các nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai, đê điều, thủy lợi, phòng thủ dân sự. Việc ban hành, điều chỉnh các chương trình, kế hoạch và văn bản quản lý sau hợp nhất nhằm bảo đảm tính liên tục trong chỉ đạo, điều hành; thống nhất đầu mối quản lý; khắc phục tình trạng phân tán giữa các địa bàn trước sáp nhập; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để triển khai công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai trên phạm vi toàn tỉnh mới.
Đối với nguồn lực tài chính phục vụ phòng, chống thiên tai, tỉnh đã ban hành Quyết định số 918/QĐ-CTUBND ngày 13/9/2025 về Quy chế tổ chức và hoạt động Quỹ phòng, chống thiên tai tỉnh Hưng Yên. Quy chế này là căn cứ để quản lý, huy động, sử dụng nguồn lực tài chính phục vụ các hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ các địa phương, cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai theo quy định.
Để bảo đảm thực hiện thủ tục hành chính thống nhất trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 739/QĐ- UBND ngày 19/3/2026 công bố Danh mục thủ tục hành chính về quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai. Việc công bố danh mục thủ tục hành chính sau sáp nhập có ý nghĩa quan trọng trong chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ; tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai, đê điều trên toàn tỉnh.
Bên cạnh đó, tỉnh đã ban hành Công văn số 798/UBND-KT2 ngày 12/8/2025 về việc tăng cường ngăn chặn, xử lý vi phạm pháp luật về thủy lợi, đê điều. Nội dung này có ý nghĩa trực tiếp trong bảo vệ an toàn công trình phòng, chống thiên tai, nhất là hệ thống đê sông, đê biển, kè, cống dưới đê, hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, khu vực bãi sông, ven sông, ven biển. Đây là nhóm nhiệm vụ cần được duy trì thường xuyên, bởi các hành vi vi phạm phạm vi bảo vệ công trình đê điều, thủy lợi có thể làm gia tăng nguy cơ mất an toàn công trình, cản trở thoát lũ, gây khó khăn cho công tác hộ đê, cứu hộ, cứu nạn khi xảy ra thiên tai.
Về tổ chức chỉ huy, điều hành, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 856/QĐ-UBND ngày 31/3/2026 về việc kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh Hưng Yên. Việc kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nhằm bảo đảm cơ chế chỉ huy thống nhất, phân công rõ trách nhiệm giữa các sở, ngành, lực lượng vũ trang, địa phương và các đơn vị liên quan trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố, thảm họa.
Ngoài các văn bản nêu trên, trong năm 2025, thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 335/QĐ-UBND ngày 19/7/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Chi cục Thủy lợi đã chủ động tham mưu Ban Chỉ huy và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 21 công điện và 114 văn bản chỉ đạo, cảnh báo trong công tác ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lớn, bão, áp thấp nhiệt đới, mưa dông, lốc, sét, gió mạnh trên biển. Việc ban hành kịp thời các công điện, văn bản chỉ đạo đã góp phần nâng cao tính chủ động trong điều hành, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
Nhìn chung, các chương trình, kế hoạch và văn bản được ban hành sau khi hợp nhất, sáp nhập đã bước đầu tạo nền tảng pháp lý và tổ chức cho công tác phòng, chống thiên tai của tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục rà soát, đồng bộ hóa các quy chế phối hợp, phương án ứng phó, kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp tỉnh và cấp xã; cập nhật lại phạm vi quản lý theo đơn vị hành chính mới; chuẩn hóa hệ thống thông tin, dữ liệu, bản đồ rủi ro thiên tai; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện tại cơ sở, bảo đảm công tác phòng, chống thiên tai được triển khai thống nhất, liên thông và hiệu quả trên toàn tỉnh.
II. Hệ thống Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp
Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh với thành phần gồm Trưởng ban là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, các Phó Trưởng ban và các Ủy viên là lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan; bảo đảm cơ cấu liên ngành để chỉ đạo, điều hành công tác phòng thủ dân sự, trong đó có nhiệm vụ phòng, chống thiên tai.
Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp nay là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp được kiện toàn; xây dựng lực lượng canh coi, cừ sách, tiếp vận, đặc biệt là lực lượng xung kích từ cấp xã/phường sẵn sàng ứng phó với các tình huống thiên tai có thể xảy ra.
Cơ quan thường trực và cơ quan tham mưu về phòng, chống thiên tai: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh là cơ quan thường trực của Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh, sử dụng bộ phận thuộc quyền để thực hiện nhiệm vụ Văn phòng Ban Chỉ huy; Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì tham mưu về công tác phòng, chống thiên tai, trực tiếp thông qua Chi cục Thủy lợi làm lực lượng nòng cốt tham mưu, tổng hợp và điều phối.
Nguồn lực và cơ sở vật chất phục vụ công tác tham mưu: Nguồn lực cho hoạt động phòng, chống thiên tai được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh, nguồn dự phòng ngân sách và các nguồn huy động hợp pháp khác; cơ quan tham mưu được trang bị cơ sở vật chất, hệ thống thông tin liên lạc, trang thiết bị công nghệ thông tin và phương tiện phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra và tổng hợp tình hình thiên tai.
Phân công nhiệm vụ các thành viên Ban Chỉ huy: Các thành viên Ban Chỉ huy được phân công nhiệm vụ theo lĩnh vực quản lý của cơ quan, đơn vị; Trưởng ban chỉ đạo chung, các Phó Trưởng ban giúp việc theo lĩnh vực được giao; các Ủy viên là lãnh đạo sở, ngành chịu trách nhiệm tổ chức triển khai nhiệm vụ phòng thủ dân sự và phòng, chống thiên tai trong phạm vi quản lý, đồng thời tham gia phối hợp xử lý khi xảy ra sự cố, thiên tai.
Quy chế làm việc và cơ chế phối hợp: Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh ban hành Quy chế hoạt động, quy định cụ thể chế độ làm việc, chế độ họp, trách nhiệm của các thành viên, cơ chế trao đổi thông tin và phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan; trong đó, xác định rõ nguyên tắc phối hợp liên ngành, huy động lực lượng theo phương châm “bốn tại chỗ”, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của Ban Chỉ huy trong công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố, thảm họa trên địa bàn tỉnh.
Ở cấp cơ sở, các xã, phường thành lập Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự theo quy định, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất từ tỉnh đến cơ sở.
III. Công tác cảnh báo, dự báo sớm các loại hình thiên tai
Hệ thống giám sát, cảnh báo thiên tai trong tỉnh đã có Camera giám sát tình trạng đê điều tại đê Nhật Tảo, kè Nhật Tảo, thượng lưu, hạ lưu cống Lân I. Các trạm đo mưa, đo gió tự động tại Hạt Quản lý đê Tiền Hải và Thái Thụy, Camera giám sát của Tổng cục tại đê biển 5, 6,7, 8 nhằm giám sát, cảnh báo đối với các vị trí xung yếu của công trình PCTT.
Cần tăng cường đầu tư xây dựng thêm Camera giám sát tình trạng đê điều ở tất cả các tuyến đê, đặc biệt là các vị trí công trình xung yếu.
Hiện nay, tỉnh đang tiếp tục triển khai “Lắp đặt hệ thống kết nối camera giám sát công tác phòng, chống thiên tai cho các cảng cá, khu neo đậu và một số công trình đê điều, thủy lợi xung yếu về Trung tâm Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh), Văn phòng thường trực cơ quan phòng, chống thiên tai”. Dự kiến lắp tại 42 vị trí gồm 64 camera giám sát.
Trong năm 2025, Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn nay là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp tiếp tục tăng cường việc ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác điều hành, ứng phó thiên tai cụ thể: Quản lý vận hành các trạm Camera theo dõi các vị trí trọng điểm xung yếu có kết nối trực tuyến, các trạm đo mưa, gió, nhiệt độ, bức xạ mặt trời, độ ẩm không khí tự động tại các địa phương, sử dụng flycam để quay phim, chụp ảnh phục vụ công tác phòng chống thiên tai; sử dụng Gmail, Zalo, Fax, Facebook trong công tác tuyên truyền, nhận tin; họp trực tuyến, khai thác cơ sở dữ liệu trên các ứng dụng Hệ thống giám sát tàu cá, Hệ thống giám sát thiên tai Việt Nam - VNDMS, app “PCTT” phục vụ cho công tác tham mưu, chỉ đạo, điều hành ứng phó thiên tai.
IV. Phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác phòng, chống thiên tai
Vật tư dự trữ phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện có tại các kho vật tư gồm: Đá hộc 88.078,1m³; bao ni lông 585.128 chiếc; đá dăm, sỏi 2.893,4m³; cát vàng 1.825,9m³; vải lọc 14.871,8m2; dây thép 35.930kg; bạt chắn sóng 157.092m2; bao tải Jumbo 7.726 cái; bạt chống thấm (màng HDPE) 2.400m2; rọ thép 14.418 chiếc;
Ủy ban nhân dân tỉnh giao chỉ tiêu chuẩn bị lực lượng, vật tư, phương tiện phục vụ công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2026 cho các sở, ngành, đơn vị tại Quyết định số 1340/QĐ-UBND ngày 17/4/2026, cụ thể như sau:
- Sở Y tế: Chuẩn bị thuốc chữa bệnh, phòng dịch 1.000 cơ số; dụng cụ y tế 30 cơ số.
- Sở Công Thương: Chuẩn bị 25 tấn thép; 25m3 gỗ; 200 tấn xi măng; 300 tấn xăng dầu; 7.000 tấm tôn lợp mái (kích thước 0,8m x 1,5m/tấm).
- Sở Xây dựng: Chuẩn bị 30 ô tô tải (15 ô tô loại 1,25 tấn, 15 ô tô loại 3,5 tấn); 20 xe ô tô khách (loại 46 chỗ); 02 xà lan kể cả đầu kéo (loại tải trọng 593 tấn); 03 xe cẩu (01 xe sức nâng 45 tấn, 02 xe sức nâng 62 tấn), xăng dầu và người điều khiển; 300m3 cát vàng; 300m3 đá dăm cấp phối loại 1; 20.000 bao bì dứa (kích thước 0,6m x 0,95m).
Ngoài ra còn có nhiều loại vật tư, phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ… có thể huy động để phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên địa bàn các xã, gồm: đá hộc 20.090m3; đá dăm, sỏi 7.443,5m3; đất, cát 112.258,8m3; rọ thép 3.612 cái; bao tải 849.872 chiếc; dây thép 4.580 kg; vải lọc 4.700m2; bạt chắn sóng 36.500m2; vải bạt 115.688 m2; tôn lợp 5.700 m2;; nhà bạt cứu sinh 214 cái; phao áo cứu sinh 5.924 cái; phao tròn cứu sinh 5.553 cái; máy phát điện 359 cái; áo mưa chuyên dùng 3.953 cái; dây thừng 11.180m; ca nô 21 chiếc; tàu, thuyền cứu nạn 189 chiếc, xe dưới 16 chỗ 2.036 cái; xe 25-29 chỗ 164 cái; xe ô tô tải 990 cái; xe ủi, xe xúc 419 cái…
Hằng năm, vật tư, phương tiện và trang thiết bị phục vụ công tác phòng, chống thiên tai tiếp tục được rà soát, bổ sung, cập nhật từ nguồn ngân sách địa phương, nguồn hỗ trợ cấp trên và nguồn huy động hợp pháp khác để đáp ứng yêu cầu ứng phó trong từng tình huống cụ thể.
Nhìn chung, các trang thiết bị hiện có cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phòng, chống thiên tai; tuy nhiên tại một số địa phương, trang thiết bị vẫn còn thiếu hoặc chưa đồng bộ, nhất là trong trường hợp xảy ra ngập lụt trên diện rộng cần huy động nhiều phương tiện cứu hộ, cứu nạn. Do đó, trong thời gian tới cần tiếp tục rà soát, bổ sung các trang thiết bị phù hợp với đặc điểm thiên tai của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai.
V. Công tác ứng phó thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn
Triển khai phương án ứng phó với các cấp độ rủi ro thiên tai (RRTT): Căn cứ Sổ tay hướng dẫn “Xây dựng phương án ứng phó thiên tai theo cấp độ rủi ro thiên tai” tại Quyết định số 02/QĐ-TWPCTT ngày 18/02/2020 của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai phối hợp với Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố thiên tai và Tìm kiếm Cứu nạn, Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh nay là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh chỉ đạo các địa phương, đơn vị rà soát, cập nhật Phương án Ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai, Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2021-2026 trên cơ sở Phương án và Kế hoạch tỉnh đã được phê duyệt. Trong đó tập trung cập nhật, bổ sung các căn cứ pháp lý, văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; tình hình thiệt hại các năm gần đây, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và nguồn nhân lực tham gia vào công tác phòng, chống thiên tai.
Khi xảy ra thiên tai, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh nay là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh và các sở, ban, ngành đã quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương và huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tập trung ứng phó với bão, lũ và khắc phục hậu quả sau bão, lũ; hoãn tất cả các cuộc họp để tập trung cho công tác phòng, chống bão, lũ, mưa lớn; các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã trực tiếp xuống các địa bàn trọng yếu để kiểm tra, chỉ đạo các cấp chính quyền và người dân triển khai các phương án bảo vệ trọng điểm xung yếu, phương án chống bão, lũ, các công trình đê điều, chống tràn các vị trí đê thấp, đê bối, bờ bao tại các tuyến đê; chỉ đạo huy động lực lượng vũ trang sẵn sàng hỗ trợ chính quyền và nhân dân các cấp chống bão, lũ và hộ đê.
Đặc biệt trong công tác chỉ đạo, triển khai ứng phó, khắc phục với bão số 3, số 5, số 10 và mưa lũ đầu tháng 10, Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh nay là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh và các sở, ban, ngành đã chủ động, sáng tạo, linh hoạt triển khai các nội dung chỉ đạo ứng phó mang tính đột phá, đúng thời điểm, phát huy hiệu quả tốt tại hiện trường, huy động các lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng, dân quân tự vệ và các lực lượng xung kích xuống các địa phương hỗ trợ chống bão, lũ, hộ đê, cấm biển, neo đậu tàu thuyền, di dời người dân sinh sống tại các khu vực không đảm bảo an toàn nhằm bảo vệ tài sản, tính mạng của người dân, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
VI. Thông tin, truyền thông về phòng, chống thiên tai
Các bản tin cảnh báo, dự báo, cảnh báo, chỉ đạo được chuyển tải đến cộng đồng thông qua chính quyền các cấp, hệ thống Báo, Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hưng Yên lồng ghép trong chương trình thời sự; cơ quan trực ban chia sẻ, gửi thông tin qua các nhóm zalo; việc tổ chức tập huấn cho cấp xã về công tác phòng, chống thiên tai tuy đã thực hiện nhưng số lượng còn ít mới chỉ tập trung ở lực lượng nòng cốt.
Cơ sở dữ liệu về phòng, chống thiên tai: Chủ yếu là công tác lưu trữ thông thường, các chương trình phần mềm quản lý công cụ cơ sở dữ liệu mang tính hệ thống cao chưa thực hiện được.
Xây dựng Kế hoạch diễn tập chỉ đạo, chỉ huy điều hành phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn, lực lượng, vật tư, phương tiện phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn hằng năm để triển khai thực hiện.
Hằng năm từ tỉnh đến xã, trước mùa lũ bão, Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp nay là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp đã phối hợp với các địa phương trong tỉnh tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức về phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai cho các cấp, các ngành và cộng đồng các xã ven đê trên địa bàn toàn tỉnh; tổ chức tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho trên 8.000 người trực tiếp làm nhiệm vụ phòng, chống thiên tai gồm: Canh coi, cừ sách, xung kích, bơi lội... như tập huấn công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, các văn bản quy phạm pháp luật, kỹ thuật xử lý giờ đầu sự cố đê, kè, cống, tổng hợp thiệt hại cho cán bộ văn phòng Chi cục Thủy lợi, các hạt quản lý đê. Tập huấn cho cán bộ kỹ thuật tăng cường về các văn bản quy phạm pháp luật, kỹ thuật xử lý giờ đầu sự cố đê, kè, cống, tổng hợp thiệt hại. Tập huấn kỹ năng phòng, chống thiên tai, kỹ thuật xử lý giờ đầu sự cố đê, kè, cống, tổng hợp thiệt hại cho Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai cấp xã, cán bộ Hạt quản lý đê, cán bộ kỹ thuật XN thủy lợi, cán bộ chuyên môn xã, lực lượng canh coi, cơ động, cừ sách, xung kích, lực lượng quản lý đê nhân dân.
Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp, các sở, ngành, đơn vị trực thuộc tỉnh xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện Tuần lễ Quốc gia phòng, chống thiên tai từ 15-22/5/2025 nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, chính quyền và các tầng lớp nhân dân trong công tác phòng, chống thiên tai; qua đó tăng cường công tác quản lý nhà nước, đẩy mạnh hoạt động phòng ngừa, chuẩn bị ứng phó với thiên tai, cổ vũ tinh thần nhân dân, cán bộ, chiến sỹ trong công tác phòng, chống thiên tai bằng các hình thức tuyên truyền sâu rộng các quy định pháp luật, kiến thức về phòng, chống thiên tai cho người dân; tổ chức treo băng rôn, khẩu hiệu, tờ phướn, hình ảnh tuyên truyền về Tuần lễ quốc gia phòng, chống thiên tai tại trụ sở cơ quan, nơi công cộng, điếm canh đê...; tăng thời lượng truyền thông về tình hình thời tiết, khí hậu, biến đổi khí hậu trên hệ thống loa, đài phát thanh và truyền hình... qua đó tạo được sự đồng thuận, ý thức chủ động của nhân dân trong công tác phòng, chống thiên tai.
Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh đã đăng tải liên tục các bản tin dự báo, cảnh báo lên Website, phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông nay là Sở Khoa học và Công nghệ thông báo giờ phát các bản tin bão để các đài truyền thanh và truyền hình huyện, thành phố, đài phát thanh xã, phường, thị trấn vào trang Web của Đài lấy bản tin và thông báo trên loa đến mọi thôn xóm và người dân.
Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh: Thông tin tuyên truyền về Luật Đê điều, Luật Phòng, chống thiên tai và các văn bản khác có liên quan; thông tin tình hình thời tiết, thiên tai, các chủ trương, mệnh lệnh, chỉ thị, công điện chỉ đạo về phòng, chống, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai của Trung ương và của tỉnh theo quy định; tuyên truyền, phổ biến những kiến thức, kinh nghiệm, điển hình trong công tác phòng tránh, ứng phó với thiên tai trên địa bàn tỉnh.
Công tác thông tin, truyền tải các Công điện, Văn bản, Bản tin cảnh báo, dự báo thiên tai được thực hiện đa dạng bằng nhiều hình thức khác nhau cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị; đặc biệt là áp dụng Chính quyền điện tử, đảm bảo khả năng tiếp nhận thông tin thiên tai đến với các cấp chính quyền, người dân một cách hiệu quả; giúp người dân chủ động phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại và sớm ổn định sản xuất.
VII. Năng lực và nhận thức của cộng đồng về phòng, chống thiên tai
Nhìn chung, năng lực và nhận thức của cộng đồng về phòng, chống thiên tai còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tâm lý chủ quan của một bộ phận người dân, đồng thời công tác tuyên truyền, truyền thông trực tiếp nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng chưa được triển khai thường xuyên do thiếu nguồn lực về nhân lực và kinh phí; Hoạt động tập huấn nâng cao năng lực tại địa phương hiện nay chủ yếu do các cơ quan Trung ương tổ chức; việc nâng cao nhận thức cộng đồng được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống thông tin đại chúng và sự chỉ đạo của các cấp chính quyền. Công tác truyền thông trực tiếp tại cơ sở còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Kiện toàn, tổ chức bộ máy các đơn vị chủ trì, tổ chức triển khai, theo dõi, đánh giá việc thực hiện Đề án tại các cấp; rà soát, cập nhật, đánh giá, tổng hợp các khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của loại hình thiên tai làm cơ sở đầu tư, xây dựng các công trình quy mô nhỏ phục vụ PCTT; triển khai lồng ghép kiến thức PCTT; nâng cao nhận thức cộng đồng vào một số môn học của chương trình giáo dục và bồi dưỡng quốc phòng - an ninh; tổ chức đào tạo, tập huấn; thực hiện công tác truyền thông, tuyên truyền phổ biến kiến thức về PCTT, quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng; rà soát, trang bị và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, tập huấn viên các cấp được trang bị đầy đủ kiến thức về thiên tai và năng lực để tổ chức, triển khai thực hiện các hoạt động nâng cao nhận thức về thiên tai, kỹ năng ứng phó thiên tai tại cộng đồng.
VIII. Cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai
1. Hệ thống đê điều
Trên địa bàn tỉnh có 18 tuyến đê chính gồm 08 tuyến đê sông, 06 tuyến đê cửa sông, 04 tuyến đê biển với tổng chiều dài 430,3 km đê, đi qua 63 xã, phường. Trong đó: Đê cấp I gồm: Đê Tả Hồng, Tả Hồng Hà II với tổng chiều dài 109,4km; đê cấp II gồm: Đê Tả Luộc, Tả Hồng Hà I và Hữu Trà Lý với tổng chiều dài 84,7km; đê cấp III gồm: Đê Hữu Luộc, Tả Trà Lý, Hữu Hóa, cửa sông Tả Hồng, cửa sông Tả Trà Lý, cửa sông Hữu Trà Lý, cửa sông Hữu Hóa, đê biển 5, đê biển 6, đê biển 7, đê biển 8 với tổng chiều dài 225,6km; đê cấp IV gồm: Đê cửa sông Tả Diêm Hộ, cửa sông Hữu Diêm Hộ với tổng chiều dài 10,6km.
Trên các tuyến đê có 205 cống qua đê (trong đó 12 cống đã lấp, hoành triệt); 134 kè lát mái, hộ bờ, kè mỏ hàn với tổng chiều dài 200,275km; 111 cửa khẩu qua đê; 274 điếm canh đê; 14 Hạt Quản lý đê khu vực; 89 điểm, kho bãi vật tư dự trữ phòng chống lụt bão; 45 giếng giảm áp.
Hệ thống đê sông, đê cửa sông do đê đắp tôn cao qua nhiều thời kỳ, đất đắp không đồng chất, mặt cắt ngang đê nhiều đoạn chưa đủ kích thước thiết kế, địa chất nền đê xấu, thân đê có nhiều ẩn họa… nên khi có lũ từ báo động số II trở lên và kéo dài thì nhiều tuyến đê có hiện tượng thẩm lậu, rò rỉ qua thân đê, mạch sủi qua nền đê và sạt lở trượt mái đê. Cao trình đỉnh đê một số đoạn chưa đủ cao trình đê thiết kế nên khi gặp lũ bão trùng hợp có thể bị nước tràn qua đê.
Hệ thống đê biển hiện đã được nâng cấp đảm bảo chống được bão cấp 10, triều tần suất 5%.
Hệ thống các kè bảo vệ đê, cống dưới đê từng bước được cải tạo, đầu tư nâng cấp đảm bảo phục vụ sản xuất và phòng, chống thiên tai; các tuyến kè hộ bờ, lát mái và kè mỏ thường xuyên được theo dõi, tu bổ, sửa chữa, nâng cấp. Tuy nhiên do kinh phí còn hạn hẹp nên việc đầu tư nâng cấp hệ thống các kè, cống còn hạn chế; một số kè, cống xây dựng từ lâu, đã xuống cấp, một số cống ngắn, không đảm bảo an toàn phòng chống lũ, bão và tưới tiêu.
Mặt đê cơ bản đã được cứng hóa. Tuyến đê tả Hồng và tả Luộc là đường giao thông ĐT378 mặt đê cứng hóa rộng 9m. Ngoài nhiệm vụ chống lũ, các tuyến đê đều kết hợp giao thông, tuy nhiên do còn nhiều phương tiện cơ giới vượt quá tải trọng cho phép đi trên đê, nền đê không đảm bảo nên nhiều đoạn đê mặt đê bị hư hỏng, xuống cấp cần cải tạo, mở rộng mặt để phục vụ ứng cứu hộ đê và phát triển giao thông.
2. Hệ thống công trình thủy lợi
Vùng Bắc sông Luộc có diện tích tự nhiên là 93.022ha, hiện trạng hạ tầng công trình thủy lợi tưới, cấp nước được phân theo vùng trong đê và vùng bãi ngoài đê. Đối với vùng trong đê, hạ tầng tưới, cấp nước hiện trạng có 600 công trình thủy lợi trạm bơm phục vụ tưới, trong đó 454 trạm chuyên tưới, 146 trạm tưới tiêu kết hợp, tổng lưu lượng bơm 1.653.147m3/h có diện tích tưới thực tế đạt 44.247ha.
Vùng Nam sông Luộc - Bắc Trà Lý có diện tích yêu cầu tưới 57.225ha (trong đó diện tích lúa là 43.908ha, cây hàng năm khác là 4.288ha, cây lâu năm là 942ha và nuôi trồng thủy sản là 8.079ha), nước được dẫn vào các kênh nội đồng chủ yếu qua 28 cống chủ lực dưới đê (trong đó triền sông Hồng có 01 cống, triền sông Luộc có 07 cống, triền sông Hóa có 08 cống, triền sông Trà Lý có 12 cống) lấy nước trữ vào nội đồng kênh Tiên Hưng, Sa Lung và các kênh cấp I, II để tưới trực tiếp một phần, còn tưới tiêu trực tiếp bằng bơm điện với tổng số 964 trạm bơm có tổng công suất tưới là 1.762.342m3/h (trong đó Công ty TNHH một thành viên KTCTTL Bắc Thái Bình quản lý 41 trạm, HTX nông nghiệp quản lý 923 trạm, các loại máy bơm từ 180m3/h đến 8.000m3/h).
Vùng Nam Trà Lý - Bắc sông Hồng có diện tích yêu cầu tưới 40.840ha (trong đó diện tích lúa là 29.922ha, cây hàng năm khác là 2.546ha, cây lâu năm là 633ha và nuôi trồng thủy sản là 7.719ha), trong đó nước được dẫn vào các kênh nội đồng chủ yếu qua 16 cống dưới đê (trong đó triền sông Hồng có 07 cống, triền sông Trà Lý có 09 cống), lấy nước trữ vào kênh nội đồng như kênh Kiến Giang, kênh Cổ Rồng và các kênh cấp I, II để tưới trực tiếp một phần, còn chủ yếu tưới bằng bơm điện với tổng số 534 trạm bơm có tổng công suất tưới là 1.131.800m3/h (trong đó Công ty TNHH một thành viên KTCTTL Nam Thái Bình quản lý 46 trạm, HTX nông nghiệp quản lý 488 trạm, các loại máy bơm từ 175m3/h đến 4.000m3/h).
3. Hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn
a) Hệ thống mạng lưới trạm khí tượng thủy văn (KTTV) quốc gia trên địa bàn tỉnh
Bao gồm 02 trạm khí tượng, 07 trạm thủy văn, 06 trạm đo mặn, 13 trạm đo mưa tự động Vrain. Các số liệu thực hiện đo các yếu tố về gió, mưa, mực nước, nhiệt độ, độ ẩm đa số được quan trắc bằng thiết bị tự động và tự ghi, riêng quan trắc độ mặn chủ yếu vẫn là thủ công. Hiện nay, trạm Khí tượng Hải Văn Ba Lạt tại xã Hưng Phú đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét quyết định đưa vào hoạt động chính thức.
b) Hệ thống trạm KTTV chuyên dùng của tỉnh
Hiện có 19 trạm đo mưa tự động do Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Hưng Yên quản lý, vận hành.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có các trạm KTTV chuyên dùng phục vụ hoạt động điều tiết tưới, tiêu nước của các công ty như 13 trạm, điểm đo mưa, mực nước, mặn của Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Nam Thái Bình; 08 trạm, điểm đo mưa, mực nước của Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Thái Bình. Năm 2021, có thêm 10 trạm đo mưa tự động do Quỹ cộng đồng phòng tránh thiên tai tài trợ.
Các số liệu thực đo về gió, mưa, mực nước, nhiệt độ, độ ẩm đa số được quan trắc bằng thiết bị tự động hoặc tự ghi, riêng quan trắc độ mặn chủ yếu vẫn là thủ công.
Hệ thống quan trắc, đo đạc, cảnh báo trên toàn tỉnh cơ bản đáp ứng được yêu cầu trong công tác PCTT; tuy nhiên, với tình hình diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp và cực đoan, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cần tăng cường công tác quan trắc, đo đạc, cảnh báo thêm về vấn đề nước dâng, xâm nhập mặn, lốc, sét.
c) Hệ thống giám sát, cảnh báo thiên tai
Hệ thống giám sát, cảnh báo thiên tai trong tỉnh đã có camera giám sát tình trạng đê điều tại đê Nhật Tảo, kè Nhật Tảo, thượng lưu, hạ lưu cống Lân I. Các trạm đo mưa, đo gió tự động tại Hạt Quản lý đê Tiền Hải và Thái Thụy, camera giám sát của Tổng cục tại đê biển 5, 6,7, 8 nhằm giám sát, cảnh báo đối với các vị trí xung yếu của công trình phòng, chống thiên tai (PCTT).
Cần tăng cường đầu tư xây dựng thêm Camera giám sát tình trạng đê điều ở tất cả các tuyến đê, đặc biệt là các vị trí công trình xung yếu.
Hiện nay, tỉnh đang tiếp tục triển khai “Lắp đặt hệ thống kết nối camera giám sát công tác phòng, chống thiên tai cho các cảng cá, khu neo đậu và một số công trình đê điều, thủy lợi xung yếu về Trung tâm Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh), Văn phòng thường trực cơ quan phòng, chống thiên tai”. Dự kiến lắp tại 42 vị trí gồm 64 camera giám sát.
d) Các khu neo đậu tàu thuyền, tránh trú bão
Tỉnh hiện có 04 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp tỉnh tại cửa sông Trà Lý, cửa sông Diêm Hộ và bến cá Cửa Lân, khu neo đậu tránh trú bão Cửa Lân với sức chứa tại vùng nước neo đậu khoảng 852 chiếc, loại tàu lớn nhất được vào khu neo đậu tránh trú bão có công suất 300CV.
Khu neo đậu tàu thuyền, tránh trú bão cơ bản đáp ứng được nhu cầu neo đậu, tránh trú bão; tuy nhiên, để phát triển kinh tế biển, giao thông vận tải thủy; cần nâng cấp, đầu tư xây dựng thêm khu neo đậu phục vụ PCTT.
e) Hệ thống điện, thông tin liên lạc, truyền thanh, truyền hình
Về lưới điện trung áp và hạ áp, hệ thống lưới điện đã phủ kín các xã, đến tận các thôn xóm và các hộ nông dân nông thôn. Hàng năm, Công ty Điện lực Hưng Yên xây dựng các phương án: PCTT&TKCN, Giảm thiểu vi phạm hành lang bảo vệ an toàn công trình Điện lực, Xử lý nhanh sự cố lưới điện phù hợp với đặc điểm từng khu vực, từng địa phương; chuẩn bị đầy đủ về nhân lực, vật tư, phương tiện, tổ chức kiểm tra định kỳ các đường dây và trạm trước mùa mưa bão, chặt, tỉa cây trong và ngoài hành lang có nguy cơ đổ vào đường dây, xử lý dứt điểm các trường hợp vi phạm hành lang bảo vệ công trình Điện lực; tổ chức kiểm tra trước và ngay sau bão, khắc phục kịp thời các khiếm khuyết và các hiện tượng không bình thường của thiết bị và lưới điện, góp phần hạn chế sự cố, thiệt hại do bão gây ra, đặc biệt khu vực lưới điện hạ áp nông thôn để đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn tỉnh.
f) Hệ thống giao thông phục vụ cứu hộ, cứu nạn
Toàn tỉnh có mạng lưới giao thông hoàn thiện, gồm các tuyến quốc lộ 10, quốc lộ 39, quốc lộ 37 và quốc lộ 37B; các tuyến đường giao thông nông thôn gồm đường liên xã, đường trục xã và thôn; 100% xã, phường có đường ô tô về trung tâm xã tạo thành một hệ thống khép kín từ tỉnh về các xã, bảo đảm được sự thông suốt trong mọi thời tiết.
g) Cơ sở hạ tầng khác kết hợp với PCTT
- Hệ thống cơ sở hạ tầng khác (giao thông, nhà ở, trường học,…) luôn được quan tâm đầu tư đảm bảo cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời góp phần phục vụ công tác phòng, chống thiên tai; việc lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai được thực hiện ngay từ các giai đoạn lập quy hoạch, kế hoạch và đầu tư dự án, xây dựng công trình.
- Các công trình công cộng được đầu tư nâng cấp xây dựng đặc biệt tại các khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai, đảm bảo mục đích sử dụng cũng như có thể sử dụng làm khu tránh trú an toàn khi có thiên tai xảy ra.
- Hệ thống công trình, cơ sở hạ tầng có thể sử dụng làm nơi tập kết, sơ tán dân đến: nhà ở kiên cố của nhân dân, công trình công cộng bao gồm: công trình giáo dục (nhà trẻ, trường học các cấp); công trình y tế (bệnh viện, trạm y tế…); trụ sở cơ quan…
h) Nguồn nhân lực và các tổ chức xã hội
- Hằng năm lực lượng tham gia công tác phòng, chống thiên tai đã được rà soát, kiện toàn bao gồm cả bộ máy chỉ huy (Ban Chỉ huy PCTT và TKCN Thành phố, các sở, ban, ngành, Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự cấp xã) cũng như lực lượng chuyên trách, lực lượng xung kích và các lực lượng liên quan trực tiếp đến công tác PCTT và TKCN tại cấp xã và các sở, ban, ngành Thành phố. Lực lượng quân đội, công an được huy động tham gia công tác PCTT và TKCN tại các địa phương, đơn vị theo kế hoạch hiệp đồng hằng năm.
- Các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội ngoài việc cử cán bộ tham gia vào bộ máy chỉ huy, điều hành công tác PCTT và TKCN còn chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động công tác PCTT theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
i) Nguồn lực tài chính dự phòng
Ngân sách các cấp: Tỉnh, xã đều có nguồn dự phòng cho các tình huống khẩn cấp và mua sắm PCTT, khắc phục sự cố khẩn cấp các công trình PCTT, hỗ trợ thiệt hại do thiên tai gây ra...
Ngân sách tỉnh phân bổ cho các sở, ngành, đơn vị, địa phương đầu tư, trang bị những điều kiện thiết yếu phục vụ công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội.
Quỹ phòng, chống thiên tai: Dùng để cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ các hoạt động ứng phó thiên tai; hỗ trợ các hoạt động phòng ngừa thiên tai trên địa bàn tỉnh.
IX. Đánh giá thực hiện lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong các chương trình, dự án, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, nội dung phòng, chống thiên tai được lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn (05 năm) và hàng năm của tỉnh; việc thực hiện lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong các chương trình, dự án, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng do nguồn lực còn hạn chế, dẫn đến bố trí kinh phí của các cấp, các ngành cho công tác phòng, chống thiên tai còn hạn chế; thời gian tới, để đảm bảo phát triển bền vững cần tăng cường hơn nữa công tác phối hợp, giám sát, đánh giá thực hiện lồng ghép phòng, chống thiên tai trong việc thực hiện các chương trình, dự án, kế hoạch, quy hoạch của các cấp, các ngành.
X. Đánh giá về công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai
Công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai trên địa bàn tỉnh luôn được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo và triển khai quyết liệt, kịp thời. Lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Chỉ huy cấp tỉnh, cơ quan thường trực Ban Chỉ huy, Văn phòng thường trực, thành viên Ban Chỉ huy đã thành lập các đoàn công tác xuống các địa phương bị thiệt hại trực tiếp chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả; thăm hỏi động viên kịp thời các gia đình có người bị chết, bị thương, nhà ở bị thiệt hại và hỗ trợ bước đầu giúp người dân giảm bớt khó khăn; tổng hợp báo cáo theo quy định; báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ. Phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí được cấp để khắc phục hư hỏng về công trình cơ sở hạ tầng, đồng thời rà soát, đề xuất đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp các công trình phòng, chống thiên tai tại các khu vực xung yếu, hỗ trợ sửa chữa nhà ở ổn định đời sống Nhân dân.
Với những thiệt hại do thiên tai gây ra, các đơn vị, địa phương đã chủ động khắc phục theo phương châm “bốn tại chỗ”, đồng thời các cấp chính quyền đã huy động tối đa nguồn lực nhân lực, vật lực tại chỗ để hỗ trợ Nhân dân khắc phục và sớm ổn định đời sống. Đối với thiệt hại về nhà ở, sản xuất của nhân dân: Chính quyền địa phương và người dân đã huy động các lực lượng tại chỗ để giúp nhân dân dọn dẹp, sửa chữa, dựng lại nhà cửa; hỗ trợ ổn định đời sống; hỗ trợ nhân lực để chăm sóc cây trồng, cung ứng giống vật tư nông nghiệp để gieo cấy lại hoặc chuyển sang cây trồng khác phù hợp với thời vụ.
- Năm 2025, thiên tai đã gây ra một số thiệt hại đối với tỉnh, đặc biệt là ảnh hưởng của bão số 3, số 5, số 10 và hoàn lưu bão đã gây mưa lớn, lũ trên các tuyến sông của tỉnh. Xác định Hưng Yên trong vùng ảnh hưởng bão, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung rất cao, bám sát và triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ động ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo để ứng phó với bão, lũ. Kịp thời huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tham gia chống bão, lũ. Nhờ vậy, đã giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại do bão lũ gây ra:
+ Khắc phục hậu quả do bão, mưa lớn, lốc xoáy
Ngay sau khi thiên tai xảy ra, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các sở, ban, ngành đã tổ chức thăm hỏi, động viên, hỗ trợ đối với các gia đình có người bị nạn theo đúng quy định; phối hợp, hỗ trợ gia đình nạn nhân lo hậu sự chu đáo cho những người bị thiệt mạng theo phong tục của địa phương; triển khai công tác cứu chữa người bị thương do ảnh hưởng của thiên tai gây ra với tinh thần khẩn trương nhất, kịp thời nhất; huy động lực lượng khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, nhất là bảo đảm chỗ ở, khôi phục các hoạt động thiết yếu về giao thông, điện, nước, viễn thông, y tế, giáo dục; chủ động các biện pháp khắc phục, phục hồi sản xuất.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã hỗ trợ tổng số tiền 5.020.000.000 đồng hỗ trợ cho các hộ gia đình có người bị chết, bị thương và bị thiệt hại về nhà ở do ảnh hưởng của cơn bão số 10 gây ra theo đúng quy định (trong đó: Mức hỗ trợ 20 triệu/người bị chết, 5 triệu/người bị thương, 80 triệu đồng/hộ đối với hộ xây mới nhà, 40 triệu đồng/hộ đối với hộ sửa chữa nhà).
Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo các Công ty khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh chủ động mở các các cống để tiêu kiệt nước trong hệ thống đề phòng mưa lớn gây ngập úng cho lúa và hoa màu, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị; Ủy ban nhân dân các xã, phường chỉ đạo các đơn vị chức năng khẩn trương khơi thông dòng chảy, triệt để tiêu nước trên mặt ruộng bảo vệ sản xuất. Sau bão, tiếp tục chỉ đạo các Công ty khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh tập trung tối đa các biện pháp tiêu úng cho các khu vực bị ngập úng nhằm giảm thiểu thiệt hại, sớm ổn định đời sống nhân dân và sản xuất; tập trung rà soát, đánh giá cụ thể thiệt hại diện tích lúa mùa, hoa màu, thủy sản, chủ động các biện pháp khắc phục, phục hồi sản xuất.
+ Khắc phục hậu quả do lũ
Kiểm tra, rà soát, gia cố lại các bờ bao, đê bối bị vỡ, tràn, các vị trí tuyến đê có sự cố nhằm đảm bảo an toàn hệ thống đê điều; sửa chữa, khôi phục hệ thống đường giao thông bị hư hại. Rà soát, đánh giá cụ thể, chi tiết thiệt hại về sản xuất nông nghiệp, về hạ tầng.
Công tác khắc phục các sự cố về công trình đê điều, thủy lợi: Các sự cố về công trình đê điều đã được xử lý hoàn thành ngay từ giờ đầu theo phương châm “bốn tại chỗ”.
XI. Đánh giá về nguồn lực tài chính thực hiện công tác phòng, chống thiên tai
Các nguồn lực tài chính phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh được huy động từ nhiều nguồn, bao gồm: ngân sách Trung ương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; ngân sách địa phương; Quỹ phòng, chống thiên tai tỉnh; cùng với các nguồn hỗ trợ, đóng góp từ tổ chức, doanh nghiệp và Nhân dân thông qua Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Các nguồn lực này đã góp phần triển khai các hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn tỉnh một cách kịp thời, có hiệu quả. Tuy nhiên, nguồn lực tài chính dành cho công tác phòng, chống thiên tai vẫn còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn.
Năm 2025, tỉnh Hưng Yên đã duy tu, bảo dưỡng được 4,81km đê, khoan phụt vữa gia cố thân đê được 2km, xử lý ẩn họa thân đê được 6,6km, tu sửa hư hỏng kè được 0,33km, gia cố đường hành lang chân đê, dốc lên xuống đê được 1,6km. Nâng cấp, tu bổ công trình đê, kè, cống: 55,96km đê, 1,44km kè, 06 cống.
Để đảm bảo an toàn cho đê điều, thủy lợi cũng như phát triển dân sinh kinh tế; trong những năm gần đây, Sở đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đã trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đầu tư nâng cấp, tu bổ các công trình đê, kè, cống từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Trong đó có các dự án lớn, trọng điểm như: Dự án tu bổ xung yếu hệ thống đê điều giai đoạn 2021-2025; Dự án Quản lý tổng hợp rủi ro lũ lụt thích ứng biến đổi khí hậu (CAIFRM/ADB10); Dự án Nâng cao năng lực ứng phó thiên tai vùng ven biển Việt Nam - WB10; Dự án Bảo tồn và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển khu vực Đồng bằng sông Hồng - KfW11; Dự án Xử lý cấp bách tuyến đê I xã Bình Thanh, Bình Định, Hồng Tiến, huyện Kiến Xương; ngoài ra tỉnh đã xây dựng Kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2026-2030 với tổng kinh phí trên 15.000 tỷ đồng...
Chương V
ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI
I. Phạm vi đánh giá
- Phạm vi đánh giá theo không gian: Đánh giá trên phạm vi toàn tỉnh Hưng Yên và mức độ chi tiết đến cấp xã.
- Phạm vi đánh giá theo thời gian: Thời gian đánh giá trong tương lai có thể xem xét 30-50 năm do tác động của BĐKH, chuỗi số liệu thu thập về độ lớn của thiên tai và thiệt hại trong quá khứ trong vòng từ 5 đến 10 năm gần đây, ngoài ra liệt kê các trận thiên tai lịch sử, thiên tai lớn xảy ra trước đó.
II. Phương pháp đánh giá
Do thời gian và nguồn lực thực hiện còn hạn chế, vì vậy thực hiện đánh giá rủi ro thiên tai ở mức độ cơ bản, trong những năm tới, sẽ tiến hành đánh giá rủi ro thiên tai chi tiết đến cấp xã cho từng loại hình thiên tai xảy ra trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Đánh giá rủi ro thiên tai ở mức độ cơ bản được đánh giá thông qua hệ thống bảng đánh giá dựa vào các trận thiên tai xảy ra trong quá khứ, tác động đến con người, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, năng lực ứng phó, tình trạng dễ bị tổn thương.
Các bước đánh giá rủi ro thiên tai thực hiện theo sơ đồ sau:

Mục tiêu của đánh giá thiên tai là để xác định các loại thiên tai, cấp độ rủi ro thiên tai, nguy cơ và người dân, cộng đồng có thể phải đối mặt với các loại hình thiên tai trong khu vực.
Tiêu chí phân cấp với từng cấp độ rủi ro thiên tai:

Cấp độ rủi ro thiên tai do áp thấp nhiệt đới, bão có 3 cấp, thấp nhất là cấp 3 và cao nhất là cấp 5, như trong bảng:
Bảng 5.1: Phân cấp độ rủi ro do áp thấp nhiệt đới, bão

Cấp độ rủi ro thiên tai do lốc, sét:
Bảng 5.2: Phân cấp rủi ro thiên tai do lốc, sét

Cấp độ rủi ro thiên tai do mưa lớnn, như trong bảng:
Bảng 5.3: Phân cấp rủi ro thiên tai do mưa lớn

Cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng, như trong bảng:
Bảng 5.4: Phân cấp rủi ro thiên tai do nắng nóng

Cấp độ rủi ro thiên tai do hạn hán, như trong bảng:
Bảng 5.5: Phân cấp độ rủi ro thiên tai do hạn hán

Cấp đô ̣rủi ro thiên tai do rét hại, sương muối, như trong bảng:
Bảng 5.6: Phân cấp độ rủi ro thiên tai do rét hại, sương muối

Cấp đô ̣rủi ro thiên tai do lũ, ngập lụt, như trong bảng:
Bảng 5.7: Phân cấp độ rủi ro thiên tai do lũ, ngập lụt

Cấp đô ̣rủi ro thiên tai do lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, như trong bảng:
Bảng 5.8: Phân cấp độ rủi ro thiên tai do mưa lũ hoặc dòng chảy

Cấp đô ̣rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn, như trong bảng:
Bảng 5.9: Phân cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn

III. Nội dung đánh giá
1. Xác định loại hình thiên tai thường gặp
Hưng Yên nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ; các loại thiên tai điển hình bao gồm: Bão, ATNĐ, mưa lớn, lốc sét, lũ, ngập lụt, nắng nóng, sạt lở đất, rét hại, sương muối, hạn hán, xâm nhập mặn... kết hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.
2. Đánh giá cấp độ rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Căn cứ đặc điểm và tình hình thiên tai trên địa bàn tỉnh giai đoạn vừa qua, căn cứ các quy định tại Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai, xác định các cấp độ rủi ro thiên tai tương ứng với các loại hình thiên tai đã xảy ra những năm gần đây và có thể xảy ra trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Những loại hình thiên tai có khả năng xảy ra trên địa bàn tỉnh và cấp độ rủi ro thiên tai theo quy định:
- Cấp độ rủi ro thiên tai do áp thấp nhiệt đới, bão: Thấp nhất là cấp 3 và cao nhất là cấp 5.
- Cấp độ rủi ro thiên tai do lũ, ngập lụt: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 3.
- Cấp độ rủi ro thiên tai do lốc, sét, mưa đá: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 2.
- Cấp độ rủi ro thiên tai do mưa lớn: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 3.
- Cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 3.
- Cấp độ rủi ro thiên tai do hạn hán: Cao nhất là cấp 1.
- Cấp độ rủi ro thiên tai do rét hại, sương muối: Cao nhất là cấp 1
- Cấp độ rủi ro thiên tai do sương mù: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 2
- Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 3.
- Cấp độ rủi ro thiên tai do nước dâng: Thấp nhất là cấp 2 và cao nhất là cấp 5.
- Cấp độ rủi ro thiên tai do gió mạnh trên biển: Thấp nhất là cấp 2 và cao nhất là cấp 3.
Chi tiết đánh giá cấp độ rủi ro thiên tai cho từng loại hình thiên tai như sau:
2.1. Bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ)
Trung bình mỗi năm, tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của 04 - 06 cơn bão, ATNĐ. Về thời gian, bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến địa bàn tỉnh chủ yếu từ tháng 7 đến tháng 10, cao điểm vào các tháng 8 và 9. Trong nhiều trường hợp, bão không đổ bộ trực tiếp vào toàn bộ địa bàn nhưng hoàn lưu sau bão, kết hợp mưa lớn và điều tiết xả lũ của hệ thống hồ chứa thượng lưu, đã làm gia tăng nhanh mực nước sông, gây ngập úng diện rộng và phát sinh các tình huống thiên tai tổng hợp. Đối với khu vực ven biển, cửa sông và ngoài đê bối, bão còn đi kèm nguy cơ gió mạnh trên biển, sóng lớn, nước dâng, tràn bờ bao và mất an toàn đối với tàu thuyền, khu neo đậu, vùng nuôi trồng thủy sản và dân cư sinh sống tại khu vực thấp trũng.
Diễn biến giai đoạn 2020-2025 cho thấy bão, áp thấp nhiệt đới trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có xu thế phức tạp, cực đoan hơn và tác động ngày càng mang tính liên vùng. Giai đoạn 2020-2022, khu vực Hưng Yên cũ chịu ảnh hưởng từ 4 đến 6 cơn mỗi năm; khu vực Thái Bình cũ chịu tác động trực tiếp từ 2 đến 4 cơn bão mỗi năm, trong đó nhiều trận bão gây mưa lớn kéo dài, ngập úng, thiệt hại nông nghiệp và phát sinh sự cố đê, kè, bờ bao. Năm 2023 mức độ ảnh hưởng giảm hơn, song vẫn ghi nhận các hiện tượng bất lợi do hoàn lưu bão và mưa lớn cuối vụ. Năm 2024 và năm 2025 là hai năm điển hình cho xu thế thiên tai cực đoan, trong đó bão số 3 (Yagi) năm 2024 và bão số 10 năm 2025 đã gây tác động rất lớn trên phạm vi toàn tỉnh.
Bảng 5.10: Tổng hợp ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới giai đoạn 2020 - 2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Số cơn bão, ATNĐ hoạt động trên Biển Đông |
Số cơn bão ảnh hưởng đến Hưng Yên, Thái Bình |
Tổng hợp diễn biến, tác động chính |
|
2020 |
14 cơn bão, 01 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 06 cơn bão ; Thái Bình (cũ): 02 cơn bão trực tiếp |
Hưng Yên (cũ) chịu ảnh hưởng nổi bật của bão số 2 (Sinlaku) và bão số 7 (Nangka), gây mưa 100–200 mm, riêng Tiên Lữ 360,8 mm; phát sinh nứt, sạt mái đê tả sông Hồng, sạt lở kè Phi Liệt và kè Mai Xá. Thái Bình (cũ) chịu tác động trực tiếp của bão số 2 và số 7, gây mưa lớn, ngập úng nuôi trồng thủy sản, hư hỏng giao thông, điện và một số tuyến đê, kè ven sông – ven biển. |
|
2021 |
09 cơn bão, 03 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 04 cơn bão ; Thái Bình (cũ): 04 cơn bão, 01 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ) chịu ảnh hưởng của bão số 2, 3, 7, 8; trong đó bão số 2 (Koguma) và bão số 7 (Lionrock) gây mưa lớn, phát sinh sự cố kè, mái đê và ảnh hưởng hoa màu. Thái Bình (cũ) chịu tác động mạnh của bão số 7 và đặc biệt bão số 8; lúa mùa đổ nghiêng 5.271 ha, cây màu vụ đông ảnh hưởng 4.930 ha, thủy sản bị ảnh hưởng 1.461 ha, xảy ra lỗ rò, tràn và vỡ bờ bao khu vực đê bối. |
|
2022 |
07 cơn bão, 02 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 05 cơn bão ; Thái Bình (cũ): 03 cơn bão |
Hưng Yên (cũ) chịu ảnh hưởng của bão số 1, 2, 3, 4, 6; riêng bão số 2 (Mulan) gây mưa 200–330 mm, bão số 3 (Ma-on) gây mưa 60–190 mm. Thái Bình (cũ) chịu ảnh hưởng của bão số 2, 3, 4; mưa lớn do ATNĐ suy yếu từ bão số 2 gây úng 3.449,1 ha lúa, 2.119 ha hoa màu; năm 2022 ghi nhận 07 người chết, 842 ha lúa và 1.354 ha rau màu bị ảnh hưởng, 04 đoạn đê – kè sạt lở và 03 vụ chìm tàu. |
|
2023 |
05 cơn bão, 02 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 01 cơn bão ; Thái Bình (cũ): 01 cơn bão, 01 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ) chỉ chịu ảnh hưởng của bão số 1 (Talim), tác động chủ yếu là gió mạnh và mưa nhỏ. Thái Bình (cũ) chịu ảnh hưởng của bão số 1 và 01 ATNĐ; mưa rất to cuối tháng 9 làm ngập khoảng 11 nghìn ha lúa mùa, trên 3 nghìn ha cây vụ đông và ghi nhận 02 người chết do sét. |
|
2024 |
Hưng Yên: 09 cơn bão, 01 ATNĐ; Thái Bình: 10 cơn bão, 01 ATNĐ |
Hưng Yên (cũ): 02 cơn bão ; Thái Bình (cũ): 02 cơn bão |
Tỉnh Hưng Yên chịu tác động nổi bật của bão số 2 (Prapiroon) và bão số 3 (Yagi). Tại Hưng Yên (cũ), hoàn lưu bão số 2 gây mưa 150-250 mm; bão số 3 gây gió mạnh cấp 7- 8, giật 9-11, mưa 310-550 mm, lũ sông Hồng vượt báo động III 0,50 m; thiệt hại khoảng 3.637,6 tỷ đồng. Tại Thái Bình (cũ), bão số 3 và lũ tháng 9 tạo nên đợt lũ đặc biệt lớn, nhiều trạm vượt báo động III; riêng trạm Thái Bình vượt mức lũ lịch sử năm 1971; thiệt hại khoảng 1.479 tỷ đồng. |
|
2025 |
15 cơn bão, 05 ATNĐ |
Tỉnh Hưng Yên sau hợp nhất: 04 cơn bão và 01 ATNĐ |
Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng của bão số 3, bão số 5, ATNĐ số 02, bão số 6 và bão số 10. Bão số 3 gây gió cấp 7-8, mưa to đến rất to; bão số 5 gây gió mạnh ven biển và phía nam tỉnh, mưa có nơi trên 300 mm; bão số 10 gây gió cấp 7-8, mưa 40-110 mm, nước dâng 0,5-0,7 m và một trận lốc xoáy lớn tại khu vực Thái Thụy. Riêng bão số 10 và lốc xoáy làm 02 người chết, 17 người bị thương, 560 nhà bị hư hỏng, thiệt hại ước khoảng 68,9 tỷ đồng. |
Qua tổng hợp cho thấy, tác động của bão, áp thấp nhiệt đới trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có sự khác biệt theo từng tiểu vùng nhưng đều có xu hướng gia tăng về tính tổ hợp. Khu vực phía bắc tỉnh, bao gồm vùng ven sông Hồng, sông Luộc và khu vực nội đồng Hưng Yên cũ, chịu tác động nổi bật bởi mưa lớn, ngập úng, lũ trên sông và sự cố đê điều, kè, cống, trạm bơm. Trong khi đó, khu vực phía nam và ven biển của tỉnh, bao gồm không gian Thái Bình cũ, ngoài mưa lớn và ngập úng còn chịu tác động trực tiếp bởi gió mạnh, sóng lớn, nước dâng, triều, tràn bờ bao, vỡ bờ bao, nguy cơ mất an toàn đối với tàu thuyền, khu neo đậu và nuôi trồng thủy sản ngoài đê bối.
Bài học nổi bật từ giai đoạn 2020–2025 là bão, áp thấp nhiệt đới trên địa bàn tỉnh không còn là rủi ro đơn lẻ về gió mà ngày càng gắn chặt với mưa lớn kéo dài, lũ lớn, nước dâng, triều và các sự cố công trình. Đợt bão số 3 năm 2024 cho thấy chỉ trong một thời gian ngắn, thiên tai có thể đồng thời gây gió mạnh, mưa rất lớn, lũ vượt báo động III trên nhiều tuyến sông, ngập úng diện rộng, hư hỏng công trình, gián đoạn điện – giao thông – thông tin và ảnh hưởng lớn đến sản xuất, dân sinh trên phạm vi toàn tỉnh. Điều này đặt ra yêu cầu phải đánh giá bão, áp thấp nhiệt đới trong mối liên hệ tổng hợp với các loại hình thiên tai khác, thay vì xem xét riêng rẽ từng hiện tượng.
Bảng 5.11: Đánh giá mức độ rủi ro và dễ bị tổn thương của một số trận bão, áp thấp nhiệt đới điển hình
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Tên cơn bão/ATNĐ điển hình |
Đặc trưng chính |
Mức độ thiệt hại, tác động nổi bật |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|
1 |
2020 |
Bão số 7 (Nangka) |
Gió mạnh cấp 6; giật cấp 8. Mưa 100–200 mm; riêng Tiên Lữ 360,8 mm |
Gây mưa lớn diện rộng, ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp; phát sinh nứt, sạt mái đê tả sông Hồng, sạt lở kè Phi Liệt và kè Mai Xá. |
Cao |
|
2 |
2021 |
Bão số 8 |
Gió mạnh cấp 6; giật cấp 8 |
Lúa mùa đổ nghiêng 5.271 ha, cây màu vụ đông ảnh hưởng 4.930 ha, thủy sản bị ảnh hưởng 1.461 ha; xuất hiện lỗ rò, tràn và vỡ bờ bao tại khu vực đê bối. |
Cao |
|
3 |
2022 |
Bão số 3 (Maon) |
Gió giật cấp 6. Mưa to đến rất to 200–330 mm trên địa bàn Hưng Yên cũ |
Làm gia tăng ngập úng, áp lực tiêu thoát nước, ảnh hưởng lúa, hoa màu, công trình đê điều, kè và hạ tầng thủy lợi. |
Trung bình – cao |
|
4 |
2024 |
Bão số 3 (Yagi) |
Gió mạnh 7–8, giật 10–12. mưa 310–550 mm; lũ sông Hồng vượt BĐIII 0,50 m |
Là sự kiện thiên tai nghiêm trọng nhất giai đoạn nghiên cứu; tổng thiệt hại trên địa bàn tỉnh hiện nay ước khoảng 5.116,6 tỷ đồng; nhiều trạm thủy văn vượt BĐIII, trong đó trạm Thái Bình vượt lũ lịch sử năm 1971. |
Rất cao |
|
5 |
2025 |
Bão số 10 |
Gió mạnh cấp 7–8, giật cấp 9- 10 |
Làm 02 người chết, 17 người bị thương, 560 nhà bị hư hỏng; ảnh hưởng lúa, nuôi trồng thủy sản, hệ thống điện, bờ bao và đê bối; xảy ra lốc xoáy lớn tại khu vực Thái Thụy. |
Cao |
Bảng 5.12: Khu vực trọng điểm và nhóm đối tượng dễ bị tổn thương do bão, áp thấp nhiệt đới trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Khu vực/nhóm đối tượng |
Dạng tác động chính của bão, ATNĐ |
Mức độ phơi lộ – dễ bị tổn thương |
Yêu cầu trọng tâm trong phòng, chống |
|
Khu vực ven biển, cửa sông, bãi triều, ngoài đê bối |
Gió mạnh, sóng lớn, nước dâng, tràn bờ bao, mất an toàn tàu thuyền và nuôi trồng thủy sản |
Rất cao; chịu tác động trực tiếp của bão, gió mạnh trên biển, nước dâng và mưa bão kết hợp triều |
Kiểm đếm, quản lý tàu thuyền; sơ tán dân tại khu vực xung yếu; bảo vệ đê biển, đê cửa sông, khu neo đậu, vùng nuôi trồng thủy sản. |
|
Khu vực ven sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa; vùng bãi sông, đê bối, bờ bao |
Mưa lớn, lũ lên nhanh, tràn bờ bao, thẩm lậu, sạt trượt mái đê - kè |
Cao; dễ phát sinh sự cố công trình khi bão kết hợp lũ lớn và nước rút nhanh |
Theo dõi sát mực nước; kiểm tra, hộ đê; chuẩn bị vật tư, phương tiện xử lý sự cố ngay từ giờ đầu. |
|
Khu vực nội đồng thấp trũng, đô thị, khu dân cư tập trung |
Ngập úng diện rộng, đổ gãy cây xanh, tốc mái nhà, gián đoạn giao thông - điện - thông tin |
Cao tại các đô thị, khu dân cư có mật độ cao; đặc biệt bất lợi khi mưa lớn kéo dài |
Tổ chức tiêu úng, cảnh báo ngập sâu; chằng chống nhà ở, công trình; bảo đảm giao thông, điện, thông tin và điểm sơ tán an toàn. |
|
Sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản |
Đổ, ngập, dập nát cây trồng; hư hại chuồng trại, ao đầm, lồng bè |
Cao; thiệt hại lớn về sinh kế và thu nhập sau bão |
Điều chỉnh thời vụ, bảo vệ sản xuất, thu hoạch sớm diện tích đến kỳ; gia cố chuồng trại, ao đầm; chuẩn bị vật tư, giống và phục hồi sản xuất sau thiên tai. |
|
Hệ thống điện, giao thông, thông tin liên lạc, trường học, cơ sở y tế, công trình trọng yếu |
Mất điện, đổ cột điện, hư hỏng công trình, chia cắt giao thông, gián đoạn dịch vụ công |
Rất cao trong các đợt bão mạnh hoặc bão kết hợp mưa lũ, ngập sâu |
Bảo vệ công trình trọng yếu; bố trí lực lượng, phương tiện, vật tư trực sẵn sàng; khôi phục nhanh điện, nước, thông tin, giao thông sau bão. |
Cấp độ rủi ro thiên tai do áp thấp nhiệt đới, bão: Thấp nhất là cấp 3 và cao nhất là cấp 5.
Từ các phân tích trên có thể nhận định rằng bão, áp thấp nhiệt đới tiếp tục là loại hình thiên tai trọng điểm, có mức độ nguy hiểm cao đối với tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2026–2030. Về xu thế, số lượng cơn bão ảnh hưởng trực tiếp có thể không tăng đều qua từng năm, nhưng cường độ tác động thực tế đến địa bàn có xu hướng mạnh hơn do mưa cực đoan, tổ hợp bão - mưa lớn - lũ - nước dâng xuất hiện thường xuyên hơn, thời gian hình thành rủi ro ngắn hơn và phạm vi ảnh hưởng rộng hơn. Vì vậy, trong kế hoạch phòng, chống thiên tai của tỉnh cần tiếp tục xác định bão, áp thấp nhiệt đới là kịch bản ưu tiên cao trong chỉ đạo, điều hành, bố trí nguồn lực, bảo vệ công trình trọng điểm, sơ tán dân cư và khôi phục nhanh các hoạt động thiết yếu sau thiên tai.
Trọng tâm phòng, chống đối với loại hình này là nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và truyền tin sớm; kiểm đếm, quản lý chặt chẽ tàu thuyền; rà soát phương án bảo vệ đê điều, bờ bao, đê bối, cống lớn, trạm bơm đầu mối, khu neo đậu tránh trú bão, vùng nuôi trồng thủy sản; cập nhật phương án sơ tán dân ở khu vực ven biển, cửa sông, ngoài đê, vùng thấp trũng và khu vực có công trình không bảo đảm an toàn; đồng thời chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vật tư, phương tiện và hậu cần theo phương châm “4 tại chỗ” để xử lý kịp thời các tình huống thiên tai phức hợp phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh.
2.2. Mưa lớn
Mưa lớn là loại hình thiên tai xuất hiện thường xuyên trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, có phạm vi tác động rộng, diễn biến phức tạp và thường gắn với các hình thế thời tiết bất lợi như rãnh áp thấp, dải hội tụ nhiệt đới, hội tụ gió trên cao, không khí lạnh nén rãnh thấp, hoàn lưu bão hoặc áp thấp nhiệt đới. Với đặc điểm địa hình thấp trũng, mạng lưới sông Hồng - Luộc - Trà Lý - Hóa dày đặc, đồng thời có cả khu vực đồng bằng nội địa, cửa sông và ven biển, mưa lớn không chỉ gây ngập úng diện rộng đối với khu dân cư, đô thị và vùng sản xuất nông nghiệp mà còn làm gia tăng nguy cơ lũ trên các sông chính, tràn bờ bao, mất an toàn công trình thủy lợi, đê điều và gián đoạn hoạt động kinh tế - xã hội.
Giai đoạn 2020-2025 cho thấy mưa lớn trên địa bàn tỉnh có xu thế xuất hiện với tần suất cao, cường độ ngày càng cực đoan hơn và gắn chặt với các tổ hợp bất lợi giữa bão - lũ - triều. Ở khu vực Hưng Yên cũ, số đợt mưa lớn diện rộng dao động từ 6 đến 19 đợt/năm; nổi bật có đợt mưa ngày 07-08/6/2021 với lượng mưa phổ biến 50-150 mm, riêng thành phố Hưng Yên đạt 183,6 mm; đợt 10-12/8/2022 do bão số 2 đạt 200-330 mm; đợt 22-25/7/2024 do hoàn lưu bão số 2 đạt 150-250 mm, riêng thành phố Hưng Yên 271,9 mm; đợt 07-12/9/2024 do bão số 3 cho tổng lượng mưa 310-550 mm, riêng Phù Cừ 578 mm.
Ở khu vực Thái Bình cũ, mưa lớn xuất hiện nhiều trong các năm 2020-2022 và đặc biệt nghiêm trọng trong năm 2024. Năm 2023, rìa phía bắc áp thấp nhiệt đới kết hợp rìa tây nam áp cao lục địa tăng cường đã gây một đợt mưa rất lớn cuối tháng 9, lượng mưa phổ biến khoảng 300 mm, có nơi cao hơn như Đông Hưng 465,8 mm, Thái Phúc 384,6 mm, Tân Lập 360,3 mm; ảnh hưởng trực tiếp đến trên 11.000 ha lúa mùa và hơn 6.700 ha rau màu vụ đông. Năm 2024, mưa do bão số 3 và hoàn lưu sau bão đạt trung bình toàn khu vực 484,6 mm, nơi cao nhất tại Tiền Hải đạt 623,3 mm, làm phát sinh đợt lũ đặc biệt lớn trên hệ thống sông tháng 9/2024.
Năm 2025 toàn tỉnh Hưng Yên ghi nhận 08 đợt mưa lớn diện rộng, tập trung trong tháng 7, tháng 8 và cuối tháng 9-đầu tháng 10; các đợt nổi bật gồm 21-23/7, 15-18/8, 25-27/8, 30/8-01/9, 27-30/9 và 13-14/10. Nhiều đợt có lượng mưa phổ biến 100-200 mm, có nơi trên 300 mm như Đông Hoàng 306,7 mm, Nam Cường 370,7 mm, Nghĩa Trụ 300,2 mm, Bình Thanh 369,6 mm. Mưa lớn kéo dài gây ngập úng lúa mùa, hoa màu, cây trồng lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đồng thời góp phần hình thành đợt lũ lớn đầu tháng 10 trên các sông chính của tỉnh.
Xét theo không gian rủi ro, các khu vực có mức độ phơi lộ cao trước mưa lớn gồm: vùng trũng thấp nội đồng; các địa bàn ven sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa; khu vực ngoài đê bối, bãi sông; các khu dân cư và đô thị phụ thuộc lớn vào hệ thống tiêu thoát nước; cùng với khu vực cửa sông, ven biển, nuôi trồng thủy sản của Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, Đông Hưng, Hưng Hà, Vũ Thư và thành phố Thái Bình. Khi mưa lớn xảy ra đồng thời với triều cường hoặc lũ trên sông, nguy cơ ngập sâu, tràn bờ bao, thẩm lậu, lỗ rò, sạt trượt và gián đoạn hạ tầng thiết yếu tăng lên rõ rệt.
Nhìn chung, mưa lớn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là loại hình thiên tai có tác động liên vùng, liên hệ chặt chẽ với chế độ lũ trên hệ thống sông Hồng - Thái Bình, công tác tiêu thoát nước, vận hành công trình thủy lợi và bảo đảm an toàn đê điều. Xu thế xuất hiện các đợt mưa lớn cường độ cao, thời gian tập trung ngắn, phạm vi ảnh hưởng rộng và gắn với các tổ hợp bất lợi của bão - lũ - triều cho thấy yêu cầu phải tiếp tục rà soát phương án phòng, chống ngập úng, nâng cao năng lực dự báo - cảnh báo, hoàn thiện hệ thống tiêu thoát nước, tăng cường an toàn công trình và chủ động hơn trong tổ chức ứng phó.
Bảng 5.13: Tổng hợp đặc điểm mưa lớn tiêu biểu giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Khu vực phía bắc tỉnh (Hưng Yên cũ) |
Khu vực phía nam, ven biển của tỉnh (Thái Bình cũ) |
Đặc điểm nổi bật |
|
2020 |
Có 14 đợt mưa lớn diện rộng; nổi bật đợt 01-07/8 lượng mưa 150-250 mm, đợt 14- 16/10 có nơi rất lớn. |
Mưa tháng 8 và tháng 10 cao hơn trung bình nhiều năm; mưa lớn gắn với bão số 2 và số 7, gây thiệt hại nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và giao thông cục bộ. |
Mưa lớn tập trung vào mùa bão, gây ngập úng và ảnh hưởng rõ tới sản xuất nông nghiệp. |
|
2021 |
Có 19 đợt mưa lớn diện rộng; nổi bật đợt 07-08/6 (50-150 mm), 05-10/7 (100-170 mm), 23-27/9 (200-300 mm). |
Mưa lớn nhiều đợt trong mùa mưa, gắn với bão số 7, số 8; gây thiệt hại lúa mùa, cây màu, nuôi trồng thủy sản và công trình đê điều ven biển. |
Là năm mưa nhiều, phân bố kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. |
|
2022 |
Có 17 đợt mưa lớn diện rộng; nổi bật đợt 10-12/8 do bão số 2 với lượng mưa 200-330 mm, đợt 25-26/8 do rìa xa bão số 3. |
Tổng lượng mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 đều cao hơn trung bình nhiều năm 50-90%; mưa lớn đi kèm lũ giữa tháng 6 và các đợt bão số 2, 3, 4. |
Mưa lớn xuất hiện dày hơn trung bình nhiều năm, làm tăng áp lực tiêu úng và an toàn đê điều. |
|
2023 |
Có 06 đợt mưa lớn diện rộng; đợt lớn nhất cuối tháng 9 gây mưa 130-240 mm, riêng Tiên Lữ 303,4 mm. |
Mưa lớn cuối tháng 9 do áp thấp nhiệt đới cho lượng mưa phổ biến khoảng 300 mm, có nơi 360-466 mm; ảnh hưởng trên 11.000 ha lúa mùa và hơn 6.700 ha rau màu vụ đông. |
Xuất hiện đợt mưa cực đoan cục bộ ở khu vực ven biển và hạ du, dù tổng số đợt mưa thấp hơn các năm liền trước. |
|
2024 |
Có 13 đợt mưa lớn diện rộng; nổi bật đợt 22-25/7 (150-250 mm), đợt 07-12/9 (310-550 mm, riêng Phù Cừ 578 mm). |
Mưa do bão số 3 và hoàn lưu sau bão đạt trung bình 484,6 mm, cao nhất 623,3 mm tại Tiền Hải; gây lũ lớn đặc biệt trên hệ thống sông tháng 9. |
Là năm mưa lớn rất nghiêm trọng, tạo áp lực đồng thời lên tiêu úng, đê điều và phòng chống lũ trên phạm vi toàn tỉnh hiện nay. |
|
2025 |
Sau hợp nhất, toàn tỉnh xảy ra 08 đợt mưa lớn diện rộng; nhiều đợt tập trung trong tháng 7, 8, 9 và 10; có nơi trên 300 mm. |
Khu vực ven biển và phía nam tỉnh chịu ảnh hưởng rõ do mưa lớn kết hợp bão số 5, số 6, số 10, thủy triều và lũ hạ du. |
Mưa lớn kéo dài gây ngập úng, thiệt hại lúa mùa, hoa màu, nuôi trồng thủy sản và góp phần hình thành đợt lũ lớn đầu tháng 10 trên các sông chính. |
Bảng 5.14: Đánh giá một số đợt mưa lớn điển hình và mức độ dễ bị tổn thương trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết về lượng mưa |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|||
|
Lượng mưa (mm) |
Thời gian kéo dài (ngày) |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
07-08/6/2021 |
Cấp 1-2 |
Mưa phổ biến 50-150 mm, riêng TP Hưng Yên 183,6 mm; gây ngập úng cục bộ và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. |
50-150 |
1-2 |
|
x |
|
|
2 |
10-12/8/2022 |
Cấp 2 |
Mưa do bão số 2 đạt 200- 330 mm; gây áp lực tiêu úng, ảnh hưởng sản xuất và an toàn công trình. |
200-330 |
2 |
|
x |
|
|
3 |
25-29/9/2023 |
Cấp 2-3 |
Mưa rất lớn tại khu vực ven biển và hạ du Thái Bình cũ; có nơi 360-466 mm, ảnh hưởng trên 11.000 ha lúa mùa và hơn 6.700 ha rau màu vụ đông. |
≈300; nơi cao hơn 465,8 |
4-5 |
|
|
x |
|
4 |
22-25/7/2024 |
Cấp 2 |
Hoàn lưu bão số 2 gây mưa 150-250 mm, riêng TP Hưng Yên 271,9 mm; làm gia tăng ngập úng, áp lực tiêu thoát và theo dõi đê điều. |
150-250 |
3-4 |
|
x |
|
|
5 |
07-12/9/2024 |
Cấp 3 |
Mưa do bão số 3 rất lớn trên diện rộng, khu vực Hưng Yên cũ 310-550 mm, riêng Phù Cừ 578 mm; khu vực Thái Bình cũ trung bình 484,6 mm, nơi cao nhất 623,3 mm; gắn với lũ đặc biệt lớn trên hệ thống sông. |
310- 623,3 |
5-6 |
|
|
x |
|
6 |
21-23/7; 15- 18/8; 25-27/8; 27-30/9; 13- 14/10/2025 |
Cấp 1-3 |
Toàn tỉnh có 08 đợt mưa lớn diện rộng; nhiều nơi 100-200 mm, có nơi trên 300 mm như Đông Hoàng 306,7 mm, Nam Cường 370,7 mm, Nghĩa Trụ 300,2 mm, Bình Thanh 369,6 mm; gây ngập úng và góp phần hình thành lũ đầu tháng 10. |
100- 370,7 |
2–4 |
|
x |
x |
Cấp độ rủi ro thiên tai do mưa lớn: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 3.
Từ các kết quả tổng hợp trên có thể thấy, mức độ dễ bị tổn thương do mưa lớn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tập trung cao nhất tại các vùng trũng thấp, khu vực ven sông và ngoài đê bối, khu vực cửa sông - ven biển, vùng nuôi trồng thủy sản, hệ thống đô thị và các khu dân cư phụ thuộc lớn vào tiêu thoát nước bằng trạm bơm, cống và kênh trục. Khi mưa lớn trùng với triều cao hoặc lũ thượng nguồn, tác động thường chuyển nhanh từ ngập úng sản xuất sang nguy cơ mất an toàn công trình, gián đoạn giao thông, điện, nước sạch và ô nhiễm môi trường.
Do đó, trong Kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hưng Yên, nội dung về mưa lớn cần được xác định là một hợp phần trọng tâm, gắn với rà soát các vùng ngập úng trọng điểm, hoàn thiện phương án tiêu thoát nước liên vùng, tăng cường quan trắc mưa - mực nước - triều, kiện toàn lực lượng xung kích tại chỗ, nâng cao năng lực vận hành công trình thủy lợi - đê điều và chuẩn bị đầy đủ vật tư, phương tiện để xử lý kịp thời các tình huống ngập úng, tràn bờ bao, thẩm lậu, lỗ rò, sạt trượt và cô lập cục bộ khu dân cư.
2.3. Lốc, sét, mưa đá
Lốc, sét, mưa đá là nhóm thiên tai có tính cục bộ cao, diễn ra rất nhanh, thời gian cảnh báo ngắn và thường xuất hiện trong các tháng giao mùa, cao điểm từ tháng 4 đến tháng 9 hằng năm. Đối với tỉnh Hưng Yên, loại hình thiên tai này xảy ra trên cả khu vực đồng bằng nội địa và khu vực ven biển, bãi triều, cửa sông; trong đó các không gian sản xuất nông nghiệp trống trải, vùng nuôi trồng thủy sản, khu vực dân cư có nhiều nhà xưởng mái nhẹ và các hoạt động lao động ngoài trời là những nơi dễ bị tổn thương nhất.
Trong giai đoạn 2020-2025, sét là tác nhân gây thiệt hại về người nổi bật hơn cả; lốc thường gây tốc mái nhà ở, nhà xưởng, trường học, chuồng trại, gãy đổ cây xanh, cột điện và gây hư hại lớn đối với chuối, rau màu, cây ăn quả; còn mưa đá tuy xuất hiện ít hơn nhưng khi xảy ra thường làm hư hại nhanh đối với cây trồng, mái lợp nhẹ và các công trình tạm. Thực tế các năm gần đây cho thấy loại hình thiên tai này không gây thiệt hại đồng đều theo không gian mà thường bùng phát mạnh ở các vùng đồng ruộng trống trải, khu vực canh tác tập trung, các điểm dân cư xen cài nhà xưởng mái nhẹ, khu vực ven sông, ven biển và nơi người dân lao động ngoài trời nhiều.
Một số trận lốc sét, mưa đá điển hình: dông lốc tại Khoái Châu năm 2020; dông lốc tại Kim Động năm 2021 và năm 2022; các vụ sét đánh gây chết người tại Ân Thi, Tiên Lữ và khu vực Thái Bình cũ năm 2023; thiệt hại do sét tại Thái Bình cũ năm 2024; và đặc biệt là trận lốc xoáy lớn tại khu vực Thái Thụy trong ảnh hưởng của bão số 10 năm 2025. Diễn biến này cho thấy, mặc dù phạm vi tác động của lốc, sét, mưa đá thường hẹp hơn bão và mưa lớn, nhưng mức độ nguy hiểm đối với tính mạng con người, nhất là người lao động ngoài đồng ruộng, bãi triều, khu vực nuôi trồng thủy sản và người di chuyển ngoài trời, vẫn ở mức rất đáng lưu ý.
Bảng 5.15: Tổng hợp các trận lốc, sét, mưa đá giai đoạn 2020–2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Loại hình |
Thời điểm xảy ra |
Thiệt hại, ảnh hưởng chính |
|
2020 |
Mưa dông, mưa đá, lốc, sét |
Ngày 25/01 và 28/8 tại khu vực Khoái Châu; trong năm trên địa bàn Thái Bình cũ tiếp tục ghi nhận thiệt hại do sét. |
Mưa đá, dông lốc tại Khoái Châu làm gãy đổ khoảng 45 ha chuối, thiệt hại khoảng 20 ha rau màu; đợt dông lốc ngày 28/8 làm thiệt hại 74,88 ha chuối, 93,6 ha chuối/đu đủ/táo, 1,8 ha đu đủ, 1,8 ha rau màu và tốc mái khoảng 7.560 m² nhà kho, phân xưởng, chuồng trại; thiệt hại riêng tại Khoái Châu ước khoảng 26 tỷ đồng. Thái Bình cũ ghi nhận 01 người chết do sét đánh. |
|
2021 |
Mưa dông, lốc, sét |
Ngày 20/9 tại Kim Động và rải rác trong mùa mưa trên địa bàn tỉnh. |
Dông lốc tại Kim Động làm thiệt hại 12 ha chuối mức 30–70% và 51,54 ha chuối thiệt hại trên 70%. Năm 2021 trên địa bàn Hưng Yên cũ xuất hiện trên 25 đợt sét lớn, nhỏ gây hư hỏng hệ thống viễn thông, ước thiệt hại khoảng 1,93 tỷ đồng. Thái Bình cũ ghi nhận 06 người bị thương do dông lốc. |
|
2022 |
Dông, lốc kèm mưa, sét |
Ngày 05/7 tại Kim Động; tại Thái Bình cũ ghi nhận các đợt ngày 16/4, 22/6 và 25–26/8. |
Dông lốc tại Kim Động làm thiệt hại 22,4 ha chuối trên 70%. Trên địa bàn Thái Bình cũ ghi nhận 01 người bị thương do dông, lốc, sét; thiệt hại chủ yếu mang tính cục bộ, xảy ra rải rác trong mùa mưa. |
|
2023 |
Dông, lốc, sét |
Ngày 13/6 và 28/6 tại Ân Thi, Tiên Lữ; ngày 28/5 và 28/8 trên địa bàn Thái Bình cũ. |
Hưng Yên cũ ghi nhận 03 người chết do sét đánh tại Ân Thi và Tiên Lữ. Thái Bình cũ ghi nhận 02 người chết và 01 người bị thương do sét đánh. Đây là năm có thiệt hại về người nổi bật nhất trong giai đoạn tổng hợp đối với loại hình thiên tai này. |
|
2024 |
Mưa dông, lốc, sét |
Rải rác trong mùa mưa; trên địa bàn Thái Bình cũ ghi nhận thiệt hại ngày 19/5. |
Báo cáo tổng hợp của Hưng Yên cũ không tách riêng vụ việc dông lốc, sét thành nhóm thiệt hại độc lập quy mô lớn; trên địa bàn Thái Bình cũ ghi nhận 01 người chết do sét đánh ngày 19/5. Thiệt hại chủ yếu mang tính cục bộ, phân tán. |
|
2025 |
Dông, lốc, sét; lốc xoáy |
Đặc biệt gần trưa ngày 29/9 tại khu vực Thái Thụy trong ảnh hưởng của bão số 10. |
Ghi nhận trận lốc xoáy lớn tại khu vực Thái Thụy. Thiên tai do bão số 10 kết hợp lốc xoáy gây 02 người chết, 17 người bị thương, 560 nhà bị hư hại, 62 cột điện gãy đổ và 856 cây gãy đổ; tổng thiệt hại ước khoảng 68,9 tỷ đồng. Đây là sự kiện dông lốc cực đoan nổi bật nhất trên địa bàn tỉnh sau sáp nhập trong năm 2025. |
Bảng 5.16: Khu vực và đối tượng dễ bị tác động bởi lốc, sét, mưa đá trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Khu vực/đối tượng |
Biểu hiện rủi ro chính |
Nhận định trọng tâm ứng phó |
|
Vùng đồng ruộng trống trải, khu vực sản xuất nông nghiệp tập trung |
Người lao động ngoài trời dễ bị sét đánh; lốc và mưa đá gây gãy đổ cây trồng, đặc biệt là chuối, rau màu, cây ăn quả. |
Ưu tiên cảnh báo cực ngắn, tạm dừng lao động ngoài trời khi có dông; hướng dẫn chằng chống công trình phụ trợ, bảo vệ vườn cây và tài sản sản xuất. |
|
Khu dân cư có nhiều nhà mái nhẹ, nhà xưởng, trường học, chuồng trại |
Lốc gây tốc mái, hư hỏng cửa, tường bao, cây xanh, cột điện; mưa đá dễ làm thủng mái lợp nhẹ. |
Cần rà soát nhà ở, công trình công cộng, nhà xưởng xung yếu; chuẩn bị phương án chằng chống, cắt tỉa cây xanh, bảo đảm an toàn điện và thông tin liên lạc. |
|
Khu vực ven sông, ven biển, bãi triều, nuôi trồng thủy sản và cửa sông |
Dông sét, lốc xoáy có thể đe dọa trực tiếp người và tài sản trên bãi triều, ao đầm, chòi canh, lồng bè; tầm nhìn và điều kiện thao tác ngoài trời xấu đi đột ngột. |
Cần tăng cường truyền tin thời tiết nguy hiểm, kiểm đếm người và phương tiện hoạt động ngoài đê, ngoài bãi; tổ chức neo đậu, trú tránh và sơ tán kịp thời khi có cảnh báo. |
|
Các tuyến giao thông, khu vực đông người, công trình hạ tầng kỹ thuật |
Sét và lốc gây mất an toàn giao thông cục bộ, gãy đổ cây, cột điện, ảnh hưởng hệ thống viễn thông, điện lực và hạ tầng đô thị. |
Cần bố trí lực lượng trực, phương tiện xử lý sự cố nhanh; bảo đảm phân luồng giao thông, khôi phục điện, viễn thông và cảnh báo tại các điểm nguy hiểm. |
Nhìn chung, lốc, sét, mưa đá trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là loại hình thiên tai có phạm vi tác động thường hẹp nhưng mức độ nguy hiểm tại chỗ rất cao, đặc biệt đối với tính mạng con người. Thực tiễn giai đoạn 2020-2025 cho thấy rủi ro chủ yếu tập trung vào sét đánh đối với người lao động ngoài trời và dông lốc gây hư hại mạnh đối với nhà ở, nhà xưởng, vùng sản xuất nông nghiệp, công trình điện lực, viễn thông và cây xanh.
Trong bối cảnh không gian tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập bao gồm cả khu vực đồng bằng nội địa, ven sông, cửa sông và ven biển, công tác phòng ngừa cần tập trung vào nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo dông nguy hiểm; truyền tin nhanh đến cơ sở; tổ chức kiểm soát hoạt động ngoài trời, ngoài đồng, ngoài bãi triều; tăng cường chằng chống nhà cửa, công trình mái nhẹ; đồng thời chuẩn bị lực lượng, phương tiện xử lý sự cố điện, cây xanh, giao thông và cứu hộ cứu nạn tại các khu vực chịu tác động cao.
Để lượng hóa mức độ tác động và làm rõ trọng tâm ưu tiên trong công tác phòng ngừa, có thể khái quát mức độ dễ bị tổn thương do lốc, sét, mưa đá trên địa bàn tỉnh Hưng Yên theo các sự kiện điển hình giai đoạn 2020-2025 như sau:
Bảng 5.17: Đánh giá tác động và mức độ dễ bị tổn thương do lốc, sét, mưa đá giai đoạn 2020-2025
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết về hiện tượng |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|||
|
Loại hiện tượng |
Phạm vi/ đặc trưng |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
Ngày 25/01 và 28/8/2020 |
1 |
Mưa đá, dông lốc gây gãy đổ diện tích lớn chuối, rau màu tại Khoái Châu; tốc mái nhà kho, phân xưởng, chuồng trại; trên địa bàn Thái Bình cũ ghi nhận 01 người chết do sét đánh. |
Mưa đá, dông lốc, sét |
Tác động cục bộ nhưng thiệt hại rõ đối với cây trồng và công trình mái nhẹ. |
|
X |
|
|
2 |
Ngày 20/9/2021 |
1 |
Dông lốc tại Kim Động làm thiệt hại diện tích chuối lớn; trong năm xuất hiện trên 25 đợt sét lớn, nhỏ gây hư hỏng hệ thống viễn thông; Thái Bình cũ ghi nhận 06 người bị thương do dông lốc. |
Dông lốc, sét |
Ảnh hưởng rải rác trên đồng ruộng, khu dân cư và hạ tầng kỹ thuật. |
|
X |
|
|
3 |
Ngày 05/7/2022 và các đợt dông mùa mưa |
1 |
Dông lốc tiếp tục gây thiệt hại diện tích chuối tại Kim Động; trên địa bàn Thái Bình cũ ghi nhận 01 người bị thương, 04 đoạn đê - kè sạt lở và 03 vụ chìm tàu trong năm. |
Dông, lốc, sét |
Thiệt hại cục bộ, phân tán, nhưng thể hiện rõ tính chất bất thường và khó dự báo. |
|
X |
|
|
4 |
Ngày 13/6, 28/6 và 28/8/2023 |
2 |
Ghi nhận 03 người chết do sét tại Ân Thi, Tiên Lữ; Thái Bình cũ ghi nhận thêm 02 người chết, 01 người bị thương do sét. Đây là năm thiệt hại về người nổi bật nhất trong giai đoạn tổng hợp. |
Sét, dông lốc |
Tác động trực tiếp đến người lao động ngoài trời, vùng đồng ruộng trống trải và khu vực ven biển. |
|
|
X |
|
5 |
Ngày 19/5/2024 và rải rác mùa mưa |
1 |
Chưa ghi nhận thiệt hại độc lập quy mô lớn trên địa bàn Hưng Yên cũ; Thái Bình cũ ghi nhận 01 người chết do sét đánh ngày 19/5. Thiệt hại chủ yếu mang tính cục bộ, phân tán. |
Mưa dông, sét |
Quy mô ảnh hưởng hẹp, song vẫn tiềm ẩn rủi ro cao đối với tính mạng con người. |
|
X |
|
|
6 |
Gần trưa ngày 29/9/2025 |
2 |
Trong ảnh hưởng của bão số 10 đã xảy ra trận lốc xoáy lớn tại Thái Thụy; làm 02 người chết, 17 người bị thương, 560 nhà bị hư hại, 62 cột điện gãy đổ và 856 cây gãy đổ. |
Lốc xoáy, dông mạnh |
Là sự kiện cực đoan nổi bật nhất sau sáp nhập; tác động mạnh đến khu dân cư ven biển, công trình điện và nhà ở mái nhẹ. |
|
|
X |
Cấp độ rủi ro thiên tai do lốc, sét, mưa đá: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 2.
Qua bảng tổng hợp trên có thể thấy mức độ dễ bị tổn thương cao tập trung ở các khu vực đồng ruộng trống trải, vùng ven biển, cửa sông, khu dân cư có nhiều nhà mái nhẹ, nhà xưởng, trường học, bến bãi và các công trình hạ tầng kỹ thuật như điện, viễn thông. Đối tượng đặc biệt dễ bị tác động là người lao động ngoài trời, ngư dân, người làm việc tại bãi triều, học sinh tại các điểm trường có công trình phụ trợ mái nhẹ và các hộ dân sinh sống trong khu vực cây xanh, cột điện dày đặc.
2.4. Lũ, ngập lụt
Lũ, ngập lụt là loại hình thiên tai xảy ra thường xuyên trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, tập trung chủ yếu trong mùa mưa bão từ tháng 6 đến tháng 10, trong đó các đợt lũ lớn thường xuất hiện vào tháng 9 và đầu tháng 10. Với đặc điểm địa hình thấp trũng, mạng lưới sông dày đặc gồm sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa và hệ thống kênh tiêu nội đồng rộng khắp, tỉnh Hưng Yên có mức độ phơi lộ cao trước nguy cơ lũ, ngập lụt, nhất là tại các vùng ngoài đê bối, bãi sông, khu dân cư thấp trũng, vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và các khu vực phụ thuộc nhiều vào trạm bơm, cống tiêu và công trình thủy lợi.
Diễn biến giai đoạn 2020-2023 cho thấy lũ trên địa bàn Hưng Yên cũ chủ yếu ở mức thấp đến trung bình, chưa xuất hiện lũ lớn kéo dài trên sông Hồng; trong khi đó trên địa bàn Thái Bình cũ, chế độ lũ nhìn chung cũng chủ yếu dao động theo thủy triều và điều tiết hồ chứa, chỉ phát sinh một số đợt lũ nhỏ hoặc lũ vừa cục bộ. Tuy nhiên, từ năm 2024 trở đi xu thế cực đoan gia tăng rõ rệt. Năm 2024 ghi nhận trận lũ đặc biệt lớn trong tháng 9 trên địa bàn Thái Bình cũ và đợt lũ lớn trên sông Hồng qua Hưng Yên cũ; sang năm 2025, sau sáp nhập, tỉnh tiếp tục chịu ảnh hưởng của đợt lũ muộn đầu tháng 10 với mực nước nhiều trạm vượt báo động II đến báo động III.
Xét theo không gian, khu vực có nguy cơ ngập lụt cao tập trung dọc các tuyến sông lớn và vùng trũng thuộc các địa bàn ven sông Hồng, sông Luộc của Hưng Yên cũ như Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ và thành phố Hưng Yên; đồng thời mở rộng ra các khu vực ven biển, ven cửa sông, vùng bờ bao và nội đồng thấp của Thái Bình cũ như Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng, Tiền Hải, Thái Thụy, Hưng Hà và thành phố Thái Bình. Khi xảy ra mưa bão lớn, nước sông dâng cao, bờ bao và đê bối rất dễ bị tràn, thẩm lậu hoặc phát sinh lỗ rò, sạt trượt, từ đó làm gia tăng nguy cơ ngập sâu diện tích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, khu dân cư và hạ tầng thiết yếu.
Trên cơ sở các tài liệu đã tổng hợp, phần lũ, ngập lụt được trình bày theo hướng vừa phản ánh đặc trưng diễn biến qua các năm, vừa xác định rõ không gian phơi lộ, mức độ tác động và mức độ dễ bị tổn thương nhằm phục vụ công tác lập kế hoạch phòng ngừa, ứng phó và bố trí nguồn lực theo phương châm “4 tại chỗ”.
Bảng 5.18: Tổng hợp đặc trưng lũ, ngập lụt giai đoạn 2020–2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Đặc trưng lũ, mực nước |
Diễn biến ngập lụt, thiệt hại và sự cố tiêu biểu |
|
2020 |
Hưng Yên cũ: 01 trận lũ trên sông Hồng, đỉnh lũ năm thấp; mực nước cao nhất tại trạm Hưng Yên 3,86m (21/8), thấp hơn báo động I 1,64m. Thái Bình cũ: năm ít lũ, không xuất hiện lũ tiểu mãn, cả mùa chỉ xuất hiện 3 đợt lũ nhỏ, đỉnh lũ thấp hơn nhiều so với trung bình nhiều năm và dưới báo động I. |
Ngập, tràn cục bộ tại một số vùng nuôi trồng thủy sản và bờ bao; phát sinh sạt lở, lở mái đê bối An Hạ 2 và một số sự cố nhỏ về công trình đê điều, giao thông ở Thái Bình cũ. Trên Hưng Yên cũ chưa ghi nhận trận lũ lớn nhưng sau mưa bão đã phải xử lý, tu sửa nhiều hạng mục kè, cống, thân đê bị nứt, lún sụt, sạt lở. |
|
2021 |
Hưng Yên cũ: không có lũ tiểu mãn, chỉ xuất hiện 01 trận lũ; đỉnh lũ tại trạm Hưng Yên 2,52m (24/7), thấp hơn báo động I 2,98m. Thái Bình cũ: là năm ít lũ, mùa lũ đến muộn, đỉnh lũ thấp hơn nhiều so với trung bình nhiều năm. |
Mưa lớn do bão số 7 và số 8 gây ngập diện tích lúa, cây màu, thủy sản và làm phát sinh sự cố tràn, lỗ rò, vỡ bờ bao, ngập 560ha ao đầm nuôi trồng thủy sản ở Thái Bình cũ; trên Hưng Yên cũ lũ cơ bản không lớn nhưng vẫn phải xử lý, gia cố các đoạn đê, kè xung yếu sau mưa bão. |
|
2022 |
Hưng Yên cũ: không có lũ tiểu mãn, xuất hiện 03 trận lũ; đỉnh lũ cao nhất tại trạm Hưng Yên 4,65m (17/6), thấp hơn báo động I 0,85m. Thái Bình cũ: mùa lũ đến sớm, giữa tháng 6 xuất hiện 01 đợt lũ do hồ Hòa Bình xả 5 cửa xả đáy, mực nước sông Trà Lý lên đến báo động II; tháng 8 có thêm một dao động lũ nhỏ. |
Một số vị trí bờ bao ở Vũ Thư, Kiến Xương bị tràn; xuất hiện thẩm lậu, lỗ rò, sạt lở kè và mái đê ở các tuyến đê cửa sông, đê bối tại Thái Bình cũ. Trên Hưng Yên cũ lũ ở mức trung bình, song vẫn đòi hỏi theo dõi sát công trình đê điều và chuẩn bị hộ đê. |
|
2023 |
Hưng Yên cũ: không có lũ tiểu mãn, xuất hiện 02 trận lũ; đỉnh lũ cao nhất tại trạm Hưng Yên 2,46m (29/8), thấp hơn báo động I 3,04m. Thái Bình cũ: năm rất ít lũ, tháng 5 không có lũ tiểu mãn, tháng 8 chỉ có dao động nhỏ, đỉnh lũ năm rất thấp. |
Dù lũ nhỏ, mưa lớn cuối tháng 9 tại Thái Bình cũ vẫn làm ảnh hưởng trực tiếp trên 11.000ha lúa mùa và hơn 6.700ha rau màu vụ đông; đồng thời phát sinh sạt lở kè Đông Minh tại Tiền Hải. Trên Hưng Yên cũ chủ yếu là úng, ngập cục bộ do các đợt mưa lớn, chưa xuất hiện trận lũ lớn trên sông Hồng. |
|
2024 |
Hưng Yên cũ: xuất hiện lũ lớn trong tháng 9; trạm Hưng Yên đạt 7,50m (12/9), cao hơn báo động III 0,50m; trong năm có 02 trận lũ, trong đó trận lũ 09/9-21/9 có biên độ lũ lên 4,59m. Thái Bình cũ: năm nhiều lũ, đặc biệt từ 09/9–15/9 xảy ra đợt lũ rất lớn, các trạm Tiến Đức, Triều Dương, Quyết Chiến, Thái Bình đều vượt báo động III từ 0,57m đến 1,80m; tại trạm Thái Bình mực nước đạt 4,25m, cao hơn lũ lịch sử năm 1971 là 0,04m. |
Đây là năm thiên tai lũ lụt đặc biệt nghiêm trọng trên phạm vi địa bàn tỉnh hiện nay. Hưng Yên cũ ước thiệt hại khoảng 3.637,6 tỷ đồng; Thái Bình cũ ước thiệt hại khoảng 1.479 tỷ đồng. Nhiều diện tích lúa, hoa màu, cây lâu năm, thủy sản, công trình đê điều, thủy lợi, điện, giao thông, y tế, giáo dục và văn hóa bị ảnh hưởng nặng; nhiều vị trí bờ bao, đê bối bị tràn, thẩm lậu, sạt trượt, phát sinh lỗ rò. |
|
2025 |
Sau sáp nhập, tỉnh Hưng Yên chịu ảnh hưởng của 04 cơn bão và 01 áp thấp nhiệt đới; trong mùa xuất hiện 02 trận lũ và 02 dao động nhỏ. Đợt lũ lớn nhất từ 30/9– 14/10 do hoàn lưu bão số 10 kết hợp xả lũ hồ chứa; đỉnh lũ tại trạm Hưng Yên 6,12m (thấp hơn báo động II 0,18m), Tiến Đức 5,81m (cao hơn báo động II 0,21m), Triều Dương 5,60m (cao hơn báo động II 0,20m), Quyết Chiến 4,77m (cao hơn báo động III 0,87m), Thái Bình 3,62m (cao hơn báo động III 0,12m). |
Mưa lớn và lũ đầu tháng 10 gây tràn, sạt lở, thẩm lậu một số bờ bao, kè, đường giao thông ven sông; riêng đợt bão số 10 và lũ kèm theo ước thiệt hại khoảng 68,9 tỷ đồng. Mặc dù quy mô chưa bằng năm 2024, đây vẫn là đợt lũ muộn đáng chú ý, cho thấy rủi ro lũ cuối mùa trên địa bàn tỉnh mới tiếp tục ở mức cao. |
Bảng 5.19: Khu vực, đối tượng và mức độ dễ bị tổn thương do lũ, ngập lụt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
STT |
Khu vực/đối tượng |
Dạng phơi lộ, tác động chính |
Mức độ dễ bị tổn thương |
Nhận định |
||
|
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
Vùng ven sông Hồng, sông Luộc; bãi sông, ngoài đê; Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, thành phố Hưng Yên |
Ngập bãi, nước sông lên nhanh, đe dọa khu dân cư ven sông, đất sản xuất, đê điều và giao thông kết hợp đê. |
|
|
x |
Là khu vực phơi lộ cao trước lũ trên hệ thống sông Hồng – Luộc; cần ưu tiên cảnh báo, kiểm soát dân cư ngoài bãi và bảo vệ các vị trí đê xung yếu. |
|
2 |
Vùng ven biển, cửa sông, bờ bao, đê bối; Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng, Tiền Hải, Thái Thụy, Hưng Hà |
Ngập sâu vùng nuôi trồng thủy sản, tràn bờ bao, phát sinh lỗ rò, thẩm lậu, sạt trượt đê bối và hư hỏng công trình ven biển. |
|
|
x |
Đây là nhóm khu vực dễ bị tổn thương nhất khi mưa lớn, lũ lớn kết hợp triều cường, nước dâng hoặc gió mạnh ven biển. |
|
3 |
Khu đô thị, khu dân cư thấp trũng; khu vực phụ thuộc tiêu thoát bằng trạm bơm, cống tiêu |
Ngập úng cục bộ, gián đoạn giao thông, quá tải thoát nước, ảnh hưởng điện, nước sạch, y tế và sinh hoạt dân sinh. |
|
x |
|
Mức độ dễ bị tổn thương ở mức trung bình đến cao; cần ưu tiên phương án tiêu úng, phân luồng giao thông và bảo đảm hạ tầng thiết yếu. |
|
4 |
Vùng sản xuất nông nghiệp nội đồng, khu vực trũng thấp và các vùng chuyên canh lúa, màu, cây ăn quả |
Ngập úng kéo dài, hư hại lúa mùa, rau màu, cây lâu năm, chăn nuôi và sinh kế nông hộ. |
|
x |
|
Phạm vi ảnh hưởng rộng, thời gian phục hồi dài; tác động lớn đến sinh kế và an ninh sản xuất của người dân. |
|
5 |
Công trình đê điều, thủy lợi, kè, cống, trạm bơm, tuyến giao thông và hạ tầng kỹ thuật đi dọc sông |
Thẩm lậu, lỗ rò, sạt trượt mái đê, sạt lở bờ kè, hư hỏng công trình tiêu thoát và giao thông ven sông. |
|
|
x |
Đây là nhóm đối tượng cần giám sát đặc biệt trong các đợt lũ lớn, lũ muộn và khi nước lên nhanh hoặc rút nhanh. |
Bảng 5.20: Đánh giá cấp độ rủi ro do lũ, ngập lụt và mức độ dễ bị tổn thương
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết về lũ, ngập lụt |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|||
|
Mực nước lũ đặc trưng |
Thời gian/diễn biến |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
Hàng năm |
Cấp độ 1–2 |
Thường gây ngập úng nội đồng, ngập cục bộ khu dân cư trũng thấp, ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp, tiêu thoát nước và an toàn đê điều tại các vị trí xung yếu. |
Mực nước tại các trạm dao động từ BĐI đến dưới BĐIII; ngập cục bộ sau mưa lớn, triều cao hoặc khi lũ lên nhanh. |
Chủ yếu trong mùa mưa bão, từ tháng 6 đến tháng 10; lũ sớm xuất hiện tháng 5–6, lũ muộn xuất hiện tháng 9–10. |
|
x |
|
|
2 |
Tháng 9/2024 |
Cấp độ 3 |
Xảy ra đợt lũ đặc biệt lớn trên phạm vi tỉnh; nhiều diện tích lúa, hoa màu, cây lâu năm, thủy sản, công trình đê điều, thủy lợi, điện, giao thông, y tế, giáo dục và văn hóa bị ảnh hưởng; tổng thiệt hại ước khoảng 5.116,6 tỷ đồng. |
Trạm Hưng Yên 7,50m, vượt BĐIII 0,50m; Tiến Đức, Triều Dương, Quyết Chiến, Thái Bình vượt BĐIII từ 0,57m đến 1,80m; trạm Thái Bình vượt lũ lịch sử năm 1971 là 0,04m. |
Đợt lũ từ 09/9 đến 21/9/2024; nước lên nhanh, phạm vi ảnh hưởng rộng, phát sinh tràn bờ bao, thẩm lậu, sạt trượt, lỗ rò và ngập lụt diện rộng. |
|
|
x |
|
3 |
30/9– 14/10/2025 |
Cấp độ 2–3 |
Lũ muộn đầu tháng 10 gây tràn, sạt lở, thẩm lậu một số bờ bao, kè, đường giao thông ven sông; ảnh hưởng đến khu dân cư, sản xuất và công trình thủy lợi; riêng đợt bão số 10 và lũ kèm theo ước thiệt hại khoảng 68,9 tỷ đồng. |
Hưng Yên 6,12m, thấp hơn BĐII 0,18m; Tiến Đức vượt BĐII 0,21m; Triều Dương vượt BĐII 0,20m; Quyết Chiến vượt BĐIII 0,87m; Thái Bình vượt BĐIII 0,12m. |
Đợt lũ xuất hiện muộn từ 30/9 đến 14/10/2025, do hoàn lưu bão số 10 kết hợp xả lũ hồ chứa; thể hiện rõ xu thế rủi ro lũ cuối mùa tiếp tục ở mức cao. |
|
|
x |
Cấp độ rủi ro thiên tai do lũ, ngập lụt: Thấp nhất là cấp 1 và cao nhất là cấp 3.
Việc đánh giá mức độ dễ bị tổn thương được xác định trên cơ sở tổng hợp phạm vi ngập lụt, mực nước lũ so với cấp báo động, mức độ thiệt hại về người, tài sản, công trình hạ tầng, mức độ tập trung dân cư và khả năng bị gián đoạn sinh kế tại các khu vực chịu ảnh hưởng.
2.5. Nắng nóng
Nắng nóng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là loại hình thiên tai khí tượng xảy ra thường xuyên trong mùa hè, chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9, tập trung nhiều trong các tháng 5 đến tháng 8. Phạm vi ảnh hưởng của nắng nóng bao trùm cả khu vực nội đồng, đô thị, khu công nghiệp, vùng trũng thấp, vùng ven sông và vùng ven biển. Đặc trưng nổi bật của loại hình thiên tai này là nền nhiệt cao kéo dài nhiều ngày liên tiếp, kết hợp độ ẩm không khí lớn, làm gia tăng cảm giác oi bức và tạo áp lực lớn đối với sức khỏe cộng đồng, sinh hoạt dân sinh, nhu cầu sử dụng điện, cấp nước, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và hoạt động lao động ngoài trời.
Nắng nóng trên địa bàn tỉnh có xu hướng biến động khá mạnh theo từng năm nhưng nhìn chung vẫn duy trì ở mức cao. Năm 2020 ghi nhận 09 đợt nắng nóng diện rộng, với tổng số 32 ngày nắng nóng, nhiệt độ cao nhất đạt 40,5°C; năm 2021 tiếp tục xuất hiện 09 đợt, với tổng số 51 ngày nắng nóng, nhiệt độ cao nhất đạt 40,3°C; năm 2022 giảm còn 06 đợt với tổng số 33 ngày nắng nóng, nhiệt độ cao nhất 38,2°C; năm 2023 tăng lên 13 đợt với 63 ngày nắng nóng, nhiệt độ cao nhất 39,4°C; năm 2024 xuất hiện 10 đợt nắng nóng với 46 ngày nắng nóng, trong đó ngày 27/4/2024 ghi nhận mức nhiệt cao nhất 41,2°C. Năm 2025 ghi nhận 09 đợt nắng nóng với tổng số 31 ngày nắng nóng, trong đó ngày 02/6 ghi nhận mức nhiệt cao nhất 39,5°C
Nắng nóng không phải là loại hình thiên tai gây thiệt hại đột ngột như bão, lũ hay dông lốc, nhưng lại có đặc điểm tích lũy theo thời gian và lan rộng theo không gian. Khi xảy ra liên tiếp trong nhiều ngày, nắng nóng làm gia tăng nguy cơ mất an toàn điện, cháy nổ, thiếu nước sinh hoạt cục bộ, ảnh hưởng đến sức khỏe người già, trẻ em, người lao động ngoài trời và các nhóm dân cư có bệnh nền; đồng thời ảnh hưởng bất lợi đến sinh trưởng của lúa, rau màu, cây ăn quả, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, cũng như hoạt động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và hệ thống hạ tầng dân sinh thiết yếu.
Đối với tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập, mức độ dễ bị tổn thương do nắng nóng không phân bố đồng đều. Khu vực đô thị, khu dân cư tập trung và khu công nghiệp dễ chịu tác động bởi hiệu ứng đảo nhiệt, quá tải điện và thiếu nước cục bộ; khu vực nông thôn, vùng sản xuất tập trung và vùng ven biển, bãi triều dễ bị ảnh hưởng về sinh kế, mùa vụ, thủy sản và điều kiện lao động ngoài trời. Vì vậy, việc đánh giá nắng nóng cần gắn đồng thời với cường độ nhiệt, thời gian kéo dài và mức độ dễ bị tổn thương của từng không gian, từng nhóm đối tượng chịu tác động.
Bảng 5.21: Tổng hợp một số đặc trưng nắng nóng tại khu vực tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2020–2025
|
Năm |
Số đợt |
Số ngày nắng nóng |
Tmax (°C) |
Đặc điểm nổi bật |
|
2020 |
09 đợt |
32 ngày |
40,5 |
Các đợt nắng nóng kéo dài nhiều ngày, có thời điểm gay gắt và đặc biệt gay gắt. |
|
2021 |
09 đợt |
51 ngày |
40,3 |
Nền nhiệt cao hơn trung bình nhiều năm; nắng nóng xuất hiện liên tục trong mùa hè. |
|
2022 |
06 đợt |
33 ngày |
38,2 |
Số đợt giảm so với các năm 2020–2021 nhưng vẫn ảnh hưởng trên phạm vi toàn tỉnh. |
|
2023 |
13 đợt |
63 ngày |
39,4 |
Là năm có số đợt và số ngày nắng nóng lớn, thể hiện xu hướng kéo dài hơn; có đợt nóng kéo dài khoảng 19 ngày. |
|
2024 |
10 đợt |
46 ngày |
41,2 |
Ghi nhận mức nhiệt cực đại rất cao; nắng nóng xuất hiện sớm ngay từ cuối tháng 4. |
|
2025 |
09 đợt |
31 ngày |
39,5 |
Nền nhiệt cao hơn trung bình nhiều năm; nắng nóng xuất hiện muộn và ít gay gắt hơn. |
Bảng 5.22: Khu vực, đối tượng và biểu hiện dễ bị tổn thương do nắng nóng
|
Nhóm khu vực/đối tượng |
Biểu hiện dễ bị tổn thương |
Tác động chính |
Mức độ |
|
Khu vực đô thị, khu dân cư tập trung |
Mật độ xây dựng cao, bề mặt bê tông hóa lớn, hiệu ứng đảo nhiệt rõ. |
Gia tăng cảm giác oi bức, quá tải điện, thiếu nước cục bộ, nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng. |
Cao |
|
Khu công nghiệp, cụm công nghiệp |
Mật độ lao động lớn, nhiều hoạt động trong nhà xưởng và ngoài trời, nhu cầu điện rất cao. |
Nguy cơ mất an toàn lao động, gián đoạn sản xuất, tăng nhu cầu điện và nước làm mát. |
Cao |
|
Vùng sản xuất nông nghiệp, người lao động ngoài trời |
Thời gian tiếp xúc nhiệt lớn, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện thời tiết. |
Giảm năng suất lao động, ảnh hưởng mùa vụ, tăng nhu cầu tưới và nguy cơ hạn cục bộ. |
Cao |
|
Người cao tuổi, trẻ em, người có bệnh nền |
Khả năng thích nghi nhiệt kém, cần hỗ trợ y tế và chăm sóc thường xuyên. |
Dễ bị sốc nhiệt, mất nước, suy giảm sức khỏe trong các đợt nắng nóng kéo dài. |
Cao |
|
Vùng ven biển, bãi triều, nuôi trồng thủy sản |
Bốc hơi lớn, độ mặn tăng, điều kiện lao động nặng nhọc. |
Ảnh hưởng sinh trưởng thủy sản, cấp nước phục vụ dân sinh và sản xuất ven biển. |
Trung bình – cao |
|
Hệ thống điện, cấp nước, hạ tầng dân sinh |
Phụ tải tăng cao trong thời gian ngắn và kéo dài. |
Tăng nguy cơ sự cố điện, thiếu nước cục bộ, ảnh hưởng chuỗi dịch vụ thiết yếu. |
Trung bình – cao |
Bảng 5.23: Đánh giá cấp độ rủi ro do nắng nóng và mức độ dễ bị tổn thương
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết về mức độ nắng nóng |
Mức độ dễ bị tổn thương |
||
|
Nhiệt độ cao nhất (°C) |
Thời gian kéo dài (ngày) |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
Hàng năm |
Cấp độ 1 |
Nắng nóng diện rộng, cường độ chưa lớn, chủ yếu gây mệt mỏi, giảm năng suất lao động, tăng nhu cầu điện và nước sinh hoạt. |
35-37 |
Từ 3 ngày trở lên |
x |
|
|
2 |
2022 |
Cấp độ 1 |
Toàn mùa xuất hiện 06 đợt nắng nóng với 33 ngày nắng nóng; ảnh hưởng rộng đến sinh hoạt, sản xuất và lao động ngoài trời, nhưng mức cực trị chưa vượt 39°C. |
38,2 |
Nhiều đợt; tổng 33 ngày |
x |
|
|
3 |
2023 |
Cấp độ 1 |
Toàn mùa xuất hiện 13 đợt với 63 ngày nắng nóng; xu thế kéo dài rõ hơn, làm gia tăng áp lực đối với sức khỏe cộng đồng, cấp điện và sản xuất nông nghiệp. |
39,4 |
63 ngày toàn mùa; có đợt khoảng 19 ngày |
x |
|
|
4 |
2024 |
Cấp độ 2 (tham chiếu) |
Xuất hiện 10 đợt nắng nóng, 46 ngày nắng nóng; nhiệt độ cực đại 41,2°C, xuất hiện sớm ngay từ cuối tháng 4; nguy cơ cao đối với nhóm nhạy cảm, khu công nghiệp, điện lực và cấp nước. |
41,2 |
46 ngày toàn mùa |
|
x |
|
5 |
Giai đoạn điển hình 2020– 2021 |
Cấp độ 1–2 (tham chiếu) |
Các năm có nền nhiệt rất cao, nhiều đợt nắng nóng diện rộng; gây áp lực lớn lên sức khỏe cộng đồng, sản xuất nông nghiệp và nhu cầu sử dụng điện, nước. |
40,3- 40,5 |
Nhiều đợt |
x |
|
Từ thực tế trên có thể nhận định rằng nắng nóng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cần được theo dõi như một loại hình thiên tai khí tượng có xu hướng gia tăng về cường độ tác động trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Trọng tâm quản lý rủi ro là tăng cường dự báo, cảnh báo sớm; bảo đảm cấp điện, cấp nước; hướng dẫn điều chỉnh thời gian lao động, mùa vụ và cơ cấu sản xuất; đồng thời ưu tiên các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng đối với người cao tuổi, trẻ em, người có bệnh nền, người lao động ngoài trời và các khu vực có mức độ bê tông hóa cao.
Trong xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030, nắng nóng cần được lồng ghép đồng thời với các kịch bản hạn hán, thiếu nước, cháy nổ, quá tải hạ tầng và gián đoạn sản xuất; coi đây là loại hình rủi ro tích lũy, diễn biến chậm nhưng có khả năng tác động trên diện rộng và kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng và sự ổn định hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh.
2.6. Rét hại, sương muối
Rét hại, sương muối là loại hình thiên tai khí tượng có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sức khỏe cộng đồng và đời sống dân sinh trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Đối với tỉnh Hưng Yên, loại hình này chủ yếu xảy ra trong các tháng mùa đông và đầu xuân, tập trung từ tháng 12 năm trước đến tháng 02, tháng 3 năm sau; tác động rõ hơn tại khu vực sản xuất nông nghiệp, vùng ven sông, ven biển, khu vực đồng trũng, vùng nuôi trồng thủy sản, khu vực trường học, cơ sở y tế và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như người già, trẻ em, người bệnh.
So với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, cường độ rét trên địa bàn tỉnh nhìn chung thấp hơn do đặc điểm địa hình đồng bằng; tuy nhiên với mật độ dân cư cao, quy mô sản xuất nông nghiệp lớn, nhiều vùng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản tập trung và nhu cầu đi lại, học tập, lao động ngoài trời cao, các đợt rét đậm, rét hại kéo dài vẫn có thể gây thiệt hại đáng kể nếu không chủ động các biện pháp phòng ngừa. Trên thực tế, giai đoạn 2020-2024 năm nào cũng ghi nhận 04 đợt rét đậm, rét hại; nhiệt độ thấp nhất quan trắc được dao động từ 7,8°C đến 10,6°C.
Đáng chú ý, đợt rét từ ngày 19/02 đến 22/02/2022 trên địa bàn huyện Văn Lâm (cũ) đã gây thiệt hại trên 70% đối với 487,07 ha lúa; các năm 2023 và 2024 tiếp tục xuất hiện các đợt rét kéo dài từ 6 ngày trở lên, nền nhiệt xuống thấp, ảnh hưởng đến cây trồng vụ Đông Xuân, mạ, lúa mới gieo cấy, rau màu, gia súc, gia cầm và các hoạt động dân sinh. Đối với hiện tượng sương muối, các tài liệu tổng hợp giai đoạn 2020-2025 chưa ghi nhận sương muối là loại hình gây thiệt hại lớn độc lập trên địa bàn tỉnh; hiện tượng đi kèm chủ yếu là sương mù nhẹ, mưa phùn, ẩm lạnh trong các đợt không khí lạnh mạnh.
Trên cơ sở các số liệu đã tổng hợp, có thể nhận định rủi ro do rét hại, sương muối trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tuy không thuộc nhóm thiên tai gây thiệt hại lớn nhất, nhưng có tính lặp lại hằng năm và tác động trực tiếp đến nhóm đối tượng sản xuất ngoài trời, các hộ chăn nuôi, vùng nuôi trồng thủy sản, học sinh, người già và người có bệnh nền. Vì vậy, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ các bản tin không khí lạnh, rét đậm, rét hại; chủ động phương án bảo vệ cây trồng, vật nuôi, thủy sản; bảo đảm an toàn cho các nhóm dân cư dễ bị tổn thương và duy trì các dịch vụ thiết yếu trong thời kỳ rét kéo dài.
Bảng 5.24: Tổng hợp đặc trưng rét đậm, rét hại giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Số đợt rét đậm, rét hại |
Đợt kéo dài nhất |
Nhiệt độ thấp nhất (°C) |
Nhận xét chính |
|
2020 |
04 đợt |
24/01- 31/01 (8 ngày) |
10,6 |
Có ghi nhận sương mù nhẹ trong một số đợt không khí lạnh; chưa ghi nhận sương muối gây thiệt hại. |
|
2021 |
04 đợt |
07/01- 12/01 (6 ngày) |
8,6 |
Rét đậm, rét hại tập trung đầu tháng 01 và cuối tháng 12; ảnh hưởng chủ yếu đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt dân sinh. |
|
2022 |
04 đợt |
19/02- 25/02 (7 ngày) |
7,8 |
Đợt rét 19-22/02 gây thiệt hại trên 70% đối với 487,07 ha lúa tại huyện Văn Lâm (cũ); đây là năm có mức tác động nổi bật nhất ở khu vực Hưng Yên cũ. |
|
2023 |
04 đợt |
16/12- 30/12 (đợt nổi bật 6 ngày) |
8,3 |
Nhiệt độ thấp nhất ghi nhận ngày 23/12; rét tập trung đầu năm và cuối năm, gây bất lợi cho cây vụ đông và chăn nuôi nhỏ lẻ. |
|
2024 |
04 đợt |
21/01- 26/01 (6 ngày) |
8,2 |
Ngoài đợt kéo dài 6 ngày còn xuất hiện các đợt rét ngắn ngày cuối tháng 01, cuối tháng 02 và đầu tháng 3; cần theo dõi chặt với sản xuất vụ Đông Xuân. |
|
2025 |
Không nổi bật |
- |
- |
Không ghi nhận rét hại, sương muối là loại hình gây thiệt hại nổi bật; trọng tâm thiệt hại trong năm tập trung vào bão, mưa lớn và lũ. |
Xét theo không gian tác động, các khu vực dễ bị ảnh hưởng rõ hơn bao gồm vùng sản xuất nông nghiệp vụ Đông Xuân, các khu chăn nuôi tập trung, vùng nuôi trồng thủy sản, các địa bàn ven sông, ven biển, khu vực trường học, cơ sở y tế và các nhóm dân cư nhạy cảm với thời tiết lạnh. Việc đánh giá mức độ dễ bị tổn thương cần gắn với đặc điểm sinh kế, điều kiện nhà ở, khả năng tiếp cận thông tin cảnh báo và khả năng chủ động các biện pháp phòng tránh của từng nhóm đối tượng.
Bảng 5.25: Khu vực và đối tượng dễ bị tác động bởi rét hại, sương muối trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
STT |
Khu vực/đối tượng |
Biểu hiện dễ bị tác động |
Mức độ tổn thương |
|
1 |
Vùng sản xuất lúa, mạ, rau màu vụ Đông Xuân |
Dễ bị giảm sinh trưởng, cháy lá, chết mạ, thiệt hại năng suất khi rét kéo dài đi kèm mưa phùn, ẩm lạnh. |
Cao |
|
2 |
Hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ lẻ |
Vật nuôi dễ suy giảm sức đề kháng, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu chảy, giảm tăng trưởng hoặc chết nếu không được che chắn, sưởi ấm. |
Cao |
|
3 |
Vùng nuôi trồng thủy sản ven sông, ven biển |
Nhiệt độ xuống thấp làm giảm sức khỏe thủy sản, ảnh hưởng đến quản lý ao nuôi, cấp thoát nước và chi phí duy trì sản xuất. |
Trung bình |
|
4 |
Người già, trẻ em, người có bệnh nền |
Nhạy cảm với nhiệt độ thấp, nguy cơ gia tăng bệnh hô hấp, tim mạch; cần được ưu tiên hỗ trợ về y tế, sưởi ấm và truyền thông cảnh báo. |
Cao |
|
5 |
Học sinh, người lao động ngoài trời |
Bị ảnh hưởng đến thời gian học tập, lao động và an toàn sức khỏe trong các đợt rét mạnh, mưa phùn kéo dài. |
Trung bình |
|
6 |
Khu dân cư nhà tạm, nhà bán kiên cố |
Khả năng chống chịu thời tiết lạnh kém, dễ phát sinh nhu cầu hỗ trợ chăn ấm, điện, nước và bảo đảm an sinh. |
Trung bình |
Bảng 5.26: Đánh giá diễn biến rét hại, sương muối và mức độ dễ bị tổn thương giai đoạn 2020-2025
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết diễn biến rét hại |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|||
|
Nhiệt độ thấp nhất (°C) |
Thời gian kéo dài (ngày) |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
24/01- 31/01/2020 |
Cấp 1 |
Rét đậm, rét hại xảy ra liên tục 8 ngày; ảnh hưởng chủ yếu đến cây vụ đông, chăn nuôi nhỏ lẻ và sinh hoạt dân sinh. Chưa ghi nhận sương muối gây thiệt hại. |
10,6 |
8 |
|
X |
|
|
2 |
07/01- 12/01/2021 |
Cấp 1 |
Đợt rét kéo dài đầu năm, nền nhiệt xuống thấp; tác động rõ đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng, nhất là người già và trẻ em. |
8,6 |
6 |
|
X |
|
|
3 |
19/02- 25/02/2022 |
Cấp 1 |
Là đợt rét nổi bật nhất giai đoạn; riêng thời đoạn 19-22/02 gây thiệt hại trên 70% đối với 487,07 ha lúa tại Văn Lâm (cũ), cho thấy khả năng gây thiệt hại đáng kể ngay tại vùng đồng bằng. |
7,8 |
7 |
|
|
X |
|
4 |
16/12- 30/12/2023 |
Cấp 1 |
Rét tập trung cuối năm, nền nhiệt thấp, kéo dài; ảnh hưởng bất lợi đến cây vụ đông, vật nuôi và nhu cầu bảo đảm an sinh cho nhóm dân cư nhạy cảm. |
8,3 |
6 |
|
X |
|
|
5 |
21/01- 26/01/2024 |
Cấp 1 |
Đợt rét điển hình năm 2024 kéo dài 6 ngày; ngoài ra còn xuất hiện các đợt rét ngắn cuối tháng 01, cuối tháng 02 và đầu tháng 3, làm gia tăng nhu cầu che chắn, giữ ấm và bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân. |
8,2 |
6 |
|
|
X |
|
6 |
Năm 2025 |
- |
Không ghi nhận rét hại, sương muối là loại hình gây thiệt hại nổi bật; chủ yếu duy trì ở mức hiện tượng thời tiết bất lợi cần theo dõi. |
- |
- |
X |
|
|
Qua tổng hợp có thể thấy mức độ dễ bị tổn thương do rét hại, sương muối trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tập trung cao nhất ở các nhóm sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện thời tiết và các nhóm dân cư nhạy cảm với nhiệt độ thấp. Mặc dù cấp độ rủi ro theo đặc điểm tỉnh Hưng Yên chủ yếu xác định ở mức cấp 1, song khi rét đậm, rét hại kéo dài nhiều ngày liên tiếp và đi kèm mưa nhỏ, ẩm lạnh, tác động thực tế đối với cây trồng, vật nuôi và sức khỏe cộng đồng vẫn có thể ở mức đáng kể.
Do đó, trong xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai cần ưu tiên theo dõi chặt chẽ các bản tin không khí lạnh, rét đậm, rét hại; rà soát đối tượng dễ bị tổn thương; chuẩn bị vật tư che chắn, sưởi ấm, dự trữ thức ăn chăn nuôi; hướng dẫn biện pháp bảo vệ mạ, lúa, rau màu, ao nuôi thủy sản; đồng thời bảo đảm hỗ trợ y tế, an sinh và thông tin cảnh báo đến tận hộ dân trong các đợt rét kéo dài.
2.7. Sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy
Đối với tỉnh Hưng Yên, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy không phải là loại hình thiên tai điển hình theo nghĩa sạt trượt mái dốc quy mô lớn như tại khu vực trung du, miền núi. Tuy nhiên, trên thực tế địa bàn tỉnh vẫn thường xuyên phát sinh các dạng rủi ro có bản chất tương đồng, chủ yếu là sạt lở bờ sông, sạt trượt mái đê, mái kè, sụt lún nền đường, bờ bao, đê bối, bãi sông, khu dân cư ven sông, vùng nuôi trồng thủy sản và các công trình hạ tầng nằm trên nền đất yếu hoặc chịu tác động trực tiếp của mưa lớn kéo dài, lũ lên nhanh, dòng chảy đổi hướng, nước dâng hoặc nước rút sau lũ.
Số liệu tổng hợp giai đoạn 2020-2025: Tại khu vực Hưng Yên cũ, các năm 2020, 2021, 2022 và 2023 đều ghi nhận các sự cố nứt, sạt mái đê, sạt lở kè, sụt lún cục bộ sau mưa lớn do bão và hoàn lưu bão; nổi bật là các vị trí trên đê tả sông Hồng, kè Phi Liệt, kè Mai Xá, kè Nghi Xuyên, kè Hàm Tử và đoạn mái đê tại Văn Giang. Tại khu vực Thái Bình cũ, các đợt lũ, mưa lớn và bão đã làm xuất hiện lở mái đê cửa sông, thẩm lậu, lỗ rò, tràn bờ bao, sạt trượt mái đê bối, sạt lở bờ bao vùng nuôi trồng thủy sản và hư hỏng kè, đặc biệt nghiêm trọng trong các đợt lũ cuối tháng 7, đầu tháng 9/2024 và lũ muộn đầu tháng 10/2025.
Xét theo không gian rủi ro, các khu vực cần đặc biệt lưu ý gồm: các tuyến đê, kè ven sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa; các khu vực đê cửa sông, bờ bao, đê bối ngoài đê chính; các vùng bãi sông, bãi triều, khu nuôi trồng thủy sản; các công trình giao thông, thủy lợi chạy dọc sông; và các xã, phường ven sông, ven cửa sông, ven biển. Trong điều kiện mưa lớn kéo dài kết hợp lũ lớn, triều và nước rút nhanh, nguy cơ không chỉ giới hạn ở phạm vi công trình đê điều mà còn có thể lan sang khu dân cư, hệ thống điện, giao thông, sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân.
Trên cơ sở đối chiếu đặc điểm thiên tai thực tế với dự thảo Kế hoạch PCTT tỉnh Hưng Yên, có thể nhận định rủi ro thiên tai do sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy trên địa bàn tỉnh chủ yếu ở mức cấp độ 1; riêng tại các vị trí đặc biệt xung yếu khi xuất hiện tổ hợp bất lợi của mưa lớn, lũ lên nhanh, nước rút mạnh hoặc bão - mưa lớn - lũ tác động đồng thời thì cần xem xét nâng mức cảnh giác và tổ chức ứng phó theo tình huống tương đương cấp độ 2 tại hiện trường.
Bảng 5.27: Tổng hợp một số sự cố sạt lở, sụt lún, hư hỏng công trình giai đoạn 2020-2025
|
Năm |
Khu vực/địa điểm |
Diễn biến chính |
Nhận định, tác động |
|
2020 |
Thành phố Hưng Yên cũ |
Sau bão số 2 xuất hiện nứt mặt đê tả sông Hồng tại K123+920–K123+980; tiếp đó xảy ra sạt lở mái đê tại K122+237–K122+312, phường Lam Sơn. |
Cho thấy nguy cơ mất ổn định thân đê, mái đê ven sông Hồng khi mưa lớn kết hợp dòng chảy thay đổi. |
|
2021 |
Khoái Châu, thành phố Hưng Yên cũ; Tiền Hải, Kiến Xương, Thái Thụy |
Hình thành cung sạt tại kè Nghi Xuyên, Phú Hùng Cường; tại Thái Bình cũ xảy ra lở nhẹ mái đê cửa sông tả Hồng Hà, vỡ bờ bao Trà Giang, tràn bờ bao vùng đầm nuôi trồng thủy sản. |
Rủi ro lan rộng từ tuyến đê sông sang đê cửa sông, bờ bao và vùng nuôi trồng thủy sản ngoài đê bối. |
|
2022 |
Khoái Châu |
Mưa lớn làm sạt trượt, sụt lún tại kè Nghi Xuyên và khu vực hạ lưu mỏ hàn số 5 tuyến kè Hàm Tử. |
Biến đổi dòng chảy và mưa lớn kéo dài làm gia tăng nguy cơ hư hỏng kè bảo vệ bờ sông Hồng. |
|
2023 |
Văn Giang |
Mưa lớn tháng 9 gây sạt trượt mái đê phía đồng tại K83+370–K83+400 đê tả sông Hồng, thôn Phi Liệt, xã Liên Nghĩa. |
Sự cố phải công bố tình huống khẩn cấp, phản ánh mức độ nhạy cảm của các đoạn đê nền địa chất yếu. |
|
2024 |
Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng |
Lũ cuối tháng 7 và đầu tháng 9 gây sạt trượt mái đê bối Vũ Vân; xuất hiện lỗ rò tại các bờ bao huyện Kiến Xương; thẩm lậu, lở nhẹ chân đê tả Trà Lý huyện Đông Hưng. |
Tổ hợp mưa lớn, lũ lớn và triều cao làm gia tăng sự cố trên hệ thống đê, bờ bao khu vực hạ du và cửa sông. |
|
2025 |
Hồng Vũ, Thư Vũ, kè Hà Xá, Hàm Tử |
Bão số 3 làm tràn, sạt lở một số bờ bao; lũ đầu tháng 10 gây xô tụt mái kè Hà Xá khoảng 30m, sập hư hỏng mái kè khu vực mỏ hàn số 01 kè Hàm Tử và tràn bờ bao khoảng 700m. |
Xu thế nguy cơ chuyển sang dạng sự cố tổng hợp trên cả đê, kè, bờ bao khi có lũ muộn, nước sông lên nhanh và rút nhanh. |
Bảng 5.28: Khu vực, đối tượng và biểu hiện dễ bị tổn thương do sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy
|
Nhóm khu vực/đối tượng |
Biểu hiện dễ bị tổn thương |
Tác động chính |
Mức độ |
|
Các tuyến đê, kè ven sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa |
Nứt mặt đê, sạt mái đê, sạt lở kè, thẩm lậu, lún cục bộ khi mưa lớn hoặc lũ lên nhanh. |
Uy hiếp trực tiếp an toàn đê điều, giao thông trên đê và khu dân cư phía trong đê. |
Cao |
|
Đê cửa sông, bờ bao, đê bối, vùng nuôi trồng thủy sản ven biển |
Tràn bờ bao, lỗ rò, lở mái, sụt lún bờ bao và bãi bồi khi bão, triều, nước dâng kết hợp lũ. |
Gây ngập ao đầm, thiệt hại thủy sản, đe dọa công trình bảo vệ và sinh kế ven biển. |
Cao |
|
Khu dân cư ven sông, bãi sông, nền đất yếu |
Lún nứt cục bộ, sạt mép bờ, mất ổn định nền nhà và công trình phụ trợ. |
Nguy cơ ảnh hưởng an toàn nhà ở, công trình dân sinh và phải di dời khẩn cấp tại điểm xung yếu. |
Trung bình – cao |
|
Hệ thống giao thông, thủy lợi, công trình hạ tầng chạy dọc sông |
Sụt lún nền đường, hư hỏng công trình phụ trợ, xói lở chân công trình. |
Làm gián đoạn vận hành, giao thông, tiêu thoát nước và ứng cứu hộ đê. |
Trung bình – cao |
Bảng 5.29: Đánh giá cấp độ rủi ro do sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy và mức độ dễ bị tổn thương
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết về hiện tượng |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|||
|
Tác nhân kích hoạt |
Phạm vi/biểu hiện |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
Hàng năm trong mùa mưa lũ |
Cấp độ 1 |
Nguy cơ xảy ra cục bộ tại một số vị trí ven sông, mái đê, kè, bờ bao; tác động chủ yếu ở phạm vi công trình và khu vực lân cận. |
Mưa lớn, dao động lũ, dòng chảy mạnh cục bộ. |
Biểu hiện nứt, lở mái, sụt lún nền yếu; thường phát hiện tại các điểm đã từng có sự cố hoặc có địa chất yếu. |
|
x |
|
|
2 |
Năm 2020– 2022 |
Cấp độ 1 |
Đã phát sinh nhiều sự cố nứt mặt đê, sạt mái đê, sạt lở kè, sụt lún cục bộ; thiệt hại còn phân tán nhưng cho thấy nguy cơ thường trực. |
Hoàn lưu bão, mưa lớn kéo dài và thay đổi dòng chảy sau lũ. |
Tập trung tại đê tả sông Hồng, kè Phi Liệt, Mai Xá, Nghi Xuyên, Hàm Tử và một số bờ bao, đê bối. |
|
x |
|
|
3 |
Năm 2023 |
Cấp độ 1–2 (tham chiếu) |
Sự cố sạt trượt mái đê tại Văn Giang phải công bố tình huống khẩn cấp; mức độ đe dọa cao hơn đối với an toàn đê điều và khu dân cư. |
Mưa lớn tập trung trên nền địa chất yếu. |
Đoạn K83+370– K83+400 đê tả sông Hồng, thôn Phi Liệt, xã Liên Nghĩa. |
|
|
x |
|
4 |
Năm 2024– 2025 |
Cấp độ 2 (tham chiếu tại điểm xung yếu) |
Tổ hợp mưa lớn – lũ lớn – triều cao và lũ muộn làm gia tăng rõ rệt số lượng, quy mô và mức độ phức tạp của sự cố; có điểm xô tụt mái kè, tràn bờ bao, lỗ rò kéo dài. |
Mưa lớn diện rộng, lũ lên nhanh, triều cao, nước dâng và nước rút mạnh sau lũ. |
Tập trung ở Vũ Vân, Kiến Xương, Đông Hưng, Hồng Vũ, Thư Vũ, kè Hà Xá, Hàm Tử và các bờ bao ven sông, ven biển. |
|
|
x |
Nhìn chung, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, rủi ro sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy không phân bố đều theo không gian mà tập trung tại các tuyến đê, kè, bờ bao, đê bối và khu vực nền yếu ven sông, ven biển. Vì vậy, trong xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai cần ưu tiên rà soát các điểm xung yếu, theo dõi diễn biến công trình sau mưa lũ, chuẩn bị vật tư hộ đê, phương án bảo vệ dân cư ven sông và tăng cường kiểm tra hiện trường ngay từ giai đoạn đầu của các đợt mưa lớn, bão, lũ.
2.8. Hạn hán
Hạn hán trên địa bàn tỉnh Hưng Yên chủ yếu biểu hiện dưới dạng thiếu mưa, thiếu nguồn nước và khô hạn cục bộ trong mùa khô; mức độ diễn biến thường chậm hơn so với bão, lũ, mưa lớn nhưng tác động kéo dài tới sản xuất nông nghiệp, cấp nước và đời sống dân sinh. Giai đoạn 2020-2025 cho thấy hạn hán, thiếu nước hầu như năm nào cũng xuất hiện, tập trung chủ yếu trong mùa Đông Xuân, phổ biến từ tháng 01 đến tháng 04 và các tháng cuối năm như tháng 11, tháng 12; thời kỳ khô hạn nặng nhất thường rơi vào các tháng 01 đến tháng 03.
Trên thực tế, hạn hán tại Hưng Yên không phải là loại hình thiên tai có biểu hiện đột ngột, dữ dội như bão, lũ hay dông lốc, song lại có tính chất tích lũy, lan truyền và gây tác động kéo dài. Biểu hiện rõ nhất là khó khăn trong việc lấy nước phục vụ gieo cấy, chăm sóc lúa và cây màu vụ xuân; suy giảm khả năng cấp nước của hệ thống kênh trục, trạm bơm, cống lấy nước; gia tăng áp lực điều tiết nguồn nước đối với các công trình thủy lợi; đồng thời làm tăng nguy cơ suy giảm chất lượng nước tại các khu vực cửa sông, ven biển.
Đối với khu vực ven biển, cửa sông thuộc địa bàn Thái Bình cũ, hạn hán không chỉ làm suy giảm nguồn nước ngọt mà còn làm gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn, ảnh hưởng đến tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản và vận hành hệ thống cống lấy nước, giữ ngọt, tiêu thoát nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nắng nóng kéo dài, phân bố mưa không đều và nguồn nước thượng lưu biến động, hạn hán trên địa bàn tỉnh có thể chuyển từ thiếu nước cục bộ sang trạng thái gây ảnh hưởng rõ hơn đối với sản xuất nông nghiệp, dân sinh và an toàn nguồn nước.
Bảng 5.30: Khái quát tình hình hạn hán, thiếu nước trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2020-2025
|
Năm |
Thời kỳ khô hạn chủ yếu |
Nhận định tổng hợp |
|
2020 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Khô hạn tập trung mùa Đông Xuân; ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống tại hầu hết địa phương. |
|
2021 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Thiếu nước cục bộ tiếp tục xuất hiện; thời kỳ khô hạn nặng chủ yếu trong các tháng đầu năm. |
|
2022 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Khô hạn mùa cạn vẫn là nguy cơ thường niên; cần chủ động lấy nước, điều tiết nước phục vụ sản xuất. |
|
2023 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Hạn hán tiếp tục tập trung trong các tháng 01–03; ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt tại nhiều nơi. |
|
2024 |
Tháng 01-04 và 11-12 |
Các báo cáo tiếp tục ghi nhận tình trạng khô hạn trong mùa Đông Xuân; yêu cầu chống hạn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm song song với chống úng, bão, lũ. |
|
2025 |
Mùa cạn đầu năm và cuối năm |
Không ghi nhận thiệt hại nổi bật do hạn hán, song nguy cơ thiếu nước, khó khăn lấy nước và áp lực vận hành hệ thống thủy lợi vẫn hiện hữu. |
Xét theo không gian phơi lộ, các khu vực dễ bị tổn thương nhất do hạn hán gồm vùng sản xuất nông nghiệp nội đồng phụ thuộc nhiều vào nguồn nước tưới từ hệ thống kênh trục và trạm bơm; khu vực ven biển, cửa sông và vùng nuôi trồng thủy sản chịu đồng thời tác động của thiếu nước ngọt và nguy cơ gia tăng xâm nhập mặn; các khu dân cư nông thôn sử dụng nguồn nước mặt, nước công trình thủy lợi hoặc mạng cấp nước tập trung quy mô nhỏ; và hệ thống công trình thủy lợi, cống lấy nước, trạm bơm vốn phải vận hành với cường độ cao trong mùa cạn.
Bảng 5.31: Khu vực và đối tượng dễ bị tổn thương do hạn hán
|
Khu vực/đối tượng |
Biểu hiện dễ bị tổn thương |
Mức độ |
|
Vùng sản xuất nông nghiệp nội đồng |
Khó khăn trong lấy nước gieo cấy, chăm sóc lúa và cây màu vụ xuân; gia tăng chi phí bơm tưới, điều tiết nguồn nước. |
Cao |
|
Khu vực ven biển, cửa sông, vùng NTTS |
Thiếu nước ngọt kết hợp nguy cơ xâm nhập mặn, ảnh hưởng nuôi trồng thủy sản và vận hành cống lấy nước - tiêu thoát nước. |
Cao |
|
Hệ thống thủy lợi, cống, trạm bơm |
Gia tăng áp lực vận hành trong thời kỳ mùa cạn; nguy cơ thiếu nguồn bổ sung, giảm hiệu quả cấp nước và tiêu thoát nước. |
Trung bình đến cao |
|
Khu dân cư nông thôn, hộ sử dụng nguồn nước quy mô nhỏ |
Dễ phát sinh khó khăn về cấp nước sinh hoạt cục bộ trong thời gian khô hạn kéo dài, nhất là tại khu vực xa nguồn cấp ổn định. |
Trung bình |
|
Cơ sở sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, dịch vụ |
Thiếu nước ảnh hưởng quá trình sản xuất, vệ sinh, làm tăng chi phí duy trì hoạt động trong thời kỳ khô hạn. |
Trung bình |
Căn cứ các ngưỡng phân cấp rủi ro thiên tai do hạn hán áp dụng cho khu vực Bắc Bộ tại Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg, đối với tỉnh Hưng Yên, cấp độ rủi ro thiên tai do hạn hán được xác định ở mức cao nhất hiện nay là cấp 1; trong điều kiện biến đổi khí hậu, kéo dài thiếu hụt mưa và suy giảm mạnh nguồn nước mặt, rủi ro có thể tăng lên các cấp cao hơn trong các kịch bản bất lợi hơn.
Bảng 5.32: Phân cấp rủi ro thiên tai do hạn hán trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Cấp độ RRTT |
Ngưỡng theo Quyết định số 18/2021/QĐ- TTg (áp dụng cho khu vực Bắc Bộ) |
Đánh giá đối với tỉnh Hưng Yên |
|
Cấp 1 |
Thiếu hụt tổng lượng mưa tháng trên 50% so với TBNN, kéo dài từ 2 đến 3 tháng và thiếu hụt nguồn nước mặt từ trên 50% đến 70%; hoặc kéo dài trên 3 đến 5 tháng với thiếu hụt nguồn nước mặt từ 20% đến 50%. |
Là mức rủi ro phù hợp nhất với đặc điểm thực tế của tỉnh; hạn hán, thiếu nước thường biểu hiện dưới dạng thiếu nước cục bộ cho sản xuất nông nghiệp và khó khăn trong lấy nước. |
|
Cấp 2 |
Thiếu hụt tổng lượng mưa tháng trên 50% so với TBNN kéo dài hơn, kết hợp thiếu hụt nguồn nước mặt từ trên 50% đến 70%; hoặc kéo dài trên 5 tháng với thiếu hụt nguồn nước mặt từ 20% đến 50%. |
Cần theo dõi trong các năm có mùa cạn kéo dài, dòng chảy thượng nguồn suy giảm và nhu cầu lấy nước tăng cao. |
|
Cấp 3-4 |
Đặt ra trong các trường hợp thiếu hụt lượng mưa rất lớn, kéo dài nhiều tháng liên tiếp, đồng thời thiếu hụt nguồn nước mặt ở mức nghiêm trọng trên phạm vi rộng. |
Chưa phải cấp độ điển hình hiện nay, song có thể xuất hiện trong các kịch bản bất lợi hơn do biến đổi khí hậu, nắng nóng kéo dài và suy giảm mạnh nguồn nước mặt. |
Trên cơ sở chuỗi diễn biến thiên tai và đặc điểm sử dụng nước của địa phương, có thể nhận định rằng hạn hán trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay chủ yếu gây thiệt hại theo dạng thiếu nước cục bộ, kéo dài, làm gia tăng chi phí chống hạn và tác động mạnh nhất đến sản xuất nông nghiệp, thủy lợi và sinh hoạt dân sinh ở những khu vực phụ thuộc nhiều vào nguồn nước mặt. Đây là loại hình thiên tai cần được quản lý theo hướng chủ động điều tiết nguồn nước, vận hành linh hoạt công trình thủy lợi, theo dõi chặt chẽ mùa cạn và lồng ghép với phương án ứng phó nắng nóng, xâm nhập mặn và thiếu nước sinh hoạt.
Bảng 5.33: Đánh giá cấp độ rủi ro, tác động và mức độ dễ bị tổn thương do hạn hán
|
TT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết về hạn hán |
Mức độ dễ bị tổn thương |
||
|
Tình trạng thiếu nước |
Thời gian kéo dài |
Thấp/ Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
Tháng 01-03 |
Cấp 1 |
Thiếu nước cục bộ phục vụ gieo cấy, chăm sóc lúa và cây màu vụ xuân; tăng nhu cầu điều tiết và bơm tưới. |
Thiếu nước tại một số kênh trục, trạm bơm và vùng cuối nguồn |
Ngắn đến trung bình |
X |
|
|
2 |
Tháng 01-04 hoặc cuối năm |
Cấp 1-2 |
Khó khăn lấy nước trên diện rộng hơn; ảnh hưởng đồng thời đến sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và vận hành công trình thủy lợi. |
Thiếu hụt nguồn bổ sung cho hệ thống thủy lợi, áp lực cấp nước tăng cao |
Trung bình đến dài |
|
X |
|
3 |
Mùa cạn kéo dài kết hợp nắng nóng |
Cấp 2 |
Gia tăng nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng, suy giảm nguồn nước mặt, ảnh hưởng mạnh đến sản xuất và dân sinh. |
Thiếu nước kéo dài, có nguy cơ suy giảm chất lượng nguồn nước |
Dài |
|
X |
|
4 |
Khu vực ven biển, cửa sông trong mùa cạn |
Cấp 2 (cục bộ) |
Thiếu nước ngọt kết hợp nguy cơ xâm nhập mặn, ảnh hưởng tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản và vận hành cống lấy nước. |
Thiếu nước ngọt, gia tăng nguy cơ mặn xâm nhập |
Trung bình đến dài |
|
X |
Nhận xét: Hạn hán trên địa bàn tỉnh Hưng Yên chưa phải là loại hình thiên tai chi phối mạnh như bão, lũ, ngập lụt; tuy nhiên mức độ dễ bị tổn thương lại tương đối cao do phụ thuộc lớn vào nguồn nước tưới, yêu cầu vận hành công trình thủy lợi và nguy cơ tác động dây chuyền đến sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt dân sinh và khu vực ven biển, cửa sông. Vì vậy, công tác phòng ngừa cần tập trung vào theo dõi mùa cạn, chủ động lấy nước, trữ nước, điều tiết linh hoạt công trình, chuyển đổi thời vụ và lồng ghép chặt chẽ với phương án chống nắng nóng, thiếu nước và xâm nhập mặn.
2.9. Xâm nhập mặn
Xâm nhập mặn là loại hình thiên tai có tính đặc thù đối với tỉnh Hưng Yên, tập trung chủ yếu tại khu vực ven biển, cửa sông và vùng hạ lưu các hệ thống sông chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều biển. Sau sáp nhập, không gian có nguy cơ cao tập trung ở khu vực Thái Bình cũ, nhất là dải ven biển phía đông nam của tỉnh, các cửa sông Hồng, Trà Lý, Diêm Hộ và các vùng lấy nước, tiêu thoát nước, nuôi trồng thủy sản gắn với hệ thống đê biển, đê cửa sông.
Xâm nhập mặn thường xảy ra trong mùa khô, tập trung từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mạnh nhất vào các tháng 01 đến tháng 3 khi dòng chảy thượng nguồn suy giảm, nhu cầu lấy nước gia tăng và triều cường hoạt động mạnh. Loại hình thiên tai này diễn biến chậm nhưng thời gian ảnh hưởng kéo dài, tác động trực tiếp đến cấp nước tưới, cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp vùng cửa sông – ven biển và vận hành các cống dưới đê.
So với bão, mưa lớn và lũ, xâm nhập mặn chưa phải là loại hình gây thiệt hại nổi trội nhất trong các báo cáo tổng kết công tác phòng, chống thiên tai giai đoạn 2020-2025; tuy nhiên đây là rủi ro thường xuyên, có tính tích lũy và gắn chặt với các tình huống hạn hán, thiếu nước, triều cường và biến động dòng chảy mùa cạn. Trong điều kiện nguồn nước ngọt từ thượng lưu suy giảm hoặc việc vận hành công trình lấy nước, giữ ngọt gặp khó khăn, nguy cơ xâm nhập mặn có thể gia tăng nhanh trên các tuyến sông, kênh ven biển và khu vực ngoài đê bối.
Về bản chất, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh không tác động đồng đều theo không gian. Khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp là các xã, phường ven biển, cửa sông, các vùng nuôi trồng thủy sản ven sông, ven biển, các bãi bồi ngoài đê bối và các vùng lấy nước phụ thuộc mạnh vào diễn biến mực nước – độ mặn trên sông. Khu vực nội đồng chịu ảnh hưởng gián tiếp thông qua khó khăn lấy nước ngọt, gia tăng chi phí vận hành công trình thủy lợi và nguy cơ suy giảm chất lượng nguồn nước trong thời kỳ khô hạn kéo dài.
Do các tài liệu tổng kết thiên tai hằng năm chủ yếu phản ánh thiệt hại nổi bật, trong khi xâm nhập mặn là quá trình diễn biến chậm và chưa phải loại hình gây thiệt hại độc lập lớn trong giai đoạn nghiên cứu, việc đánh giá ở giai đoạn hiện nay được thực hiện theo hướng định tính, bám theo đặc điểm không gian rủi ro, thời kỳ xuất hiện, đối tượng chịu tác động và khung phân cấp của Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg.
Bảng 5.34: Khái quát tình hình xâm nhập mặn giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Thời kỳ chủ yếu |
Khu vực chịu ảnh hưởng chính |
Nhận định tổng hợp |
|
2020 |
Tháng 12/2019 - 4/2020 |
Ven biển, cửa sông, vùng lấy nước ven biển |
Không ghi nhận thiệt hại nổi bật do xâm nhập mặn trong báo cáo tổng kết; nguy cơ chủ yếu gắn với mùa cạn, triều cường và khó khăn lấy nước ngọt tại khu vực cửa sông, ven biển. |
|
2021 |
Tháng 12/2020 - 4/2021 |
Ven biển, cửa sông, vùng ngoài đê bối |
Nguy cơ xâm nhập mặn tiếp tục hiện hữu trong mùa khô; yêu cầu trọng tâm là theo dõi độ mặn, vận hành cống dưới đê, giữ ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt. |
|
2022 |
Tháng 01 - 4 và 11 - 12 |
Thái Thụy, Tiền Hải, vùng nuôi trồng thủy sản ven biển |
Trong bối cảnh mùa cạn và dòng chảy biến động, xâm nhập mặn được xem là rủi ro thường niên cần quản lý, nhất là với vùng nuôi trồng thủy sản và các công trình lấy nước phụ thuộc thủy triều. |
|
2023 |
Tháng 01 - 4 và 11 -12 |
Cửa sông Hồng, Trà Lý, Diêm Hộ và vùng hạ lưu ven biển |
Không ghi nhận thiệt hại lớn độc lập; tuy nhiên nguy cơ tăng khi nguồn nước ngọt suy giảm, đòi hỏi tăng cường theo dõi, điều tiết công trình và dự trữ nước ngọt. |
|
2024 |
Tháng 01 - 4 và 11 - 12 |
Khu vực ven biển, cửa sông, vùng lấy nước phụ thuộc công trình thủy lợi |
Báo cáo năm 2024 tiếp tục xác định mùa khô là thời kỳ có nguy cơ xâm nhập mặn; trọng tâm ứng phó là vận hành linh hoạt hệ thống cống, trạm bơm và gắn chống hạn với giữ ngọt. |
|
2025 |
Mùa cạn đầu năm và cuối năm |
Ven biển, cửa sông, ngoài đê bối và vùng cấp nước phụ thuộc sông trục |
Báo cáo năm 2025 không ghi nhận thiệt hại nổi bật do xâm nhập mặn, nhưng nguy cơ vẫn hiện hữu, nhất là trong điều kiện mưa phân bố không đều, nguồn nước thượng lưu biến động và triều cường hoạt động mạnh. |
Nhìn chung, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập cần được quản lý như một rủi ro gắn với hạn hán, thiếu nước, thủy triều vùng cửa sông - ven biển và khả năng vận hành công trình thủy lợi. Đối với loại hình này, việc chủ động theo dõi độ mặn, điều tiết công trình, giữ ngọt và bảo vệ các vùng sản xuất nhạy cảm có ý nghĩa quyết định trong giảm thiểu thiệt hại.
Bảng 5.35: Khu vực, đối tượng và yêu cầu quản lý đối với nguy cơ xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Khu vực/đối tượng |
Biểu hiện nguy cơ chính |
Tác động, yêu cầu quản lý |
|
Vùng ven biển, cửa sông thuộc Thái Thụy, Tiền Hải và các khu vực giáp biển |
Độ mặn tăng trong mùa khô, triều cường đẩy mặn sâu vào hệ thống sông, kênh và công trình lấy nước. |
Nguy cơ ảnh hưởng đến lấy nước tưới, cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản; cần vận hành linh hoạt cống, trạm bơm và theo dõi độ mặn thường xuyên. |
|
Vùng bãi bồi, bờ bao, đầm nuôi trồng thủy sản ngoài đê bối tại Kiến Xương, Thái Thụy, Tiền Hải và khu vực cửa sông |
Nguồn nước trong ao, đầm và vùng bãi chịu tác động trực tiếp của mặn, triều và sóng. |
Dễ phát sinh thiệt hại cho nuôi trồng thủy sản; cần gắn quản lý xâm nhập mặn với phòng, chống tràn, vỡ bờ bao và an toàn đê bối. |
|
Các công trình cống dưới đê, đê biển, đê cửa sông và hệ thống thủy lợi ven biển |
Áp lực giữ ngọt - tiêu thoát nước - ngăn mặn diễn ra đồng thời, nhất là trong mùa cạn hoặc khi có triều cao. |
Đòi hỏi điều hành công trình chặt chẽ, liên thông giữa các đơn vị quản lý; ưu tiên bảo đảm an toàn công trình và cấp nước cho sản xuất. |
|
Khu vực nội đồng phụ thuộc nguồn nước từ sông trục và hệ thống thủy lợi liên vùng |
Chịu ảnh hưởng gián tiếp khi dòng chảy nước ngọt suy giảm, làm khó khăn cho lấy nước và duy trì chất lượng nước. |
Cần chủ động trữ nước, bố trí thời vụ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp và phối hợp liên vùng trong điều tiết nguồn nước. |
Căn cứ Điều 49 Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn ở khu vực Bắc Bộ được xác định theo khoảng cách xâm nhập sâu của ranh giới độ mặn 1‰ và 4‰ tính từ cửa sông. Đối chiếu đặc điểm cửa sông, chế độ thủy triều và phạm vi ảnh hưởng thực tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn được xác định ở mức cao nhất là cấp 3.
Bảng 5.36: Đánh giá cấp độ rủi ro và mức độ dễ bị tổn thương do xâm nhập mặn
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết xâm nhập mặn |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|||
|
Độ mặn/ranh giới |
Thời gian kéo dài |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
Mùa cạn, chưa xuất hiện thiếu nước rõ rệt |
1 |
Xâm nhập mặn ở phạm vi hạn chế, tác động gián tiếp đến công tác lấy nước và vận hành cống dưới đê; chưa phát sinh thiệt hại lớn độc lập. |
Ranh giới mặn 1‰ xâm nhập ở mức thấp đến trung bình; dưới ngưỡng rủi ro cao đối với tỉnh. |
Ngắn ngày hoặc theo kỳ triều |
x |
|
|
|
2 |
Mùa cạn kéo dài, triều cường hoạt động mạnh |
2 |
Khó khăn cục bộ trong lấy nước ngọt, gia tăng chi phí vận hành công trình, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và cấp nước tại một số khu vực ven biển, cửa sông. |
Độ mặn tăng trên hệ thống sông, kênh ven biển; phạm vi xâm nhập sâu hơn bình thường. |
Kéo dài theo đợt trong mùa khô |
|
x |
|
|
3 |
Mùa cạn kết hợp thiếu nước thượng lưu, vận hành công trình khó khăn |
3 |
Nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến vùng nuôi trồng thủy sản, khu vực lấy nước tưới, sinh hoạt và các công trình thủy lợi ven biển; phải triển khai điều hành giữ ngọt, ngăn mặn ở mức cao. |
Ranh giới 1‰ hoặc 4‰ xâm nhập sâu đạt ngưỡng rủi ro cao theo khung phân cấp áp dụng cho Bắc Bộ. |
Kéo dài, lặp lại nhiều kỳ triều |
|
|
x |
Từ các phân tích trên có thể nhận định rằng xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là loại hình thiên tai có phạm vi tác động tập trung chủ yếu ở khu vực ven biển, cửa sông, vùng ngoài đê bối và các không gian sản xuất phụ thuộc mạnh vào nguồn nước mặt mùa cạn. Mức độ dễ bị tổn thương cao nhất thuộc về các khu vực lấy nước trực tiếp từ sông, các vùng nuôi trồng thủy sản, khu vực bãi triều – cửa sông và hệ thống công trình cống, đê biển, đê cửa sông phải thực hiện đồng thời nhiệm vụ giữ ngọt, ngăn mặn và tiêu thoát nước.
Trong tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai, trọng tâm ứng phó đối với xâm nhập mặn là theo dõi độ mặn thường xuyên; điều tiết linh hoạt hệ thống công trình thủy lợi, cống dưới đê; chủ động trữ nước ngọt, bố trí thời vụ và cơ cấu sản xuất phù hợp; bảo vệ vùng nuôi trồng thủy sản, cấp nước sinh hoạt và phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương, đơn vị quản lý công trình trên toàn tuyến ven biển - cửa sông.
2.10. Sương mù
Sương mù là hiện tượng khí tượng xuất hiện tương đối phổ biến trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, nhất là trong mùa đông, đầu xuân và các thời kỳ chuyển mùa, khi độ ẩm không khí cao, gió yếu, nền nhiệt thấp và chênh lệch nhiệt giữa ngày và đêm lớn. Với đặc điểm địa hình đồng bằng thấp, mạng lưới sông ngòi dày đặc, nhiều vùng bãi sông, vùng trũng, khu vực ven biển và cửa sông, hiện tượng sương mù thường xuất hiện vào ban đêm, sáng sớm, có những ngày kéo dài đến gần trưa, làm giảm tầm nhìn và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giao thông, sản xuất và đời sống dân sinh.
Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, sương mù không phải là loại hình thiên tai gây thiệt hại lớn, đột biến như bão, lũ, mưa lớn, dông lốc hoặc nắng nóng; tuy nhiên đây là hiện tượng bất lợi khí tượng có tần suất xuất hiện khá thường xuyên, nhất là trong các tháng từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Sương mù thường đi kèm các đợt không khí lạnh ẩm, mưa nhỏ, mưa phùn, thời tiết nồm ẩm hoặc trạng thái gió yếu kéo dài. Trong điều kiện đó, tầm nhìn ngang bị suy giảm, mặt đường, mặt cầu, bến bãi, đường đê, tuyến giao thông thủy và khu vực sản xuất ngoài trời trở nên trơn trượt, ẩm ướt, làm gia tăng nguy cơ mất an toàn trong vận hành, đi lại và lao động.
Giai đoạn 2020-2025 cho thấy hiện tượng sương mù xuất hiện hằng năm trên cả khu vực Hưng Yên cũ và Thái Bình cũ, song chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình, phân tán theo từng đợt không khí lạnh hoặc hình thế thời tiết ẩm. Các năm 2020, 2021, 2022 và 2024 đều ghi nhận trong các đợt không khí lạnh có mưa nhỏ, mưa phùn và sương mù nhẹ; năm 2023, sương mù xuất hiện xen kẽ trong các đợt không khí lạnh đầu năm và cuối năm. Trên địa bàn tỉnh chưa ghi nhận sương mù là loại hình gây thiệt hại lớn độc lập về người và tài sản, nhưng tác động gián tiếp là đáng lưu ý, đặc biệt đối với giao thông đường bộ, đường thủy nội địa, hoạt động nghề cá ven biển, vận hành cảng bến, sản xuất nông nghiệp buổi sáng sớm và các hoạt động thi công, vận tải, học tập, sinh hoạt ngoài trời.
Bảng 5.37: Khái quát đặc điểm sương mù trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2020-2025
|
Năm |
Thời kỳ xuất hiện chủ yếu |
Đặc điểm nổi bật |
Tác động chính |
|
2020 |
Tháng 01–3 và cuối năm |
Xuất hiện trong các đợt không khí lạnh ẩm, mưa nhỏ, mưa phùn, sương mù nhẹ. |
Giảm tầm nhìn giao thông, ảnh hưởng đi lại và sản xuất ngoài trời. |
|
2021 |
Đầu năm và cuối năm |
Sương mù xuất hiện kèm các đợt rét, mưa nhỏ, thời tiết ẩm lạnh. |
Ảnh hưởng giao thông đường bộ, đường thủy và sinh hoạt dân sinh. |
|
2022 |
Tháng 01–3; cuối tháng 12 |
Sương mù xuất hiện xen kẽ trong các đợt không khí lạnh, rét đậm, rét hại. |
Gia tăng bất lợi cho sản xuất vụ Đông Xuân, giao thông sáng sớm. |
|
2023 |
Đầu năm và cuối năm |
Không ghi nhận thiệt hại lớn độc lập; chủ yếu là sương mù nhẹ, phân tán. |
Làm giảm tầm nhìn, tăng nguy cơ mất an toàn giao thông cục bộ. |
|
2024 |
Tháng 01–3 và cuối năm |
Tiếp tục xuất hiện cùng các đợt không khí lạnh, mưa nhỏ, thời tiết ẩm. |
Ảnh hưởng đi lại, lao động ngoài trời, vận hành phương tiện và sản xuất nông nghiệp. |
|
2025 |
Mùa đông, đầu xuân |
Không ghi nhận là loại hình gây thiệt hại nổi bật; chủ yếu là hiện tượng khí tượng bất lợi cần theo dõi. |
Tác động gián tiếp đến giao thông, khai thác thủy sản, sản xuất và sinh hoạt. |
Đối với khu vực nội đồng, sương mù làm giảm khả năng quan sát trên các tuyến giao thông liên huyện, liên xã, các tuyến đê kết hợp giao thông, cầu, cống, nút giao với quốc lộ và khu vực gần sông. Đối với khu vực ven biển, cửa sông và bãi triều, sương mù có thể ảnh hưởng đến việc xác định hướng đi, nhận diện vật cản, luồng tuyến, phương tiện và mốc dẫn đường, làm gia tăng nguy cơ va chạm, mắc cạn hoặc mất an toàn đối với tàu thuyền hoạt động gần bờ, tàu cá ra vào khu neo đậu, phương tiện khai thác thủy sản và lực lượng làm việc ngoài bãi triều.
Đối với sản xuất nông nghiệp, sương mù kéo dài kết hợp ẩm lạnh có thể làm gia tăng sâu bệnh, nấm bệnh trên mạ, rau màu, cây vụ đông và ảnh hưởng đến sinh trưởng, chăm sóc cây trồng trong thời kỳ nhiệt độ thấp. Nhìn chung, đây là loại hình thiên tai có cường độ không lớn nhưng phạm vi ảnh hưởng rộng theo không gian giao thông - dân sinh và cần được quản lý theo hướng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thường nhật.
Bảng 5.38: Khu vực, đối tượng dễ bị tác động bởi sương mù trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Khu vực/đối tượng |
Biểu hiện tác động chính |
Nhận định mức độ dễ bị tổn thương |
|
Các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường trên đê, cầu và nút giao lớn |
Sương mù làm giảm tầm nhìn, tăng nguy cơ va chạm, tai nạn giao thông vào sáng sớm |
Mức độ dễ bị tổn thương từ trung bình đến cao tại các điểm có lưu lượng lớn, mặt đường trơn ẩm và tầm nhìn bị hạn chế |
|
Giao thông đường thủy nội địa, bến bãi, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền |
Khó xác định luồng tuyến, vật cản và phương tiện đối diện; tăng nguy cơ va chạm, mắc cạn |
Mức độ dễ bị tổn thương cao tại khu vực cửa sông, ven biển, bãi triều và nơi tàu thuyền hoạt động gần bờ |
|
Người điều khiển phương tiện, ngư dân, người lao động ngoài trời, học sinh đi lại sáng sớm |
Khả năng tiếp cận thông tin và phản ứng khi tầm nhìn giảm mạnh bị hạn chế |
Là nhóm cần được cảnh báo sớm và hướng dẫn cụ thể về giảm tốc độ, tăng quan sát, sử dụng tín hiệu an toàn |
|
Vùng sản xuất nông nghiệp vụ Đông Xuân, mạ, rau màu, cây vụ đông |
Ẩm lạnh kéo dài làm tăng nguy cơ sâu bệnh, nấm bệnh, ảnh hưởng chăm sóc và sinh trưởng cây trồng |
Mức độ dễ bị tổn thương trung bình; tác động tích lũy theo thời gian, nhất là khi sương mù đi kèm mưa phùn và rét |
Bảng 5.39. Phân cấp rủi ro thiên tai do sương mù trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Tầm nhìn xa |
Phạm vi ảnh hưởng theo QĐ 18/2021/QĐ-TTg |
Cấp độ RRTT theo QĐ 18/2021/QĐ- TTg |
Khả năng áp dụng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên |
Cấp xác định cho tỉnh Hưng Yên |
|
Sương mù dày đặc, tầm nhìn xa từ 50 m trở lên |
Khu vực đường cao tốc và sân bay |
Cấp 1 |
Áp dụng đối với tuyến cao tốc và trục giao thông tốc độ cao trên địa bàn tỉnh |
Cấp 1 |
|
Sương mù dày đặc, tầm nhìn xa dưới 50 m |
Trên biển, trên sông và đường đèo núi |
Cấp 1 |
Áp dụng đối với vùng ven biển, cửa sông, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền và giao thông đường thủy nội địa |
Cấp 1 |
|
Sương mù dày đặc, tầm nhìn xa dưới 50 m |
Khu vực đường cao tốc và sân bay |
Cấp 2 |
Áp dụng đối với các tuyến cao tốc và đoạn giao thông tốc độ cao khi tầm nhìn suy giảm mạnh; đây là mức rủi ro cao nhất có thể xác định cho tỉnh |
Cấp 2 |
Căn cứ Điều 51 Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg, có thể xác định cấp độ rủi ro thiên tai do sương mù trên địa bàn tỉnh Hưng Yên ở mức cao nhất là cấp 2. Do đó, trọng tâm quản lý không nằm ở thiệt hại trực tiếp quy mô lớn, mà ở việc duy trì an toàn giao thông, an toàn khai thác thủy sản gần bờ và hạn chế tác động gián tiếp đến sản xuất, sinh hoạt.
Bảng 5.40: Đánh giá cấp độ rủi ro và mức độ dễ bị tổn thương do sương mù
|
STT |
Thời điểm xảy ra |
Cấp độ rủi ro |
Mức độ thiệt hại, tác động |
Chi tiết hiện tượng |
Mức độ dễ bị tổn thương |
|||
|
Tầm nhìn xa (m) |
Thời gian kéo dài (giờ) |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
||||
|
1 |
Đầu năm, cuối năm; sáng sớm tại khu vực nội đồng |
Cấp 1 |
Làm giảm tầm nhìn cục bộ trên đường liên xã, đường huyện, tuyến đê giao thông; ảnh hưởng đi lại và hoạt động sản xuất ngoài trời |
200- 1000 |
2-4 |
x |
|
|
|
2 |
Mùa đông, đầu xuân tại khu vực cửa sông, ven biển, bến bãi |
Cấp 1 |
Nguy cơ va chạm, mắc cạn, khó xác định luồng tuyến đối với tàu thuyền hoạt động gần bờ và giao thông đường thủy nội địa |
Dưới 50 |
3-6 |
|
|
x |
|
3 |
Các đợt sương mù dày đặc trên trục giao thông tốc độ cao, cầu lớn |
Cấp 1 |
Gia tăng nguy cơ tai nạn giao thông, ùn ứ cục bộ; đòi hỏi điều tiết và cảnh báo sớm |
50- 100 |
2-5 |
|
x |
|
|
4 |
Nhiều ngày sương mù đi kèm mưa phùn, ẩm lạnh trong vụ Đông Xuân |
Cấp 1 |
Tăng bất lợi cho mạ, rau màu, cây vụ đông; gia tăng sâu bệnh, nấm bệnh và khó khăn trong chăm sóc cây trồng |
100- 300 |
4-6 giờ/ngày |
|
x |
|
Từ các phân tích trên có thể nhận định rằng sương mù trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không phải là loại hình thiên tai gây thiệt hại nghiêm trọng trên diện rộng, nhưng là hiện tượng khí tượng bất lợi xuất hiện tương đối thường xuyên, có khả năng ảnh hưởng rộng đến giao thông, sản xuất và đời sống trong mùa đông và đầu xuân.
Trong tổ chức thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai, trọng tâm ứng phó đối với sương mù là tăng cường dự báo, cảnh báo sớm; hướng dẫn người dân, người điều khiển phương tiện và tàu thuyền giảm tốc độ, tăng quan sát, bật đầy đủ tín hiệu; đồng thời kiểm soát chặt chẽ hoạt động tại các bến bãi, khu neo đậu, tuyến đê giao thông, cầu cống, cửa sông và các điểm có nguy cơ tai nạn cao.
2.11. Nước dâng
Nước dâng do bão là loại hình thiên tai có tính đặc thù đối với tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập, tập trung chủ yếu ở không gian ven biển, cửa sông và ngoài đê bối thuộc phần địa bàn Thái Bình cũ. Hiện tượng này hình thành do tác động tổng hợp của gió mạnh, sự giảm áp trong bão hoặc áp thấp nhiệt đới và thủy triều, làm mực nước biển, mực nước cửa sông tăng cao bất thường trong thời gian ngắn. Đối với tỉnh Hưng Yên, nước dâng không chỉ là một hiện tượng hải văn bất lợi mà còn là tác nhân khuếch đại rủi ro đối với hệ thống đê biển, đê cửa sông, cống dưới đê, khu neo đậu tàu thuyền, vùng nuôi trồng thủy sản ngoài đê bối và các khu dân cư thấp trũng ven biển.
Mức độ rủi ro do nước dâng trên địa bàn tỉnh gia tăng do đặc điểm tự nhiên và hạ tầng của khu vực ven biển. Toàn tỉnh có 54km bờ biển; có 18 tuyến đê chính, trong đó có 06 tuyến đê cửa sông, 04 tuyến đê biển với tổng chiều dài toàn hệ thống đê khoảng 430,3km; 205 cống qua đê và 04 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp tỉnh. Phần lớn các khu vực chịu tác động trực tiếp của nước dâng tập trung tại Thái Thụy, Tiền Hải, các vùng bãi triều, vùng ngoài đê bối, các cửa sông Trà Lý, sông Hóa, sông Hồng và các khu vực thấp trũng như Đồng Châu, Nam Cường, Hưng Phú, Nam Tiền Hải. Đây đều là những không gian có mức độ phơi lộ cao, vừa chịu tác động của biển và triều, vừa gắn chặt với sinh kế thủy sản, giao thông ven biển, vận hành cống và an toàn dân cư.
Về điều kiện nền, khu vực ven biển tỉnh Hưng Yên chịu chế độ nhật triều khá thuần nhất; biên độ dao động triều tối đa từ 3,0 đến 3,5m, trung bình từ 1,7 đến 1,9m; mực nước triều lớn nhất nhiều năm có thể đạt khoảng 4,0m; số ngày triều cường từ 3m trở lên có từ 152 đến 176 ngày trong năm. Với chế độ triều này, khi bão mạnh hoặc áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Vịnh Bắc Bộ trùng với kỳ triều cao, nguy cơ nước dâng, tràn bờ bao, uy hiếp đê biển - đê cửa sông và ngập sâu vùng nuôi trồng thủy sản, khu dân cư ven biển tăng lên rất nhanh. Đây là điểm khác biệt căn bản so với các loại ngập lụt nội đồng thông thường.
Giai đoạn 2020-2025 cho thấy nguy cơ nước dâng trên địa bàn tỉnh luôn gắn liền với các cơn bão ảnh hưởng đến khu vực ven biển. Trong các năm 2020- 2022, khu vực Thái Bình cũ liên tục chịu tác động của các cơn bão số 2, số 7, số 8, số 3 và số 4; mặc dù báo cáo thiên tai chưa tách riêng thiệt hại do nước dâng thành nhóm độc lập, nhưng thực tế đã ghi nhận nhiều biểu hiện đặc trưng của tổ hợp bão - triều - nước dâng như tràn bờ bao, lỗ rò, vỡ bờ bao khu vực đê bối, ngập ao đầm nuôi trồng thủy sản, hư hỏng công trình ven biển và cửa sông. Điều này cho thấy nước dâng là thành phần nguy hiểm hiện diện thường xuyên trong các tình huống bão ven biển, ngay cả khi chưa được định lượng thành một chỉ tiêu thiệt hại riêng.
Năm 2024 và năm 2025 là hai năm thể hiện rõ xu hướng gia tăng tính cực đoan của loại hình thiên tai này. Năm 2024, bão số 3 (Yagi) gây gió rất mạnh, mưa lớn và tạo ra đợt lũ đặc biệt lớn trên hệ thống sông; nhiều trạm tại khu vực Thái Bình cũ vượt báo động III, riêng trạm Thái Bình vượt mức lũ lịch sử năm 1971. Mặc dù hồ sơ tổng hợp không tách riêng giá trị nước dâng trong sự kiện này, song xét theo tính chất tổ hợp giữa gió mạnh ven biển, thủy triều, lũ cửa sông và ngập ven biển, đây là tình huống cho thấy rủi ro nước dâng đã chuyển từ dạng nguy cơ tiềm tàng sang nguy cơ cần được tổ chức ứng phó ở mức rất cao. Sang năm 2025, bão số 10 đã ghi nhận nước dâng khu vực cửa sông, ven biển từ 0,5 đến 0,7m, kèm theo gió mạnh cấp 7-8, giật cấp 9 và lốc xoáy lớn tại Thái Thụy; đây là bằng chứng trực tiếp cho thấy nước dâng tiếp tục là mối đe dọa hiện hữu đối với khu vực ven biển của tỉnh.
Theo các kịch bản nước biển dâng và ngập ven biển đã được tham chiếu trong hồ sơ, nếu mực nước biển dâng 100cm thì khoảng 38,22% diện tích tỉnh Thái Bình cũ có nguy cơ bị ngập, trong đó Tiền Hải và Kiến Xương là các địa bàn có nguy cơ cao. Các số liệu này cho thấy nước dâng không chỉ là hiện tượng ngắn hạn trong thời điểm bão đổ bộ mà còn là nhân tố làm gia tăng nền rủi ro ngập ven biển, gây áp lực lớn lên quy hoạch không gian, bố trí dân cư, hệ thống đê điều, hạ tầng sản xuất và an toàn sinh kế vùng bãi triều, ven cửa sông.
Bảng 5.41. Khái quát diễn biến nguy cơ nước dâng giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Diễn biến nguy cơ nước dâng |
Tác động, nhận định |
|
2020 |
Khu vực ven biển Thái Bình cũ chịu tác động trực tiếp của bão số 2 và bão số 7. |
Mưa lớn, sóng và triều gây ngập úng vùng nuôi trồng thủy sản, ảnh hưởng giao thông và một số tuyến đê, kè ven sông - ven biển; chưa tách riêng số liệu nước dâng nhưng biểu hiện rủi ro đã khá rõ. |
|
2021 |
Bão số 7, bão số 8 và 01 áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng khu vực ven biển, cửa sông, đê bối. |
Xuất hiện tràn, lỗ rò, vỡ bờ bao khu vực đê bối; thiệt hại lớn đối với lúa mùa, cây màu và thủy sản, cho thấy nước dâng kết hợp triều là yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm của bão. |
|
2022 |
Chuỗi bão số 2, số 3, số 4 và đợt lũ giữa tháng 6 làm gia tăng áp lực lên khu vực cửa sông, ven biển. |
Ghi nhận tràn bờ bao, thẩm lậu, lỗ rò và sạt lở tại các tuyến đê cửa sông, đê bối; nguy cơ tổ hợp bão - triều - lũ ven biển tiếp tục ở mức cao. |
|
2023 |
Không ghi nhận sự kiện nước dâng độc lập lớn, nhưng khu vực ven biển và hạ du vẫn duy trì rủi ro trong các đợt bão, áp thấp nhiệt đới cuối mùa. |
Rủi ro tồn tại dưới dạng nền, đặc biệt tại vùng thấp trũng, cửa sông, vùng ngoài đê bối và các khu vực phụ thuộc vào bờ bao, cống dưới đê. |
|
2024 |
Bão số 3 (Yagi) gây gió rất mạnh, mưa lớn, lũ lớn trên hệ thống sông và tác động mạnh tới khu vực ven biển. |
Nhiều trạm thủy văn vượt báo động III, riêng trạm Thái Bình vượt mức lũ lịch sử năm 1971; dù không tách riêng trị số nước dâng, đây là năm nguy cơ nước dâng ở mức rất cao trong tổ hợp bão - lũ - triều. |
|
2025 |
Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng của bão số 5, bão số 6, bão số 10 và áp thấp nhiệt đới; riêng bão số 10 ghi nhận nước dâng 0,5-0,7 m tại khu vực cửa sông, ven biển. |
Là bằng chứng trực tiếp nhất trong giai đoạn tổng hợp về nước dâng do bão; rủi ro đối với đê biển, bờ bao, dân cư thấp trũng, tàu thuyền và nuôi trồng thủy sản tiếp tục hiện hữu ở mức cao. |
Bảng 5.42. Khu vực, công trình và đối tượng dễ bị tổn thương do nước dâng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Khu vực/công trình/đối tượng |
Dạng tác động chính |
Mức độ dễ bị tổn thương |
Trọng tâm ứng phó |
|
Vùng ven biển, cửa sông, bãi triều và ngoài đê bối tại Thái Thụy, Tiền Hải |
Nước dâng kết hợp triều cao gây ngập sâu, tràn bờ bao, uy hiếp dân cư và sản xuất ven biển. |
Rất cao |
Theo dõi chặt chẽ diễn biến bão - triều; sơ tán dân ở khu vực thấp trũng, ngoài đê; kiểm soát hoạt động tại vùng bãi triều. |
|
Hệ thống đê biển, đê cửa sông, cống dưới đê, bờ bao nuôi trồng thủy sản |
Tràn đỉnh, thẩm lậu, lỗ rò, hư hỏng mái đê, mất an toàn công trình khi bão trùng triều cường. |
Rất cao |
Tổ chức tuần tra canh gác, kiểm tra công trình, chuẩn bị vật tư xử lý giờ đầu, bảo vệ các vị trí xung yếu. |
|
Khu neo đậu tàu thuyền, bến cá, cửa lạch và phương tiện hoạt động trên biển, ven bờ |
Nước dâng đi kèm gió mạnh, sóng lớn làm tăng nguy cơ va đập, đứt neo, chìm đắm, mất an toàn khi ra vào cửa sông. |
Cao |
Kiểm đếm, sắp xếp nơi neo đậu an toàn, cấm biển kịp thời, bảo đảm thông tin liên lạc với tàu thuyền. |
|
Vùng nuôi trồng thủy sản, ao đầm ngoài đê bối và khu vực sinh kế ven biển |
Ngập tràn ao đầm, vỡ bờ bao, thất thoát thủy sản, hư hỏng hạ tầng sản xuất. |
Cao |
Gia cố bờ bao, thu hoạch sớm diện tích đến kỳ, di chuyển vật tư và trang thiết bị đến nơi an toàn. |
|
Khu dân cư thấp trũng, tuyến giao thông ven biển, điện, thông tin liên lạc và công trình công cộng thiết yếu |
Ngập úng, chia cắt cục bộ, mất điện, gián đoạn thông tin, ảnh hưởng vận hành dịch vụ thiết yếu. |
Trung bình đến cao |
Chủ động phương án bảo đảm giao thông, điện, thông tin; bố trí điểm sơ tán và lực lượng hỗ trợ tại chỗ. |
Nhìn chung, nước dâng là loại hình thiên tai có phạm vi tác động tập trung nhưng mức độ nguy hiểm rất cao đối với phần lãnh thổ ven biển của tỉnh Hưng Yên. Trong giai đoạn 2026-2030, cần xem nước dâng là một hợp phần không tách rời trong chỉ huy ứng phó bão, gió mạnh trên biển, lũ và ngập lụt ven cửa sông; đồng thời tiếp tục rà soát phương án sơ tán dân cư ngoài đê và vùng thấp trũng, bảo vệ đê biển - đê cửa sông, cống dưới đê, khu neo đậu tránh trú bão, vùng nuôi trồng thủy sản, tăng cường quan trắc - cảnh báo và chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vật tư, phương tiện theo phương châm “bốn tại chỗ” để xử lý kịp thời các tình huống bất lợi phát sinh.
2.12. Gió mạnh trên biển
Gió mạnh trên biển là loại hình thiên tai có tính đặc thù đối với tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập, tập trung chủ yếu tại khu vực ven biển, cửa sông và vùng bãi triều thuộc phần địa bàn Thái Bình cũ. So với các loại hình thiên tai như bão, mưa lớn, lũ, ngập lụt hay nước dâng, gió mạnh trên biển thường không gây thiệt hại lớn độc lập trên phạm vi toàn tỉnh; tuy nhiên đây là hiện tượng có tần suất xuất hiện tương đối thường xuyên trong mùa mưa bão và các đợt gió mùa mạnh, tác động trực tiếp đến tàu thuyền, ngư dân, hoạt động khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản ven biển, khu neo đậu tránh trú bão, công trình ven biển, đê biển, đê cửa sông và an toàn giao thông, vận tải thủy.
Mức độ rủi ro do gió mạnh trên biển trên địa bàn tỉnh gia tăng do không gian ven biển và cửa sông của tỉnh tương đối rộng, tập trung nhiều hoạt động dân sinh, hạ tầng và sinh kế nhạy cảm với thời tiết nguy hiểm trên biển. Toàn tỉnh hiện có 54km bờ biển; có 18 tuyến đê chính, trong đó có 06 tuyến đê cửa sông, 04 tuyến đê biển với tổng chiều dài toàn hệ thống đê khoảng 430,3km; có 04 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp tỉnh và nhiều vùng nuôi trồng thủy sản, bãi triều, cửa lạch, cửa sông. Khi xuất hiện gió mạnh trên biển, khu vực chịu tác động trực tiếp thường là Thái Thụy, Tiền Hải, các cửa sông Trà Lý, Diêm Hộ, sông Hóa, vùng bãi triều và các khu vực ngoài đê bối; đồng thời tác động gián tiếp còn lan tới hệ thống đê biển, đê cửa sông, giao thông ven biển, điện, thông tin liên lạc và đời sống dân cư ven biển.
Về đặc điểm thời gian, gió mạnh trên biển thường xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 10 gắn với hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông; ngoài ra còn có thể xảy ra vào cuối năm và mùa đông khi có không khí lạnh mạnh, gió mùa Đông Bắc hoặc sóng lớn trên biển. Với đặc điểm vùng ven biển tỉnh chịu chế độ nhật triều khá thuần nhất, có nhiều cửa sông, khu neo đậu tàu cá và vùng nuôi trồng thủy sản ngoài đê bối, gió mạnh trên biển thường không xuất hiện đơn lẻ mà đi kèm sóng lớn, mưa bão, nước dâng và triều cao, làm tăng nhanh mức độ nguy hiểm đối với người, phương tiện và công trình.
Giai đoạn 2020-2025 cho thấy gió mạnh trên biển trên địa bàn tỉnh Hưng Yên chủ yếu gắn với hoàn lưu bão, áp thấp nhiệt đới và các đợt gió mùa tăng cường. Trong các năm 2020-2022, khu vực ven biển Thái Bình cũ liên tục chịu tác động của các cơn bão số 2, số 7, số 8, số 3, số 4 và áp thấp nhiệt đới; dù nhiều báo cáo chưa tách riêng thiệt hại do gió mạnh trên biển thành nhóm độc lập, nhưng thực tế đã ghi nhận ảnh hưởng rõ đối với tàu thuyền, nuôi trồng thủy sản, giao thông ven biển, bờ bao, đê bối và công trình ven biển. Năm 2022, gió mạnh trên biển là một trong các hiện tượng thời tiết nguy hiểm xuất hiện nhiều trong năm.
Năm 2023, bão số 1 ảnh hưởng đến khu vực ven biển, ngoài khơi với gió mạnh cấp 6, giật cấp 7, sóng biển cao từ 1,0 đến 2,0m; cuối năm còn ghi nhận 103 đợt gió mùa Đông Bắc, gió mạnh và sóng lớn trên biển, làm gia tăng rủi ro đối với hoạt động nghề cá và đi lại trên biển. Năm 2024, bão số 3 (Yagi) là hiện tượng nổi bật nhất trong giai đoạn tổng hợp, khi đổ bộ vào đất liền đã làm khu vực Thái Bình cũ xuất hiện gió mạnh cấp 9 đến cấp 10, giật cấp 12; đồng thời phần địa bàn Hưng Yên cũ cũng ghi nhận gió mạnh cấp 7-8, giật cấp 9-11. Sang năm 2025, gió mạnh trên biển xuất hiện rõ trong các đợt bão số 5, bão số 6 và bão số 10; riêng bão số 5 làm vùng biển có gió mạnh cấp 8, giật cấp 9-10, bão số 6 gây gió cấp 7, giật cấp 9 ngoài khơi, bão số 10 gây gió mạnh cấp 7-8, giật cấp 9 tại khu vực cửa sông, ven biển và đi kèm nước dâng từ 0,5 đến 0,7 m.
Xét theo không gian ảnh hưởng, khu vực có mức độ rủi ro cao tập trung ở các xã, phường ven biển, cửa sông; các khu neo đậu tránh trú bão; bến cá, cửa lạch; các đầm nuôi trồng thủy sản ngoài đê bối; các tuyến đê biển, đê cửa sông; các công trình điện, thông tin, giao thông ven biển; và toàn bộ tàu thuyền hoạt động trên biển, ven bờ. Khi xảy ra gió mạnh trên biển, nguy cơ chủ yếu là tàu thuyền bị mất liên lạc, va chạm, trôi dạt, chìm đắm; hư hỏng lồng bè, chòi canh, bờ bao vùng nuôi trồng thủy sản; mất an toàn tại khu neo đậu; đồng thời gia tăng nguy cơ sóng lớn, nước dâng, xói lở cục bộ và ảnh hưởng đến hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển.
Bảng 5.43. Khái quát đặc điểm gió mạnh trên biển giai đoạn 2020-2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Năm |
Thời kỳ xuất hiện chủ yếu |
Đặc điểm nổi bật và tác động chính |
|
2020 |
Mùa mưa bão và các đợt gió mạnh trên biển |
Thái Bình cũ chịu tác động trực tiếp của bão số 2 và bão số 7; gió mạnh trên biển gắn với mưa lớn, sóng và diễn biến thời tiết nguy hiểm vùng ven biển, ảnh hưởng đến tàu thuyền, nuôi trồng thủy sản, giao thông và một số công trình ven biển, cửa sông. |
|
2021 |
Mùa mưa bão |
Gió mạnh trên biển xuất hiện trong ảnh hưởng của bão số 7, bão số 8 và áp thấp nhiệt đới; khu vực ven biển, đê bối, bờ bao và vùng nuôi trồng thủy sản chịu tác động rõ, làm gia tăng rủi ro mất an toàn cho ngư dân, tàu thuyền và công trình ven biển. |
|
2022 |
Trong năm, tập trung mùa mưa bão |
Báo cáo Thái Bình cũ xác định gió mạnh trên biển là hiện tượng thời tiết nguy hiểm xuất hiện nhiều trong năm; yêu cầu tăng cường cảnh báo, điều hành tàu thuyền và bảo vệ công trình ven biển, cửa sông. |
|
2023 |
Tháng 7 và cuối tháng 11 |
Bão số 1 gây gió mạnh cấp 6, giật cấp 7 ở vùng biển ngoài khơi; cuối năm ghi nhận gió mùa Đông Bắc, gió mạnh và sóng lớn trên biển, ảnh hưởng đến hoạt động nghề cá, đi lại trên biển; trong năm ghi nhận 01 người chết do gió mạnh, sóng lớn trên biển tại Thái Bình cũ. |
|
2024 |
Tháng 7 và tháng 9 |
Bão số 2 và đặc biệt bão số 3 (Yagi) gây gió mạnh trên biển và ven biển; tại Thái Bình cũ gió đạt cấp 9-10, giật cấp 12; tại Hưng Yên cũ gió mạnh cấp 7-8, giật cấp 9-11. Đây là năm có mức độ nguy hiểm lớn nhất trong giai đoạn tổng hợp, ảnh hưởng mạnh đến tàu thuyền, khu neo đậu, công trình ven biển, đê biển và dân sinh ven biển. |
|
2025 |
Cuối tháng 8, cuối tháng 9 và các đợt bão trong năm |
Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng của bão số 5, bão số 6, bão số 10 và áp thấp nhiệt đới; riêng bão số 5 gây gió mạnh cấp 8, giật cấp 9-10 trên vùng biển, bão số 6 gây gió cấp 7, giật cấp 9 ngoài khơi, bão số 10 gây gió cấp 7-8, giật cấp 9 vùng cửa sông, ven biển. Nguy cơ cao đối với tàu cá, khu neo đậu, nuôi trồng thủy sản, đê biển, đê cửa sông và công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển. |
Bảng 5.44. Khu vực, công trình và đối tượng dễ bị tổn thương do gió mạnh trên biển trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
|
Khu vực/công trình/đối tượng |
Dạng tác động chính |
Mức độ dễ bị tổn thương |
Trọng tâm ứng phó |
|
Vùng ven biển, cửa sông, bãi triều và ngoài đê bối tại Thái Thụy, Tiền Hải |
Gió mạnh kết hợp sóng lớn gây mất an toàn cho người, phương tiện, vùng nuôi trồng thủy sản và khu dân cư thấp trũng ven biển. |
Rất cao |
Theo dõi chặt chẽ diễn biến bão, gió mạnh và sóng lớn; sơ tán người ở khu vực xung yếu; kiểm soát hoạt động trên biển và bãi triều. |
|
Khu neo đậu tàu thuyền, bến cá, cửa lạch và phương tiện hoạt động trên biển, ven bờ |
Nguy cơ va đập, đứt neo, trôi dạt, chìm đắm, mất liên lạc hoặc không bảo đảm an toàn khi vào ra nơi tránh trú. |
Rất cao |
Kiểm đếm, hướng dẫn tàu thuyền vào nơi neo đậu an toàn; cấm biển kịp thời; duy trì thông tin liên lạc, cứu hộ cứu nạn sẵn sàng. |
|
Hệ thống đê biển, đê cửa sông, cống dưới đê, bờ bao nuôi trồng thủy sản |
Gió mạnh và sóng lớn làm gia tăng áp lực lên mái đê, công trình bảo vệ bờ, cống và bờ bao; dễ phát sinh hư hỏng, tràn, thẩm lậu khi đi kèm triều cao hoặc nước dâng. |
Cao |
Tổ chức tuần tra, canh gác, kiểm tra công trình, chuẩn bị vật tư xử lý giờ đầu; bảo vệ các vị trí xung yếu trên đê biển, đê cửa sông và bờ bao. |
|
Vùng nuôi trồng thủy sản, ao đầm ngoài đê bối và khu vực sinh kế ven biển |
Hư hỏng lồng bè, chòi canh, bờ bao; thất thoát thủy sản và gián đoạn sản xuất, dịch vụ ven biển. |
Cao |
Gia cố ao đầm, lồng bè, bờ bao; thu hoạch sớm diện tích đến kỳ; di chuyển vật tư, thiết bị và lao động ra khỏi khu vực nguy hiểm. |
|
Khu dân cư ven biển, tuyến giao thông ven biển, điện, thông tin liên lạc và công trình công cộng |
Tốc mái, gãy đổ cây xanh, cột điện, gián đoạn giao thông, mất điện, mất thông tin và ảnh hưởng hoạt động dân sinh, dịch vụ công. |
Trung bình đến cao |
Chằng chống nhà cửa, công trình; bảo đảm giao thông, điện, thông tin; bố trí lực lượng ứng trực, cứu hộ và khôi phục nhanh hạ tầng thiết yếu sau thiên tai. |
Nhìn chung, gió mạnh trên biển là loại hình thiên tai có quan hệ chặt chẽ với bão, áp thấp nhiệt đới, nước dâng, mưa lớn và an toàn hệ thống đê biển, đê cửa sông trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, diễn biến bão mạnh và thời tiết nguy hiểm trên biển ngày càng thất thường, việc theo dõi, cảnh báo sớm, quản lý chặt chẽ phương tiện hoạt động trên biển, bảo vệ khu neo đậu, vùng nuôi trồng thủy sản và các công trình ven biển cần tiếp tục được xác định là nội dung trọng tâm trong phương án ứng phó thiên tai hằng năm của tỉnh.
Chương VI
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
I. Định hướng xây dựng kế hoạch
Kế hoạch phòng chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hưng Yên được xây dựng trên cơ sở các loại hình thiên tai đã và đang xảy ra trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch xây dựng phù hợp với yêu cầu trong thực tiễn để nâng cao năng lực phòng chống thiên tai, đáp ứng các mục tiêu giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Kế hoạch xây dựng phù hợp với yêu cầu trong thực tiễn để nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai, đáp ứng các mục tiêu giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Việc xây dựng Kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hưng Yên cần được thực hiện trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các nội dung còn phù hợp của Kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn 2021-2026, đồng thời cập nhật đầy đủ các yêu cầu mới phát sinh sau khi hợp nhất địa giới hành chính, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và định hướng phát triển không gian tỉnh Hưng Yên trong thời kỳ mới. Kế hoạch phải bảo đảm vai trò là văn bản chỉ đạo thống nhất ở cấp tỉnh, làm căn cứ để các sở, ban, ngành, đơn vị và Ủy ban nhân dân các xã, phường xây dựng kế hoạch, phương án ứng phó, lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, sử dụng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng và tổ chức dân cư.
|
Nhóm định hướng |
Trọng tâm xây dựng kế hoạch |
Yêu cầu đầu ra |
|
Định hướng chung |
Bám sát Chiến lược quốc gia, Quy hoạch tỉnh điều chỉnh, yêu cầu quản lý rủi ro thiên tai trong điều kiện tỉnh sau hợp nhất. |
Khung định hướng thống nhất toàn tỉnh. |
|
Định hướng không gian |
Phân hóa theo các vùng rủi ro và phân vùng thủy lợi; ưu tiên khu vực ven sông, cửa sông, ven biển, khu đô thị - công nghiệp và vùng sản xuất trọng điểm. |
Danh mục ưu tiên theo vùng, theo loại hình rủi ro. |
|
Định hướng giải pháp |
Kết hợp đồng bộ biện pháp phi công trình và công trình; lấy phòng ngừa là chính, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương, tái thiết bền vững. |
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp và phân kỳ triển khai. |
|
Định hướng nguồn lực |
Lồng ghép vốn trung ương, địa phương, Quỹ PCTT, xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác. |
Phương án huy động và thứ tự ưu tiên đầu tư. |
Việc xây dựng Kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hưng Yên cần được thực hiện dựa trên việc triển khai, quán triệt thực hiện Luật Phòng, chống thiên tai; Luật Phòng thủ dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18/6/2018 của Chính phủ về công tác phòng, chống thiên tai; Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chương trình tổng thể phòng, chống thiên tai quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1651/QĐ-TTg ngày 30/12/2022; Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai. Quyết định số 02/QĐ TWPCTT ngày 18/02/2020 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai ban hành Sổ tay hướng dẫn xây dựng phương án ứng phó tương ứng với cấp độ rủi ro thiên tai.
1. Định hướng chung
Xây dựng kế hoạch trên quan điểm quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp, lấy phòng ngừa là chính, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, kết hợp chặt chẽ giữa giải pháp công trình và phi công trình, giữa nhiệm vụ trước mắt với định hướng trung hạn, dài hạn. Kế hoạch phải bảo đảm tính khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp khả năng cân đối nguồn lực nhưng đồng thời đủ tầm để dẫn dắt công tác phòng, chống thiên tai trên địa bàn toàn tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.
Kế hoạch cần kế thừa các kết quả đã triển khai trong giai đoạn trước, đặc biệt là kinh nghiệm tổ chức thực hiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai tỉnh Hưng Yên (cũ) và Thái Bình (cũ) giai đoạn 2021-2026 và việc triển khai hằng năm qua hệ thống kế hoạch, phương án của các sở, ngành, địa phương, phải được điều chỉnh theo hướng tích hợp, liên vùng.
Kế hoạch phải được xây dựng đồng bộ từ cấp tỉnh đến cấp xã. Trong đó, kế hoạch cấp tỉnh đóng vai trò khung định hướng chung; kế hoạch của các sở, ngành và kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp xã là lớp cụ thể hóa theo chức năng, nhiệm vụ và điều kiện địa bàn; phương án ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai là công cụ tác nghiệp trực tiếp để xử lý tình huống. Cách tiếp cận này bảo đảm vừa thống nhất về mục tiêu, vừa linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
2. Định hướng theo không gian và đặc thù rủi ro của tỉnh
Tỉnh Hưng Yên sau hợp nhất có diện tích tự nhiên 2.514,81km², quy mô dân số khoảng 3.235.167 người và 104 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 93 xã và 11 phường. Không gian phát triển trải dài từ khu vực giáp Thủ đô Hà Nội tới dải ven biển và cửa sông, đồng thời hình thành các vùng thủy lợi - phòng, chống thiên tai có đặc điểm rất khác nhau. Do đó, việc xây dựng kế hoạch phải theo định hướng phân vùng, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm cho từng tiểu vùng để tránh dàn trải nguồn lực.
Đối với vùng Bắc sông Luộc, cần ưu tiên các nội dung liên quan đến tiêu úng nội đồng, chống ngập cho khu vực đô thị, khu dân cư tập trung, khu công nghiệp và vùng sản xuất nông nghiệp; đồng thời tăng cường các giải pháp bảo vệ đê, kè sông Hồng, sông Luộc, kiểm soát sạt lở bờ sông, đảm bảo an toàn cho vùng bãi ngoài đê và các hành lang phát triển công nghiệp - dịch vụ đang gia tăng nhanh. Các công trình đầu mối tiêu thoát nước và các trạm bơm lớn như Nam Kẻ Sặt, Nghi Xuyên cần được xem là hạng mục có vai trò chiến lược trong giai đoạn tới.
Đối với vùng Nam sông Luộc, cần định hướng kế hoạch phải chú trọng đồng thời các nguy cơ bão, áp thấp nhiệt đới, nước dâng, triều cường, xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển - bờ sông, ngập úng khu vực ven biển và an toàn cho nuôi trồng thủy sản, dân cư ven đê, khu vực cửa sông; tăng cường năng lực tiêu thoát nước cho vùng thấp trũng, kiểm soát ngập úng diện rộng, nâng cao năng lực ngăn mặn, giữ ngọt, đồng thời gắn với yêu cầu phát triển khu vực cửa sông, ven biển và các trung tâm kinh tế mới. Trọng tâm là xử lý đồng bộ hệ thống đầu mối cống Trà Linh, cống Lân, kênh Tiên Hưng, kênh Sa Lung, kênh Kiến Giang, kênh Cổ Rồng, các trạm bơm hiện hữu và mạng kênh cấp I, II, III đã xuống cấp hoặc chưa đáp ứng nhu cầu tiêu thoát trong điều kiện mưa lớn cực đoan; tăng cường các giải pháp bảo vệ đê sông, đê biển, đê cửa sông.
3. Định hướng xây dựng kế hoạch theo nhóm biện pháp phi công trình
Nhóm biện pháp phi công trình cần được xác định là nền tảng của kế hoạch. Trước hết, tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách và quy chế phối hợp trong phòng, chống thiên tai theo mô hình tổ chức mới của tỉnh; rà soát, chuẩn hóa các quy định liên quan đến đê điều, thủy lợi, phòng thủ dân sự, Quỹ phòng, chống thiên tai, xử lý vi phạm pháp luật về hành lang bảo vệ công trình và bảo vệ dân cư ở khu vực có nguy cơ rủi ro cao.
Tiếp theo là kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chỉ huy, điều hành. Cần duy trì cơ chế chỉ huy thống nhất từ tỉnh đến xã; nâng cao năng lực cho cơ quan thường trực, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã, lực lượng quản lý đê nhân dân, lực lượng cứu hộ, cứu nạn. Kế hoạch phải xác định rõ nhu cầu đào tạo, tập huấn hằng năm, chuẩn hóa nội dung diễn tập, bồi dưỡng kỹ năng sơ tán dân, cứu hộ, cứu nạn, thông tin liên lạc, thống kê thiệt hại và phục hồi sau thiên tai.
Về dự báo, cảnh báo và chuyển đổi số, kế hoạch cần định hướng đầu tư mở rộng mạng lưới quan trắc, trạm đo mưa, đo mặn, camera giám sát, cơ sở dữ liệu thiên tai, nền tảng cảnh báo sớm và hệ thống thông tin điều hành liên thông giữa cấp tỉnh và cấp xã. Cùng với đó là ứng dụng khoa học - công nghệ, bản đồ số, phần mềm quản lý hiện trường, các công cụ cảnh báo tự động để rút ngắn thời gian truyền tin và nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo đến đúng đối tượng, đúng địa bàn.
Về cộng đồng, kế hoạch cần chuyển từ tuyên truyền đơn lẻ sang quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; gắn tuyên truyền với xây dựng phương án hộ gia đình, phương án thôn, xóm, khu dân cư; ưu tiên các khu vực bãi sông, ven sông, ven biển, khu vực thường xuyên ngập úng, khu vực sản xuất nông nghiệp dễ tổn thương và địa bàn tập trung lao động tại các khu, cụm công nghiệp. Hằng năm cần tổ chức diễn tập ứng với một số kịch bản và cấp độ rủi ro cụ thể, lựa chọn các địa bàn đại diện cho từng vùng rủi ro để nâng cao tính thực chất của công tác chuẩn bị.
4. Định hướng xây dựng kế hoạch theo nhóm biện pháp công trình
Nhóm biện pháp công trình phải được lựa chọn theo nguyên tắc ưu tiên công trình đầu mối, công trình liên vùng, công trình đa mục tiêu, công trình cấp bách và công trình có tác động trực tiếp đến an toàn dân cư, an toàn đê điều, tiêu thoát nước, ngăn mặn - giữ ngọt và phục hồi sinh kế. Kế hoạch không chỉ liệt kê danh mục công trình mà phải xác định thứ tự ưu tiên đầu tư, phân kỳ đầu tư và cơ chế chuẩn bị dự án phù hợp với nguồn lực từng giai đoạn.
Trong giai đoạn 2026-2030, cần ưu tiên cao cho các công trình tiêu thoát nước và thủy lợi quy mô lớn gắn với nhu cầu phát triển không gian mới của tỉnh. Ưu tiên nhiệm vụ xây dựng mới cống Trà Linh và nâng cấp công trình phụ trợ ở khu vực phía Bắc sông Trà Lý; xây dựng, cải tạo hệ thống công trình chống úng, ngập cho phía Nam sông Trà Lý. Đây là các dự án cần được xem là trục đầu tư trọng tâm vì vừa phục vụ phòng, chống thiên tai, vừa tạo nền tảng cho phát triển kinh tế ven biển, khu vực cửa sông và hệ thống logistics - dịch vụ mới.
Đồng thời, cần ưu tiên các công trình xử lý sạt lở đê, kè; khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; công trình tiêu úng, nạo vét, kè chống sạt lở kênh, trạm bơm, cống tiêu; xử lý các đoạn đê, bờ bao, công trình thủy lợi xung yếu bị hư hỏng sau bão, lũ. Việc lựa chọn danh mục phải gắn với mức độ rủi ro, tính cấp bách, phạm vi ảnh hưởng và khả năng huy động vốn thực hiện.
Về lâu dài, kế hoạch cần tham chiếu các định hướng trong điều chỉnh Quy hoạch tỉnh và danh mục công trình thủy lợi ưu tiên đầu tư để hình thành lộ trình đầu tư đồng bộ cho toàn bộ hệ thống đê điều, thủy lợi, tiêu thoát nước, ngăn mặn, kiểm soát xâm nhập mặn, công trình ven biển, khu neo đậu tránh trú bão, công trình phòng cháy, chữa cháy rừng và hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm. Việc phân kỳ phải bảo đảm nguyên tắc: công trình cấp bách xử lý trước; công trình đầu mối then chốt đầu tư sớm; công trình đồng bộ hóa mạng lưới triển khai theo khả năng cân đối vốn.
5. Định hướng huy động và phân bổ nguồn lực
Kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở huy động tổng hợp các nguồn lực, không phụ thuộc vào một nguồn vốn đơn lẻ. Nguồn ngân sách trung ương và vốn vay ODA cần ưu tiên cho các công trình lớn, công trình đầu mối, công trình có tính liên vùng hoặc có yêu cầu kỹ thuật cao. Ngân sách địa phương tập trung cho xử lý cấp bách, sửa chữa, nâng cấp công trình vừa và nhỏ, mua sắm trang thiết bị, phương tiện, hệ thống thông tin liên lạc, hỗ trợ công tác chỉ huy, điều hành, diễn tập, tuyên truyền và khắc phục hậu quả thiên tai.
Quỹ phòng, chống thiên tai của tỉnh, nguồn dự phòng ngân sách địa phương, các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác và nguồn huy động xã hội hóa cần được xác định rõ vai trò trong kế hoạch. Định hướng sử dụng các nguồn này là ưu tiên cho nhiệm vụ cấp bách, hỗ trợ khắc phục hậu quả, hỗ trợ dân sinh, bảo đảm an toàn cộng đồng và bổ sung nguồn lực cho các nhiệm vụ phi công trình có hiệu quả cao nhưng khó bố trí đủ từ đầu tư công.
Việc phân bổ nguồn lực trong kế hoạch phải bảo đảm công khai, có tiêu chí rõ ràng và gắn với kết quả đánh giá rủi ro thiên tai, mức độ dễ bị tổn thương và nhu cầu bảo vệ các trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các địa bàn ven biển, cửa sông, vùng thường xuyên ngập úng, khu vực có hệ thống đê điều xung yếu, khu vực tập trung đông dân cư, khu công nghiệp, khu vực sản xuất nông nghiệp trọng điểm và vùng nuôi trồng thủy sản tập trung cần được ưu tiên cao hơn trong phân kỳ đầu tư.
6. Định hướng phân kỳ, cập nhật và tổ chức thực hiện kế hoạch
Kế hoạch cần được xây dựng theo hướng vừa ổn định trong cả giai đoạn 2026-2030, vừa có cơ chế cập nhật hằng năm. Giai đoạn 2026-2027 tập trung vào rà soát, hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa kế hoạch cấp xã, cập nhật phương án ứng phó, chuẩn bị đầu tư các dự án trọng điểm, xử lý các công trình cấp bách, tăng cường trang thiết bị và hệ thống thông tin chỉ huy. Giai đoạn 2028-2030 tập trung triển khai đồng bộ các dự án quy mô lớn, công trình đầu mối, kết nối hạ tầng và nâng cao mức độ hiện đại hóa công tác dự báo, cảnh báo, giám sát thiên tai.
Kế hoạch phải quy định rõ cơ chế lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch phát triển đô thị, nông thôn, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, tài nguyên nước, môi trường và quốc phòng - an ninh. Chỉ khi được lồng ghép thành hệ thống thì nội dung phòng, chống thiên tai mới chuyển từ giải pháp ứng phó đơn thuần sang giải pháp phát triển bền vững, phòng ngừa từ sớm, từ xa.
Trong quá trình thực hiện, hằng năm cần tổ chức rà soát, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch; đối chiếu với diễn biến thiên tai thực tế, mức độ thiệt hại, hiệu quả đầu tư và yêu cầu phát triển mới để đề xuất điều chỉnh, bổ sung. Trường hợp có biến động lớn về thiên tai, hạ tầng hoặc không gian phát triển, cần kịp thời cập nhật danh mục ưu tiên, điều chỉnh thứ tự phân kỳ, bảo đảm kế hoạch luôn sát thực tiễn, có tính điều hành và khả năng triển khai cao.
Cụ thể các giải pháp cơ bản trong phòng, chống thiên tai của tỉnh Hưng Yên tập trung vào 2 nhóm biện pháp chính là phi công trình và công trình.
II. Các biện pháp phòng, chống thiên tai
1. Biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu
a) Quan điểm và yêu cầu chung
Biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu trong Kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hưng Yên phải được xác định là nhóm giải pháp trọng tâm, triển khai xuyên suốt từ cấp tỉnh đến cấp xã, bảo đảm kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp phi công trình và biện pháp công trình, giữa yêu cầu trước mắt với định hướng đầu tư trung hạn, dài hạn. Việc tổ chức thực hiện cần bám sát đặc điểm của tỉnh Hưng Yên sau hợp nhất, với không gian quản lý rộng từ vùng Bắc sông Luộc đến khu vực ven biển, cửa sông, chịu tác động đồng thời của bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, ngập lụt, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển, nắng nóng, hạn hán và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm khác.
Biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu phải lấy phòng ngừa là chính, chủ động từ sớm, từ xa; tổ chức quản lý rủi ro thiên tai theo phân vùng, theo loại hình thiên tai chủ yếu và theo mức độ dễ bị tổn thương của từng khu vực dân cư, từng ngành, lĩnh vực. Đồng thời, phải gắn chặt với quy hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch thủy lợi, phát triển đô thị - nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và định hướng bố trí dân cư, để giảm thiểu phát sinh rủi ro mới trong quá trình phát triển.
Đối với tỉnh Hưng Yên, cần ưu tiên đồng thời hai không gian phòng ngừa chủ yếu: Vùng Bắc sông Luộc với trọng tâm tiêu úng nội đồng, bảo vệ đô thị và khu công nghiệp; vùng Nam sông Luộc với trọng tâm phòng, chống bão, nước dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển, bảo vệ đê biển, khu neo đậu tránh trú bão, hạ tầng kinh tế biển, sản xuất nông nghiệp và khu dân cư tập trung
b) Biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu phi công trình
- Hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo, cơ chế, chính sách và quy chế phối hợp trong công tác phòng, chống thiên tai bảo đảm thống nhất với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phù hợp với phạm vi quản lý của tỉnh Hưng Yên sau hợp nhất. Trọng tâm là rà soát, điều chỉnh và ban hành đồng bộ các kế hoạch, phương án, quy chế chỉ huy, quy trình phối hợp, quy chế vận hành công trình và cơ chế lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác phòng, chống thiên tai theo hướng rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và tăng cường tính liên thông giữa cấp tỉnh với cấp xã. Cần củng cố lực lượng tham mưu chuyên trách, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cơ sở, lực lượng quản lý đê điều, thủy lợi, phòng cháy, chữa cháy rừng, cứu hộ cứu nạn; đồng thời chuẩn hóa chế độ trực ban, chế độ thông tin báo cáo, chế độ kiểm tra hiện trường và cơ chế huy động lực lượng, vật tư, phương tiện theo phương châm “bốn tại chỗ”.
- Rà soát, cập nhật các phương án ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai, phương án bảo vệ trọng điểm đê điều, phương án sơ tán dân, phương án bảo vệ sản xuất, phương án bảo đảm an toàn công trình hạ tầng thiết yếu và phương án phục hồi sau thiên tai. Việc rà soát phải được thực hiện theo từng vùng rủi ro, từng lưu vực, từng tuyến đê, từng khu dân cư ngoài đê, bãi sông, khu vực trũng thấp, khu đô thị, khu công nghiệp, khu nuôi trồng thủy sản và khu vực ven biển, cửa sông.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong phòng, chống thiên tai; đầu tư, nâng cấp và liên thông hệ thống trạm đo mưa, đo mặn, quan trắc mực nước, camera giám sát, hệ thống thông tin chỉ huy, cơ sở dữ liệu rủi ro thiên tai; khai thác hiệu quả các nền tảng giám sát, cảnh báo của Trung ương và của tỉnh, bảo đảm phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời các nguy cơ mưa lớn, ngập úng, lũ, sạt lở, xâm nhập mặn, cháy rừng và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm. Trọng tâm là nâng cao chất lượng dự báo tác động, cảnh báo theo địa bàn cụ thể, theo nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và theo khả năng chịu tải của hệ thống công trình hiện có.
- Chuyển mạnh từ tuyên truyền đơn lẻ sang quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. Nội dung tuyên truyền phải thiết thực, dễ hiểu, phù hợp từng nhóm đối tượng như hộ dân vùng bãi sông, ven biển, ngư dân, hộ nuôi trồng thủy sản, cơ sở sản xuất, trường học, cơ sở y tế, doanh nghiệp và lực lượng vận hành công trình. Hằng năm tổ chức tập huấn, diễn tập phòng, chống thiên tai theo kịch bản cụ thể; chú trọng diễn tập sơ tán dân, bảo vệ đê điều, cứu hộ cứu nạn, xử lý sự cố công trình, bảo vệ khu neo đậu tàu thuyền và bảo đảm an toàn giao thông trong điều kiện thiên tai cực đoan.
- Cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với diễn biến thời tiết; phát triển sản xuất an toàn trước thiên tai; tăng cường các giải pháp tích trữ nước, sử dụng nước tiết kiệm, chống hạn, chống úng; củng cố và phát triển rừng phòng hộ ven biển, tăng cường bảo vệ rừng và dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng, nhất là trong các thời kỳ nắng nóng kéo dài, khô hạn. Đây là nhóm giải pháp có tác dụng giảm thiểu tổn thất từ gốc, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu lâu dài của hệ sinh thái và sinh kế người dân.
(Chi tiết như Bảng 1 phần phụ lục)
c) Biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu công trình
- Xây dựng, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai, công trình thủy lợi: Xây dựng, củng cố, nâng cấp hệ thống đê, kè, cống dưới đê, các công trình phụ trợ cho đê nhằm đảm bảo phòng chống lũ trên các lưu vực sông chảy qua tỉnh và các tác động từ biển, thiên tai, phòng chống xói lở, xâm thực. Thực hiện chương trình nâng cấp đê sông, đê biển đã được phê duyệt. Nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống đê an toàn. Xây dựng và triển khai phương án xử lý sự cố đê điều theo phương châm giờ đầu, bốn tại chỗ; xây dựng, lắp đặt bổ sung các công trình đo đạc KTTV, giám sát và cảnh báo thiên tai hệ thống dùng riêng trên địa bàn tỉnh nhằm dự báo và cảnh báo sớm về thiên tai; bổ sung các trạm đo mưa, đo mực nước, cảnh báo sấm sét trên các lưu vực, khu vực trên địa bàn tỉnh; lắp đặt hệ thống giám sát, cảnh báo tại các vị trí công trình sung yếu, chịu tác động phổ biến từ thiên tai; củng cố, nâng cấp, xây dựng các khu neo đậu tàu, thuyền tránh trú thiên tai; đảm bảo an toàn cho tàu, thuyền các loại tránh trú; lựa chọn vị trí quy hoạch, xây dựng kiên cố khu tránh trú; xác định số lượng, công suất tàu, thời gian di chuyển, sắp xếp, bố trí để có phương án quản lý hợp lý; lắp đặt hệ thống cảnh báo tại khu neo đậu để người dân biết, chủ động phòng tránh (Chi tiết như Bảng 2 phần phụ lục).
- Xây dựng, nâng cấp công trình xây dựng có xem xét đến phòng, chống thiên tai: Trụ sở, cơ quan, các công trình công cộng xây dựng đảm bảo an toàn trước thiên tai và kết hợp làm nơi tránh trú an toàn cho người dân; đảm bảo an toàn khi thực hiện công tác di dân khi có thiên tai xảy ra; bổ sung các tiêu chuẩn xây dựng an toàn trước thiên tai; kết hợp đa mục tiêu sử dụng có công năng tránh trú an toàn cho cộng đồng và các điều kiện sinh hoạt tối thiểu khi có thiên tai theo kịch bản, phương án đã dự tính xảy ra; có phương án để xử lý sự cố công trình khi có thiên tai gây ra.
- Xây dựng, nâng cấp công trình giao thông kết hợp phòng, chống thiên tai: Xây dựng, nâng cấp các công trình giao thông kết hợp PCTT đảm bảo điều kiện đi lại an toàn và cứu hộ, cứu nạn khi có thiên tai xảy ra; nâng cao tần suất thiết kế chống lũ và các tiêu chuẩn khác của hệ thống đường giao thông bảo đảm an toàn trước thiên tai; nâng cao trình đường đủ để kết hợp với đường di tản, khoanh vùng úng ngập cũng như cứu hộ, cứu nạn cho khu dân cư vùng thấp trũng có thể xảy ra ngập lụt.
- Xây dựng, nâng cấp công trình hạ tầng cấp, thoát nước: Xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt có tính đến yếu tố PCTT như hạn hán, xâm nhập mặn; tính toán nhu cầu thực tế về lượng nước cần và khả năng của nguồn nước trong điều kiện bình thường để xây dựng phương án thiếu nước sạch khi hạn hán, xâm nhập mặn bằng các giải pháp trữ nước. Quy hoạch, xây dựng chương trình chống ngập lụt cho thành phố, đô thị, khu tập trung dân cư, khu công nghiệp, kinh tế, chính trị nhằm nâng cao khả năng tiêu thoát nước chống úng ngập; xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm chống úng ngập cho khu vực; xây dựng hệ thống thoát nước trong nội đô kết hợp hệ thống sông tiêu, trạm bơm tiêu; bố trí không gian công cộng có năng lực trữ nước.
- Lồng ghép các nội dung phòng, chống thiên tai trong các chương trình, dự án tại địa phương.
2. Biện pháp ứng phó
Các biện pháp chung: Thực hiện theo phương án ứng phó với các cấp độ rủi ro thiên tai theo hướng dẫn của cấp có thẩm quyền; đối với bão, mưa, lũ lớn, ngập lụt; sạt lở đất; lốc, sét; hạn hán; rét hại; một số biện pháp chung trong ứng phó như sau:
- Tuyên truyền, thông báo trên các phương tiện phát thanh, truyền hình về dự báo, cảnh báo thời gian có khả năng xuất hiện thiên tai, thời tiết nguy hiểm.
- Đôn đốc, hướng dẫn Nhân dân chằng chống nhà cửa, chuồng trại (đối với bão, gió lốc), sơ tán các hộ có nguy cơ cao ảnh hưởng thiên tai đến nơi ở an toàn theo phương án đã xây dựng; cắt tỉa cành cây, bảo vệ đàn gia súc, gia cầm, lồng bè nuôi trồng thủy sản.
- Chỉ đạo Nhân dân thu hoạch sớm hoa màu, lúa, thủy sản để giảm thiểu thiệt hại khi có mưa lũ, lốc xảy ra.
- Chỉ đạo việc giám sát, hướng dẫn và chủ động thực hiện việc hạn chế hoặc cấm người, phương tiện đi vào các tuyến đường bị ngập sâu, các cống ngầm qua đường; khu vực có nguy cơ cao sạt lở đất và các khu vực nguy hiểm khác.
- Chỉ đạo thực hiện chuyển đổi, bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thời vụ phù hợp với khả năng nguồn nước; nghiên cứu loại cây chống chịu với thiên tai; cây trồng có khả năng chịu ngập nước dài, hạn hán, rét hại...
- Chỉ đạo việc kiểm tra các công trình thủy lợi, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, hoàn thiện hệ thống kênh phục vụ tưới tiêu, quản lý phân phối nước tưới luân phiên, tiết kiệm nước, thực hiện bơm chống hạn ở những vùng có điều kiện đảm bảo nguồn nước chống hạn.
- Chỉ đạo các sở, ngành, địa phương rà soát, đánh giá, xác định nguồn lực phục vụ ứng phó thiên tai.
- Các biện pháp kỹ thuật khác: Quy hoạch nhà kính, nhà lưới…, áp dụng các biện pháp nông nghiệp xanh, sạch để giảm thiểu thiệt hại.
- Triển khai các biện pháp tưới tiết kiệm nước.
3. Các biện pháp ứng phó một số loại hình thiên tai cụ thể
a) Đối với Áp thấp nhiệt đới, bão
Biện pháp phi công trình:
- Xây dựng, cập nhật, bổ sung phương án ứng phó với bão mạnh, siêu bão; xây dựng bản đồ phân vùng ngập lụt do bão theo các kịch bản.
- Tăng cường khả năng dự báo sớm, thông tin liên lạc nhằm cung cấp thông tin sớm để người dân có thời gian chuẩn bị ứng phó, đặc biệt dự báo bão khi vào gần bờ, trên đất liền.
- Xây dựng phương án di dân theo các kịch bản bão, nâng cao công tác tuyên truyền.
Biện pháp công trình:
- Chuẩn bị, đầu tư, xây dựng nhà tránh trú cộng đồng, nhà an toàn chống gió lớn, gió giật.
- Rà soát, nâng cấp, bổ sung các khu neo đậu tàu, thuyền tránh trú bão.
- Củng cố, bảo vệ, đầu tư trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ.
- Duy tu, nâng cấp, sửa chưa hệ thống đê sông, đê biển, đê vùng cửa sông đảm bảo năng lực PCTT.
b) Đối với thiên tai do mưa lớn
Biện pháp phi công trình:
- Xây dựng, triển khai các Kế hoạch sản xuất theo mùa, vụ; phương án phòng chống úng ngập đã phê duyệt.
- Thường xuyên tuần tra, kiểm tra hệ thống công trình đê, kè, cống nhằm phát hiện những hư hỏng ngay từ giờ đầu để xử lý.
- Rà soát, kiểm tra năng lực của hệ thống công trình chống úng trên địa bàn toàn tỉnh.
- Tăng cường khả năng dự báo sớm, thông tin liên lạc nhằm chủ động trong công tác phòng chống úng ngập đảm bảo an toàn sản xuất và dân sinh.
Biện pháp công trình:
- Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống công trình thủy nông nội đồng như hệ thống kênh chính, kênh cấp I, cấp II; hệ thống cống dưới đê nhất là hệ thống các cống tiêu nước qua đê; hệ thống trạm bơm tiêu qua đê nhằm đảm bảo năng lực tiêu thoát nước chống úng ngập của lưu vực.
- Cải tạo, nâng cấp hệ thống cống đập nội đồng nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu thoát nước của công trình đầu mối.
- Rà soát quy hoạch, nâng cấp xây dựng các công trình tiêu cả tự chảy và động lực đáp ứng tiêu thoát nước do mưa lớn.
- Cứng hóa, xử lý công trình đê, kè, cống tại các vị trí, khu vực xung yếu có khả năng xảy ra mất an toàn khi có mưa lớn gây ra.
- Rà soát, xây dựng hệ thống công trình cảnh báo, theo dõi, giám sát nhằm phát hiện sớm các tình huống ngập úng, hư hỏng công trình có thể xảy ra.
c) Đối với lốc, sét, mưa đá
Biện pháp phi công trình:
- Tăng cường cảnh báo, dự báo để người dân được biết sớm để phòng tránh.
- Hướng dẫn người dân tăng cường nhận thức, kiến thức để phòng tránh, lựa chọn mô hình, vật liệu xây dựng nhà ở an toàn.
Biện pháp công trình:
- Xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo.
- Rà soát, đầu tư xây dựng hệ thống thu sét tại các khu vực dân cư, khu vực thường xảy ra sét.
d) Đối với thiên tai do lũ, ngập lụt
Biện pháp phi công trình:
- Xây dựng bản đồ ngập lụt do lũ theo các kịch bản; sử dụng bản đồ ngập lụt hạ du được bàn giao từ các Bộ liên quan nhằm xác định các khu vực rủi ro, mức độ rủi ro để có các biện pháp phòng tránh.
- Tăng cường cảnh báo các khu vực nguy hiểm: Cùng với các thông tin được cập nhật thường xuyên trên các phương tiện truyền thông từ Trung ương theo quy định (Theo Quyết định 18/2021/QĐ-TTg về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai), sử dụng hệ thống truyền tin trên địa bàn để thông tin chi tiết hơn đến người dân.
- Triển khai các phương án phòng chống lũ, ngập lụt đã xây dựng tại địa phương theo các kịch bản lũ.
- Đối với khu vực dân cư tập trung tăng cường khả năng tiêu thoát của hệ thống thoát nước bằng cách nâng tần suất tính toán mưa tiêu thiết kế; tính toán năng lực tiêu của hệ thống tiêu hiện tại khi mở rộng quy hoạch hay giảm diện tích hồ điều hòa, san lấp các khu vực ngập nước,…
Biện pháp công trình:
- Xây dựng, củng cố, nâng cấp hệ thống đê, kè, cống dưới đê đảm bảo phòng chống lũ trên các triền sông và tác động từ biển, phòng chống xói lở, xâm thực. Thực hiện chương trình nâng cấp đê sông, đê biển đã được phê duyệt. Tiến hành quản lý hệ thống đê an toàn. Phương án xử lý sự cố đê điều theo phương châm giờ đầu, bốn tại chỗ.
- Đầu tư, nâng cấp hệ thống trạm bơm, kênh, cống nhằm phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt gây ra.
- Rà soát, đầu tư nâng cấp hệ thống cảnh báo nhằm thông báo cho nhân dân phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
- Nâng cao cốt nền xây dựng: dựa vào trận lũ lịch sử đã xảy ra trong khu vực để tính toán chiều cao của cốt nền xây dựng.
- Đầu tư, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước đô thị, ưu tiên đầu tư các công trình tiêu úng, điều hòa thoát nước tại khu vực đô thị phát triển nhanh.
- Nạo vét lòng dẫn các sông tăng khả năng thoát lũ: Thực hiện nạo vét, chỉnh trị một số tuyến kênh, lòng dẫn bị bồi lắng, kết hợp gia cố kè chống sạt lở nhằm khơi thông dòng chảy, tăng khả năng tiêu thoát lũ, giảm ngập úng nội đồng và bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, đê điều trong mùa mưa bão. Một số đoạn cần quan tâm đầu tư nạo vét, kè kênh Thái Sư, xã Ngư Thiên và nạo vét, kè kênh Cung, xã Long Hưng; nạo vét, kè chống sạt lở kênh Cổ Rồng, xã Đồng Châu; nạo vét, kè kênh cống Thóc, xã Nam Tiền Hải; nạo vét, kè chống sạt lở bờ kênh M2, khu vực Kiến Xương cũ; nạo vét, kè chống sạt lở bờ kênh Lâm Giang, khu vực Kiến Xương cũ; và nạo vét, xây dựng kè mái, công trình trên kênh An Lương, khu vực Thái Thụy cũ. Các công trình này thuộc hệ thống thủy lợi Bắc, Nam Thái Bình, có vai trò quan trọng trong tiêu thoát nước, phòng chống ngập úng, bảo vệ khu dân cư, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và hạ tầng ven sông, ven kênh.
Quá trình triển khai cần ưu tiên các đoạn kênh, lòng dẫn có tình trạng bồi lắng, thu hẹp mặt cắt tiêu thoát, sạt lở bờ, ảnh hưởng đến khu dân cư, vùng sản xuất và khả năng vận hành các cống, trạm bơm. Việc nạo vét phải kết hợp với gia cố mái, kè bờ, quản lý hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, kiểm soát đổ thải sau nạo vét và bảo đảm không làm phát sinh sạt lở, ô nhiễm môi trường hoặc cản trở dòng chảy.
e) Đối với thiên tai do nắng nóng
Biện pháp phi công trình:
- Tăng cường công tác dự báo dài hại để xây dựng phương án phòng tránh, có biện pháp an toàn cho người và gia súc; chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Xây dựng phương án cấp nước, trữ nước nhằm phục vụ sản xuất và dân sinh.
- Nâng cao năng lực công tác thông tin, truyền thông đến các cộng đồng để nhân dân biết và chuẩn bị các biện pháp phòng tránh.
Biện pháp công trình:
- Xây dựng các công trình trữ nước hoặc phương án khai thác nguồn nước như biện pháp lấy nước sớm, nạo vét hệ thống sông trục, kênh mương để giữ nước.
- Đầu tư, xây dựng hệ thống tưới tự động, tưới tiết kiệm nước.
f) Đối với thiên tai do rét hại, sương muối
Biện pháp phi công trình:
- Tăng cường công tác dự báo dài hại để xây dựng phương phòng tránh, có biện pháp an toàn cho người, gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản; chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
- Nâng cao năng lực công tác thông tin, truyền thông đến các cộng đồng để nhân dân biết và chuẩn bị các biện pháp phòng tránh.
Biện pháp công trình:
- Rà soát, xây dựng hệ thống công trình chỉ dẫn, cảnh báo cả đường sông và đường bộ nhằm cảnh báo và chỉ dẫn cho các phương tiện giao thông.
- Quy hoạch, xây dựng hệ thống chuồng trại, ao nuôi nhằm đảm bảo an toàn sản xuất trước thiên tai.
g) Đối với thiên tai do sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy.
Biện pháp phi công trình:
- Sử dụng các kết quả bản đồ đánh giá rủi ro để xác định các vị trí có nguy cơ xảy ra sạt lở đất.
- Tăng cường công tác dự báo mưa: bổ sung các trạm đo mưa, tăng độ chính xác của bản tin dự báo mưa; sử dụng các công nghệ tiên tiến cảnh báo sớm.
- Công tác thông tin, truyền, cảnh báo sớm đến người dân; tổ chức cắm các biển hiệu cảnh báo khu vực nguy hiểm.
- Tiến hành quy hoạch sử dụng đất để phục vụ công tác di dời, trồng rừng, phát triển nông nghiệp, sắp xếp bố trí dân cư an toàn gắn với sinh kế bền vững.
- Tăng cường nâng cao nhận thức, kiến thức cho người dân để phòng tránh, giảm thiểu.
Biện pháp công trình:
- Đối với các khu có mật độ dân cư cao, các công trình lịch sử, hạ tầng cơ sở quan trọng có thể được bảo vệ bằng hệ thống tường bao kết hợp các rãnh thoát nước.
- Lắp đặt các hệ thống cảnh báo, đo đạc, ống thu nước ngầm tại các khu vực có nguy cơ cao về sạt lở đất.
h) Đối với thiên tai do hạn hán
Biện pháp phi công trình:
- Tăng cường theo dõi, dự báo, cảnh báo sớm tình hình hạn hán, thiếu nước, nhất là trong mùa khô, vụ Đông Xuân và các thời kỳ lấy nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Rà soát, xây dựng phương án phòng, chống hạn hán, thiếu nước theo từng vùng tưới, vùng tiêu, khu vực sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, khu dân cư và khu vực có nguy cơ thiếu nước sinh hoạt.
- Chủ động điều tiết, phân phối nguồn nước hợp lý; thực hiện tưới luân phiên, tưới tiết kiệm, ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt, chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp trọng điểm và các khu vực khó khăn về nguồn nước.
- Hướng dẫn Nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, sử dụng giống cây trồng chịu hạn, bố trí thời vụ phù hợp với khả năng nguồn nước; hạn chế gieo trồng tại các khu vực không bảo đảm nguồn nước tưới.
- Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng nước tiết kiệm, tích trữ nước, bảo vệ nguồn nước, không xả thải gây ô nhiễm nguồn nước trong thời kỳ khô hạn.
- Theo dõi chặt chẽ chất lượng nước, độ mặn tại các khu vực cửa sông, ven biển, nhất là vùng chịu tác động đồng thời của hạn hán và xâm nhập mặn, để kịp thời điều chỉnh vận hành công trình lấy nước, giữ ngọt.
Biện pháp công trình:
- Kiểm tra, duy tu, sửa chữa các công trình thủy lợi, trạm bơm, cống lấy nước, kênh mương, hồ chứa, ao hồ và công trình cấp nước sinh hoạt trước mùa khô.
- Nạo vét kênh mương, cửa lấy nước, bể hút trạm bơm, khơi thông dòng chảy nhằm nâng cao khả năng dẫn nước, trữ nước và cấp nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt.
- Lắp đặt, vận hành các trạm bơm dã chiến, máy bơm cơ động tại các khu vực có điều kiện nguồn nước nhưng khó khăn trong lấy nước tự chảy.
- Củng cố, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi phục vụ tưới, giữ ngọt, ngăn mặn, cấp nước và tiêu thoát nước; ưu tiên các khu vực thường xuyên thiếu nước, vùng cuối kênh, vùng ven biển, cửa sông.
- Đầu tư, nâng cấp các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, công trình trữ nước, bể chứa nước, ao hồ dự phòng tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
- Từng bước ứng dụng công nghệ quan trắc nguồn nước, mực nước, độ mặn và vận hành công trình thủy lợi theo thời gian thực để nâng cao hiệu quả phòng, chống hạn hán, thiếu nước.
i) Đối với thiên tai do xâm nhập mặn
Biện pháp phi công trình:
- Tăng cường công tác dự báo dài hại để xây dựng phương án phòng tránh, có biện pháp an toàn cho người và gia súc; chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
- Nâng cao năng lực công tác thông tin, truyền thông đến các cộng đồng để nhân dân biết và chuẩn bị các biện pháp phòng tránh.
Biện pháp công trình:
- Củng cố, nâng cấp hệ thống đê bao, đê bối, bờ bao nhằm đảm bảo an toàn sản xuất và dân sinh.
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống công trình thủy lợi nhằm giữ ngọt, ngăn mặn, thủy triều, nước dâng do thiên tai.
- Rà soát, đầu tư nâng cấp hệ thống cảnh báo do nước dâng và xâm nhập mặn trên các cửa sông, cửa biển.
k) Đối với thiên tai do sương mù
Với đặc điểm địa hình đồng bằng thấp, mạng lưới sông ngòi dày đặc, có cả không gian nội đồng, ven sông, cửa sông và ven biển, biện pháp ứng phó đối với sương mù cần tập trung vào dự báo, cảnh báo sớm, tổ chức giao thông an toàn, kiểm soát hoạt động tại các khu vực nguy hiểm và bổ sung hạ tầng chỉ dẫn, cảnh báo tại các điểm trọng yếu.
Biện pháp phi công trình:
- Tăng cường công tác dự báo, cảnh báo sớm hiện tượng sương mù trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống truyền thanh cơ sở, nền tảng số và các đầu mối trực ban để chính quyền các cấp, đơn vị quản lý hạ tầng và người dân chủ động triển khai biện pháp phòng tránh từ sớm, từ xa.
- Tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến tầm nhìn tại các khu vực giao thông trọng điểm, nhất là trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, cao tốc, tuyến đê kết hợp giao thông, cầu, bến thủy nội địa, cửa sông, khu neo đậu tàu thuyền, vùng ven biển Thái Thụy, Tiền Hải và các khu vực thường xuyên xuất hiện sương mù dày vào sáng sớm.
- Hướng dẫn người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy nội địa, tàu cá và phương tiện hoạt động gần bờ thực hiện nghiêm các quy định an toàn khi có sương mù: Giảm tốc độ, giữ khoảng cách an toàn, bật đầy đủ đèn và còi tín hiệu, tăng cường quan sát và tuyệt đối không chủ quan khi tầm nhìn bị hạn chế.
- Rà soát, cập nhật phương án bảo đảm an toàn giao thông và phương án điều tiết, phân luồng cục bộ tại các điểm có nguy cơ tai nạn cao; chủ động hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động của một số phương tiện, tuyến vận tải, bến bãi, hoạt động khai thác thủy sản, thi công ngoài trời khi sương mù dày kéo dài, tầm nhìn xuống thấp dưới ngưỡng an toàn.
- Tăng cường tuyên truyền, tập huấn, phổ biến kiến thức cho cộng đồng, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã, đơn vị quản lý đường bộ, đường thủy, bến cảng, khu neo đậu và các doanh nghiệp vận tải về kỹ năng nhận biết, ứng phó, bảo đảm an toàn cho người và phương tiện trong điều kiện sương mù, kết hợp mưa phùn, nồm ẩm, mặt đường trơn trượt.
- Đối với sản xuất nông nghiệp, chủ động hướng dẫn người dân bố trí thời gian lao động hợp lý, hạn chế làm việc sớm tại khu vực đồng ruộng, bãi sông, bãi triều khi tầm nhìn bị hạn chế; tăng cường kiểm tra đồng ruộng, theo dõi sâu bệnh, nấm bệnh trên mạ, rau màu, cây vụ đông và thực hiện các biện pháp chăm sóc, phòng trừ phù hợp trong điều kiện ẩm lạnh kéo dài.
- Duy trì chế độ trực ban, tiếp nhận thông tin và phối hợp liên ngành giữa cơ quan khí tượng thủy văn, cơ quan thường trực phòng, chống thiên tai, công an, quân sự, giao thông, biên phòng, chính quyền địa phương và đơn vị quản lý hạ tầng để xử lý kịp thời các tình huống mất an toàn do sương mù gây ra, nhất là tại khu vực ven biển, cửa sông và các đầu mối giao thông lớn.
Biện pháp công trình:
- Rà soát, bổ sung hệ thống biển báo, cọc tiêu, sơn phản quang, đèn tín hiệu, thiết bị chỉ dẫn giao thông tại các tuyến đường trọng điểm, nút giao phức tạp, cầu, bến bãi, đường ven sông, ven biển, tuyến đê kết hợp giao thông và các điểm thường xuyên có sương mù dày để hỗ trợ nhận diện hướng tuyến trong điều kiện tầm nhìn hạn chế.
- Rà soát, đầu tư hoàn thiện hệ thống công trình chỉ dẫn, cảnh báo cả đường bộ và đường thủy nội địa; ưu tiên tại các bến thủy nội địa, cửa sông, khu neo đậu tàu thuyền, luồng tuyến ra vào cửa biển, khu vực cầu vượt sông, bến cá và vùng ven biển thường xuyên chịu tác động của sương mù sáng sớm.
- Từng bước đầu tư, nâng cấp hệ thống quan trắc, giám sát, camera theo dõi, thiết bị đo các yếu tố khí tượng và thiết bị cảnh báo tại các vị trí giao thông, đê điều, thủy lợi, cảng bến, khu neo đậu và công trình hạ tầng trọng yếu nhằm phục vụ công tác theo dõi, chỉ huy điều hành, cảnh báo sớm và xử lý tình huống khi xuất hiện sương mù dày diện rộng.
- Bổ sung, hoàn thiện hệ thống chiếu sáng, đèn tín hiệu, thiết bị phát tín hiệu cảnh báo tại các bến bãi, đầu mối giao thông, khu công cộng, khu neo đậu và khu vực thi công, bảo đảm nhận diện rõ vật cản, mép đường, mép bến và hướng tuyến khi thời tiết có sương mù kết hợp mưa nhỏ, ẩm ướt.
- Kết hợp cải tạo mặt đường, thoát nước cục bộ, vệ sinh mặt cầu, bến bãi, lối lên xuống đê và các khu vực có mật độ phương tiện cao để giảm nguy cơ trơn trượt, mất lái, va chạm trong điều kiện sương mù kéo dài đi kèm hơi ẩm và mưa phùn.
l) Đối với thiên tai do nước dâng
Biện pháp phi công trình:
- Tăng cường công tác dự báo, cảnh báo sớm về nước dâng do bão trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống truyền thanh cơ sở, nền tảng số, nhóm thông tin điều hành, các cơ quan trực ban và các đầu mối phụ trách khu vực ven biển, cửa sông để chính quyền các cấp, lực lượng chức năng và người dân chủ động triển khai biện pháp phòng tránh từ sớm, từ xa.
- Tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến của bão, áp thấp nhiệt đới, triều cường, mực nước tại các cửa sông, tuyến đê biển, đê cửa sông, cống dưới đê, các khu vực ngoài đê bối, bãi triều, vùng nuôi trồng thủy sản và các khu dân cư thấp trũng có nguy cơ bị ngập do nước dâng.
- Rà soát, cập nhật phương án sơ tán dân cư tại các khu vực ngoài đê, khu vực thấp trũng ven biển, vùng cửa sông, bãi triều, các hộ đang sinh sống, lao động, trông coi đầm nuôi, lồng bè, chòi canh, bến cá và các khu vực có cao trình thấp, bảo đảm khi có tình huống nguy hiểm có thể tổ chức di dời nhanh, dứt khoát và an toàn.
- Tổ chức kiểm đếm, quản lý chặt chẽ tàu thuyền, phương tiện khai thác thủy sản, phương tiện vận tải thủy hoạt động ven bờ; thông báo kịp thời cho chủ phương tiện, ngư dân và lực lượng lao động ven biển về khu vực nguy hiểm, thời gian cấm biển, hướng dẫn di chuyển vào khu neo đậu an toàn hoặc rời khỏi vùng nước dâng nguy hiểm.
- Chỉ đạo các địa phương ven biển, đơn vị quản lý đê điều, thủy lợi, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, lực lượng biên phòng, công an, quân sự và lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã tổ chức trực ban nghiêm túc, sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, vật tư để xử lý sự cố công trình và hỗ trợ sơ tán, cứu hộ, cứu nạn.
- Rà soát kỹ các khu vực có nguy cơ cao bị tràn bờ bao, ngập vùng nuôi trồng thủy sản, ngập đường giao thông ven biển, cửa sông, khu dân cư thấp trũng, các vị trí xung yếu trên đê biển, đê cửa sông, các cống lớn và các điểm có nguy cơ mất an toàn do sóng, gió và nước dâng cùng tác động.
- Tăng cường tuyên truyền, tập huấn, phổ biến kiến thức cho cộng đồng dân cư ven biển, chủ đầm nuôi, ngư dân, người lao động ngoài bãi triều, lực lượng xung kích và cán bộ cơ sở về đặc điểm của nước dâng, dấu hiệu nguy hiểm, quy trình sơ tán, phương án bảo vệ người, tài sản, tàu thuyền và công trình khi bão mạnh trùng triều cường.
- Chủ động dự trữ lương thực, nước uống, thuốc men, nhu yếu phẩm thiết yếu, nhiên liệu, thiết bị chiếu sáng, máy phát điện, phao cứu sinh, áo phao, phương tiện thông tin liên lạc và các điều kiện hậu cần khác tại các địa bàn ven biển, cửa sông và khu sơ tán để sẵn sàng phục vụ ứng phó khi xảy ra ngập, chia cắt hoặc phải sơ tán kéo dài.
- Tổ chức điều hành giao thông, tạm dừng hoặc hạn chế hoạt động tại các bến cá, bến thủy, khu du lịch ven biển, khu vực neo đậu, tuyến đường ven biển, cửa sông và các điểm có nguy cơ ngập sâu, sóng tràn, mất an toàn khi nước dâng vượt ngưỡng cho phép.
- Bảo đảm thông tin chỉ huy thông suốt từ tỉnh đến cơ sở; duy trì chế độ trực ban, báo cáo nhanh, cập nhật liên tục tình hình nước dâng, triều, đê điều, sơ tán dân, tàu thuyền, nuôi trồng thủy sản và các sự cố phát sinh để phục vụ chỉ huy, điều hành kịp thời, thống nhất.
Biện pháp công trình:
- Tổ chức kiểm tra, rà soát, đánh giá an toàn toàn bộ các tuyến đê biển, đê cửa sông, kè bảo vệ, cống dưới đê, bờ bao, đê bối, khu neo đậu tránh trú bão và các công trình hạ tầng thiết yếu ven biển; xác định rõ các vị trí xung yếu, các đoạn có nguy cơ tràn, sạt trượt, thẩm lậu, lỗ rò hoặc xuống cấp để chủ động gia cố, tu bổ, xử lý trước mùa mưa bão.
- Chuẩn bị đầy đủ vật tư, phương tiện, thiết bị và lực lượng để hộ đê, xử lý giờ đầu các sự cố do nước dâng gây ra như tràn bờ bao, sạt mái, xói lở, hư hỏng cống, hư hỏng mặt đê, ngập các tuyến giao thông ven biển, bảo đảm có thể triển khai ngay theo phương châm “bốn tại chỗ”.
- Gia cố, nâng cấp hoặc tu sửa khẩn cấp các đoạn đê biển, đê cửa sông, bờ bao và công trình thủy lợi ven biển chưa bảo đảm cao trình, mặt cắt hoặc đã xuống cấp; ưu tiên các vị trí thường xuyên chịu tác động của sóng, triều, nước dâng, cửa sông và khu vực tập trung dân cư, sản xuất, nuôi trồng thủy sản.
- Rà soát, vận hành hợp lý các cống dưới đê, cống ngăn triều, công trình tiêu thoát nước và hệ thống thủy lợi ven biển để vừa bảo đảm an toàn công trình, vừa hạn chế tối đa tình trạng nước dâng kết hợp triều làm ngập sâu vùng dân cư, vùng sản xuất và các khu vực hạ tầng trọng yếu.
- Bổ sung, hoàn thiện hệ thống biển báo cảnh báo, cột mốc, đèn tín hiệu, thiết bị phát tin, camera giám sát, thiết bị quan trắc mực nước, gió, triều tại các khu vực cửa sông, tuyến đê biển, khu neo đậu, bến cá, cống lớn và các vị trí trọng điểm phục vụ công tác theo dõi, chỉ huy điều hành và cảnh báo sớm.
- Từng bước đầu tư nâng cấp các khu neo đậu tránh trú bão, công trình bảo vệ bờ, công trình chắn sóng, các tuyến đường kết hợp đê, điểm tránh trú an toàn, khu sơ tán tập trung và hệ thống điện, thông tin liên lạc phục vụ ứng phó với các tình huống nước dâng lớn do bão.
- Tổ chức khơi thông dòng chảy, nạo vét các tuyến tiêu, cửa dẫn, khu vực cửa sông, cống tiêu và các điểm ách tắc thoát nước có liên quan trực tiếp đến khả năng tiêu thoát khi xảy ra nước dâng kết hợp mưa lớn, nhằm hạn chế tối đa ngập úng kéo dài tại khu vực ven biển và cửa sông.
- Kết hợp đầu tư công trình với giải pháp sinh thái phù hợp như bảo vệ, phục hồi rừng ngập mặn, vành đai chắn sóng, bãi bồi ven biển tại những khu vực có điều kiện để góp phần giảm tác động của sóng, nước dâng và bảo vệ ổn định bờ biển, cửa sông.
m) Đối với thiên tai do gió mạnh trên biển
Biện pháp phi công trình:
- Tăng cường công tác cảnh báo, dự báo, thông tin, truyền thông đến các cộng đồng để nhân dân biết và chuẩn bị các biện pháp phòng tránh.
- Xây dựng và triển khai công tác tìm kiếm cứu nạn theo phương án đã được phê duyệt.
Biện pháp công trình:
- Đầu tư xây dựng các công trình bến cảng đề phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn; củng cố hệ thống các khu neo đậu tàu thuyền.
- Bổ sung mua sắm các trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện nhằm đáp ứng các yêu cầu về tìm kiếm cứu nạn; khắc phục các hậu quả của thiên tai đã xây dựng phương án, kế hoạch đề ra.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả, tái thiết
- Triển khai công tác tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nhu yếu phẩm thiết yếu gồm:
+ Lực lượng cứu hộ, cứu nạn, y tế tổ chức cấp cứu kịp thời người gặp nguy hiểm về tính mạng, tìm kiếm người, phương tiện bị mất tích, ưu tiên các đối tượng dễ bị tổn thương.
+ Lập các trạm cấp cứu lưu động hoặc phối hợp với địa phương trưng dụng các cơ quan, trường học cơ sở y tế tại các khu vực xảy ra thiên tai để tiếp nhận và sơ cấp cứu người bị nạn.
+ Xác định đối tượng, xây dựng biện pháp cứu trợ, hỗ trợ.
+ Xây dựng các lán trại tạm thời cho người bị mất nhà cửa, tiến hành cấp phát lương thực, thực phẩm, nước uống cho người dân.
- Thống kê, đánh giá thiệt hại, nhu cầu hỗ trợ gồm:
+ Tổ chức thống kê, đánh giá mức độ thiệt hại do thiên tai gây ra, xác định nhu cầu hỗ trợ, đề xuất phương án khắc phục hậu quả kịp thời.
+ Đề xuất kiến nghị hỗ trợ lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, giống cây trồng, vật nuôi để kịp thời ổn định đời sống người dân, khôi phục sản xuất.
+ Vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai.
+ Huy động lực lượng, đề xuất giải pháp khôi phục, sửa chữa, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai, công trình công cộng.
- Xây dựng tái thiết gồm:
+ Hỗ trợ người dân bị thiệt hại về người, dân sinh, sản xuất theo quy định.
+ Phân bổ kinh phí hỗ trợ từ Trung ương và nguồn kinh phí dự phòng của địa phương để đầu tư sửa chữa, nâng cấp cơ sở hạ tầng bị thiệt hại sau thiên tai theo thứ tự ưu tiên.
+ Tổ chức rà soát lại cấp độ rủi ro của loại hình thiên tai vừa xảy ra so với kết quả đánh giá, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp.
+ Tổ chức thực hiện các dự án, chương trình theo kế hoạch cập nhật mới, trong đó có dự án bố trí, sắp xếp dân cư nhằm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.
Chương VII
LỒNG GHÉP NỘI DUNG PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI
I. Quan điểm, yêu cầu lồng ghép
Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm phát triển bền vững, giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, sản xuất và môi trường. Việc lồng ghép phải được thực hiện ngay từ khâu xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, chương trình, dự án, kế hoạch đầu tư công, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, nông thôn, phát triển công nghiệp, giao thông, thủy lợi, tài nguyên nước, y tế, giáo dục, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Đối với tỉnh Hưng Yên sau sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu lồng ghép càng có ý nghĩa quan trọng do địa bàn có dân số đông, mật độ dân cư cao, hệ thống sông lớn, vùng bãi ven sông, vùng thấp trũng, vùng ven biển, khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hệ thống đê điều, thủy lợi, giao thông và hạ tầng kỹ thuật có mức độ phơi lộ cao trước bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, ngập lụt, nước dâng, gió mạnh trên biển, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông và các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Việc lồng ghép phải bảo đảm các yêu cầu sau:
- Phù hợp với Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai, quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi, quy hoạch tỉnh, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm và hằng năm của tỉnh.
- Lấy phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả và phục hồi, tái thiết sau thiên tai.
- Không bố trí, mở rộng dân cư, công trình hạ tầng, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị, công trình công cộng tại khu vực có nguy cơ cao về ngập lụt, sạt lở, nước dâng, xâm nhập mặn nếu chưa có giải pháp bảo đảm an toàn.
- Ưu tiên bảo vệ tính mạng Nhân dân, nhóm dễ bị tổn thương, công trình phòng, chống thiên tai, công trình thiết yếu, khu dân cư tập trung, bệnh viện, trường học, cơ sở sản xuất lớn và các tuyến giao thông cứu hộ, cứu nạn.
- Bảo đảm các dự án đầu tư công, dự án phát triển đô thị, nông thôn, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước, y tế, giáo dục khi lập, thẩm định, phê duyệt phải xem xét yếu tố rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.
II. Nội dung lồng ghép trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
1. Lồng ghép trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 05 năm và hằng năm
Trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm và hằng năm của tỉnh, các sở, ngành, địa phương phải lồng ghép các mục tiêu, nhiệm vụ và chỉ tiêu về phòng, chống thiên tai vào từng ngành, lĩnh vực. Nội dung lồng ghép tập trung vào giảm thiểu rủi ro thiên tai, bảo đảm an toàn dân cư, an toàn hạ tầng, an toàn sản xuất, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực chống chịu của cộng đồng.
Các chỉ tiêu cần được xem xét lồng ghép gồm: Tỷ lệ khu dân cư có phương án sơ tán; tỷ lệ xã, phường có phương án phòng, chống thiên tai được cập nhật hằng năm; số công trình đê điều, thủy lợi, tiêu thoát nước được duy tu, nâng cấp; tỷ lệ cơ sở y tế, trường học, công trình công cộng có phương án bảo đảm an toàn trước thiên tai; tỷ lệ người dân được tiếp cận thông tin cảnh báo sớm; số điểm xung yếu về đê điều, sạt lở, ngập úng được xử lý; tỷ lệ khu công nghiệp, cụm công nghiệp có phương án ứng phó thiên tai và duy trì hoạt động an toàn.
2. Lồng ghép trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm
Kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm phải ưu tiên bố trí nguồn lực cho các công trình có tác dụng trực tiếp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro thiên tai. Trọng tâm gồm: Nâng cấp, tu bổ đê sông, đê biển, kè, cống dưới đê; xử lý trọng điểm xung yếu; nâng cấp trạm bơm, kênh tiêu, cống tiêu, hồ điều hòa; cải tạo hệ thống thoát nước đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp; xây dựng đường cứu hộ, cứu nạn; nâng cấp khu neo đậu tránh trú bão; đầu tư hệ thống quan trắc, cảnh báo, thông tin liên lạc và cơ sở dữ liệu phòng, chống thiên tai.
Khi xem xét danh mục dự án đầu tư công, cần ưu tiên các dự án có tác động kép: Vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa tăng năng lực phòng, chống thiên tai. Các công trình giao thông kết hợp cứu hộ, cứu nạn; đê kết hợp giao thông; kênh tiêu kết hợp cải tạo môi trường; hồ điều hòa kết hợp chống ngập; trường học, trạm y tế, nhà văn hóa có thể sử dụng làm điểm sơ tán tạm thời cần được ưu tiên trong phân bổ nguồn lực.
3. Lồng ghép trong quy hoạch sử dụng đất, phát triển đô thị và nông thôn
Quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn phải căn cứ bản đồ nguy cơ thiên tai, bản đồ ngập lụt, khu vực có nguy cơ sạt lở, vùng bãi sông, vùng ngoài đê, vùng thấp trũng, vùng ven biển và khu vực có nguy cơ nước dâng, xâm nhập mặn để bố trí không gian phát triển phù hợp.
Đối với khu vực có nguy cơ cao, cần hạn chế phát triển dân cư tập trung, công trình hạ tầng quan trọng, kho tàng, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm, công trình y tế, giáo dục quy mô lớn nếu chưa có phương án bảo đảm an toàn. Đối với khu vực đô thị, khu dân cư tập trung, cần lồng ghép yêu cầu tiêu thoát nước, hồ điều hòa, hành lang thoát lũ, cao độ nền, không gian cây xanh, công trình chống ngập và tuyến đường thoát hiểm.
4. Lồng ghép trong phát triển nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản và tài nguyên nước
Trong lĩnh vực nông nghiệp, cần lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào kế hoạch sản xuất mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển vùng sản xuất tập trung, vùng nuôi trồng thủy sản và chương trình xây dựng nông thôn mới. Việc bố trí mùa vụ phải phù hợp với diễn biến mưa, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, rét hại, nắng nóng và khả năng cấp, tiêu nước của từng vùng.
Trong lĩnh vực thủy lợi, cần ưu tiên đầu tư, duy tu, nạo vét, nâng cấp hệ thống kênh mương, trạm bơm, cống điều tiết, công trình tiêu thoát nước, công trình ngăn mặn, giữ ngọt, cấp nước sinh hoạt và sản xuất. Các vùng thường xuyên bị úng ngập, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn phải có phương án vận hành công trình thủy lợi linh hoạt, bảo đảm cấp nước, tiêu nước, phòng, chống ô nhiễm nguồn nước sau thiên tai.
Đối với thủy sản, nhất là vùng ven biển, cửa sông, bãi triều và ao đầm nuôi trồng, cần lồng ghép nội dung cảnh báo bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển, nước dâng, mưa lớn, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước; đồng thời hướng dẫn người dân gia cố ao đầm, bờ bao, lồng bè, chủ động thu hoạch, di chuyển người và tài sản đến nơi an toàn khi có tình huống nguy hiểm.
Đối với khu vực nông thôn, vùng bãi, vùng ven sông, ven biển, cần kiểm soát chặt chẽ xây dựng nhà ở, công trình sản xuất, bến bãi, tập kết vật liệu, nuôi trồng thủy sản, san lấp mặt bằng làm ảnh hưởng đến thoát lũ, hành lang bảo vệ đê điều, thủy lợi và khả năng sơ tán khi có thiên tai.
5. Lồng ghép trong phát triển công nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất tập trung phải được rà soát, đánh giá rủi ro thiên tai trong quá trình lập, điều chỉnh quy hoạch và phê duyệt dự án đầu tư. Nội dung cần lồng ghép gồm cao độ nền, hệ thống thoát nước mưa, hồ điều hòa, trạm bơm tiêu, hệ thống điện dự phòng, cấp nước, xử lý nước thải, kho hóa chất, kho nguyên liệu, phương án bảo vệ nhà xưởng, phương án sơ tán công nhân và phương án duy trì sản xuất an toàn.
Đối với các khu, cụm công nghiệp nằm ở vùng thấp trũng, ven sông, ven biển hoặc gần công trình đê điều, thủy lợi, phải kiểm tra khả năng tiêu thoát nước, nguy cơ ngập lụt, ảnh hưởng đến hành lang thoát lũ và an toàn công trình phòng, chống thiên tai. Không phát triển công nghiệp bằng mọi giá ở các khu vực có rủi ro cao nếu chi phí phòng hộ, tiêu thoát nước, xử lý môi trường và bảo đảm an toàn vượt quá khả năng kiểm soát.
6. Lồng ghép trong phát triển giao thông, đường cứu hộ, cứu nạn và hạ tầng kỹ thuật
Quy hoạch và kế hoạch phát triển giao thông phải lồng ghép yêu cầu phục vụ sơ tán dân, cứu hộ, cứu nạn, vận chuyển lực lượng, phương tiện, vật tư, nhu yếu phẩm và tiếp cận các điểm xung yếu trong thiên tai. Các tuyến đường ven đê, đường hành lang chân đê, đường ra khu neo đậu tàu thuyền, đường vào trạm bơm, cống tiêu, khu dân cư vùng bãi, vùng thấp trũng, bệnh viện, trường học, kho vật tư phòng, chống thiên tai cần được xác định là tuyến ưu tiên phục vụ phòng, chống thiên tai.
Khi đầu tư, nâng cấp giao thông phải xem xét cao độ nền đường, khẩu độ cầu cống, khả năng thoát nước ngang, nguy cơ ngập sâu, chia cắt, sạt lở và khả năng lưu thông trong điều kiện mưa bão. Đối với các tuyến giao thông trọng yếu, cần có phương án phân luồng, bảo đảm an toàn cầu, cống, bến phà, bến thủy nội địa, luồng hàng hải, khu neo đậu và phương án khôi phục giao thông sau thiên tai.
Đối với hạ tầng cấp điện, cấp nước, viễn thông, thoát nước, xử lý chất thải, cần lồng ghép yêu cầu vận hành liên tục trong tình huống khẩn cấp, có phương án dự phòng, bảo vệ thiết bị quan trọng, ưu tiên cấp điện, cấp nước cho cơ sở chỉ huy, bệnh viện, trạm y tế, trạm bơm, khu sơ tán, cơ sở thông tin liên lạc và các công trình thiết yếu.
7. Lồng ghép trong lĩnh vực giáo dục, y tế và an sinh xã hội
Trong lĩnh vực giáo dục, cần đưa nội dung phòng, chống thiên tai, kỹ năng sơ tán, kỹ năng tự bảo vệ, phòng tránh đuối nước, sét, lốc, mưa đá, nắng nóng, rét hại vào hoạt động tuyên truyền, ngoại khóa, diễn tập tại trường học. Các trường học ở vùng thấp trũng, ven sông, ven biển, khu vực có nguy cơ ngập lụt phải có phương án bảo đảm an toàn học sinh, giáo viên, hồ sơ, thiết bị và công trình trường học.
Trong lĩnh vực y tế, cần lồng ghép phương án bảo đảm cấp cứu, điều trị, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, nước sạch, thuốc, hóa chất, vật tư y tế trong và sau thiên tai. Các bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế phải có phương án bảo vệ bệnh nhân, người già, trẻ em, phụ nữ mang thai, người khuyết tật và người mắc bệnh nền; đồng thời bảo đảm điện, nước, oxy y tế, thông tin liên lạc và phương tiện vận chuyển bệnh nhân khi xảy ra ngập lụt hoặc chia cắt giao thông.
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, cần lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ chính sách, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người neo đơn, người có bệnh nặng, công nhân, lao động thu nhập thấp và các nhóm dễ bị tổn thương để ưu tiên hỗ trợ khi thiên tai xảy ra. Các chương trình giảm nghèo, nhà ở xã hội, hỗ trợ sinh kế, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tài sản, đào tạo nghề và phục hồi sản xuất sau thiên tai phải được lồng ghép với mục tiêu giảm rủi ro thiên tai.
III. Phương pháp và cách thức lồng ghép
Việc lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai được thực hiện theo các bước sau:
- Rà soát, cập nhật thông tin thiên tai, thiệt hại, bản đồ nguy cơ, khu vực xung yếu, khu vực có nguy cơ cao về ngập lụt, sạt lở, nước dâng, xâm nhập mặn, hạn hán, thiếu nước, gió mạnh, lốc, sét, mưa đá.
- Đánh giá mức độ phơi lộ, tính dễ bị tổn thương và khả năng chống chịu của dân cư, công trình hạ tầng, khu sản xuất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở y tế, trường học, công trình giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước.
- Xác định nội dung phòng, chống thiên tai cần lồng ghép vào từng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án; trong đó nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ, khu vực ưu tiên, giải pháp thực hiện, nguồn lực và cơ quan chịu trách nhiệm.
- Đưa yêu cầu phòng, chống thiên tai vào quá trình lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư, nhất là các dự án có sử dụng đất, tác động đến thoát lũ, tiêu thoát nước, hành lang đê điều, thủy lợi, bãi sông, ven biển và khu dân cư.
- Ưu tiên bố trí vốn cho các dự án có tác dụng giảm rủi ro thiên tai rõ rệt; không phê duyệt hoặc không bố trí vốn cho các dự án làm gia tăng rủi ro thiên tai, cản trở thoát lũ, lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai hoặc làm suy giảm khả năng tiêu thoát nước.
- Tổ chức theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả lồng ghép hằng năm; cập nhật nội dung lồng ghép khi có thay đổi về thiên tai, quy hoạch, đơn vị hành chính, dân cư, hạ tầng, sản xuất và yêu cầu phát triển mới.
IV. Phân công trách nhiệm thực hiện lồng ghép
1. Sở Nông nghiệp và Môi trường: Chủ trì, hướng dẫn, kiểm tra việc lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án có liên quan đến đê điều, thủy lợi, nông nghiệp, tài nguyên nước, môi trường, vùng ven sông, ven biển, phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, sạt lở và các loại hình thiên tai khác.
2. Sở Tài chính: Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan hướng dẫn lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch đầu tư công hằng năm, kế hoạch phân bổ ngân sách và huy động các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai.
3. Sở Xây dựng: Chủ trì lồng ghép yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị, nông thôn, nhà ở, công trình công cộng, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, thoát nước, cao độ nền, công trình chống ngập và các tuyến đường phục vụ cứu hộ, cứu nạn.
4. Sở Công Thương: Chủ trì hướng dẫn các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, hệ thống điện, kho tàng, chợ, siêu thị, trung tâm thương mại xây dựng phương án bảo đảm an toàn trước thiên tai, duy trì chuỗi cung ứng hàng hóa thiết yếu và phòng ngừa sự cố cháy nổ, hóa chất, môi trường trong thiên tai.
5. Sở Y tế: Chủ trì lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong kế hoạch bảo vệ sức khỏe Nhân dân, phòng, chống dịch bệnh, cấp cứu, điều trị, vệ sinh môi trường, bảo đảm thuốc, vật tư y tế, nước sạch và hoạt động liên tục của bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế.
6. Sở Giáo dục và Đào tạo: Chủ trì lồng ghép kiến thức, kỹ năng phòng, chống thiên tai trong trường học; hướng dẫn các cơ sở giáo dục xây dựng phương án bảo đảm an toàn học sinh, giáo viên, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học phù hợp khi xảy ra thiên tai.
7. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh và các lực lượng liên quan: Có trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai với nhiệm vụ phòng thủ dân sự, tìm kiếm cứu nạn, bảo đảm an ninh trật tự, sơ tán dân, cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ công trình trọng điểm và khắc phục hậu quả thiên tai.
8. Ủy ban nhân dân xã, phường: Có trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của địa phương; cập nhật danh sách hộ dân, khu vực nguy hiểm, điểm sơ tán, tuyến đường sơ tán, lực lượng xung kích, vật tư, phương tiện và nhu yếu phẩm; đồng thời kiểm tra việc thực hiện tại thôn, tổ dân phố, khu dân cư, trường học, trạm y tế, chợ, cơ sở sản xuất và công trình công cộng trên địa bàn.
V. Kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả lồng ghép
Hằng năm, các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân xã, phường tổ chức rà soát kết quả lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, phát triển hạ tầng, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và an sinh xã hội. Kết quả rà soát phải được tổng hợp vào báo cáo phòng, chống thiên tai hằng năm và làm căn cứ điều chỉnh nhiệm vụ, danh mục dự án, phân bổ nguồn lực cho năm tiếp theo.
Nội dung giám sát, đánh giá tập trung vào các nhóm chỉ tiêu: Mức độ giảm thiểu rủi ro thiên tai; số lượng công trình xung yếu được xử lý; số khu dân cư nguy hiểm được rà soát, cảnh báo, sơ tán; hiệu quả đầu tư công trình phòng, chống thiên tai; số cơ sở y tế, trường học, khu công nghiệp, cụm công nghiệp có phương án ứng phó; khả năng tiêu thoát nước của đô thị, nông thôn; năng lực cảnh báo, truyền tin; mức độ tham gia của cộng đồng và khả năng phục hồi sau thiên tai.
Trường hợp phát hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án có nguy cơ làm gia tăng rủi ro thiên tai, ảnh hưởng đến hành lang thoát lũ, an toàn đê điều, thủy lợi, tiêu thoát nước, môi trường hoặc an toàn dân cư, cơ quan có thẩm quyền phải kịp thời yêu cầu điều chỉnh, bổ sung giải pháp giảm thiểu rủi ro trước khi triển khai. Đây phải được coi là nguyên tắc cứng trong quản lý phát triển của tỉnh; không để mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn làm suy giảm an toàn thiên tai dài hạn.
VI. Tổ chức thực hiện
- Các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân xã, phường: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động triển khai lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong kế hoạch, chương trình, dự án thuộc phạm vi quản lý. Khi xây dựng kế hoạch hằng năm, các cơ quan, đơn vị phải xác định rõ nhiệm vụ lồng ghép, sản phẩm thực hiện, nguồn lực, thời gian hoàn thành và trách nhiệm của từng đơn vị.
- Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thực hiện lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh; phối hợp với Sở Tài chính, Sở Xây dựng và các sở, ban, ngành liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh, bổ sung danh mục nhiệm vụ, dự án ưu tiên khi có biến động lớn về thiên tai, hạ tầng, dân cư, phát triển kinh tế - xã hội hoặc yêu cầu quản lý mới.
Việc lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, không chỉ trong giai đoạn lập kế hoạch mà trong toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và điều chỉnh kế hoạch. Kết quả lồng ghép là một trong những căn cứ để đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai, hiệu quả đầu tư công và mức độ phát triển bền vững của từng ngành, từng địa phương trên địa bàn tỉnh.
Chương VIII
XÁC ĐỊNH NGUỒN LỰC VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
I. Nguồn lực thực hiện Kế hoạch
1. Nguồn lực con người
Nguồn lực con người tham gia vào phòng, chống, ứng phó thiên tai bao gồm:
- Lực lượng chỉ đạo, chỉ huy, điều hành các công việc phòng, chống, ứng phó các tình huống thiên tai.
- Lực lượng tham gia cứu hộ, cứu nạn.
- Lực lượng tham gia sơ tán, di dời dân ra khỏi khu vực nguy hiểm: Công an, quân đội, dân quân tự vệ...
- Lực lượng tham gia ứng cứu, hộ đê: Kỹ thuật, xung kích, canh coi, cử sách...
- Các lực lượng khác tham gia vào công tác phòng, chống, ứng phó thiên tai. Tùy các tình huống, cấp độ rủi ro thiên tai cụ thể mà Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp có thể huy động với số lượng, quy mô lực lượng khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu và đạt hiệu quả.
2. Nguồn lực tài chính
Nguồn lực thực hiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hưng Yên được huy động từ ngân sách nhà nước, Quỹ phòng, chống thiên tai tỉnh, nguồn vốn đầu tư công trung hạn và hằng năm, nguồn dự phòng ngân sách địa phương, nguồn hỗ trợ của Trung ương, nguồn xã hội hóa, nguồn đóng góp hợp pháp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Nguồn ngân sách Trung ương và các nguồn vốn hỗ trợ hợp pháp khác được ưu tiên bố trí cho các nhiệm vụ, chương trình, dự án có quy mô lớn, có tính chất liên vùng, liên ngành hoặc vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương, nhất là các công trình đê điều, kè chống sạt lở, công trình tiêu thoát lũ, khu neo đậu tránh trú bão, công trình thủy lợi trọng điểm, hệ thống quan trắc, cảnh báo thiên tai, đường cứu hộ, cứu nạn và các công trình phòng, chống thiên tai cấp bách.
Nguồn ngân sách địa phương được bố trí để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và nhiệm vụ đầu tư thuộc trách nhiệm của tỉnh, gồm: Tu bổ, duy tu, sửa chữa công trình đê điều, thủy lợi, kè, cống, trạm bơm; xử lý các điểm xung yếu; nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy; nâng cấp hệ thống thoát nước khu dân cư, đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; mua sắm vật tư, phương tiện, trang thiết bị phục vụ chỉ huy, ứng phó, cứu hộ, cứu nạn; tuyên truyền, tập huấn, diễn tập, nâng cao nhận thức cộng đồng và xây dựng cơ sở dữ liệu phòng, chống thiên tai.
Nguồn ngân sách dự phòng của địa phương được sử dụng để xử lý các nhiệm vụ cấp bách phát sinh trong quá trình phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ khẩn cấp về lương thực, thực phẩm, nước sạch, thuốc men, chỗ ở tạm thời, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh; sửa chữa tạm thời công trình hạ tầng thiết yếu bị hư hỏng do thiên tai gây ra.
Quỹ phòng, chống thiên tai tỉnh được quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật, tập trung hỗ trợ các hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã; hỗ trợ mua sắm vật tư, trang thiết bị, phương tiện thiết yếu; hỗ trợ sửa chữa, khắc phục công trình phòng, chống thiên tai, công trình dân sinh bị ảnh hưởng bởi thiên tai theo quy định.
Nguồn xã hội hóa, đóng góp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp được khuyến khích huy động để thực hiện các hoạt động phòng, chống thiên tai, hỗ trợ cộng đồng, hỗ trợ nhóm dễ bị tổn thương, nâng cấp công trình dân sinh, đầu tư hệ thống cảnh báo, thông tin liên lạc, trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn và phục hồi sản xuất sau thiên tai. Việc tiếp nhận, quản lý, phân bổ và sử dụng các nguồn lực này phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, đúng đối tượng và đúng quy định.
III. Tiến độ thực hiện Kế hoạch
Kế hoạch phòng, chống thiên tai tỉnh Hưng Yên được thực hiện trong giai đoạn 2026-2030, trong đó các nhiệm vụ được triển khai theo lộ trình hằng năm, phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực, mức độ cấp thiết của từng nhiệm vụ và diễn biến thiên tai trên địa bàn tỉnh.
Giai đoạn năm 2026 tập trung rà soát, kiện toàn tổ chức chỉ huy phòng thủ dân sự, phòng, chống thiên tai các cấp; cập nhật kế hoạch, phương án ứng phó thiên tai của các sở, ngành, đơn vị và Ủy ban nhân dân xã, phường; rà soát khu vực xung yếu về đê điều, thủy lợi, sạt lở, ngập lụt, nước dâng, xâm nhập mặn, hạn hán; lập danh mục nhiệm vụ, dự án ưu tiên; xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ rủi ro thiên tai và tổ chức tuyên truyền, tập huấn, diễn tập theo kế hoạch.
Giai đoạn 2027-2028 tập trung triển khai các nhiệm vụ, dự án ưu tiên đã được phê duyệt; xử lý các điểm xung yếu, công trình xuống cấp, khu vực có nguy cơ cao; nâng cấp hệ thống thông tin, cảnh báo, truyền tin thiên tai; đầu tư, sửa chữa, nâng cấp công trình đê điều, thủy lợi, tiêu thoát nước, khu neo đậu tránh trú bão, đường cứu hộ, cứu nạn; đồng thời tiếp tục nâng cao năng lực lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã và cộng đồng dân cư.
Giai đoạn 2029-2030 tiếp tục hoàn thành các nhiệm vụ, công trình chuyển tiếp; rà soát, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch; cập nhật các nhiệm vụ phát sinh do biến đổi khí hậu, thay đổi quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa và diễn biến thiên tai mới. Đồng thời, tổng kết, đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch giai đoạn 2026-2030, làm cơ sở xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn tiếp theo.
Đối với các nhiệm vụ cấp bách phát sinh do thiên tai, sự cố công trình, sạt lở, ngập lụt, mất an toàn đê điều, thủy lợi, cấp nước, giao thông, y tế, giáo dục hoặc hạ tầng thiết yếu, các sở, ngành, đơn vị và Ủy ban nhân dân xã, phường phải kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, chỉ đạo xử lý, không phụ thuộc cứng vào tiến độ phân kỳ của kế hoạch.
Chương IX
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
I. Trách nhiệm thực hiện
1. Sở Nông nghiệp và Môi trường: Theo dõi, đánh giá việc thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp tỉnh; tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch hằng năm, 5 năm hoặc đột xuất theo quy định, yêu cầu của cấp có thẩm quyền; rà soát đánh giá điều chỉnh kế hoạch phòng, chống thiên tai (nếu cần thiết); kiểm tra việc xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp xã.
2. Sở Tài chính
Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn (05 năm) giai đoạn 2026-2030 và đề xuất của các sở, ban, ngành, địa phương, tổng hợp nội dung phòng, chống thiên tai lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm bảo đảm các nhiệm vụ, chương trình, dự án trong Kế hoạch phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 được lồng ghép trong kế hoạch của các sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương để ưu tiên triển khai thực hiện.
Căn cứ nguồn ngân sách trung ương phân bổ và khả năng cân đối ngân sách của địa phương, trên cơ sở đề xuất của các sở, ban, ngành, địa phương, tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét cân đối, bố trí kinh phí để thực hiện Kế hoạch theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản hướng dẫn Luật và các quy định hiện hành khác.
3. Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân xã, phường tổ chức thực hiện tốt các nội dung của Kế hoạch; bố trí kinh phí thực hiện Kế hoạch trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao hằng năm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
4. Ủy ban nhân dân xã, phường: Khẩn trương xây dựng Kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp xã theo quy định tại Thông tư số 02/2021/TT- BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bô Nông nghiệp và Môi trường) hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương được sửa đổi tại Thông tư số 18/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chi tiết về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai.
II. Chế độ báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch
Các sở, ban, ngành, đơn vị và Ủy ban nhân dân xã, phường có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo hằng năm và báo cáo đột xuất về tình hình thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh và cơ quan thường trực phòng, chống thiên tai.
Báo cáo đột xuất được thực hiện khi triển khai nhiệm vụ, chương trình, dự án gặp khó khăn lớn về nhân lực, tài chính, kỹ thuật, mặt bằng, tiến độ hoặc phát sinh sự cố ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản, công trình phòng, chống thiên tai, công trình hạ tầng thiết yếu. Nội dung báo cáo đột xuất cần nêu rõ tình hình, nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng, khó khăn, vướng mắc, đề xuất giải pháp xử lý và nhu cầu hỗ trợ.
Báo cáo định kỳ được thực hiện theo quý hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Nội dung báo cáo gồm: Kết quả thực hiện các nhiệm vụ phi công trình, công trình; tiến độ thực hiện các chương trình, dự án; tình hình bố trí, huy động, sử dụng nguồn lực; khó khăn, vướng mắc; nhiệm vụ trọng tâm trong kỳ tiếp theo; kiến nghị, đề xuất xử lý.
Báo cáo hằng năm được gửi về Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. Nội dung báo cáo hằng năm cần đánh giá tình hình thiên tai trên địa bàn, tác động của thiên tai đến từng ngành, lĩnh vực, địa phương; kết quả triển khai kế hoạch; kết quả sử dụng nguồn lực; mức độ hoàn thành các nhiệm vụ, dự án; những tồn tại, hạn chế, bài học kinh nghiệm và kiến nghị điều chỉnh, bổ sung kế hoạch cho năm tiếp theo.
III. Rà soát, đánh giá và cập nhật Kế hoạch
Hằng năm, các sở, ban, ngành, đơn vị và Ủy ban nhân dân xã, phường tổ chức rà soát, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phòng, chống thiên tai; đánh giá mức độ hoàn thành các nhiệm vụ được giao, hiệu quả sử dụng nguồn lực, hiệu quả giảm thiểu rủi ro thiên tai, khả năng đáp ứng yêu cầu thực tế và các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành và các đơn vị có liên quan tổng hợp kết quả rà soát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch trên địa bàn tỉnh; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh, cập nhật kế hoạch khi có thay đổi lớn về thiên tai, quy hoạch, đơn vị hành chính, dân cư, hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hoặc yêu cầu quản lý mới.
Việc cập nhật kế hoạch phải tập trung vào các nội dung: Bổ sung thông tin thiên tai mới; cập nhật khu vực xung yếu, khu vực có nguy cơ cao; điều chỉnh danh mục nhiệm vụ, dự án ưu tiên; cập nhật nhu cầu nguồn lực; điều chỉnh phân công trách nhiệm; cập nhật phương án ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai; bổ sung các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Trường hợp xảy ra thiên tai lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, sản xuất, hạ tầng, môi trường hoặc làm thay đổi đáng kể mức độ rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, địa phương tổ chức đánh giá thiệt hại, đánh giá nhu cầu phục hồi, tái thiết và đề xuất cập nhật kế hoạch phòng, chống thiên tai cho phù hợp.
IV. Theo dõi, kiểm tra và đánh giá thực hiện
Việc theo dõi, kiểm tra và đánh giá thực hiện kế hoạch được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt giai đoạn 2026-2030 nhằm bảo đảm các nhiệm vụ, chương trình, dự án được triển khai đúng mục tiêu, đúng tiến độ, đúng đối tượng, đúng quy định và phát huy hiệu quả phòng, chống thiên tai.
Nội dung theo dõi, kiểm tra gồm: Tiến độ thực hiện nhiệm vụ, chương trình, dự án; kết quả bố trí và giải ngân nguồn lực; chất lượng công trình, chất lượng sản phẩm; mức độ hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ; hiệu quả lồng ghép phòng, chống thiên tai trong phát triển kinh tế - xã hội; năng lực ứng phó của các sở, ngành, địa phương; hiệu quả hoạt động của lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã và mức độ tham gia của cộng đồng.
Các chỉ tiêu đánh giá chủ yếu gồm: Số lượng phương án ứng phó thiên tai được cập nhật; số xã, phường tổ chức tập huấn, diễn tập; số khu vực xung yếu được rà soát, xử lý; số công trình phòng, chống thiên tai được duy tu, nâng cấp; số tuyến đường cứu hộ, cứu nạn được cải tạo; số cơ sở y tế, trường học, khu công nghiệp, cụm công nghiệp có phương án bảo đảm an toàn; tỷ lệ người dân được tiếp cận thông tin cảnh báo sớm; mức độ giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản và sản xuất khi xảy ra thiên tai.
Kết quả theo dõi, kiểm tra, đánh giá là căn cứ để Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo điều chỉnh nhiệm vụ, bố trí nguồn lực, xử lý trách nhiệm của cơ quan, đơn vị chậm triển khai, đồng thời biểu dương, nhân rộng các mô hình, giải pháp hiệu quả trong phòng, chống thiên tai. Việc theo dõi, đánh giá phải bảo đảm khách quan, thực chất, không hình thức; lấy hiệu quả giảm thiểu rủi ro thiên tai, bảo vệ tính mạng Nhân dân và bảo đảm an toàn phát triển kinh tế - xã hội làm tiêu chí trọng tâm.
V. Tổ chức thực hiện
Căn cứ Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 của tỉnh, các sở, ban, ngành, đơn vị, đoàn thể, Ủy ban nhân dân cấp xã khẩn trương tiến hành rà soát, bổ sung phương án Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn của cơ quan, địa phương mình; lồng ghép các nhiệm vụ, chương trình, dự án được giao vào kế hoạch phát triển của sở, ngành, đơn vị, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương để tổ chức thực hiện đạt hiệu quả.
Các cơ quan, doanh nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn cần chủ động xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn theo chu kỳ 5 năm theo lĩnh vực quản lý phù hợp với đặc điểm, tình hình thiên tai của tỉnh; phối hợp tích cực với các sở, ban, ngành của tỉnh trong công tác phòng, chống giảm nhẹ thiên tai.
Giao Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức kiểm tra, đôn đốc các sở, ban, ngành, đơn vị, Ủy ban nhân dân cấp xã, các đoàn thể, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và cá nhân liên quan trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện Kế hoạch này và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
Căn cứ Kế hoạch này, các sở, ban, ngành, đơn vị và đoàn thể của tỉnh, Ủy ban nhân dân xã, phường căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động đề xuất các hoạt động triển khai thực hiện hằng năm phù hợp với điều kiện thực tế, lập dự toán kinh phí gửi về Sở Tài chính để thẩm định, tham mưu.
Trên đây là Kế hoạch Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hưng Yên, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân xã, phường và các đơn vị liên quan triển khai thực hiện./.
PHẦN PHỤ LỤC
(Kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày 6/2026 của UBND tỉnh)
Bảng 1: Tổng hợp danh mục biện pháp phi công trình phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030
|
STT |
Nhiệm vụ cụ thể |
Đơn vị chủ trì |
Đơn vị phối hợp |
Thời gian thực hiện |
|
I |
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách |
|
|
|
|
1 |
Rà soát, ban hành và tổ chức thực hiện đồng bộ các văn bản về phòng, chống thiên tai phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và phạm vi quản lý của tỉnh sau sáp nhập. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Công an tỉnh; các sở, ban, ngành; UBND các xã, phường |
2026- 2027, rà soát hằng năm |
|
2 |
Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, an toàn đê điều - thủy lợi, ven sông và ven biển vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, địa phương, nông thôn mới, đô thị, khu công nghiệp và phát triển hạ tầng. |
Sở Tài chính; Sở Xây dựng; Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Các sở, ban, ngành; UBND xã, phường |
2026- 2030 |
|
3 |
Tăng cường kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về đê điều, thủy lợi, khai thác cát, xây dựng trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Công an tỉnh; Sở Xây dựng; UBND xã, phường |
Hằng năm |
|
II |
Kiện toàn tổ chức, bộ máy và tăng cường năng lực quản lý thiên tai |
|||
|
4 |
Kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp; phân công rõ trách nhiệm từng thành viên, bảo đảm trực ban, chỉ huy, điều hành thông suốt trong mọi tình huống thiên tai. |
UBND tỉnh; UBND các xã, phường |
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Sở Nông nghiệp và Môi trường; các sở, ban, ngành liên quan |
2026- 2030 |
|
5 |
Củng cố văn phòng thường trực phòng, chống thiên tai các cấp; nâng cao năng lực tham mưu, tổng hợp, trực ban, kết nối trực tuyến giữa cấp tỉnh và cấp xã. |
Các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường |
Các đơn vị liên quan |
2026- 2030 |
|
6 |
Củng cố và nâng cao năng lực lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã; duy trì 100% xã, phường có đội xung kích, chuẩn hóa tổ chức, trang bị, chế độ hoạt động và khả năng xử lý giờ đầu. |
UBND các xã, phường |
Sở Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Công an tỉnh |
2026- 2030 |
|
7 |
Tổ chức triển khai tập huấn công tác phòng, chống thiên tai và các biện pháp xử lý giờ đầu đối với những sự cố hư hỏng của đê, kè, cống trong mùa lũ bão cho các cán bộ, công chức, viên chức tại các xã, phường. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Công an tỉnh; Sở Y tế; Sở Xây dựng; Sở Công Thương; UBND các xã, phường |
Hằng năm |
|
III |
Lập, rà soát và thực hiện các kế hoạch, quy hoạch, phương án |
|
|
|
|
8 |
Rà soát, cập nhật Kế hoạch phòng, chống thiên tai tỉnh và Phương án ứng phó thiên tai theo cấp độ rủi ro thiên tai. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Các sở, ban, ngành; UBND . xã, phường |
Hằng năm |
|
9 |
Xây dựng, hoàn thiện và rà soát hằng năm phương án ứng phó thiên tai cấp xã; phương án di dời dân, vật tư, nhân lực, phương tiện, hậu cần và khôi phục hoạt động thiết yếu sau thiên tai. |
UBND các xã, phường |
Sở Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Công an tỉnh |
2026- 2027, cập nhật hằng năm |
|
10 |
Rà soát, cập nhật phương án hộ đê toàn tuyến; phương án bảo vệ trọng điểm xung yếu. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
UBND xã, phường; các đơn vị quản lý công trình |
Hằng năm |
|
11 |
Rà soát danh điểm ngập sâu, khu dân cư ngoài đê bối, ven sông, ven biển, vùng nuôi trồng thủy sản, khu neo đậu tránh trú bão; lập và cập nhật bản đồ rủi ro, danh sách dân cư cần sơ tán. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
UBND xã, phường |
2026- 2030 |
|
12 |
Rà soát, điều chỉnh quy hoạch và cơ chế quản lý đối với vùng nuôi trồng thủy sản, khu dân cư, công nghiệp, dịch vụ ven sông, ven biển nhằm bảo đảm an toàn trước bão, lũ, ngập lụt, nước dâng và xâm nhập mặn. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Xây dựng |
Sở Tài chính; UBND các xã, phường |
2026- 2030 |
|
IV |
Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và chuyển đổi số |
|
|
|
|
13 |
Tiếp tục triển khai hệ thống kết nối camera giám sát công tác phòng, chống thiên tai tại cảng cá, khu neo đậu và công trình đê điều, thủy lợi xung yếu kết nối về Trung tâm Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Sở Tài chính; Sở Khoa học và Công nghệ; UBND xã, phường; các Công ty TNHH MTV KTCTTL tỉnh |
2026- 2028 |
|
14 |
Duy trì, mở rộng ứng dụng công nghệ số trong điều hành, ứng phó thiên tai: trạm đo mưa/gió/nhiệt độ/độ ẩm tự động, flycam, họp trực tuyến, VNDMS, app “PCTT”, hệ thống giám sát tàu cá, kênh thông tin Gmail/Zalo/Facebook. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Sở Khoa học và Công nghệ; Đài Khí tượng Thủy văn; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh |
2026- 2030 |
|
15 |
Nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo Áp thấp nhiệt đới, bão, mưa lớn, lũ, ngập lụt, nước dâng, gió mạnh trên biển, nắng nóng, hạn hán, rét hại, sương mù và xâm nhập mặn; bảo đảm truyền tin nhanh đến cấp xã, người dân, tàu thuyền và cơ sở sản xuất. |
Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh |
Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Khoa học và Công nghệ; Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh |
Hằng năm |
|
16 |
Tổ chức quan trắc độ mặn, nguồn nước vùng cửa sông, ven biển phục vụ vận hành công trình lấy nước - giữ ngọt, chống hạn, ứng phó xâm nhập mặn. |
Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh |
Các Công ty TNHH MTV KTCTTL tỉnh; UBND xã, phường |
Hằng năm |
|
V |
Nâng cao nhận thức, kiến thức phòng, chống thiên tai cho cộng đồng |
|||
|
17 |
Tổ chức triển khai hiệu quả Kế hoạch nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Các sở, ngành; UBND xã, phường |
2026- 2030 |
|
18 |
Đổi mới công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền phòng, chống thiên tai trên báo chí, phát thanh - truyền hình, hệ thống loa cơ sở, mạng xã hội, trường học, khu dân cư; duy trì Tuần lễ Quốc gia phòng, chống thiên tai hằng năm. |
Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh |
Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Nông nghiệp và Môi trường; UBND xã, phường |
Hằng năm |
|
19 |
Tập huấn, hướng dẫn kỹ năng ứng phó thiên tai cho cộng đồng, nhóm dễ bị tổn thương, người lao động ngoài trời, ngư dân, người làm việc tại bãi triều, vùng nuôi trồng thủy sản, trường học, cơ sở y tế và khu công nghiệp |
UBND các xã, phường |
Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Y tế; Sở Giáo dục và Đào tạo; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh |
2026- 2030 |
|
VI |
Tổ chức diễn tập phòng, chống thiên tai theo kịch bản cụ thể |
|
|
|
|
20 |
Tổ chức diễn tập phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn có sự tham gia của cộng đồng theo các kịch bản bão mạnh, mưa lớn, lũ, hộ đê, sơ tán dân, cứu nạn trên sông và ven biển. |
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh |
Công an tỉnh; Sở Nông nghiệp và Môi trường; UBND xã, phường |
Hằng năm |
|
21 |
Tổ chức diễn tập chuyên ngành đối với điện lực, giao thông, y tế, viễn thông, khu neo đậu tàu thuyền và các công trình hạ tầng thiết yếu để duy trì hoạt động an toàn khi xảy ra thiên tai lớn. |
Sở Công Thương; Sở Xây dựng; Sở Y tế; Sở Khoa học và Công nghệ |
Các doanh nghiệp hạ tầng; UBND xã, phường; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh |
2026- 2030 |
|
VII |
Sản xuất, sinh kế an toàn trước thiên tai; quản lý ven sông, ven biển |
|||
|
22 |
Điều chỉnh mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi; nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn trước thiên tai, thích ứng với mưa lớn, ngập úng, hạn hán, nắng nóng và rét hại. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
UBND xã, phường; các đơn vị có liên quan |
2026- 2030 |
|
23 |
Xây dựng quy trình, hướng dẫn an toàn cho nuôi trồng thủy sản và lao động làm thuê ven sông, ven biển trong mùa mưa bão; tăng cường kiểm soát an toàn tại bãi triều, đầm nuôi, khu vực ngoài đê bối. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
UBND xã, phường ven sông, ven biển; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Công an tỉnh |
2026- 2030 |
|
24 |
Tăng cường quản lý tàu thuyền, thông tin liên lạc trên biển; kiểm đếm, kêu gọi, hướng dẫn tránh trú bão; bảo đảm vận hành an toàn khu neo đậu cửa Lân, Diêm Hộ và các bến, cửa sông ven biển. |
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh |
Công an tỉnh; Sở Nông nghiệp và Môi trường; UBND xã, phường ven biển |
Hằng năm |
|
25 |
Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, cây chắn sóng ven biển; nâng cao vai trò giảm sóng, chắn gió, giữ bãi và bảo vệ đê biển, đê cửa sông. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
UBND xã, phường ven biển |
2026- 2030 |
|
VIII |
Quản lý nguồn lực, thống kê thiệt hại và phục hồi sau thiên tai |
|
|
|
|
26 |
Nâng cao năng lực thống kê, đánh giá thiệt hại, cập nhật cơ sở dữ liệu thiệt hại và theo dõi phục hồi sau thiên tai phục vụ chỉ đạo điều hành, hỗ trợ khắc phục hậu quả. |
Sở Nông nghiệp và Môi trường |
UBND xã, phường; các sở, ban, ngành liên quan |
Hằng năm |
|
27 |
Quản lý, sử dụng hiệu quả Quỹ phòng, chống thiên tai |
Cơ quan quản lý Quỹ PCTT |
Sở Tài chính; UBND xã, phường; Sở Nông nghiệp và Môi trường |
2026- 2030 |
Bảng 2: Biện pháp công trình (Đề xuất danh mục các dự án) về phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030
|
TT |
Tên dự án |
Thời gian thực hiện |
|
1 |
Xử lý cấp bách kè Đại Nẫm đoạn từ K28+500 đến K29+700 đê Hữu Luộc xã Minh Thọ, tỉnh Hưng Yên |
2026-2027 |
|
2 |
Xử lý cấp bách sự cố sạt lở đê bao Vũ Vân thuộc đê tả Hồng Hà II đoạn từ K183+000 đến K183+410 địa phận xã Thư Vũ |
2026-2027 |
|
3 |
Xử lý cấp bách sự cố tràn bờ bao đoạn từ cống xả qua đê trạm bơm Lịch Bài về hạ lưu (khoảng từ K185+820 đến K186+220) đê Tả Hồng Hà II, xã Hồng Vũ |
2026-2027 |
|
4 |
Dự án đầu tư gia cố một số vị trí hư hỏng đoạn kè Nhật Tảo từ K140+500 đến K141+000 và đầu tư xây dựng mới tuyến kè từ K141+000 đến K142+500 đê Tả Hồng Hà I, tỉnh Hưng Yên |
2026-2027 |
|
5 |
Dự án xử lý cấp bách xây dựng khu neo đậu kết hợp tránh trú bão cho tàu cá tại cửa Lân, xã Nam Cường, tỉnh Hưng Yên |
2026-2028 |
|
6 |
Dự án xử lý cấp bách cải tạo nâng cấp khu neo đậu tránh trú bão cửa Diêm Hộ, xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên |
2026-2028 |
|
7 |
Xử lý cấp bách công trình nạo vét, kè kênh Thái Sư và nạo vét, kè kênh Cung, tỉnh Hưng Yên |
2026-2027 |
|
8 |
Xử lý cấp bách kè Tân Thành III đoạn từ K17+330 đến K17+530 đê hữu Trà Lý, tỉnh Hưng Yên |
2026-2027 |
|
9 |
Xử lý cấp bách kè Phương Cúc đoạn từ K22+650 đến K23+300 đê Tả Trà Lý, phường Trà Lý, tỉnh Hưng Yên |
2026-2027 |
|
10 |
Xử lý cấp bách kè chống sạt lở để ổn định dân cư, giữ đất canh tác và bảo vệ mái đê hữu Trà Lý, xã Vạn Xuân, tỉnh Hưng Yên |
2026-2027 |
|
11 |
Xử lý cấp bách kè chống sạt lở đoạn Kè Phúc Tân (từ Km48+700 đến Km49+780) và Kè Thuyền Quan (từ Km43+800 đến Km44+800) đê sông tả Trà Lý, tỉnh Hưng Yên |
2026-2027 |
|
12 |
Xây dựng kè Đò Gồ - Trà Giang từ K39+500 đến K43+500 đê Hữu Trà Lý, tỉnh Hưng Yên |
2026-2027 |
|
13 |
Dự án nạo vét, kè chống sạt lở bờ kênh M2, huyện Kiến Xương |
không quá 03 năm kể từ ngày khởi công |
|
14 |
Các dự án thuộc Đề án phát triển tổng thể Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải |
2026-2030 |
|
15 |
Cải tạo, nâng cấp cống luồn kênh Tây tại K6+750 trạm bơm Văn Giang, xã Mễ Sở |
2026-2030 |
|
16 |
Lắp đặt hệ thống kết nối camera giám sát công tác phòng, chống thiên tai cho một số công trình đê điều, thủy lợi xung yếu về Trung tâm Ban chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh), Văn phòng thường trực cơ quan phòng, chống thiên tai |
2026 |
|
17 |
Dự án Xử lý cấp bách kè Hà Xá phía Sông Luộc, tương ứng từ Km 134+ 300 đến km 135+250 đê tả Hồng Hà I thuộc địa phận xã Long Hưng. |
2026-2030 |
|
18 |
Xử lý cấp bách nâng cấp tuyến đê bối xã Ngọc Lâm, tỉnh Hưng Yên |
2026-2030 |
|
19 |
Nâng cấp hệ thống đê điều đoạn từ đường kết nối di sản dọc sông Hồng đến cửa Ba Lạt, tỉnh Hưng Yên |
2026-2030 |
|
20 |
Xây dựng mới cống Trà Linh và nâng cấp công trình phụ trợ |
2026-2030 |
|
21 |
Xây dựng, cải tạo hệ thống công trình chống úng, ngập cho Phía Nam sông Trà Lý |
2026-2030 |
|
22 |
Cải tạo, nâng cấp Trạm bơm Cự Lâm và công trình phụ trợ |
2026-2030 |
|
23 |
Kè bờ nam kênh Kiến Giang đoạn từ điểm nối S1 đến cống Tân Đệ |
2026-2030 |
|
24 |
Dự án kè chống sạt lở bảo vệ khu vực cống Lân 1, Lân 2 |
2026-2030 |
|
25 |
Cải tạo, nâng cấp Trạm bơm An Quốc |
2026-2030 |
|
26 |
Cải tạo, nâng cấp trạm bơm Cống Lấp |
2026-2030 |
|
27 |
Kè Đông Minh |
2026-2030 |
|
28 |
Cải tạo nâng cấp cống Thuyền Quan |
2026-2030 |
|
29 |
Cải tạo, sửa chữa tuyến kè Phú Hùng Cường, đê tả sông Hồng, phường Sơn Nam |
2026-2030 |
|
30 |
Xử lý sạt lở bờ sông đê tả sông Hồng phường Hồng Châu |
2026-2030 |
|
31 |
Hoàn thiện mặt cắt đê, làm đường hành lang chân đê đoạn từ K19+440 đến K26+000 đê Hữu Hóa, xã Thụy Anh và xã Bắc Thụy Anh |
2026-2030 |
|
32 |
Xử lý cấp bách kè Hướng Điền đoạn K155+500 đến K156+400 và tu sửa hệ thống kè mỏ hàn đê tả Hồng Hà II, xã Vạn Xuân |
2026-2030 |
|
33 |
Xử lý cấp bách kè Đại An đoạn K165+700 đến K166+200 đê Tả Hồng Hà II, xã Tân Thuận |
2026-2030 |
|
34 |
Xử lý cấp bách Kè Nam Hồng đoạn từ K5+300 đến K6+995 thuộc đê cửa sông Tả Hồng Hà, xã Nam Tiền Hải |
2026-2030 |
|
35 |
Hoàn thiện mặt cắt đê, làm đường hành lang chân đê đoạn từ K42+000 đến K47+000 đê Hữu Trà Lý, xã Trà Giang |
2026-2030 |
|
36 |
Thay hệ thống cánh van cống Trà Linh 1 |
2026-2030 |
|
37 |
Dự án: Cải tạo, nâng cấp trạm bơm Thuỷ Nguyên, xã Bắc Thái Ninh |
2026-2030 |
|
38 |
Nạo vét và kè bờ kênh Vĩnh Trà đoạn từ khu tập thể thủy lợi đến cống Tam Lạc và kênh 3-2 |
2026-2030 |
|
39 |
Cải tạo, nâng cấp cống Tân Bồi 1 |
2026-2030 |
|
40 |
Cải tạo, nâng cấp cống Tân Bồi 2 |
2026-2030 |
|
41 |
Cải tạo, nâng cấp cống Hồng Quỳnh 1 |
2026-2030 |
|
42 |
Cải tạo, nâng cấp cống Hồng Quỳnh 2 |
2026-2030 |
|
43 |
Kè mái kênh thượng hạ lưu cống Mang |
2026-2030 |
|
44 |
Nạo vét, kè chống sạt lở và xây dựng công trình trên kênh Sinh nhánh 1, huyện Thái Thụy |
2026-2030 |
|
45 |
Xây dựng cải tạo cống Đắc Chúng |
2026-2030 |
|
46 |
Kè kênh T1 trạm bơm An Quốc xã Trà Giang |
2026-2030 |
|
47 |
Cải tạo nâng cấp cống Đào Thành và hệ thống kênh sau cống |
2026-2030 |
|
48 |
Cải tạo, sửa chữa tuyến đê bối Phú Hùng Cường, phường Sơn Nam |
2026-2030 |
|
49 |
Cải tạo, nâng cấp kè Đức Hợp-Phú Mỹ xã Đức Hợp |
2026-2030 |
|
50 |
Xử lý sạt lở bờ tả sông Hồng xã Châu Ninh (trước là xã Tân Châu, huyện Khoái Châu) |
2026-2030 |
|
51 |
Xử lý sạt lở bờ tả sông Hồng xã Châu Ninh (trước là xã Đại Tập, huyện Khoái Châu) |
2026-2030 |
|
52 |
Cải tạo nâng cấp trạm bơm Đồng Thanh, xã Nghĩa Dân |
2026-2030 |
|
53 |
Cải tạo nâng cấp trạm bơm Bích Tràng, xã Hồng Quang |
2026-2030 |
|
54 |
Cải tạo, nâng cấp trạm bơm Cao Nội, xã Đồng Bằng |
2026-2030 |
|
55 |
Kè Sông Kiến Giang (đoạn từ cầu Vũ Quý, xã Kiến Xương) |
2026-2030 |
|
56 |
Xây mới cống An Bái tại K2+800 đê cửa sông Hữu Hóa, xã Đông Thụy Anh |
2026-2030 |
|
57 |
Xây mới cống Lưu Đồn tại K3+300 đê cửa sông Hữu Hóa, xã Đông Thụy Anh |
2026-2030 |
|
58 |
Xây mới cống Diêm Tỉnh tại K5+116 đê cửa sông Hữu Hóa, xã Đông Thụy Anh |
2026-2030 |
|
59 |
Xây mới cống Diệm Dương tại K42+700 đê Hữu Trà Lý, xã Trà Giang |
2026-2030 |
|
60 |
Cải tạo nâng cấp trạm bơm Tạ Thượng I, xã Lương Bằng |
2026-2030 |
|
61 |
Cải tạo nâng cấp trạm bơm Hồng Tiến, xã Việt Tiến |
2026-2030 |
|
62 |
Cải tạo nâng cấp trạm bơm Viên Quang, xã Quang Hưng |
2026-2030 |
|
63 |
Cải tạo nâng cấp trạm bơm Phương Bồ, xã Đoàn Đào |
2026-2030 |
|
64 |
Cải tạo, nâng cấp cống Bùi |
2026-2030 |
|
65 |
Xây dựng cải tạo cống Cú |
2026-2030 |
|
66 |
Xây dựng cải tạo cống Nang |
2026-2030 |
|
67 |
Xây dựng cải tạo cống Cự Lâm |
2026-2030 |
|
68 |
Xây dựng, cải tạo cống Vũ Lăng |
2026-2030 |
|
69 |
Xây dựng, cải tạo cống Ngặt Kéo |
2026-2030 |
|
70 |
Xây dựng, cải tạo cống Ngạn |
2026-2030 |
|
71 |
Xây dựng, cải tạo cống Doãn Đông |
2026-2030 |
|
72 |
Kè + nạo vét sông Cổ rồng |
2026-2030 |
|
73 |
Xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát mực nước, độ mặn trên các sông, cắm mốc chỉ giới kênh chính, cấp I |
2026-2030 |
|
74 |
Cải tạo nâng cấp trạm bơm Thái Học, xã Đông Thái Ninh |
2026-2030 |
|
75 |
Nghiên cứu xây dựng trạm bơm cưỡng bức bơm tiêu ra sông Trà Lý cho khu vực Thành phố Thái Bình(cũ) |
2026-2030 |
|
76 |
Nghiên cứu xây dựng trạm bơm cưỡng bức bơm tiêu cho khu vực huyện Tiền Hải (cũ) thuộc khu kinh tế Thái Bình |
2026-2030 |
|
77 |
Nghiên cứu xây dựng trạm bơm cưỡng bức bơm tiêu cho khu vực huyện Thái Thụy (cũ) thuộc khu kinh tế Thái Bình |
2026-2030 |
|
78 |
Xây dựng đập điều tiết nước kênh Kiến Giang thuộc hệ thống thủy nông Nam Thái Bình |
2026-2030 |
|
79 |
Nghiên cứu Xây dựng Trạm bơm Nam Tiền Hải II, huyện Tiền Hải (cũ) |
2026-2030 |
|
80 |
Trạm bơm Nam Kẻ Sặt |
2026-2030 |
|
81 |
Bổ sung thêm nhà máy trạm bơm cống Xuân Quan (16m3/s) |
2026-2030 |
(Ngoài ra thực hiện đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai theo Quy hoạch, Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 khi được phê duyệt và rà soát cập nhật hằng năm cho phù hợp với thực tế).
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh