Nghị quyết 82/NQ-CP năm 2026 thông qua Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm do Chính phủ ban hành
| Số hiệu | 82/NQ-CP |
| Ngày ban hành | 03/04/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 03/04/2026 |
| Loại văn bản | Nghị quyết |
| Cơ quan ban hành | Chính phủ |
| Người ký | Bùi Thanh Sơn |
| Lĩnh vực | Bộ máy hành chính |
|
CHÍNH
PHỦ |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 82/NQ-CP |
Hà Nội, ngày 03 tháng 4 năm 2026 |
VỀ VIỆC THÔNG QUA CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 19 tháng 02 năm 2025; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 25 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025;
Xét đề nghị của Bộ Công Thương tại Tờ trình số 9078/TTr-BCT ngày 18 tháng 11 năm 2025 về Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm, Công văn số 1668/BCT-CN ngày 13 tháng 3 năm 2026 về báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ, Công văn số 2080/BCT-CN ngày 27 tháng 3 năm 2026 và Công văn số 2171/BCT-CN ngày 31 tháng 3 năm 2026 về việc Nghị quyết của Chính phủ về Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm;
Trên cơ sở kết quả biểu quyết của các đồng chí Thành viên Chính phủ,
QUYẾT NGHỊ:
Chính phủ cơ bản thống nhất nội dung 02 chính sách do Bộ Công Thương đề xuất, bao gồm:
- Chính sách 1: Khuyến khích sản xuất, chế tạo trong nước các sản phẩm công nghiệp trọng điểm;
- Chính sách 2: Phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Nội dung chi tiết của Chính sách được nêu tại Tờ trình số 9078/TTr-BCT ngày 18 tháng 11 năm 2025 và báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ tại Công văn số 1668/BCT-CN ngày 13 tháng 3 năm 2026.
- Thể chế hóa các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với phát triển các ngành công nghiệp công nghiệp trọng điểm; kiến tạo được một số chính sách, pháp luật để xử lý các điểm nghẽn cơ bản trong phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm theo hướng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao đồng thời tạo đột phá về quá trình hiện đại hóa trong công nghiệp.
- Khuyến khích đẩy mạnh nội địa hóa phù hợp để đáp ứng các yêu cầu, ưu đãi về xuất xứ hàng hóa trong thương mại quốc tế; phù hợp với các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương, các yêu cầu của các thị trường lớn. Thiết kế cơ chế khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tận dụng ưu đãi từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thông qua bảo đảm quy tắc xuất xứ.
- Xây dựng quy định thu hút và quản lý FDI trong các ngành công nghiệp trọng điểm theo hướng có chọn lọc, ưu tiên dự án công nghệ cao, công nghiệp nền tảng; đồng thời, gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, góp phần nâng cao năng lực sản xuất quốc gia.
- Rà soát việc thực hiện quy định của pháp luật hiện hành để xây dựng nội dung phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, khắc phục được tồn tại, hạn chế, vướng mắc, bất cập; hài hòa với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; rà soát hồ sơ chính sách Luật bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp trọng điểm; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.
Điều 4. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này./.
|
|
TM. CHÍNH PHỦ |
|
CHÍNH
PHỦ |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 82/NQ-CP |
Hà Nội, ngày 03 tháng 4 năm 2026 |
VỀ VIỆC THÔNG QUA CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 19 tháng 02 năm 2025; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 25 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025;
Xét đề nghị của Bộ Công Thương tại Tờ trình số 9078/TTr-BCT ngày 18 tháng 11 năm 2025 về Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm, Công văn số 1668/BCT-CN ngày 13 tháng 3 năm 2026 về báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ, Công văn số 2080/BCT-CN ngày 27 tháng 3 năm 2026 và Công văn số 2171/BCT-CN ngày 31 tháng 3 năm 2026 về việc Nghị quyết của Chính phủ về Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm;
Trên cơ sở kết quả biểu quyết của các đồng chí Thành viên Chính phủ,
QUYẾT NGHỊ:
Chính phủ cơ bản thống nhất nội dung 02 chính sách do Bộ Công Thương đề xuất, bao gồm:
- Chính sách 1: Khuyến khích sản xuất, chế tạo trong nước các sản phẩm công nghiệp trọng điểm;
- Chính sách 2: Phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Nội dung chi tiết của Chính sách được nêu tại Tờ trình số 9078/TTr-BCT ngày 18 tháng 11 năm 2025 và báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ tại Công văn số 1668/BCT-CN ngày 13 tháng 3 năm 2026.
- Thể chế hóa các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với phát triển các ngành công nghiệp công nghiệp trọng điểm; kiến tạo được một số chính sách, pháp luật để xử lý các điểm nghẽn cơ bản trong phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm theo hướng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao đồng thời tạo đột phá về quá trình hiện đại hóa trong công nghiệp.
- Khuyến khích đẩy mạnh nội địa hóa phù hợp để đáp ứng các yêu cầu, ưu đãi về xuất xứ hàng hóa trong thương mại quốc tế; phù hợp với các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương, các yêu cầu của các thị trường lớn. Thiết kế cơ chế khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tận dụng ưu đãi từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thông qua bảo đảm quy tắc xuất xứ.
- Xây dựng quy định thu hút và quản lý FDI trong các ngành công nghiệp trọng điểm theo hướng có chọn lọc, ưu tiên dự án công nghệ cao, công nghiệp nền tảng; đồng thời, gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, góp phần nâng cao năng lực sản xuất quốc gia.
- Rà soát việc thực hiện quy định của pháp luật hiện hành để xây dựng nội dung phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, khắc phục được tồn tại, hạn chế, vướng mắc, bất cập; hài hòa với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; rà soát hồ sơ chính sách Luật bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp trọng điểm; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.
Điều 4. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này./.
|
|
TM. CHÍNH PHỦ |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh