Nghị quyết 696/NQ-HĐND năm 2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tỉnh Thanh Hóa
| Số hiệu | 696/NQ-HĐND |
| Ngày ban hành | 09/12/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 09/12/2025 |
| Loại văn bản | Nghị quyết |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Thanh Hóa |
| Người ký | Lê Tiến Lam |
| Lĩnh vực | Thương mại,Văn hóa - Xã hội |
|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 696/NQ-HĐND |
Thanh Hóa, ngày 09 tháng 12 năm 2025 |
VỀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2026 TỈNH THANH HÓA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
KHÓA XVIII, KỲ HỌP THỨ 37
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13 tháng 11 năm 2025 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026;
Căn cứ Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Căn cứ Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026;
Xét Tờ trình số 266/TTr-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc đề nghị phê chuẩn Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tỉnh Thanh Hóa; Báo cáo thẩm tra số 1510/BC-KTNS ngày 07 tháng 12 năm 2025 của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại Kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2025
1. Kết quả đạt được
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2025 được thực hiện trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề vượt dự báo; xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược ở một số quốc gia, khu vực tiếp tục kéo dài; thiên tai, biến đổi khí hậu xảy ra trên diện rộng. Song, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, kinh tế - xã hội của tỉnh đạt kết quả tích cực, toàn diện trên các lĩnh vực; nhiều nhiệm vụ trọng tâm mang tính chiến lược, đột phá hoàn thành theo chỉ đạo của Trung ương, nổi bật là: Có 19 chỉ tiêu chủ yếu hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch; tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 ước đạt 8,27%, xếp thứ 15/34 cả nước; công nghiệp, dịch vụ, du lịch phục hồi mạnh; thu ngân sách nhà nước, phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư tiếp tục là điểm sáng; hoạt động đối ngoại, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đạt kết quả tích cực; việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý các dự án đầu tư tồn đọng kéo dài được quan tâm chỉ đạo; việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai quyết liệt, đồng bộ gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được cải thiện; chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội tiếp tục được nâng lên; giáo dục mũi nhọn, thể thao thành tích cao duy trì trong nhóm dẫn đầu cả nước; thực hiện tốt việc chăm lo đời sống cho Nhân dân và đối tượng chính sách; hoàn thành việc xóa nhà tạm, nhà dột nát trước thời hạn, đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội và đầu tư các trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
2. Khó khăn, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 của tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục, đó là: Có 4 chỉ tiêu chủ yếu không đạt kế hoạch, trong đó tốc độ tăng trưởng GRDP không đạt mục tiêu Chính phủ và Tỉnh ủy, HĐND tỉnh giao; thu nhập bình quân đầu người còn thấp so mặt bằng chung cả nước; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; giá trị xuất khẩu chưa đạt kế hoạch; doanh nghiệp tư nhân chưa phát huy vai trò động lực tăng trưởng; tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, việc đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn chậm so với kế hoạch; việc xử lý các dự án tồn đọng, cơ sở nhà đất dôi dư chưa đạt yêu cầu; năng lực chuyên môn, điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn; thiên tai, bão lũ tiếp tục diễn biến bất thường; một số vụ việc kéo dài, phức tạp chưa được xử lý dứt điểm, tình trạng khiếu kiện đông người còn diễn ra.
Điều 2. Mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu năm 2026
1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển kinh tế nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tập trung hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và xử lý tốt các dự án tồn đọng kéo dài; thúc đẩy thu hút đầu tư có chọn lọc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa; bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục - đào tạo; cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. Ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng nền hành chính hiện đại, thông minh, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo đà vững chắc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số và các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu
2.1. Về kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 11% trở lên, trong đó: Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,5% trở lên; công nghiệp - xây dựng tăng 14% trở lên; dịch vụ tăng 9% trở lên; thuế sản phẩm tăng 10,7% trở lên.
- Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP: Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 12,2%; công nghiệp, xây dựng chiếm 50,7%; dịch vụ chiếm 31,5%; thuế sản phẩm chiếm 5,6%.
- GRDP bình quân đầu người đạt 3.920 USD trở lên.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 22%.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đạt 29,8%.
- Thu nhập bình quân đầu người đạt 71,5 triệu đồng trở lên.
- Sản lượng lương thực giữ mức 1,5 triệu tấn.
- Tổng giá trị xuất khẩu đạt 8,5 tỷ USD.
- Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn đạt khoảng 168.000 tỷ đồng.
|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 696/NQ-HĐND |
Thanh Hóa, ngày 09 tháng 12 năm 2025 |
VỀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2026 TỈNH THANH HÓA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
KHÓA XVIII, KỲ HỌP THỨ 37
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13 tháng 11 năm 2025 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026;
Căn cứ Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Căn cứ Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026;
Xét Tờ trình số 266/TTr-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc đề nghị phê chuẩn Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tỉnh Thanh Hóa; Báo cáo thẩm tra số 1510/BC-KTNS ngày 07 tháng 12 năm 2025 của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại Kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2025
1. Kết quả đạt được
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2025 được thực hiện trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề vượt dự báo; xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược ở một số quốc gia, khu vực tiếp tục kéo dài; thiên tai, biến đổi khí hậu xảy ra trên diện rộng. Song, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, kinh tế - xã hội của tỉnh đạt kết quả tích cực, toàn diện trên các lĩnh vực; nhiều nhiệm vụ trọng tâm mang tính chiến lược, đột phá hoàn thành theo chỉ đạo của Trung ương, nổi bật là: Có 19 chỉ tiêu chủ yếu hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch; tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025 ước đạt 8,27%, xếp thứ 15/34 cả nước; công nghiệp, dịch vụ, du lịch phục hồi mạnh; thu ngân sách nhà nước, phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư tiếp tục là điểm sáng; hoạt động đối ngoại, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đạt kết quả tích cực; việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý các dự án đầu tư tồn đọng kéo dài được quan tâm chỉ đạo; việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai quyết liệt, đồng bộ gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được cải thiện; chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội tiếp tục được nâng lên; giáo dục mũi nhọn, thể thao thành tích cao duy trì trong nhóm dẫn đầu cả nước; thực hiện tốt việc chăm lo đời sống cho Nhân dân và đối tượng chính sách; hoàn thành việc xóa nhà tạm, nhà dột nát trước thời hạn, đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội và đầu tư các trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
2. Khó khăn, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 của tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục, đó là: Có 4 chỉ tiêu chủ yếu không đạt kế hoạch, trong đó tốc độ tăng trưởng GRDP không đạt mục tiêu Chính phủ và Tỉnh ủy, HĐND tỉnh giao; thu nhập bình quân đầu người còn thấp so mặt bằng chung cả nước; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; giá trị xuất khẩu chưa đạt kế hoạch; doanh nghiệp tư nhân chưa phát huy vai trò động lực tăng trưởng; tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, việc đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn chậm so với kế hoạch; việc xử lý các dự án tồn đọng, cơ sở nhà đất dôi dư chưa đạt yêu cầu; năng lực chuyên môn, điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn; thiên tai, bão lũ tiếp tục diễn biến bất thường; một số vụ việc kéo dài, phức tạp chưa được xử lý dứt điểm, tình trạng khiếu kiện đông người còn diễn ra.
Điều 2. Mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu năm 2026
1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển kinh tế nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tập trung hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và xử lý tốt các dự án tồn đọng kéo dài; thúc đẩy thu hút đầu tư có chọn lọc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa; bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục - đào tạo; cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. Ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng nền hành chính hiện đại, thông minh, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo đà vững chắc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số và các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu
2.1. Về kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 11% trở lên, trong đó: Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,5% trở lên; công nghiệp - xây dựng tăng 14% trở lên; dịch vụ tăng 9% trở lên; thuế sản phẩm tăng 10,7% trở lên.
- Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP: Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 12,2%; công nghiệp, xây dựng chiếm 50,7%; dịch vụ chiếm 31,5%; thuế sản phẩm chiếm 5,6%.
- GRDP bình quân đầu người đạt 3.920 USD trở lên.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 22%.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đạt 29,8%.
- Thu nhập bình quân đầu người đạt 71,5 triệu đồng trở lên.
- Sản lượng lương thực giữ mức 1,5 triệu tấn.
- Tổng giá trị xuất khẩu đạt 8,5 tỷ USD.
- Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn đạt khoảng 168.000 tỷ đồng.
- Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) đạt 5,5.
- Tốc độ tăng thu ngân sách đạt 7% trở lên.
- Diện tích đất nông nghiệp được tích tụ, tập trung để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao tăng thêm 10.000 ha, trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp được ứng dụng công nghệ cao đạt 2.000 ha.
- Số doanh nghiệp thành lập mới đạt 3.000 doanh nghiệp trở lên.
- Tỷ lệ đô thị hóa đạt 42% trở lên.
- Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội đạt 10%.
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào GRDP đạt 49,5%.
- Xây dựng nông thôn mới: Thêm 03 xã đạt chuẩn NTM, 06 xã đạt chuẩn NTM nâng cao và 02 xã đạt chuẩn NTM hiện đại.
- Số căn nhà ở xã hội được xây dựng mới 900 căn hộ trở lên.
2.2. Về văn hóa - xã hội
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội còn 27,5%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 76% trở lên; trong đó, có bằng cấp chứng chỉ đạt 31 % trở lên.
- Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm bình quân 1,0% trở lên.
- Số bác sỹ/1 vạn dân đạt 13,5 bác sỹ.
- Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt 87,2%.
- Tỷ lệ dân số tham gia Bảo hiểm y tế đạt 95%.
- Tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chí an toàn thực phẩm nâng cao đạt 12%.
2.3. Về môi trường
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 54,1%.
- Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 98,7%; trong đó, tỷ lệ được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế đạt 67%.
- Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đạt 93,7%.
2.4. Về an ninh - quốc phòng
- Tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự đạt 80% trở lên, trong đó, tỷ lệ xã, phường không có ma túy đạt 30%.
- Tỷ lệ xã, phường có lực lượng dân quân thường trực đạt 100%.
Điều 3. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2026
Tiếp tục cụ thể hóa, quyết liệt, toàn diện, hiệu quả hơn nữa các quyết sách của trung ương trên các lĩnh vực quan trọng, then chốt về hoàn thiện thể chế, hội nhập quốc tế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, bảo đảm an ninh năng lượng, giáo dục đào tạo, bảo vệ và chăm sóc, nâng cao sức khỏe Nhân dân; tăng cường kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thực hiện, đảm bảo các chủ trương, nghị quyết của Đảng, các quy hoạch, kế hoạch của tỉnh sớm đi vào cuộc sống, đạt mục tiêu đề ra.
Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy hoạch tỉnh, quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết xây dựng, bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành, lĩnh vực và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thu hút đầu tư; nghiên cứu đề xuất, sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Thanh Hóa được quy định tại Nghị quyết số 37/2021/QH15 ngày 13 tháng 11 năm 2021 của Quốc hội; ban hành kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 đảm bảo khả thi, trọng tâm, trọng điểm.
Theo dõi sát diễn biến tình hình thế giới, trong nước, tăng cường năng lực phân tích, dự báo, nắm chắc tình hình để phản ứng chính sách kịp thời, linh hoạt, hiệu quả với các vấn đề phát sinh; giữ vững đà tăng trưởng trên cơ sở thúc đẩy các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới (khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...). Phát triển mạnh thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy du lịch, tăng cường xúc tiến thương mại thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú, trong đó có tổ chức các hội chợ quy mô lớn về thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ...; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mở rộng khai thác các thị trường còn nhiều dư địa; hỗ trợ tiếp cận kênh thông tin về xuất nhập khẩu, tăng cường hợp tác, liên kết các chuỗi cung ứng, giữa các hiệp hội, doanh nghiệp, ngành hàng.
Phát triển sản xuất nông nghiệp hiệu quả, bền vững theo hướng hiện đại, xanh, sạch, sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực hiện cơ cấu lại sản phẩm cây trồng, vật nuôi chủ lực phù hợp với lợi thế của từng vùng và địa phương, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao; mở rộng mô hình sản xuất, tiêu thụ nông sản sạch theo tiêu chuẩn VietGAP, nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP. Tiếp tục huy động đa dạng các nguồn lực để đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới; duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đã được công nhận gắn với chỉnh trang khu vực nông thôn, giảm nghèo, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của Nhân dân.
Thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị tăng thêm và năng lực cạnh tranh các ngành công nghiệp có thế mạnh sẵn có như hóa dầu, hóa chất, điện, cơ khí, may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng; hỗ trợ, phối hợp, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ hoàn thành thủ tục đầu tư dự án điện khí LNG Nghi Sơn và mở rộng Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn. Tăng cường thu hút các nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp để phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, chế biến, chế tạo, các dự án sản xuất công nghiệp mới có hàm lượng phát thải các-bon thấp, giá trị gia tăng cao, sử dụng tiết kiệm tài nguyên. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các dự án trọng điểm, quy mô lớn, góp phần gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh.
Tập trung phát triển các doanh nghiệp xây dựng có đủ năng lực thực hiện các dự án quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp; kịp thời khắc phục tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng, triển khai các dự án phát triển cát nhân tạo để bù đắp và giảm khai thác cát tự nhiên; tăng cường quản lý thị trường bất động sản, đảm bảo phát triển lành mạnh, bền vững. Đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, tạo điều kiện để người có thu nhập thấp có nhà ở an toàn, ổn định cuộc sống.
Thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tháo gỡ, xử lý, giải quyết kịp thời, dứt điểm các khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng kéo dài trên địa bàn tỉnh theo Kế hoạch số 187/KH-UBND ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh, bảo đảm nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền”, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cấp, từng ngành, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, không để phát sinh thêm dự án tồn đọng, kéo dài mới; tăng cường kiểm tra, giám sát và kịp thời cập nhật dữ liệu trên Hệ thống 751 để được hướng dẫn xử lý, giải quyết theo quy định, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao các chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị, điều hành, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; rà soát đơn giản hóa quy trình, thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính theo yêu cầu tại Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ.
Tăng cường thu hút đầu tư có chọn lọc, thương hiệu và sản phẩm mang lợi thế cạnh tranh, hướng vào 3 trụ cột phát triển, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án quy mô lớn, trọng điểm; rà soát, kiên quyết thu hồi các dự án đầu tư trực tiếp chậm tiến độ, gây lãng phí, vi phạm các quy định của pháp luật.
Tập trung phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị; tăng cường sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, các công ty nông lâm nghiệp để phát huy hiệu quả nguồn vốn, đất đai, tài sản nhà nước. Nghiên cứu xây dựng, triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án, chính sách, cơ chế đặc thù hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030; tăng cường kết nối, hợp tác, chia sẻ, hình thành chuỗi cung ứng giữa khu vực doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách nhà nước, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, mở rộng cơ sở thu và chống thất thu thuế, nhất là từ thương mại điện tử, dịch vụ ăn uống, bán lẻ. Tổ chức điều hành chi ngân sách chặt chẽ, hiệu quả, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm các nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết để tăng chi đầu tư phát triển và an sinh xã hội.
Tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc quyết định đầu tư dự án, tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chí, thứ tự ưu tiên, đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên bố trí nguồn lực để chuẩn bị đầu tư các tuyến đường kết nối vùng, liên vùng, kết nối giữa Thanh Hóa với các tỉnh khu vực Tây Bắc, nước CHDCND Lào, tập trung giải phóng mặt bằng phục vụ đầu tư các tuyến đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh và các dự án nâng cấp, mở rộng cảng hàng không, cảng biến, điện khí LNG theo quy hoạch.
Nâng cao chất lượng công tác xây dựng kế hoạch, đảm bảo phù hợp với năng lực và khả năng thực hiện của từng chủ đầu tư dự án; chủ động hoàn chỉnh hồ sơ thủ tục các dự án khởi công mới và phân công lãnh đạo chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ thực hiện từng dự án, có kế hoạch và giải pháp cụ thể tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án hạ tầng quy mô lớn, đặc biệt là trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, bảo đảm nguồn cung và kiểm soát giá nguyên vật liệu, chỉ tiêu sử dụng đất; nâng cao chất lượng công tác thiết kế, đấu thầu, lựa chọn đơn vị thi công đủ năng lực, điều kiện và trách nhiệm thực hiện dự án, thường xuyên đôn đốc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Phát triển các dự án hạ tầng năng lượng, chuyển đổi số, các khu đô thị xanh, thông minh, hiện đại; tiếp tục đầu tư đồng bộ, hoàn chỉnh các dự án giao thông lớn, trọng điểm, các công trình hạ tầng thiết yếu trong Khu kinh tế Nghi Sơn; chú trọng phát triển hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế; nông nghiệp, nông thôn, phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, các công trình thủy lợi, đê kè, hồ đập, hồ chứa thủy lợi, các khu vực sạt lở,... thường xuyên chịu ảnh hưởng thiên tai, bão lũ, có rủi ro, nguy cơ mất an toàn.
Triển khai quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị, thúc đẩy chuyển đổi số liên thông và đồng bộ cơ sở dữ liệu trên các lĩnh vực đúng, đủ, sạch, sống, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đẩy mạnh thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên, mới nổi, tạo đột phá để thúc đẩy mạnh mẽ nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội theo hướng toàn diện, bền vững trên tinh thần lấy người dân là trung tâm; đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trên nền tảng số. Tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, đầy đủ, kịp thời các chương trình, đề án, chính sách về trợ giúp xã hội, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng. Đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, huy động toàn xã hội, cộng đồng cùng nhà nước chăm sóc tốt đời sống vật chất, tinh thần người có công với cách mạng, người nghèo, người yếu thế trong xã hội.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thu hẹp chênh lệch chất lượng giáo dục giữa miền núi và miền xuôi; giữ vững thành tích giáo dục mũi nhọn trong nhóm dẫn đầu cả nước; tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; rà soát, sắp xếp mạng lưới các trường, lớp học, phát triển mô hình trường học thông minh; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện cả về tri thức, đạo đức, lối sống và kỹ năng.
Tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, cải thiện chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo tinh thần Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị; kịp thời chỉ đạo, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ chuyên môn cho các cơ sở y tế tuyến dưới; tăng cường đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực phát triển hệ thống y tế, tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập; tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân. Đẩy mạnh phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, giám sát xử lý chất thải y tế nguy hại.
Đẩy mạnh hợp tác doanh nghiệp trong công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và giải quyết việc làm, tạo ra các mô hình gắn kết chặt chẽ giáo dục nghề nghiệp và thị trường lao động, các trung tâm dịch vụ việc làm, sàn giao dịch việc làm, hội chợ việc làm; chú trọng gắn kết đào tạo với việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Xây dựng dự báo về nhu cầu đào tạo giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là ngành nghề khoa học - kỹ thuật - công nghệ.
Tăng cường quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên, nhất là đất đai, tài nguyên nước và khoáng sản bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả. Rà soát xử lý dứt điểm tình trạng lãng phí, sử dụng đất sai mục đích; đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính, thực hiện tốt công tác đấu giá quyền sử dụng đất và quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
Tập trung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh có nguy cơ ô nhiễm cao ra khỏi đô thị, khu dân cư; chủ động ứng phó kịp thời, hiệu quả, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, hạn hán, bão lũ, xâm nhập mặn gây ra. Tăng cường bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước và kiểm tra công tác vận hành của các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh. Thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Kịp thời tháo gỡ các khó khăn, khắc phục những bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định liên quan đến hoạt động của bộ máy mới, nhất là về nhân lực, cơ sở vật chất, quy hoạch, chuyển đổi số, hệ thống cơ sở dữ liệu; tăng cường phân cấp, phân quyền tối đa cho các địa phương, đơn vị, nâng cao năng lực thực thi, chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đo lường bằng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Nghiên cứu thực hiện việc đánh giá công chức theo tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ (KPI). Triển khai hiệu quả cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách đối với người có tài năng. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; kiên quyết khắc phục hiệu quả tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ công chức.
Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, có sức chiến đấu cao, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương; nắm chắc tình hình, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, chống phá của các thế lực thù địch, không để bất ngờ, bị động, nhất là tại các địa bàn trọng điểm.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, nắm chắc tình hình, đấu tranh, trấn áp, điều tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm công nghệ cao, tội phạm can dự vào các hoạt động kinh tế; kịp thời tham mưu giải quyết các vấn đề về tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh; thực hiện tốt các giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông, phòng cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tiếp công dân, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chủ động giải quyết ngay các vụ việc mới phát sinh, hạn chế khiếu kiện vượt cấp, tồn đọng, kéo dài; triển khai đồng bộ, có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng bảo đảm đúng pháp luật.
Triển khai thực hiện sáng tạo, hiệu quả Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tham gia vào quá trình hội nhập, thụ hưởng các lợi ích từ hội nhập quốc tế.
1. Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ Nghị quyết này và các quy định của pháp luật, tổ chức triển khai thực hiện.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, các tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa Khóa XVIII, Kỳ họp thứ 37 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực kể từ ngày thông qua./.
|
|
CHỦ TỌA |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh