Nghị quyết 274/NQ-HĐND năm 2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030 do thành phố Cần Thơ ban hành
| Số hiệu | 274/NQ-HĐND |
| Ngày ban hành | 10/12/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 10/12/2025 |
| Loại văn bản | Nghị quyết |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Cần Thơ |
| Người ký | Đồng Văn Thanh |
| Lĩnh vực | Thương mại,Văn hóa - Xã hội |
|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 274/NQ-HĐND |
Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm 2025 |
VỀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
KHÓA X, KỲ HỌP THỨ BẢY
Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Xét Tờ trình số 451/TTr-UBND ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố dự thảo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030; Báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân thành phố; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
1. Mục tiêu
Cần Thơ phấn đấu trở thành một cực tăng trưởng của quốc gia; là trung tâm kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo, logistics, giáo dục, y tế và tài chính của toàn vùng. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược, đặc biệt là hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng logistics, hạ tầng số, hạ tầng thủy lợi và năng lượng. Ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh và giá trị gia tăng cao, gồm: Nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp sinh thái gắn với chuỗi cung ứng chế biến, xuất khẩu; công nghiệp chế biến nông, thủy sản; năng lượng sạch; kinh tế biển; kinh tế cửa khẩu; du lịch sinh thái, văn hóa, tâm linh; đô thị thông minh; thương mại và dịch vụ chất lượng cao. Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu, giữ gìn tài nguyên nước và cân bằng hệ sinh thái đồng bằng sông Cửu Long. Vận hành hiệu quả mô hình Chính quyền địa phương hai cấp; đảm bảo quốc phòng, an ninh vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu
a) Chỉ tiêu về kinh tế
(1) Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tính theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt tối thiểu 717.067 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 phấn đấu đạt khoảng 215 triệu đồng/người/năm; tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10 - 10,5%/năm trở lên; kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ phấn đấu đến năm 2030 đạt 8,2 tỷ USD, giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu bình quân tăng 11%/năm; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2030 đạt tối thiểu 8.500.000 đồng/người/tháng.
(2) Tổng thu ngân sách hằng năm tăng khoảng 15%; phấn đấu đến năm 2030 ước đạt 57.000 tỷ đồng.
(3) Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đến năm 2030 dự kiến: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm thấp hơn 16%; công nghiệp và xây dựng chiếm cao hơn 35% (trong đó, công nghiệp chiếm hơn 29%); dịch vụ chiếm cao hơn 45% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm cao hơn 4%.
(4) Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt tối thiểu 286.000 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng 40% GRDP.
(5) Nâng cao các chỉ số: Cải cách hành chính (PAR INDEX); sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS), hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); phấn đấu đạt kết quả xếp hạng trong “Nhóm 15 địa phương có chất lượng điều hành tốt”.
(6) Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế thành phố ở mức trên 55%.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 30%.
- Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%.
- Phấn đấu bố trí 3% tổng chi ngân sách cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10 - 15%/năm.
- Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đôi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; số lượng đơn vị đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18% năm, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8-10%.
(7) Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt từ 10%/năm trở lên.
(8) Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công phấn đấu đạt 100% tổng kế hoạch vốn đầu tư công được Chính phủ giao.
b) Chỉ tiêu về xã hội
(9) Dân số trung bình đến năm 2030 là 3.335.000 người.
|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 274/NQ-HĐND |
Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm 2025 |
VỀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
KHÓA X, KỲ HỌP THỨ BẢY
Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Xét Tờ trình số 451/TTr-UBND ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố dự thảo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030; Báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân thành phố; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
1. Mục tiêu
Cần Thơ phấn đấu trở thành một cực tăng trưởng của quốc gia; là trung tâm kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo, logistics, giáo dục, y tế và tài chính của toàn vùng. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược, đặc biệt là hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng logistics, hạ tầng số, hạ tầng thủy lợi và năng lượng. Ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh và giá trị gia tăng cao, gồm: Nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp sinh thái gắn với chuỗi cung ứng chế biến, xuất khẩu; công nghiệp chế biến nông, thủy sản; năng lượng sạch; kinh tế biển; kinh tế cửa khẩu; du lịch sinh thái, văn hóa, tâm linh; đô thị thông minh; thương mại và dịch vụ chất lượng cao. Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu, giữ gìn tài nguyên nước và cân bằng hệ sinh thái đồng bằng sông Cửu Long. Vận hành hiệu quả mô hình Chính quyền địa phương hai cấp; đảm bảo quốc phòng, an ninh vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu
a) Chỉ tiêu về kinh tế
(1) Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tính theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt tối thiểu 717.067 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 phấn đấu đạt khoảng 215 triệu đồng/người/năm; tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10 - 10,5%/năm trở lên; kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ phấn đấu đến năm 2030 đạt 8,2 tỷ USD, giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu bình quân tăng 11%/năm; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2030 đạt tối thiểu 8.500.000 đồng/người/tháng.
(2) Tổng thu ngân sách hằng năm tăng khoảng 15%; phấn đấu đến năm 2030 ước đạt 57.000 tỷ đồng.
(3) Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đến năm 2030 dự kiến: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm thấp hơn 16%; công nghiệp và xây dựng chiếm cao hơn 35% (trong đó, công nghiệp chiếm hơn 29%); dịch vụ chiếm cao hơn 45% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm cao hơn 4%.
(4) Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt tối thiểu 286.000 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng 40% GRDP.
(5) Nâng cao các chỉ số: Cải cách hành chính (PAR INDEX); sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS), hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); phấn đấu đạt kết quả xếp hạng trong “Nhóm 15 địa phương có chất lượng điều hành tốt”.
(6) Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế thành phố ở mức trên 55%.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 30%.
- Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%.
- Phấn đấu bố trí 3% tổng chi ngân sách cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10 - 15%/năm.
- Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đôi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; số lượng đơn vị đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18% năm, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8-10%.
(7) Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt từ 10%/năm trở lên.
(8) Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công phấn đấu đạt 100% tổng kế hoạch vốn đầu tư công được Chính phủ giao.
b) Chỉ tiêu về xã hội
(9) Dân số trung bình đến năm 2030 là 3.335.000 người.
(10) Chỉ số phát triển con người (HDI) đến năm 2030 đạt tối thiểu 0,78.
(11) Đến năm 2030, giá trị năng suất lao động theo giá hiện hành đạt trên 358 triệu đồng/lao động/năm; tốc độ tăng năng suất lao động theo giá so sánh bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt trên 10%; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; số lao động có việc làm trong nền kinh tế đến năm 2030 phấn đấu đạt 1.700.000 người; tỷ lệ lao động có việc làm trong nền kinh tế khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt dưới 38%, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt trên 27%, khu vực dịch vụ đạt trên 35%; duy trì tỷ lệ thất nghiệp dưới 3,5%.
(12) Đến năm 2030, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 77,12 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm.
(13) Đến năm 2030: phấn đấu đạt 19 bác sĩ/vạn dân; số giường bệnh đến cuối năm 2030 đạt trên 44 giường bệnh/vạn dân; đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; 100% người dân được hưởng chính sách khám sức khỏe hằng năm.
(14) Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia đến năm 2030 phấn đấu đạt 85%. Trong đó: Mầm non đạt 90,5%; tiểu học đạt 83,9%; trung học cơ sở đạt 83,6%; trung học phổ thông đạt 73,5%. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở.
(15) Tỷ lệ nghèo đa chiều đến 2030 là 2,42%, duy trì mức giảm tỷ lệ nghèo đa chiều 01%.
c) Chỉ tiêu về môi trường
(16) Tỷ lệ cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường phấn đấu đạt 100%.
(17) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 95,8%; tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tối thiểu 98%; tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100%.
(18) Phấn đấu đến năm 2030 đạt 90,3% xã (65/72 xã) đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn phấn đấu đạt 85%.
(19) Tỷ lệ che phủ rừng đến 2030 đạt 02%.
d) Chỉ tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng
(20) Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa đạt 50% trở lên.
(21) Phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ phát triển đô thị thông minh.
(22) Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành 16.900 căn nhà ở xã hội.
đ) Chỉ tiêu về quốc phòng, an ninh, đối ngoại
(23) Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục quốc phòng, an ninh hoàn thành 100% chỉ tiêu hàng năm.
(24) Đảm bảo hằng năm tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự” từ 75% trở lên; đến năm 2030 ít nhất 50% xã, phường trên địa bàn thành phố không có ma túy.
(25) Ký kết ít nhất 05 thỏa thuận cấp thành phố với các địa phương, đối tác quốc tế; tham gia ít nhất 03 tổ chức quốc tế/diễn đàn đa phương có tôn chỉ, mục đích hoạt động phù hợp với mục tiêu phát triển của thành phố; phấn đấu 100% trường hợp được hỗ trợ hiệu quả qua công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài.
Điều 2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu giai đoạn 2026 - 2030
Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chủ động nghiên cứu, đề xuất Trung ương các cơ chế, chính sách mới, đột phá, để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, không gian và động lực mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Trọng tâm là tập trung triển khai có hiệu quả các cơ chế chính sách đặc thù được Trung ương ban hành, nghiên cứu đề xuất bổ sung các cơ chế chính sách đặc thù mới để khai thác sử dụng hiệu quả các nguồn lực và điều kiện đặc thù của thành phố trong bối cảnh mới.
Kịp thời quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý Nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật của địa phương đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, ủy quyền tối đa theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Tập trung tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế, pháp luật của địa phương để phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy hình thành và phát triển các vùng kinh tế, mô hình kinh tế mới, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế ban đêm, kinh tế chia sẻ.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI), chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX); tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính quyền số, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, hiệu quả, xanh và bền vững, gắn với việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Tập trung cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực then chốt, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế tri thức và kinh tế tuần hoàn.
Huy động, tận dụng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển thành phố. Phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài phát triển mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng.
Đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, trọng tâm là doanh nghiệp Nhà nước theo chuẩn mực quản trị tiên tiến, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và đóng góp cho ngân sách. Song song đó, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tăng cường quản lý, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu ngân sách, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định pháp luật; mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, giảm nợ đọng thuế. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính công, khuyến khích các hình thức hợp tác công tư (PPP) và huy động nguồn vốn xã hội, nguồn vốn của các tổ chức tài chính quốc tế trong phát triển đô thị, hạ tầng và dịch vụ công. Cơ cấu lại chi ngân sách Nhà nước, tăng tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên, các dự án động lực, có sức lan tỏa và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả.
Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, phát triển đa dạng dịch vụ tài chính, tín dụng và bảo hiểm; đẩy mạnh xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém; nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống và hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế.
Triển khai kịp thời và hiệu quả các quy hoạch đã được phê duyệt; rà soát, tích hợp, hoàn thiện đồng bộ hệ thống các quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành, đảm bảo thống nhất, đồng bộ, mở rộng không gian phát triển, phát huy tối đa tiềm lực phục vụ mục tiêu phát triển; tập trung triển khai các chương trình, đề án, dự án, các nhiệm vụ ưu tiên, trọng tâm và đột phá theo quy hoạch và định hướng phát triển; thu hút nguồn lực để thực hiện các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế mang tính dẫn dắt, liên kết.
Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, xây dựng khu công nghiệp công nghệ cao để thu hút đầu tư, tạo động lực mới thúc đẩy phát triển công nghiệp nền tảng, chủ lực của thành phố; từng bước phát triển các ngành công nghiệp mới nổi như công nghiệp chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp môi trường, công nghiệp sinh học, năng lượng tái tạo và năng lượng mới; khuyến khích hình thành các cụm liên kết ngành và tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiện đại, mang tính vùng và liên vùng.
Tổ chức triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; cung cấp năng lượng đầy đủ, ổn định, chất lượng cao, giảm phát thải cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống người dân, bảo vệ môi trường sinh thái. Từng bước chuyển đổi năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển, phù hợp với các cam kết quốc tế. Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng các nguồn năng lượng, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường; lưới truyền tải, phân phối điện được xây dựng hiện đại, thông minh.
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đô thị, gắn kết hài hòa giữa cải tạo, chỉnh trang với xây dựng các đô thị mới; phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), khai thác không gian ngầm và thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, đô thị xanh, đô thị thông minh.
Triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình, đề án, dự án, kế hoạch trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, xây dựng vùng nguyên liệu nông sản; đầu tư hệ thống các công trình thủy lợi, nước sạch nông thôn phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp, ổn định đời sống người dân nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp tuần hoàn, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển nông nghiệp đô thị góp phần xây dựng môi trường sinh thái, cảnh quan, cung cấp thực phẩm xanh.
Phát triển mạnh khu vực dịch vụ, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ truyền thống; thúc đẩy phát triển thị trường nội địa, kích cầu tiêu dùng, khuyến khích sản xuất, tiêu dùng hàng Việt Nam chất lượng cao; mở rộng mạng lưới phân phối hàng hóa. Thúc đẩy mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, các khu vực liên kết kinh tế quốc tế và khu vực; tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm quốc gia và thương hiệu vùng; có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển mạnh sang xuất khẩu chính ngạch, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và tiêu chuẩn xanh của thị trường nhập khẩu; đẩy mạnh đào tạo, tư vấn và cung cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Xây dựng, phát triển thương hiệu du lịch mang đặc trưng của thành phố; nâng cấp, hiện đại hóa hạ tầng du lịch gắn với phát triển các khu vui chơi, giải trí, mua sắm, ẩm thực; phát triển một số trung tâm du lịch, sản phẩm du lịch chất lượng cao; tăng cường hợp tác, liên kết vùng trong phát triển du lịch.
Mở rộng các loại hình dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao như logistics, tài chính, thương mại điện tử, du lịch chất lượng cao, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, dịch vụ số và dịch vụ sáng tạo; hình thành các khu kinh tế, trung tâm logistics quy mô vùng; gắn với hệ thống cảng biến, cảng hàng không, hành lang kinh tế và khu công nghiệp; phát triển mạnh dịch vụ vận tải biển quốc tế, logistics xanh và vận tải đa phương thức.
Phát triển kinh tế biển toàn diện, bền vững, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh; hình thành các khu kinh tế, khu đô thị sinh thái, hành lang ven biển, trung tâm hậu cần nghề cá và các khu nuôi trồng hải sản công nghệ cao; đầu tư hạ tầng chiến lược trên các cồn, cù lao trên địa bàn thành phố.
Phát huy vai trò của các khu vực kinh tế, phát triển kinh tế Nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong dẫn dắt và bảo đảm các cân đối lớn; tạo môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển thành động lực quan trọng; khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Tăng cường thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch, phát thải thấp; đẩy mạnh kết nối khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và chuỗi giá trị nội địa.
3. Phát triển mạnh kinh tế tư nhân - một động lực quan trọng của nền kinh tế giai đoạn 2026 - 2030
Tập trung triển khai đầy đủ, hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất góp phần vào sự phát triển của thành phố và của nền kinh tế quốc gia, gắn phát triển kinh tế tư nhân với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính, cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp thành phố (PCI) để nâng cao hiệu quả thu hút các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn. Tổ chức thường xuyên các cuộc đối thoại; hỗ trợ, tháo gỡ, giải quyết khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, thuận lợi, an toàn và ổn định lâu dài.
Xây dựng danh mục dự án trọng điểm, có tính lan tỏa cao để ưu tiên kêu gọi đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực: Hạ tầng giao thông - logistics, năng lượng tái tạo, công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ cao, y tế, giáo dục, đô thị thông minh. Công khai danh mục dự án trên các kênh chính thức, cổng thông tin điện tử; cập nhật thường xuyên, minh bạch về quy hoạch, quỹ đất, cơ chế ưu đãi.
Tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng cho doanh nghiệp tư nhân trong tiếp cận vốn, đất đai, nguồn nhân lực và chính sách ưu đãi, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, công nghiệp số, dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân mở rộng thị trường, tái cơ cấu sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và làm giàu hợp pháp, xây dựng môi trường xã hội tôn trọng, tôn vinh doanh nhân, doanh nghiệp thành đạt, có tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến, thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội.
Tạo cơ chế, chính sách đặt hàng và giao nhiệm vụ cho khu vực tư nhân tham gia các dự án trọng điểm quốc gia và thành phố, trong các lĩnh vực hạ tầng giao thông, năng lượng, nghiên cứu khoa học và công nghệ cao.
Tăng cường kết nối, hợp tác cùng phát triển giữa các doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hình thành mạng lưới sản xuất - kinh doanh liên kết, phát triển chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị bền vững.
Triển khai hiệu quả khung pháp lý về kinh tế tập thể, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, mở rộng quy mô, nâng cao năng lực quản trị và khả năng tiếp cận thị trường, công nghệ, tài chính.
Thực hiện chính sách pháp lý phù hợp trong xử lý vi phạm kinh tế - dân sự, phân biệt rõ giữa tranh chấp kinh tế và tội phạm kinh tế, ưu tiên biện pháp kinh tế, dân sự để khắc phục hậu quả, bảo vệ môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh lành mạnh.
4. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Tổ chức triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ tài chính cho các dự án nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao để thúc đẩy các lĩnh vực ưu tiên, thu hút tài năng, doanh nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy - nghiên cứu - phát triển, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao. Xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ đe nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản trị doanh nghiệp. Có cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về làm việc, sinh sống tại các cơ quan đảng, Nhà nước, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và các doanh nghiệp trên địa bàn. Có cơ chế, chính sách đặc thù cho hoạt động của Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo, Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc (KVIP) và các tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo phát sinh trên địa bàn thành phố; xây dựng Đề án phát triển thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm khởi nghiệp sáng tạo của khu vực Đông Nam Á.
Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ. Thành lập các Không gian đổi mới sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp vệ tinh trực thuộc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ tại các địa bàn trọng điểm của thành phố, trước mắt tại phường Vị Tân, phường Phú Lợi, phường Ninh Kiều. Nâng cấp các cơ sở nghiên cứu, vườn ươm khởi nghiệp, trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, không gian sáng tạo; thu hút đầu tư từ doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu.
Ưu tiên bố trí ngân sách cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng điểm, dự án chuyển đổi số, đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút vốn đầu tư tư nhân; đổi mới phương thức đầu tư hợp tác công - tư cho các dự án hạ tầng số, trung tâm nghiên cứu; đẩy mạnh thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp vào Khu công nghệ cao, Khu công nghệ thông tin tập trung và Khu công nghệ số.
Xây dựng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, Quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo, Quỹ đầu tư khởi nghiệp để hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, ươm tạo công nghệ, đổi mới, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số; tạo cơ chế chuyển giao công nghệ; sẵn sàng thử nghiệm các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới (sandbox) thuộc các lĩnh vực ưu tiên của thành phố; tạo điều kiện kết nối viện - trường - doanh nghiệp, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất, đời sống.
Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản trị, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng và an ninh; khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, các địa phương để phát triển kinh tế - xã hội; kết nối, khai thác, chia sẻ hiệu quả dữ liệu giữa các cơ quan; triển khai các sáng kiến mở dữ liệu để người dân, doanh nghiệp khai thác, tạo giá trị mới, đổi mới sáng tạo. Triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn đối với một số ngành, lĩnh vực quan trọng.
Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng đồng bộ hiện đại, kết nối liên vùng theo định hướng của Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đảm bảo phù hợp định hướng phát triển của thành phố sau sáp nhập. Thực hiện các cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế; tăng cường áp dụng các hình thức ppp, huy động vốn ODA trong đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông. Tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm theo phương án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hạ tầng - xã hội tại Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tập trung hoàn thành các tuyến đường bộ cao tốc trong khu vực như: Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu; Trà Vinh - Sóc Trăng; mở rộng các tuyến quốc lộ trọng yếu trên địa bàn như: Quốc lộ 1, Quốc lộ 60, Quốc lộ 61, Quốc lộ 61B, Quốc lộ 61C, Quốc lộ 80, Quốc lộ 91B; xây dựng đường vành đai, các tuyến tránh đi qua các trung tâm đô thị; đường bộ ven biển, đường trục liên kết vùng; các tuyến đường tỉnh kết nối cao tốc, quốc lộ, kết nối các dự án khu đô thị, khu công nghiệp thành phố; nâng cấp các trục đường nội ô, giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông, nâng tải trọng các cầu đồng bộ với hệ thống đường.
Phát huy lợi thế hệ thống sông Hậu, sông Cần Thơ, kênh Xà No, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp,... để phát triển vận tải thủy kết hợp với logistics. Hoàn thiện và mở rộng Cảng Cái Cui, Cảng Trần Đề (Sóc Trăng) trở thành cảng cửa ngõ quốc tế của vùng; phát triển các bến cảng tổng hợp và chuyên dụng gắn với khu, cụm công nghiệp. Nâng cấp luồng tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu, khai thác hiệu quả cảng nước sâu Trần Đe; nghiên cứu triển khai nạo vét, cải tạo kênh Mương Khai - Đốc Phủ Hiền kết nối giữa Sông Tiền và Sông Hậu. Mở rộng nhà ga, đường băng, kho xăng dầu và các dịch vụ liên quan Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ, tăng cường kết nối với các thành phố lớn trong nước và quốc tế, thúc đẩy du lịch và thương mại. Phát triển hệ thống logistics, xây dựng các trung tâm logistics gắn với cảng biển, cảng sông và cảng hàng không quốc tế Cần Thơ, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm chi phí vận tải, tạo tiền đề quan trọng để hình thành hệ thống logistics đồng bộ liên hoàn với cả nước.
Xây dựng hệ thống giao thông công cộng hiện đại, từng bước phát triển xe buýt nhanh (BRT) và nghiên cứu tàu điện nhẹ (LRT) tại đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh. Phát triển hạ tàng giao thông thông minh (ITS), đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý vận tải và điều hành giao thông.
Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) theo quy hoạch, bao gồm cả hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; bảo đảm kết nối thuận tiện với quốc lộ và cao tốc. Ưu tiên huy động vốn ngoài ngân sách, kết hợp ngân sách Nhà nước để đầu tư hạ tầng khu công nghiệp trọng điểm; áp dụng mô hình quản lý, khai thác KCN, CCN hiện đại. Lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo trong quy hoạch, đầu tư KCN, CCN.
Xây dựng hệ thống thủy lợi đa mục tiêu phù hợp với phương án phân vùng thủy lợi, quy hoạch phòng, chống thiên tai và quy hoạch thủy lợi. Củng cố hệ thống thủy lợi bảo đảm kiểm soát lũ, phòng chống hạn mặn và vận hành linh hoạt để ổn định sản xuất và phòng, chống thiên tai; ưu tiên hệ thống đê, kè, cống đầu mối, di dời dân cư ra khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở.
Thu hút đầu tư vào các cơ sở văn hóa, nhà hát, bảo tàng; và các trung tâm giải trí hiện đại; tôn tạo, nâng cấp, khai thác hiệu quả các di tích lịch sử - văn hóa. Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa các cấp, bảo đảm về quy mô, chất lượng; nâng cấp, hoàn thiện một số thiết chế văn hóa của Thành phố để đáp ứng được yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội, đồng bộ phát triển hạ tầng du lịch. Hình thành các tổ hợp thương mại, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ thể thao, dịch vụ và du lịch. Đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tập luyện thi đấu, đẩy mạnh thu hút nguồn lực xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực thể thao, các công trình thể thao.
Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các đơn vị, tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ bảo đảm đồng bộ, hiện đại. Tiếp tục xây dựng, hỗ trợ phát triển trung tâm ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ; nâng cao năng lực các trung tâm ứng dụng, trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, các viện nghiên cứu chuyên ngành.
Nâng cấp, hiện đại hóa thiết bị các bệnh viện, đầu tư trang thiết bị cho các trung tâm y tế, nhất là các trung tâm y tế chuyên sâu. Phát triển cụm ngành y tế theo định hướng trở thành trung tâm y tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Thu hút nguồn lực xã hội hóa đầu tư, hình thành hệ thống y tế tư nhân chất lượng cao; khuyến khích đầu tư các cơ sở dưỡng lão, các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà ở xã hội.
Phát triển quy mô, mạng lưới các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đáp ứng chỉ tiêu phát triển giáo dục của từng cấp học. Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và chất lượng các trường đại học đế nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu nhân lực của vùng. Mở rộng và nâng cao chất lượng các trường cao đẳng, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp; trường dạy nghề; trung tâm giáo dục thường xuyên.
Quản lý xây dựng và đảm bảo chất lượng xây dựng các công trình viễn thông theo quy định; phát triển hạ tầng viễn thông theo hướng trở thành hạ tầng số, phục vụ phát triển đô thị thông minh, chuyển đổi số thương mại điện tử. Thực hiện lộ trình số hóa hạ tầng thiết yếu khác phục vụ đô thị thông minh, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; phát triển hạ tầng, dịch vụ bưu chính theo hướng chuyển sang bưu chính số.
Mở rộng và phát triển mới các khu du lịch; đầu tư phát triển hạ tầng thương mại, xây dựng hệ thống các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, các cửa hàng tiện lợi; xây dựng chợ đầu mối nông, thủy sản; trung tâm logistics và trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế cấp vùng. Tăng cường nguồn lực đầu tư cho xây dựng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các khu đô thị, khu dân cư tập trung và hạ tầng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định.
6. Phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Cần Thơ
Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035; cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, dự án thành các chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện của thành phố.
Phát triển toàn diện văn hóa, con người Cần Thơ trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, gắn với việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường
Xây dựng môi trường văn hóa, nghệ thuật, thể thao lành mạnh, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung; nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thể thao cơ sở; đầu tư phát triển hạ tầng thiết chế văn hóa, thể thao đồng bộ, hiện đại, phục vụ tốt nhu cầu thụ hưởng của Nhân dân.
Xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, con người Cần Thơ trong thời kỳ mới, gắn với phát huy truyền thống văn minh sông nước, nghĩa tình, năng động, sáng tạo; xây dựng các chuẩn mực đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; lan tỏa phong trào ‘Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và hệ thống chính trị trong xây dựng con người mới Cần Thơ, chú trọng giáo dục truyền thống, nhân cách, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ; tăng cường giáo dục văn hóa công vụ, văn hóa ứng xử trong cơ quan, đơn vị, trường học và khu dân cư.
Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) giai đoạn 2026 - 2030, gắn với lồng ghép các chương trình giảm nghèo, an sinh xã hội và huy động các nguồn lực hợp pháp khác nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế địa phương, phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS. Ưu tiên đầu tư cho các xã, ấp đặc biệt khó khăn, tập trung hoàn thiện kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống như giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế, văn hóa. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, cải thiện vệ sinh môi trường; mở rộng tiếp cận tín dụng ưu đãi, hỗ trợ phát triển sinh kế, đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm; khuyến khích doanh nghiệp tạo việc làm tại chỗ, đồng thời thúc đẩy đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài như một giải pháp giảm nghèo hiệu quả. Quan tâm phát triển giáo dục, nâng cao trình độ dân trí, đầu tư nâng cấp trường dân tộc nội trú, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên DTTS; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, đầu tư trang thiết bị cho y tế cơ sở, chăm sóc tốt sức khỏe bà mẹ và trẻ em vùng DTTS.
Chú trọng bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với văn hóa, lễ hội, sinh thái, tâm linh, chợ nổi; hình thành sản phẩm du lịch đặc thù, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phát huy vai trò người có uy tín; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ tuyên truyền bằng tiếng dân tộc; củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phát triển đội ngũ cán bộ là người DTTS đủ năng lực, uy tín; giữ vững quốc phòng - an ninh, chủ động phòng ngừa, xử lý các vấn đề phức tạp, không để phát sinh điểm nóng, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
7. Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Kịp thời quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo; triển khai chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; điều kiện về đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục; chính sách khuyến khích xã hội hóa và đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo; hợp tác và đầu tư với nước ngoài trong giáo dục và đào tạo. Tranh thủ nguồn lực từ các Quỹ học bổng có nguồn ngân sách Nhà nước và các nguồn hợp pháp khác; phát huy hiệu quả các quỹ khuyến tài, khuyến học khác để khuyến khích học tập và phát triển sự nghiệp giáo dục.
Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch để ưu tiên dành quỹ đất sạch, tập trung giải phóng mặt bằng, giao đất sạch cho các dự án giáo dục và đào tạo bảo đảm đủ diện tích theo các tiêu chuẩn quy định; ưu tiên bố trí trụ sở cơ quan Nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện đúng quy định nâng chuẩn cơ sở giáo dục ở tất cả cấp học, quy định diện tích tối thiểu, quy chuẩn, tiêu chuẩn để từng bước tiệm cận khu vực, quốc tế.
Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa học đường trong các nhà trường; xây dựng và triển khai hiệu quả các mô hình giáo dục đạo đức, lối sống, các thiết chế, mô hình văn hóa học đường góp phần giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới.
Triển khai thực hiện Chương trình giáo dục mầm non mới, tăng cường phương pháp giáo dục thực hành, trải nghiệm STEM/STEAM, không gian vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất, kỹ năng phát triển toàn diện cho trẻ em mầm non; chuẩn bị đủ điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Rà soát, đề xuất hoàn thiện Chương trình giáo dục phổ thông, tăng thời lượng các môn khoa học, công nghệ, tin học, nghệ thuật; triển khai việc cung cấp một bộ sách giáo khoa thống nhất toàn quốc khi có hướng dẫn thực hiện từ năm học 2026 - 2027; thực hiện lộ trình đến năm 2030 cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh. Triển khai thực hiện quy định về tổ chức và hoạt động của mô hình trường chuyên, trường năng khiếu để tập trung ươm tạo nhân tài quốc gia, mở rộng các lớp chuyên khối STEM/STEAM. Tổ chức thực hiện hiệu quả việc tăng cường dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; dạy ngôn ngữ của các nước láng giềng và giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh tại các đơn vị có điều kiện.
Đa dạng hình thức triển khai hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục theo từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; tự chủ của các cơ sở đào tạo, trong đó bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính; cơ chế tự chủ đặc thù cho một số cơ sở đào tạo trọng điểm quốc gia; quy định về giảng viên đồng cơ hữu cho những người giỏi đang công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập; quy định về cơ chế hợp tác “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” trong giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thực hiện chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mõ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; hoàn thiện cơ sở dữ liệu toàn ngành phục vụ cho chuyển đổi số và phát triển nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát. Triển khai các ứng dụng và công cụ giáo dục số thông minh như sách giáo khoa thông minh, giáo trình thông minh, kho học liệu dùng chung, nền tảng học tập trực tuyến mở đại trà, phòng thí nghiệm và thực hành ảo, hệ thống kiểm tra, đánh giá trực tuyến hiện đại hướng tới lớp học thông minh, trường học thông minh. Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, triển khai các chính sách về tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và các chính sách tiền lương, phụ cấp, chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho nhà giáo. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào tạo.
Cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, tăng về quy mô, cơ cấu và hợp lý về ngành, nghề, trình độ đào tạo, chuẩn hóa, hiện đại hóa đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.
Hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Thực hiện đổi mới chương trình đào tạo đại học, sau đại học theo chuẩn quốc tế; tích hợp nội dung về phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, tinh thần doanh nhân và khởi nghiệp. Có các cơ chế, chính sách đặc biệt để hỗ trợ mở rộng triển khai các chương trình đào tạo tài năng, đào tạo sau đại học gắn kết với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo trong các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ, phục vụ phát triển các công nghệ chiến lược, công nghệ ưu tiên của công nghiệp 4.0, các dự án trọng điểm quốc gia. Gắn kết các hoạt động đào tạo với nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
8. Quản lý phát triển xã hội bền vững, đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội
Tổ chức thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; tạo bước chuyển biến rõ rệt trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân trong kỷ nguyên mới trên địa bàn thành phố. Tập trung xây dựng, hoàn thiện, nâng cao năng lực y tế dự phòng, hệ thống y tế cơ sở bảo đảm phòng bệnh từ sớm, từ xa, từ cơ sở, sẵn sàng ứng phó với các tình huống khẩn cấp về y tế công cộng. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng, cân đối, đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và sự hài lòng của người dân. Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe Nhân dân; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số y tế; cải cách mạnh mẽ tài chính y tế, bảo đảm hiệu quả, bền vững của chính sách bảo hiểm y tế.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững, tăng thu nhập cho người lao động, nhất là ở khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo đa chiều, bền vững, hỗ trợ kịp thời các nhóm yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn; nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, việc làm, nước sạch và thông tin. Chăm lo tốt cho người có công với cách mạng, các chính sách trợ giúp thường xuyên và đột xuất đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội.
Đẩy mạnh công tác bình đẳng giới, nâng cao vị thế phụ nữ trong đời sống xã hội, gia đình và trong lĩnh vực kinh tế, chính trị; tăng cường bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; phòng, chống bạo lực gia đình, bạo lực giới và xâm hại trẻ em.
Đổi mới phương thức quản lý xã hội theo hướng hiện đại, minh bạch, ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư, an sinh xã hội, lao động, việc làm; tăng cường dự báo, phòng ngừa, xử lý các vấn đề xã hội phát sinh.
9. Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương, của thành phố về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; chủ động xây dựng kế hoạch, quy hoạch, huy động, sử dụng nguồn vốn đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng giao thông, phòng, chống và khắc phục sạt lở bờ sông, bờ biển và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền và bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức cho người dân và các tổ chức, doanh nghiệp về bảo vệ môi trường. Tích cực hợp tác với các địa phương trong nước và quốc tế về bảo vệ môi trường. Chú trọng nâng cao năng lực quản lý nhà nước về môi trường. Thường xuyên kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; nâng cao năng lực quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản.
10. Tăng cường liên kết vùng, hợp tác phát triển
Tăng cường công tác huy động và phân bổ nguồn lực, ngân sách dựa trên các ưu tiên chiến lược về hạ tầng giao thông, cảng biển, sân bay, logistics, năng lượng tái tạo, ứng phó biến đổi khí hậu và các công trình, dự án trọng điểm khác mang tính liên vùng trên cơ sở Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02 tháng 4 năm 2022 của Bộ Chính trị và Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Nâng cao vai trò và tính pháp lý của Hội đồng điều phối vùng, thiết lập cơ chế cam kết trách nhiệm và hành động rõ ràng từng địa phương, đảm bảo liên kết vùng hiệu quả; đảm bảo các quyết định về kế hoạch, phân bổ nguồn lực và đầu tư cơ sở hạ tầng liên vùng minh bạch, khả thi.
Thực hiện các thỏa thuận hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu triển khai nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành, lĩnh vực của thành phố. Hỗ trợ triển khai các dự án thí điểm đổi mới sáng tạo, mô hình sản xuất sạch, công nghiệp công nghệ cao tại các tỉnh trong vùng, tạo hiệu ứng lan tỏa ra toàn vùng. Khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác với viện, trường trong đào tạo nhân lực, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Thành lập các mạng lưới liên kết vùng giữa địa phương - doanh nghiệp - viện, trường, nhằm chia sẻ dữ liệu, thông tin thị trường, kết quả nghiên cứu và dự báo nhu cầu phát triển.
Lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ công tác quốc phòng, quân sự địa phương. Thực hiện tốt nhiệm vụ kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, trên cơ sở xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Huy động và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự ngay tại cơ sở. Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự và chủ động ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Duy trì, nâng cao hiệu quả phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng Công an với Quân đội và các ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
12. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, hiệu quả hoạt động đối ngoại
Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; kết nối, hợp tác với các đối tác nước ngoài có thể mạnh về phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, dịch vụ thương mại, du lịch, logistics, công nghiệp chế biến, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu, khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao và các ngành kinh tế mới... Thu hút viện trợ phát triển từ các đối tác phát triển, các quỹ đầu tư, các tổ chức và tập đoàn kinh tế, tài chính quốc tế tiềm năng để triển khai thực hiện các dự án, nhất là dự án lớn thuộc lĩnh vực ưu tiên của thành phố. Triển khai phong phú các hoạt động ngoại giao văn hóa, đa phương hóa và đa dạng hóa đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giữa Nhân dân Cần Thơ và Nhân dân các nước trên thế giới.
1. Hội đồng nhân dân giao Ủy ban nhân dân thành phố, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Thi hành án dân sự thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết; phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt nội dung Nghị quyết.
2. Hội đồng nhân dân giao Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ Khóa X, Kỳ họp thứ Bảy thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh