Kế hoạch 8247/KH-UBND khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026
| Số hiệu | 8247/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 19/12/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 19/12/2025 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Lai Châu |
| Người ký | Hà Trọng Hải |
| Lĩnh vực | Tài nguyên - Môi trường |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 8247/KH-UBND |
Lai Châu, ngày 19 tháng 12 năm 2025 |
Căn cứ Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu ban hành Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, với các nội dung chủ yếu sau:
1. Mục đích
- Chủ động điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh trong mùa cạn năm 2025-2026.
- Bảo đảm ưu tiên cấp nước sinh hoạt, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng.
- Phòng ngừa, giảm thiểu nguy cơ thiếu nước cục bộ, hạn hán; hạn chế tác động bất lợi đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Yêu cầu
- Các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chủ động tổ chức thực hiện Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026 theo nhiệm vụ, thẩm quyền được giao. Chủ trì, phối hợp trong việc tham mưu điều hòa, phân phối nguồn nước phù hợp với thực trạng nguồn nước, đáp ứng nhu cầu khai thác, phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất trên địa bàn tỉnh.
- Đề xuất kế hoạch khai thác, sử dụng nước của từng công trình, từng khu vực theo từng tháng, năm. Đề xuất các giải pháp điều hòa, phân phối nguồn nước tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước, trong đó ưu tiên cho cấp nước sinh hoạt, sản xuất, phù hợp với thực trạng nguồn nước của tỉnh và Kịch bản nguồn nước trên Lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026 công bố tại Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
II. PHẠM VI, THỜI KỲ THỰC HIỆN
- Phạm vi thực hiện: Trên toàn bộ địa bàn tỉnh Lai Châu, theo các lưu vực và tiểu lưu vực sông thuộc địa bàn tỉnh.
- Thời kỳ thực hiện: Mùa cạn năm 2025-2026, từ tháng 12 năm 2025 đến hết tháng 6 năm 2026.
1. Hiện trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh
1.1. Hiện trạng nguồn nước mưa, nước mặt
a) Theo Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026, trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, tổng lượng mưa trên toàn lưu vực phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ từ khoảng 30% đến 60%, riêng lưu vực sông Đà cao hơn từ khoảng 10% đến 20%
- Trong các tháng 9 và tháng 10 năm 2025, do xuất hiện nhiều đợt mưa diện rộng, tổng lượng mưa tại các lưu vực tiếp tục cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 30% đến 80%, trong đó một số khu vực thuộc lưu vực sông Đà có lượng mưa cao gấp từ 2 đến 3 lần trung bình nhiều năm cùng kỳ.
- Dòng chảy thượng nguồn sông Đà (phía Trung Quốc) trong giai đoạn này cao hơn trung bình 10 năm gần đây khoảng 68% đến 70%, góp phần gia tăng lượng nước về các hồ chứa và dòng chảy trên hệ thống sông suối thuộc địa bàn tỉnh.
- Tổng lượng dòng chảy trên các sông, suối trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025 phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ, đặc biệt trong tháng 10 năm 2025 do xuất hiện các đợt mưa lớn trên diện rộng.
- Riêng trên sông Đà, tổng lượng dòng chảy đến các hồ Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình trong giai đoạn này thấp hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 3% đến 5%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2024, tổng lượng dòng chảy trên sông Đà cũng như tổng lượng dòng chảy đến các hồ Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình cao hơn từ khoảng 3% đến 30%, góp phần cải thiện khả năng tích trữ nước phục vụ điều tiết trong mùa cạn năm 2025-2026.
b) Theo số liệu Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Lai Châu
- Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, tổng lượng mưa tại các khu vực trên địa bàn tỉnh dao động từ khoảng 1.079 mm đến 1.970 mm. Phần lớn các khu vực có tổng lượng mưa trong 5 tháng cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 20 mm đến 357 mm; riêng tại khu vực trạm khí tượng Than Uyên ghi nhận tình trạng thiếu hụt lượng mưa trong 5 tháng so với trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 241 mm đến 434 mm.
- Trong tháng 9 năm 2025, trên địa bàn tỉnh xuất hiện từ 8 đến 12 ngày mưa; tổng lượng mưa đo được dao động từ khoảng 157 mm đến 369 mm, cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 20 mm đến 22 mm.
- Trong tháng 10 năm 2025, số ngày mưa tại các khu vực trong tỉnh từ 4 đến 6 ngày; tổng lượng mưa đo được từ khoảng 74 mm đến 216 mm, thấp hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 16 mm đến 136 mm.
- Trong tháng 10 năm 2025, trên các sông, suối trên địa bàn tỉnh xuất hiện từ 1 đến 2 đợt lũ nhỏ; từ tháng 11 năm 2025 đến nửa đầu tháng 12 năm 2025, mực nước trên các sông, suối chủ yếu dao động theo chế độ điều tiết của các hồ thủy điện thượng lưu.
- Tổng lượng dòng chảy trên các sông, suối trên địa bàn tỉnh từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2025 ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 30% đến 60%, cho thấy nguồn nước bước vào giai đoạn suy giảm đầu mùa cạn, cần được theo dõi chặt chẽ để chủ động điều hòa, phân phối và bảo đảm cấp nước cho các nhu cầu thiết yếu trong thời gian tiếp theo.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 8247/KH-UBND |
Lai Châu, ngày 19 tháng 12 năm 2025 |
Căn cứ Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu ban hành Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, với các nội dung chủ yếu sau:
1. Mục đích
- Chủ động điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh trong mùa cạn năm 2025-2026.
- Bảo đảm ưu tiên cấp nước sinh hoạt, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng.
- Phòng ngừa, giảm thiểu nguy cơ thiếu nước cục bộ, hạn hán; hạn chế tác động bất lợi đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Yêu cầu
- Các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chủ động tổ chức thực hiện Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026 theo nhiệm vụ, thẩm quyền được giao. Chủ trì, phối hợp trong việc tham mưu điều hòa, phân phối nguồn nước phù hợp với thực trạng nguồn nước, đáp ứng nhu cầu khai thác, phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất trên địa bàn tỉnh.
- Đề xuất kế hoạch khai thác, sử dụng nước của từng công trình, từng khu vực theo từng tháng, năm. Đề xuất các giải pháp điều hòa, phân phối nguồn nước tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước, trong đó ưu tiên cho cấp nước sinh hoạt, sản xuất, phù hợp với thực trạng nguồn nước của tỉnh và Kịch bản nguồn nước trên Lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026 công bố tại Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
II. PHẠM VI, THỜI KỲ THỰC HIỆN
- Phạm vi thực hiện: Trên toàn bộ địa bàn tỉnh Lai Châu, theo các lưu vực và tiểu lưu vực sông thuộc địa bàn tỉnh.
- Thời kỳ thực hiện: Mùa cạn năm 2025-2026, từ tháng 12 năm 2025 đến hết tháng 6 năm 2026.
1. Hiện trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh
1.1. Hiện trạng nguồn nước mưa, nước mặt
a) Theo Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026, trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, tổng lượng mưa trên toàn lưu vực phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ từ khoảng 30% đến 60%, riêng lưu vực sông Đà cao hơn từ khoảng 10% đến 20%
- Trong các tháng 9 và tháng 10 năm 2025, do xuất hiện nhiều đợt mưa diện rộng, tổng lượng mưa tại các lưu vực tiếp tục cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 30% đến 80%, trong đó một số khu vực thuộc lưu vực sông Đà có lượng mưa cao gấp từ 2 đến 3 lần trung bình nhiều năm cùng kỳ.
- Dòng chảy thượng nguồn sông Đà (phía Trung Quốc) trong giai đoạn này cao hơn trung bình 10 năm gần đây khoảng 68% đến 70%, góp phần gia tăng lượng nước về các hồ chứa và dòng chảy trên hệ thống sông suối thuộc địa bàn tỉnh.
- Tổng lượng dòng chảy trên các sông, suối trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025 phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ, đặc biệt trong tháng 10 năm 2025 do xuất hiện các đợt mưa lớn trên diện rộng.
- Riêng trên sông Đà, tổng lượng dòng chảy đến các hồ Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình trong giai đoạn này thấp hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 3% đến 5%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2024, tổng lượng dòng chảy trên sông Đà cũng như tổng lượng dòng chảy đến các hồ Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình cao hơn từ khoảng 3% đến 30%, góp phần cải thiện khả năng tích trữ nước phục vụ điều tiết trong mùa cạn năm 2025-2026.
b) Theo số liệu Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Lai Châu
- Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, tổng lượng mưa tại các khu vực trên địa bàn tỉnh dao động từ khoảng 1.079 mm đến 1.970 mm. Phần lớn các khu vực có tổng lượng mưa trong 5 tháng cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 20 mm đến 357 mm; riêng tại khu vực trạm khí tượng Than Uyên ghi nhận tình trạng thiếu hụt lượng mưa trong 5 tháng so với trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 241 mm đến 434 mm.
- Trong tháng 9 năm 2025, trên địa bàn tỉnh xuất hiện từ 8 đến 12 ngày mưa; tổng lượng mưa đo được dao động từ khoảng 157 mm đến 369 mm, cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 20 mm đến 22 mm.
- Trong tháng 10 năm 2025, số ngày mưa tại các khu vực trong tỉnh từ 4 đến 6 ngày; tổng lượng mưa đo được từ khoảng 74 mm đến 216 mm, thấp hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 16 mm đến 136 mm.
- Trong tháng 10 năm 2025, trên các sông, suối trên địa bàn tỉnh xuất hiện từ 1 đến 2 đợt lũ nhỏ; từ tháng 11 năm 2025 đến nửa đầu tháng 12 năm 2025, mực nước trên các sông, suối chủ yếu dao động theo chế độ điều tiết của các hồ thủy điện thượng lưu.
- Tổng lượng dòng chảy trên các sông, suối trên địa bàn tỉnh từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2025 ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 30% đến 60%, cho thấy nguồn nước bước vào giai đoạn suy giảm đầu mùa cạn, cần được theo dõi chặt chẽ để chủ động điều hòa, phân phối và bảo đảm cấp nước cho các nhu cầu thiết yếu trong thời gian tiếp theo.
1.2. Hiện trạng tích nước của các hồ chứa
- Theo Kịch bản nguồn nước (lần đầu) trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình, tổng lượng nước tích trữ tại 03 hồ chứa Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng đến tháng 11 năm 2025 đạt khoảng 3.442 triệu m³.
- Hiện trạng các hồ chứa trên địa bàn tỉnh: Tính đến ngày 25 tháng 11 năm 2025, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 19 hồ chứa có dung tích trên 1 triệu m³, gồm 02 hồ chứa thủy lợi và 17 hồ chứa thủy điện, cụ thể như sau:
+ Đối với hồ chứa thủy lợi: Có 02 hồ chứa, gồm Hồ Hoàng Hồ (xã Sìn Hồ) với dung tích toàn bộ 2,406 triệu m³ và Hồ Xà Dề Phìn (xã Sìn Hồ) với dung tích toàn bộ 2,650 triệu m³; hiện trạng tích nước cơ bản đáp ứng yêu cầu cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp theo thiết kế.
+ Đối với hồ chứa thủy điện: Có 03 hồ chứa của công trình thủy điện Lai Châu, Huội Quảng, Bản Chát, hồ chứa điều tiết nước dài hạn (điều tiết năm), hồ chứa có nhiệm vụ tích nước trong mùa mưa lũ phục vụ vận hành phát điện và chống hạn cho vùng hạ du vào mùa khô. Hiện nay, 03 hồ chứa thủy điện nêu trên đã thực hiện tích nước đạt sấp xỉ với dung tích toàn bộ của hồ chứa, cụ thể: Dung tích hồ chứa thủy điện Lai Châu đạt 99,84%; dung tích hồ chứa thủy điện Bản Chát đạt 99,81%; dung tích hồ chứa thủy điện Huội Quảng đạt 96,2%. Đảm bảo sẵn sàng thực hiện việc vận hành xả nước phát điện thực hiện theo lệnh điều độ của Trung tâm Điều độ hệ thống lưới điện Quốc gia, vận hành xả nước chống hạn theo yêu cầu của bộ, ngành Trung ương nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và an ninh quốc gia trong giai đoạn tháng 12/2025 đến tháng 6/2026.
+ Có 14 hồ chứa của công trình thủy điện (Nậm Na 2, Nậm Na 3, Nậm Na 1, Pắc Ma, Pa Hạ, Phiêng Lúc, Nậm Củm 3, Mường Mít, Nậm Cuổi, Nậm Mít Luông, Nậm Xí Lùng 2, Nậm Củm 4, Vàng Ma Chải 2, Nà An) có dung tích hồ chứa trên 1 triệu m3 điều tiết nước phát điện theo giờ trong ngày. Mực nước trong hồ chứa được duy trì không thấp hơn mực nước chết và không vượt quá mực nước dâng bình thường thông qua các tổ máy phát điện và công trình xả lũ.
- Các hồ chứa thủy lợi và thủy điện cơ bản đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và phát điện theo thiết kế, tuy nhiên hồ chứa thủy điện Huội Quảng thiếu khoảng 3,8% so với kế hoạch.
1.3. Hiện trạng cấp nước sinh hoạt
a) Cấp nước sạch đô thị
- Hiện nay, Công ty Cổ phần Nước sạch Lai Châu đang quản lý, vận hành và khai thác 10 trạm cấp nước, với tổng công suất thiết kế đạt khoảng 45.220 m³/ngày đêm, tăng 1.720 m³/ngày đêm so với cùng kỳ năm 2024. Lưu lượng nước khai thác thực tế đạt khoảng 27.220 m³/ngày đêm, sử dụng 08 nguồn nước mặt và 02 nguồn nước ngầm trên các con suối trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
- Trong những năm gần đây, nhiều nguồn nước mặt và suối phục vụ cấp nước sinh hoạt đô thị thường xuyên bị suy giảm lưu lượng vào mùa khô (từ đầu tháng 12 năm trước đến hết tháng 4 năm sau), dẫn đến tình trạng thiếu nước cục bộ tại một số khu vực. Cụ thể:
+ Nhà máy xử lý và cấp nước sinh hoạt - hệ thống cấp nước trạm Tả Lèng chỉ đạt khoảng 72% công suất thiết kế, thiếu khoảng 27%, tương đương 4.320 m³/ngày đêm;
+ Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt đầu nguồn Nùng Nàng chỉ đạt khoảng 70% công suất thiết kế, thiếu khoảng 30%, tương đương 600 m³/ngày đêm;
+ Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt khu vực Nậm Lỏong chỉ đạt khoảng 71% công suất thiết kế, thiếu khoảng 29%, tương đương 435 m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt Bình Lư (xã Bình Lư) chỉ đạt khoảng 72% công suất thiết kế, thiếu khoảng 28%, tương đương 560 m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt xã Sìn Hồ chỉ đạt khoảng 78% công suất thiết kế, thiếu khoảng 22%, tương đương 440 m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt khu vực xã Phong Thổ chỉ đạt khoảng 73% công suất thiết kế, thiếu khoảng 27%, tương đương 540 m³/ngày đêm;
+ Công trình cấp nước sinh hoạt Hua Nà (xã Than Uyên) chỉ đạt khoảng 72% công suất thiết kế, thiếu khoảng 28%, tương đương 840 m³/ngày đêm.
Như vậy, trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong mùa khô, tình trạng thiếu nước sinh hoạt đô thị trên địa bàn tỉnh Lai Châu ước khoảng 7.700 - 8.000 m³/ngày đêm, tập trung chủ yếu tại các khu vực Tả Lèng, phường Đoàn Kết, Bình Lư, Sìn Hồ, Phong Thổ và Than Uyên. Đây là các khu vực cần được ưu tiên theo dõi, điều hòa và bổ sung nguồn nước trong giai đoạn mùa cạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
b) Cấp nước sạch/nước hợp vệ sinh nông thôn:
- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 808 công trình cấp nước sạch/nước hợp vệ sinh khu vực nông thôn, trong đó gồm 22 công trình cấp nước sạch nông thôn và 786 công trình cấp nước hợp vệ sinh nông thôn. Nhìn chung, nguồn nước cơ bản bảo đảm nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho Nhân dân; tuy nhiên, trong mùa khô vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số khu vực, cụ thể như sau:
+ Khu vực các xã: Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng Lào: Trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 5 hằng năm, có 09 công trình cấp nước hợp vệ sinh có nguy cơ thiếu nước, gồm các công trình: cấp nước sinh hoạt bản Dền Thàng A, Dền Thàng B, bản Hợp 2, bản Xì Phải, bản Lèng Chư (xã Dào San); công trình cấp nước sinh hoạt xã Dào San; công trình cấp nước sinh hoạt bản Lảng Than (xã Dào San); công trình cấp nước sinh hoạt trung tâm xã Sì Lở Lầu; công trình cấp nước sinh hoạt bản Hoàng Trù Sào (xã Phong Thổ).
+ Khu vực các xã: Lê Lợi, Nậm Hàng, Mường Mô, Hua: Trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, có 13/65 công trình cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh có nguy cơ thiếu nước, gồm các công trình: cấp nước sinh hoạt bản Nậm Manh, Huổi Héo, Huổi Chát 2, bản Nậm Nàn (nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3), bản Cang, bản Nậm Cầy, bản Nậm Ty, bản Phiêng Luông I và II, bản Phiêng Lằn, bản Táng Ngá, bản Chang Chảo Pá, bản Pa Cheo, bản Lao Chen.
+ Khu vực các xã: Tủa Sín Chải, Sìn Hồ, Hồng Thu, Nậm Tăm, Pu Sam Cáp, Nậm Cuổi, Nậm Mạ: Trong thời gian từ khoảng tháng 9 đến tháng 3 năm sau, có 03/157 công trình cấp nước sinh hoạt có nguy cơ thiếu nước, gồm: công trình nâng cấp nước sinh hoạt bản Hồ Sì Pán (xã Pu Sam Cáp); công trình nước sinh hoạt bản Nậm Khăm (xã Tủa Sín Chải); công trình nước sinh hoạt bản Pú Mạ (xã Nậm Cuổi).
+ Khu vực các phường: Đoàn Kết, Tân Phong: Hiện có 13 công trình cấp nước tập trung khu vực nông thôn, các công trình cơ bản bảo đảm đủ nước sinh hoạt cho các hộ dân, chưa ghi nhận nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
Như vậy cấp nước sinh hoạt khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu trong điều kiện bình thường; tuy nhiên, tại một số xã, khu vực vùng cao, vùng xa, nguy cơ thiếu nước trong mùa khô vẫn còn, cần được theo dõi, chủ động điều hòa, bổ sung nguồn nước và có phương án ứng phó kịp thời trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
1.4. Hiện trạng khai thác nguồn nước tại các hồ chứa thủy lợi, hệ thống công trình thủy lợi
- Đến hết năm 2025, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có khoảng 1.018 công trình thủy lợi, trong đó gồm 06 hồ chứa, 1.012 công trình tưới tự chảy, với tổng diện tích tưới khoảng 27.550 ha. Công ty TNHH MTV Quản lý thủy nông Lai Châu đang quản lý, vận hành 96 công trình, các công trình còn lại do Ủy ban nhân dân các xã, phường trực tiếp quản lý.
- Về hiện trạng công trình, toàn tỉnh có 947 công trình kiên cố và 71 công trình tạm; tổng chiều dài kênh mương khoảng 2.330 km, trong đó 1.890 km kênh kiên cố và 470 km kênh tạm. Nhìn chung, các công trình thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp; tuy nhiên, vào mùa khô, do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài và lưu lượng nguồn nước suy giảm, một số công trình có nguy cơ thiếu nước cục bộ, cụ thể như sau:
- Khu vực các xã: Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng Lào: Có 13/193 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Nà Củng, Đon Kang, Kênh Thủy điện, Nậm Nhịp, Nà Giang, Nà Trai, Nà Tung, Dao Chản, Nậm Hang, Phái Bản, Tùng Luông, Nậm Chín (xã Phong Thổ); Mồ Sì Câu (xã Khổng Lào); Sín Chải (xã Sì Lở Lầu). Lượng nước thiếu dự kiến từ khoảng 10% đến 18,5% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Lê Lợi, Nậm Hàng, Mường Mô, Hua Bum: Có 06/60 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Nậm Nhùn (Na Sai), bản Nậm Nhùn; Na Bắc Cang (Nậm Bắc), xã Nậm Hàng; Se Sư (bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum); Nậm Nó 1 (Trung Trải, xã Pa Tần); Nậm Cầy 1 (Huổi Ban, xã Nậm Hàng); Nậm Cầy 2 (bản Pa Tết, xã Nậm Hàng); Nậm Manh (bản Nậm Manh, xã Nậm Hàng); Nậm Manh (bãi 1 và bãi 2, xã Nậm Hàng). Một số công trình thiếu nước trong tháng 4 đến tháng 5, gây thiệt hại khoảng 12 ha lúa bị mất trắng, không cho thu hoạch. Lượng nước thiếu dự kiến từ khoảng 12% đến 28,3% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Bản Bo, Bình Lư, Tả Lèng, Khun Há: Có 19/170 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Lở Thàng, Thèn Sin, Bản Giang, Nậm Pé, Hồ Thầu, Nà Đa Phìn, Tắc Tình, Nậm Na – Nậm Tường, Lài Khan, Thèn Thầu, Nà Hum, công trình thủy lợi kiên cố cánh đồng Bình Lư - Nà Tăm, Chu Va 12.2, Nậm Tằng - Nà Sằng, Nà Ly, Khun Há, Ma Sao Phìn, Đông Pao, Nà Ly (Nà Hiềng). Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng 4,7% đến 18,75% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Pắc Ta, Nậm Sỏ, Tân Uyên, Mường Khoa: Có 15/116 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Bản Mường, Hua Cưởm 1 và 2, Bó Lun - Cóc Nhủng, C23, Nậm Mít, Nậm Vai (K2), Mít Dạo, Phiêng Chăng II, Chom Chăng, Nà Pắt, Nậm Be, Hua Chăng, Nà Khoang, Ngọc Lại, công trình thủy lợi Nậm Bon. Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng 3,75% đến 20% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Mường Kim, Khoen On, Than Uyên, Mường Than: Có 09/119 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Nà Khằm, Cẩm Chung, Nà Ban, Chiềng Ban, Phai Ngoa, Nậm Mở, Nậm Lưng, Nà Phát - Sang Ngà, Phai Ta. Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng 5% đến 22,22% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Sìn Hồ, Hồng Thu, Nậm Tăm, Pu Sam Cáp, Nậm Cuổi, Nậm Mạ: Có 10/169 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Hoàng Hồ, Nậm Tần 2 (Pá Nặm), Tà Ghênh (nhóm Tà Tâu), Phiêng Diểm, Nậm Ta La, Ná Hay, Ta Pả, Nậm Há, Phiêng Trạng, Pa Khóa. Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng 10% đến 17,4% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Bum Nưa, Bum Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Pa Ủ: Có 03/144 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Nậm Mạ Nọi, Na Pu Đeng, Công Cầu Máng. Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng 9% đến 28,57% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các phường: Đoàn Kết, Tân Phong: Hiện có 23 công trình thủy lợi đang vận hành và 02 hồ điều hòa, chưa ghi nhận nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
Như vậy trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 75/1.018 công trình thủy lợi có nguy cơ thiếu nước trong mùa khô từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 4 năm 2026, với mức thiếu hụt ước từ khoảng 3,75% đến 28,57% so với công suất thiết kế. Đây là cơ sở để tỉnh xây dựng phương án điều hòa, phân phối nguồn nước và ưu tiên cấp nước cho sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn mùa cạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
1.5. Hiện trạng khai thác nguồn nước tại các hồ chứa thủy điện
- Tính đến ngày 25 tháng 11 năm 2025, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 72 công trình thủy điện đã đưa vào vận hành phát điện; trong đó có 17 công trình thủy điện có hồ chứa với dung tích từ 1 triệu m³ trở lên. Cụ thể như sau:
+ Nhóm hồ chứa điều tiết dài hạn (điều tiết năm): Có 03 công trình thủy điện Lai Châu, Huội Quảng và Bản Chát là các hồ chứa điều tiết dài hạn, có nhiệm vụ tích nước trong mùa mưa lũ để phục vụ vận hành phát điện và điều hòa, bổ sung nguồn nước chống hạn cho vùng hạ du trong mùa khô. Đến thời điểm cuối tháng 11 năm 2025, các hồ chứa này đã thực hiện tích nước đạt xấp xỉ dung tích toàn bộ, cụ thể: hồ chứa thủy điện Lai Châu đạt khoảng 1.215.000.000 m³ (đạt 99,84%); hồ chứa thủy điện Bản Chát đạt khoảng 2.137.700.000 m³ (đạt 99,81%); hồ chứa thủy điện Huội Quảng đạt khoảng 2.137.700.000 m³ (đạt 95,18%). Các hồ chứa này bảo đảm điều kiện sẵn sàng vận hành theo lệnh điều độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia và thực hiện xả nước chống hạn theo yêu cầu của các bộ, ngành Trung ương, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và an ninh nguồn nước trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
+ Nhóm hồ chứa điều tiết ngày: Có 14 công trình thủy điện gồm: Nậm Na 1, Nậm Na 2, Nậm Na 3, Pắc Ma, Pa Hạ, Phiêng Lúc, Nậm Củm 3, Nậm Củm 4, Mường Mít, Nậm Cuổi, Nậm Mít Luông, Nậm Xí Lùng 2, Vàng Ma Chải 2, Nà An; cùng với 46 hồ chứa nhỏ điều tiết nước phát điện theo giờ trong ngày. Mực nước tại các hồ chứa này được duy trì không thấp hơn mực nước chết và không vượt quá mực nước dâng bình thường, thông qua vận hành các tổ máy phát điện và công trình xả lũ theo quy định.
- Theo Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026, hiện nay hiện tượng ENSO đang trong trạng thái La Niña. Dự báo, trong 03 tháng tới, xác suất duy trì trạng thái La Niña ở mức khoảng 60% đến 75%, trong khi xác suất chuyển sang trạng thái trung tính khoảng 25% đến 40%. Trong giai đoạn từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2026, ENSO có khả năng chuyển dần sang trạng thái trung tính với xác suất khoảng 55% đến 65%; xác suất duy trì trạng thái La Niña khoảng 25% đến 30% và El Nino khoảng 5% đến 20%.
- Về nhiệt độ, trong thời gian từ tháng 11 năm 2025 đến tháng 3 năm 2026, nhiệt độ trung bình trên khu vực phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm cùng thời kỳ. Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2026, nhiệt độ trung bình có xu hướng cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 0,5°C đến 1,0°C. Nắng nóng có khả năng xuất hiện tại khu vực Tây Bắc Bộ từ cuối tháng 3 năm 2026, và từ tháng 4 năm 2026 có khả năng xảy ra nắng nóng trên diện rộng tại khu vực Bắc Bộ, làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất.
- Về tổng lượng mưa, trong thời gian từ tháng 11 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, tổng lượng mưa trên toàn lưu vực xấp xỉ trung bình nhiều năm, cụ thể:
+ Tháng 11 năm 2025: Tổng lượng mưa phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm;
+ Tháng 12 năm 2025: Tổng lượng mưa tại các lưu vực thiếu hụt khoảng 5% đến 10% so với trung bình nhiều năm, phổ biến từ 15 mm đến 40 mm, thiếu hụt từ 5 mm đến 10 mm;
+ Từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2026: tổng lượng mưa tại các lưu vực phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm, trong đó:
Tháng 01 năm 2026: Khoảng 15 - 35 mm; Tháng 02 năm 2026: Khoảng 20 - 40 mm; Tháng 3 năm 2026: Khoảng 40 - 70 mm; Tháng 4 năm 2026: Khoảng 70 - 120 mm; Tháng 5 năm 2026: Khoảng 100 - 200 mm; Tháng 6 năm 2026: Khoảng 200 - 400 mm.
- Về dòng chảy, trong các tháng mùa cạn trên các sông thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình, đặc biệt là trên sông Đà, dòng chảy đến hồ Hòa Bình so với trung bình nhiều năm có xu hướng thiếu hụt trong thời gian cuối tháng 11 và tháng 12 năm 2025, với mức thiếu hụt khoảng 6% đến 17%. Trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 5 năm 2026, dòng chảy có khả năng cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 15% đến 40%; riêng tháng 6 năm 2026, dòng chảy có khả năng thiếu hụt khoảng 23% so với trung bình nhiều năm.
Nhận định chung, trong kỳ kế hoạch, nguồn nước trên các lưu vực thuộc địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng trong điều kiện bình thường; tuy nhiên, trong các tháng cao điểm mùa khô và thời kỳ nắng nóng, vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ, đòi hỏi phải chủ động điều hòa, phân phối và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đặc biệt đối với các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m³ trở lên.
2.1. Dự báo khí tượng, thủy văn từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 03 năm 2026
a) Khí tượng
- Nắng nóng: Có khả năng xuất hiện sớm vào cuối tháng 3 năm 2026 tại các khu vực vùng thấp, gồm các xã: Bum Nưa, Bum Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Lê Lợi, Nậm Hàng, Mường Mô, Hua Bum, Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng Lào. Số ngày nắng nóng có khả năng cao hơn trung bình nhiều năm.
- Dông, lốc, sét, mưa đá và mưa lớn cục bộ: Cần đề phòng các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông, lốc, sét, mưa đá, mưa lớn cục bộ và gió giật mạnh, đặc biệt trong các đợt gió mùa Đông Bắc tăng cường và thời kỳ giao mùa (cuối tháng 3).
- Khả năng tác động: Các hiện tượng nêu trên có thể ảnh hưởng bất lợi đến môi trường, điều kiện sống, cơ sở hạ tầng, hoạt động sản xuất nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng tại các khu vực chịu tác động; trong một số đợt rét đậm, rét hại có thể kèm theo sương muối, băng giá tại vùng núi cao.
b) Dự báo thủy văn và nguồn nước
Xu thế mực nước: Trên các sông, suối thuộc địa bàn tỉnh, từ đầu tháng 01 năm 2026 đến hết tháng 03 năm 2026 là giai đoạn đầu mùa cạn, mực nước có xu thế giảm dần và chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi điều tiết của các hồ thủy điện thượng nguồn. Mực nước trung bình trên các sông, suối phổ biến ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm; riêng sông Nậm Bum tại trạm Nà Hừ ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm.
Tổng lượng mưa: Trong giai đoạn này, tổng lượng mưa phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm và thấp hơn cùng kỳ năm trước.
Nguồn nước trong giai đoạn đầu mùa cạn có xu hướng suy giảm, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước và chủ động điều hòa, phân phối nguồn nước cho các nhu cầu thiết yếu.
2.2. Xu thế thời tiết, thủy văn từ tháng 04 năm 2026 đến tháng 06 năm 2026 a) Khí tượng
- Xu thế nhiệt độ: Trong thời gian từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2026, nhiệt độ không khí trung bình trên địa bàn tỉnh phổ biến xấp xỉ và cao hơn trung bình nhiều năm.
- Xu thế lượng mưa: Tổng lượng mưa trong giai đoạn này phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm.
- Nắng nóng: Số ngày nắng nóng có khả năng nhiều hơn trung bình nhiều năm; cần đề phòng nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt tại các xã vùng thấp, gồm: Bum Nưa, Bum Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Lê Lợi, Nậm Hàng, Mường Mô, Hua Bum, Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng Lào.
- Khả năng tác động: Nắng nóng, dông, lốc, sét, mưa đá và mưa lớn cục bộ có thể tác động tiêu cực đến môi trường, sản xuất nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng trên phạm vi toàn tỉnh.
b) Thủy văn và nguồn nước
- Xu thế mực nước: Trong giai đoạn từ tháng 04 đến tháng 05 năm 2026, mực nước các sông, suối dao động theo chế độ điều tiết của các hồ chứa thượng nguồn; sang tháng 06 năm 2026, mực nước có khả năng dao động nhẹ. Mực nước trung bình trên các sông, suối phổ biến thấp hơn trung bình nhiều năm; riêng trạm Nà Hừ ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm.
- Xu thế tổng lượng nước mặt: Từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2026, tổng lượng nước mặt trên các sông, suối có khả năng thấp hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 10% đến 30%.
- Cảnh báo thủy văn nguy hiểm: Nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại một số khu vực trong tỉnh, tập trung vào tháng 05 và tháng 06 năm 2026.
- Khả năng tác động: Lũ quét, sạt lở đất có thể đe dọa an toàn tính mạng người dân, gây thiệt hại cơ sở hạ tầng, công trình dân sinh, làm gián đoạn giao thông cục bộ và ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn.
2.3. Dự báo lượng nước tích trữ trong các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m3 trở lên
Trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, là thời kỳ cao điểm mùa khô, lượng mưa trên lưu vực thấp hơn đáng kể so với trung bình cả năm, kéo theo lưu lượng dòng chảy về các hồ chứa thủy điện suy giảm. Theo dự báo, lượng nước về hồ trong mùa khô có thể thấp hơn khoảng 30% so với tổng lượng dòng chảy trung bình năm.
Do đó, trong kỳ kế hoạch, khả năng tích trữ và bổ sung nước cho các hồ chứa thủy điện chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước đã tích lũy từ mùa mưa năm trước; việc vận hành phát điện trong một số thời điểm có thể không bảo đảm duy trì công suất lắp máy tối đa trong toàn bộ số giờ vận hành, đặc biệt vào các tháng cao điểm mùa khô. Điều này đòi hỏi tăng cường phối hợp điều tiết, vận hành hồ chứa hợp lý, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát điện và nhiệm vụ điều hòa, bổ sung nguồn nước cho hạ du.
Nhận định, lượng nước tích trữ tại các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m³ trở lên trong kỳ kế hoạch cơ bản đáp ứng yêu cầu vận hành theo kịch bản điều tiết, song cần theo dõi chặt chẽ diễn biến dòng chảy đến hồ để chủ động điều chỉnh phương thức vận hành trong điều kiện nguồn nước bất lợi.
2.4. Dự báo nhu cầu và khả năng cấp nước của các hồ chứa thủy lợi, hệ thống công trình thủy lợi
Trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, do ảnh hưởng của mùa khô kéo dài và lượng mưa thấp, khả năng bổ sung nước cho các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh bị hạn chế. Theo đánh giá hiện trạng và dự báo nguồn nước, toàn tỉnh có khoảng 75/1.018 công trình thủy lợi có nguy cơ thiếu nước trong thời gian từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 4 năm 2026, với mức thiếu hụt ước từ khoảng 3,75% đến 28,57% so với công suất thiết kế.
Việc thiếu nước tại các công trình này chủ yếu xảy ra cục bộ, tập trung tại các khu vực vùng cao, vùng xa, phụ thuộc lớn vào nguồn nước tự nhiên. Do đó, trong kỳ kế hoạch cần ưu tiên bố trí, điều hòa nguồn nước hợp lý, áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm, đồng thời chủ động phương án ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống Nhân dân.
IV. KẾ HOẠCH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC THEO TỪNG THÁNG, THỜI KỲ TRONG NĂM
1. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước sinh hoạt đến tháng 6 năm 2026
1.1. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước sinh hoạt khu vực đô thị
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành, khai thác các trạm cấp nước sinh hoạt đô thị trên địa bàn tỉnh, bảo đảm cung cấp đủ nước cho các cơ quan, tổ chức và Nhân dân; không để xảy ra tình trạng thiếu nước kéo dài, thiếu nước trên diện rộng.
- Thực hiện điều tiết hài hòa các nguồn nước, ưu tiên cấp bổ sung cho các trạm cấp nước có nguy cơ thiếu nguồn trong mùa khô.
b) Giải pháp
- Thường xuyên kiểm tra, bảo trì, bảo dưỡng các trạm cấp nước sinh hoạt đô thị, bảo đảm vận hành liên tục, ổn định, hạn chế sự cố, rò rỉ, thất thoát, lãng phí nước.
- Tăng cường kiểm tra, vệ sinh, khơi thông các nguồn nước, bảo đảm lưu thông dòng chảy, hạn chế suy giảm lưu lượng.
- Chủ động tìm kiếm, bổ sung nguồn nước đối với các trạm có nguy cơ thiếu nước, gồm: Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt xã Phong Thổ (cụm Pa So), Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt xã Bình Lư, Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt Hua Nà.
- Riêng Nhà máy nước trạm Tả Lèng, thực hiện khai thác tối đa công suất các trạm cấp nước Nậm Loỏng, Nùng Nàng để bổ sung lượng nước thiếu hụt trong thời gian cao điểm mùa khô.
1.2. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước sinh hoạt khu vực nông thôn
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành, khai thác các công trình cấp nước sạch/nước hợp vệ sinh khu vực nông thôn, bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của Nhân dân.
- Chủ động rà soát, tìm kiếm các nguồn nước bổ sung cho các công trình có nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
b) Giải pháp
- Trước mùa khô, đơn vị quản lý, vận hành tổ chức kiểm tra, vệ sinh khu vực cửa lấy nước, hệ thống dẫn nước; giảm thiểu thất thoát, lãng phí nước.
- Trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước, nghiên cứu, đề xuất phương án cấp nước bổ sung hoặc thay thế nguồn cấp, bảo đảm lưu lượng và chất lượng nước hợp vệ sinh.
- Tăng cường tuyên truyền, vận động Nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, chia sẻ nguồn nước tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước.
2. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành các công trình thủy lợi, bảo đảm cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện nguồn nước mùa khô.
- Chủ động điều hòa, phân phối nước, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiếu nước gây ra.
b) Giải pháp
- Các đơn vị quản lý, vận hành công trình thủy lợi xây dựng kế hoạch canh tác, kế hoạch lấy nước tưới phù hợp với mùa vụ, bám sát kịch bản nguồn nước và kế hoạch này.
- Đối với các công trình thủy lợi phía hạ du các nhà máy thủy điện, tổ chức lấy nước theo giờ phát điện, phối hợp chặt chẽ với đơn vị vận hành thủy điện.
- Ưu tiên bảo đảm nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, đề nghị các hồ thủy điện xả dòng chảy tối thiểu đúng quy định trong giấy phép khai thác nước mặt.
- Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng nước, xã hội hóa quản lý công trình; củng cố, phát triển các tổ chức quản lý thủy lợi cơ sở.
- Đẩy mạnh kiên cố hóa kênh mương, áp dụng các công nghệ tưới tiết kiệm nước, phát triển các hồ thủy lợi theo hướng đa mục tiêu (tưới, tiêu, thủy sản, du lịch, phòng chống thiên tai).
3. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước phục vụ sản xuất điện
a) Nhiệm vụ
Quản lý, vận hành hiệu quả các hồ chứa thủy điện, bảo đảm an ninh năng lượng, phù hợp với thực trạng nguồn nước và yêu cầu điều tiết mùa khô.
b) Giải pháp
- Đối với 03 công trình thủy điện Lai Châu, Huội Quảng, Bản Chát, bảo đảm sẵn sàng vận hành theo lệnh điều độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia; thực hiện xả nước chống hạn theo yêu cầu của cơ quan Trung ương trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
- Đối với các thủy điện điều tiết ngày, duy trì mực nước không thấp hơn mực nước chết, không vượt mực nước dâng bình thường; căn cứ lưu lượng nước về hồ và lệnh điều độ để vận hành phát điện phù hợp, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước.
- Trường hợp mực nước hồ ở mực nước chết và lưu lượng nước về hồ không đáp ứng yêu cầu vận hành tối thiểu, nhà máy tạm dừng phát điện.
- Thực hiện nghiêm quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa; trong trường hợp hạn hán, thiếu nước, chủ động cắt giảm sản lượng phát điện, ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.
1.1. Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Theo dõi, kiểm tra việc duy trì xả dòng chảy tối thiểu của các công trình khai thác nước; xử lý nghiêm trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn, tiếp nhận, tham mưu cấp, điều chỉnh, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác tài nguyên nước theo thẩm quyền.
- Chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan đôn đốc, tiếp nhận hồ sơ, tham mưu cấp thẩm quyền phê duyệt phương án cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước hồ chứa thủy lợi, thủy điện theo thẩm quyền.
- Chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, điều chỉnh kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước khi kịch bản nguồn nước thay đổi.
- Chỉ đạo vận hành hiệu quả các công trình thủy lợi, tổ chức lấy nước tập trung, hạn chế phát sinh nhu cầu lấy nước ngoài kế hoạch.
- Rà soát, nâng cấp công trình thủy lợi; tính toán cụ thể nhu cầu nước tưới dưỡng lúa giai đoạn tháng 02-4 năm 2026.
- Thẩm định, điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu.
- Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm định quy trình vận hành hồ chứa thủy điện thuộc thẩm quyền phê duyệt của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đôn đốc các chủ đầu tư rà soát, lập và trình phê duyệt điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa thủy điện, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu, chống thất thoát, lãng phí; trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước, ưu tiên sử dụng nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất của Nhân dân.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường và các chủ dự án thủy điện tổ chức điều tiết hồ chứa công trình thủy điện khi xảy ra thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp; kiểm tra theo thẩm quyền việc chấp hành quy trình vận hành hồ chứa đối với các dự án, công trình thủy điện trên địa bàn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các xã, phường xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, dự án cấp nước sinh hoạt, nước sạch; thực hiện biện pháp khẩn cấp để bảo đảm cấp nước sinh hoạt trong trường hợp hạn hán thiếu nước hoặc sự cố ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng gây ra thiếu nước đối với khu vực đô thị trên địa bàn tỉnh.
1.4. Các sở, ban, ngành có liên quan
Theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương, hoàn thiện các dự án, công trình điều tiết, trữ nước trong quy hoạch thủy lợi, quy hoạch về tài nguyên nước và các quy hoạch khác có liên quan.
1.5. Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Lai Châu
- Cung cấp cho Sở Nông nghiệp và Môi trường danh mục và vị trí các trạm thủy văn chuyên dùng, tài liệu khí tượng thủy văn hiện có và số liệu các yếu tố khí tượng thủy văn quan trắc được khi Sở Nông nghiệp và Môi trường có yêu cầu để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Định kỳ hàng tháng, vào mùa khô, có trách nhiệm cung cấp cho Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương và các cơ quan có liên quan kết quả quan trắc khí tượng thủy văn và môi trường, đồng thời dự báo tình hình khí tượng thủy văn 10 ngày, tháng, mùa tiếp theo trên địa bàn tỉnh
2. Ủy ban nhân dân các xã, phường
- Tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn; chủ động xây dựng phương án cụ thể tại địa phương phù hợp với điều kiện nguồn nước, đặc biệt trong thời gian cao điểm mùa khô.
- Rà soát hiện trạng các công trình khai thác, sử dụng nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp trên địa bàn; kịp thời phát hiện, báo cáo nguy cơ thiếu nước, đề xuất giải pháp điều hòa, bổ sung nguồn nước khi cần thiết.
- Chỉ đạo quản lý, vận hành các công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt thuộc thẩm quyền quản lý của cấp xã bảo đảm cấp nước tiết kiệm, hiệu quả, ưu tiên nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp thiết yếu.
- Chủ động tìm kiếm, huy động các nguồn nước bổ sung, thay thế trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước; phối hợp với các đơn vị quản lý công trình thủy lợi, thủy điện trên địa bàn để điều hòa, phân phối nguồn nước hợp lý.
- Tổ chức quản lý, bảo vệ mốc giới hành lang bảo vệ nguồn nước; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi lấn chiếm, sử dụng trái phép đất trong phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước theo thẩm quyền.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước; chủ động hướng dẫn Nhân dân áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước trong sinh hoạt và sản xuất.
- Thường xuyên theo dõi diễn biến khí tượng, thủy văn; tổng hợp, báo cáo kịp thời về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nông nghiệp và Môi trường) những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện để xem xét, chỉ đạo xử lý.
a) Công ty Cổ phần nước sạch Lai Châu
- Thường xuyên kiểm tra tình trạng hoạt động của các nhà máy/trạm cấp nước, mạng lưới cấp nước, đảm bảo khai thác nước hiệu quả, tiết kiệm, tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên nước.
- Chủ động đề xuất nguồn nước bổ sung, thay thế trong trường hợp trạm cấp nước thiếu nguồn nước cấp.
b) Công ty TNHH MTV quản lý thủy nông Lai Châu
- Thường xuyên duy tu bảo dưỡng các công trình thủy lợi do công ty quản lý, đảm bảo việc cung cấp đủ lưu lượng nước để sản xuất nông nghiệp tiết kiệm, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí nước.
- Đề xuất các giải pháp, nguồn nước cấp bổ sung trong trường hợp thiếu nước cấp cho sản xuất nông nghiệp.
c) Chủ các dự án thủy điện
- Vận hành các công trình thủy điện theo đúng quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Tuân thủ quy định của giấy phép khai thác tài nguyên nước, đảm bảo khai thác tiết kiệm hiệu quả, duy trì xả dòng chảy tối thiểu theo đúng giấy phép được cấp. Trường hợp thiếu nước phải có giải pháp ưu tiên cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch này, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc các cơ quan, đơn vị phản ánh về Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, kịp thời chỉ đạo./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh