Kế hoạch 5472/KH-UBND năm 2026 thực hiện Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
| Số hiệu | 5472/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 22/04/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 22/04/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Lâm Đồng |
| Người ký | Đinh Văn Tuấn |
| Lĩnh vực | Thể thao - Y tế,Văn hóa - Xã hội |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 5472/KH-UBND |
Lâm Đồng, ngày 22 tháng 4 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH BẢO ĐẢM MỨC SINH THAY THẾ ĐẾN NĂM 2030 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
Thực hiện Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030”; Quyết định số 1069/QĐ-BYT ngày 17/4/2026 của Bộ Y tế ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030; Kế hoạch số 02-KH/TU, ngày 17/10/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng về thực hiện Kết luận 149-KL/TW, ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (sau đây gọi là Kế hoạch) với các nội dung sau:
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
I. Mục đích
Thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo việc vận động, khuyến khích, hỗ trợ để cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc; phấn đấu duy trì mức sinh thay thế trên địa bàn toàn tỉnh, điều kiện quan trọng nhất bảo đảm nguồn nhân lực, là tiền đề cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
II. Yêu cầu
1. Triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; bám sát nội dung Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ và quy định có liên quan để xác định cụ thể các nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm của các Sở, ngành, đơn vị, địa phương trong tổ chức thực hiện; phấn đấu đến năm 2030, đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu Kế hoạch.
2. Triển khai Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng gắn với việc tổ chức thực hiện Luật Dân số, các chương trình dự án của tỉnh về dân số đến năm 2030 và phù hợp với Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
B. NỘI DUNG
I. Thực trạng mức sinh trên địa bàn tỉnh
1. Những kết quả đạt được
- Về quy mô dân số: Dân số trung bình năm 2025 là 3.872.999 người.
- Tỷ suất sinh thô giai đoạn 2019-2024 giảm đều cả 3 khu vực: tỉnh Lâm Đồng (cũ) giảm từ 16,7‰ năm 2019 xuống 13,76‰ năm 2024; tỉnh Đắk Nông (cũ) giảm từ 20‰ năm 2019 xuống 17,34‰ năm 2024; tỉnh Bình Thuận giảm từ 14,6‰ năm 2019 xuống 14,28‰ năm 2024.
- Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ) có xu hướng giảm nhanh, tuy nhiên có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực; đánh giá so sánh năm 2019 và năm 2024, địa bàn tỉnh Đắk Nông (cũ) giảm từ 2,68 con/phụ nữ năm 2019 xuống 2,56 con/phụ nữ năm 2024[1]; tỉnh Lâm Đồng (cũ) duy trì mức sinh thay thế; tỉnh Bình Thuận (cũ) có tăng nhẹ 1,91 con/phụ nữ năm 2019 lên 1,97 con/phụ nữ năm 2024[2]. Tính chung địa bàn 3 tỉnh (Lâm Đồng cũ, Bình Thuận cũ, Đắk Nông cũ) đạt mức sinh thay thế năm 2024 là 2,12 con/phụ nữ.
Xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên phạm vi rộng cả nước, tại khu vực phía Đông Lâm Đồng (Bình Thuận cũ) có tổng tỷ suất sinh dưới mức sinh thay thế; dự báo đến năm 2030, sẽ không thực hiện đảm bảo được mục tiêu duy trì mức sinh thay thế một số khu vực trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đặc biệt là ở những đô thị, địa bàn có điều kiện kinh tế phát triển. Do đó, cần phải nghiên cứu điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với bối cảnh, xu hướng mức sinh thấp; xây dựng và thực hiện các giải pháp, chính sách khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con để đạt mức sinh thay thế bền vững nhằm ổn định quy mô dân số, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân.
2. Tồn tại, hạn chế
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình, chỉ tiêu về mức sinh tại một số địa phương chưa được lồng ghép đưa vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; nhân sự Ban Chỉ đạo công tác dân số ở các địa phương có sự biến động nhưng chưa được kiện toàn kịp thời; công tác phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong thực hiện công tác dân số chưa chặt chẽ, hiệu quả; công tác truyền thông dân số ở một số địa phương về thực hiện chính sách sinh đủ hai con chưa phong phú, phù hợp với bối cảnh mức sinh biến động nhanh và có xu hướng giảm sâu tại khu vực đô thị và nơi có điều kiện kinh tế phát triển. Công tác truyền thông, giáo dục về dân số vẫn tập trung nội dung vào vận động giảm sinh ở khu vực có mức sinh cao (vùng có điều kiện khó khăn), chưa phát huy được lợi thế của các loại hình truyền thông hiện đại; thông điệp truyền thông hiện nay chưa cập nhật kịp thời với định hướng mới của chính sách dân số là chuyển từ giảm sinh sang duy trì mức sinh thay thế và khuyến sinh.
Tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn còn cao, đặc biệt là mang thai và có con dưới 18 tuổi. Chưa đánh giá được nhu cầu sử dụng dịch vụ sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình của vị thành niên, thanh niên, người chưa kết hôn và tình trạng mang thai ngoài ý muốn, có con sớm trước 18 tuổi. Các chỉ tiêu liên quan đến mang thai, nạo phá thai, sinh con ở tuổi vị thành niên, thanh niên khó đo lường do đây là nhóm đối tượng khó tiếp cận, số liệu thống kê báo cáo khó thu thập, các cơ sở y tế tư nhân không cung cấp thông tin vì bảo mật thông tin cho khách hàng.
Đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số thường xuyên thay đổi, khó khăn trong công tác đào tạo, tập huấn. Công tác kiểm tra, giám sát tuy được tổ chức thường xuyên, định kỳ nhưng chưa tổ chức được giám sát chuyên đề nhằm phát hiện cụ thể những tồn tại, hạn chế, bất cập giữa tình hình thực tế, mục tiêu đề ra, phương thức thực hiện và hiệu quả hoạt động.
Ngân sách nhà nước đầu tư để thực hiện Chương trình còn chưa đáp ứng được một số nội dung như hỗ trợ phương tiện tránh thai và dịch vụ kế hoạch hoá gia đình cho nhóm đối tượng ưu tiên, do quy định kinh phí thực hiện Chương trình chưa điều chỉnh phù hợp với quy định Luật Ngân sách nhà nước.
3. Nguyên nhân của một số tồn tại, hạn chế
a) Nguyên nhân khách quan
Ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, suy giảm mức sinh; tình trạng ly hôn, ly thân, kết hôn muộn có xu hướng gia tăng; sự chuyển tiếp từ Chương trình mục tiêu y tế - dân số chuyển sang nhiệm vụ chi thường xuyên gây gián đoạn trong triển khai thực hiện tại một số nơi, một số thời điểm. Từ năm 2020, khi hết chương trình mục tiêu quốc gia, việc đầu tư cho công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình còn thấp.
b) Nguyên nhân chủ quan
Một số cấp ủy Đảng, chính quyền còn chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc duy trì vững chắc mức sinh thay thế, tốc độ già hoá dân số liên quan trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Cách tiếp cận khác nhau giữa các vùng mức sinh sẽ khó khăn trong việc xây dựng các chính sách, thông điệp truyền thông để đạt và duy trì mức sinh thay thế trong thời gian tới. Nguồn lực thực hiện Chương trình mới chỉ đáp ứng một phần yêu cầu, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước trực tiếp cho công tác dân số giảm mạnh, việc đầu tư nguồn lực cho công tác dân số tương xứng với nhu cầu thường xuyên.
4. Bài học kinh nghiệm
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 5472/KH-UBND |
Lâm Đồng, ngày 22 tháng 4 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH BẢO ĐẢM MỨC SINH THAY THẾ ĐẾN NĂM 2030 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
Thực hiện Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030”; Quyết định số 1069/QĐ-BYT ngày 17/4/2026 của Bộ Y tế ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030; Kế hoạch số 02-KH/TU, ngày 17/10/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng về thực hiện Kết luận 149-KL/TW, ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (sau đây gọi là Kế hoạch) với các nội dung sau:
A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
I. Mục đích
Thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo việc vận động, khuyến khích, hỗ trợ để cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc; phấn đấu duy trì mức sinh thay thế trên địa bàn toàn tỉnh, điều kiện quan trọng nhất bảo đảm nguồn nhân lực, là tiền đề cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
II. Yêu cầu
1. Triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; bám sát nội dung Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ và quy định có liên quan để xác định cụ thể các nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm của các Sở, ngành, đơn vị, địa phương trong tổ chức thực hiện; phấn đấu đến năm 2030, đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu Kế hoạch.
2. Triển khai Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng gắn với việc tổ chức thực hiện Luật Dân số, các chương trình dự án của tỉnh về dân số đến năm 2030 và phù hợp với Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
B. NỘI DUNG
I. Thực trạng mức sinh trên địa bàn tỉnh
1. Những kết quả đạt được
- Về quy mô dân số: Dân số trung bình năm 2025 là 3.872.999 người.
- Tỷ suất sinh thô giai đoạn 2019-2024 giảm đều cả 3 khu vực: tỉnh Lâm Đồng (cũ) giảm từ 16,7‰ năm 2019 xuống 13,76‰ năm 2024; tỉnh Đắk Nông (cũ) giảm từ 20‰ năm 2019 xuống 17,34‰ năm 2024; tỉnh Bình Thuận giảm từ 14,6‰ năm 2019 xuống 14,28‰ năm 2024.
- Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ) có xu hướng giảm nhanh, tuy nhiên có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực; đánh giá so sánh năm 2019 và năm 2024, địa bàn tỉnh Đắk Nông (cũ) giảm từ 2,68 con/phụ nữ năm 2019 xuống 2,56 con/phụ nữ năm 2024[1]; tỉnh Lâm Đồng (cũ) duy trì mức sinh thay thế; tỉnh Bình Thuận (cũ) có tăng nhẹ 1,91 con/phụ nữ năm 2019 lên 1,97 con/phụ nữ năm 2024[2]. Tính chung địa bàn 3 tỉnh (Lâm Đồng cũ, Bình Thuận cũ, Đắk Nông cũ) đạt mức sinh thay thế năm 2024 là 2,12 con/phụ nữ.
Xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên phạm vi rộng cả nước, tại khu vực phía Đông Lâm Đồng (Bình Thuận cũ) có tổng tỷ suất sinh dưới mức sinh thay thế; dự báo đến năm 2030, sẽ không thực hiện đảm bảo được mục tiêu duy trì mức sinh thay thế một số khu vực trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đặc biệt là ở những đô thị, địa bàn có điều kiện kinh tế phát triển. Do đó, cần phải nghiên cứu điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với bối cảnh, xu hướng mức sinh thấp; xây dựng và thực hiện các giải pháp, chính sách khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con để đạt mức sinh thay thế bền vững nhằm ổn định quy mô dân số, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân.
2. Tồn tại, hạn chế
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình, chỉ tiêu về mức sinh tại một số địa phương chưa được lồng ghép đưa vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; nhân sự Ban Chỉ đạo công tác dân số ở các địa phương có sự biến động nhưng chưa được kiện toàn kịp thời; công tác phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong thực hiện công tác dân số chưa chặt chẽ, hiệu quả; công tác truyền thông dân số ở một số địa phương về thực hiện chính sách sinh đủ hai con chưa phong phú, phù hợp với bối cảnh mức sinh biến động nhanh và có xu hướng giảm sâu tại khu vực đô thị và nơi có điều kiện kinh tế phát triển. Công tác truyền thông, giáo dục về dân số vẫn tập trung nội dung vào vận động giảm sinh ở khu vực có mức sinh cao (vùng có điều kiện khó khăn), chưa phát huy được lợi thế của các loại hình truyền thông hiện đại; thông điệp truyền thông hiện nay chưa cập nhật kịp thời với định hướng mới của chính sách dân số là chuyển từ giảm sinh sang duy trì mức sinh thay thế và khuyến sinh.
Tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn còn cao, đặc biệt là mang thai và có con dưới 18 tuổi. Chưa đánh giá được nhu cầu sử dụng dịch vụ sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình của vị thành niên, thanh niên, người chưa kết hôn và tình trạng mang thai ngoài ý muốn, có con sớm trước 18 tuổi. Các chỉ tiêu liên quan đến mang thai, nạo phá thai, sinh con ở tuổi vị thành niên, thanh niên khó đo lường do đây là nhóm đối tượng khó tiếp cận, số liệu thống kê báo cáo khó thu thập, các cơ sở y tế tư nhân không cung cấp thông tin vì bảo mật thông tin cho khách hàng.
Đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số thường xuyên thay đổi, khó khăn trong công tác đào tạo, tập huấn. Công tác kiểm tra, giám sát tuy được tổ chức thường xuyên, định kỳ nhưng chưa tổ chức được giám sát chuyên đề nhằm phát hiện cụ thể những tồn tại, hạn chế, bất cập giữa tình hình thực tế, mục tiêu đề ra, phương thức thực hiện và hiệu quả hoạt động.
Ngân sách nhà nước đầu tư để thực hiện Chương trình còn chưa đáp ứng được một số nội dung như hỗ trợ phương tiện tránh thai và dịch vụ kế hoạch hoá gia đình cho nhóm đối tượng ưu tiên, do quy định kinh phí thực hiện Chương trình chưa điều chỉnh phù hợp với quy định Luật Ngân sách nhà nước.
3. Nguyên nhân của một số tồn tại, hạn chế
a) Nguyên nhân khách quan
Ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, suy giảm mức sinh; tình trạng ly hôn, ly thân, kết hôn muộn có xu hướng gia tăng; sự chuyển tiếp từ Chương trình mục tiêu y tế - dân số chuyển sang nhiệm vụ chi thường xuyên gây gián đoạn trong triển khai thực hiện tại một số nơi, một số thời điểm. Từ năm 2020, khi hết chương trình mục tiêu quốc gia, việc đầu tư cho công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình còn thấp.
b) Nguyên nhân chủ quan
Một số cấp ủy Đảng, chính quyền còn chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc duy trì vững chắc mức sinh thay thế, tốc độ già hoá dân số liên quan trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Cách tiếp cận khác nhau giữa các vùng mức sinh sẽ khó khăn trong việc xây dựng các chính sách, thông điệp truyền thông để đạt và duy trì mức sinh thay thế trong thời gian tới. Nguồn lực thực hiện Chương trình mới chỉ đáp ứng một phần yêu cầu, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước trực tiếp cho công tác dân số giảm mạnh, việc đầu tư nguồn lực cho công tác dân số tương xứng với nhu cầu thường xuyên.
4. Bài học kinh nghiệm
Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự vào cuộc của các Sở, ban, ngành là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công để thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Kinh nghiệm cho thấy những cơ quan, đơn vị, địa phương mà cấp ủy, chính quyền, đoàn thể vào cuộc tích cực, nhất là người đứng đầu thì ở đó công tác dân số đạt kết quả tốt.
Ổn định tổ chức bộ máy làm công tác dân số có vai trò quan trọng, quyết định đến hiệu quả triển khai thực hiện Chương trình. Việc kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp nhưng phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ công tác dân số được giao, phù hợp với từng giai đoạn. Bảo đảm nguồn lực là yếu tố then chốt để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Chương trình.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết; biểu dương, khen thưởng, tạo động lực, phong trào thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số.
II. Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp
1. Mục tiêu
a) Mục tiêu chung
Tăng tỷ lệ sinh, duy trì mức sinh thay thế, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.
b) Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
- Tăng trung bình 0,5% tổng tỷ suất sinh trên toàn tỉnh mỗi năm[3].
- Trên 95% các cặp vợ chồng, nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế.
- 100% xã, phường, đặc khu thực hiện các chính sách khuyến khích, khen thưởng, hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con.
III. Nhiệm vụ và giải pháp
1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền
a) Tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa việc chuyển hướng trọng tâm chính sách dân số sang dân số và phát triển, điều chỉnh mức sinh sang đạt và duy trì mức sinh thay thế. Thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo, vận động, khuyến khích, hỗ trợ để cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo gia tăng tỷ lệ sinh, chú trọng ở địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn tỉnh nhằm bảo đảm nguồn nhân lực - điều kiện quan trọng nhất, tiền đề cơ bản nhất để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, dân tộc trường tồn.
b) Cấp ủy đảng, chính quyền chủ trì, huy động các Sở, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức tham gia thực hiện chương trình; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị trong tổ chức thực hiện. Thường xuyên giám sát, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện của các địa phương, đơn vị để có biện pháp điều chỉnh kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.
c) Đề cao tính gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác dân số, nhất là việc vận động, khuyến khích, hỗ trợ để cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội. Ban hành quy định gắn kết quả thực hiện các mục tiêu về mức sinh được giao cho các địa phương, đơn vị với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị, nhất là những người đứng đầu.
2. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi
a) Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu, rộng các nội dung của Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; Kết luận số 149-KL/TW, ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW; Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; Kế hoạch số 02-KH/TU, ngày 17/10/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng về thực hiện Kết luận 149-KL/TW, ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW;… và các quy định của pháp luật khác có liên quan nhằm nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội để giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về dân số (bao gồm quy mô, cơ cấu, phân bố và nâng cao chất lượng dân số). Tập trung tuyên truyền việc gia tăng tỷ lệ sinh, trong đó chú trọng những địa bàn có điều kiện kinh tế phát triển để duy trì mức sinh thay thế, đặc biệt là vai trò của cá nhân, cặp vợ chồng trong việc sinh con để bảo đảm phát triển bền vững đất nước và hạnh phúc của người dân.
b) Phổ biến các thông điệp truyền thông, nội dung tuyên truyền, vận động phù hợp với đặc điểm của địa bàn, nhóm đối tượng khác nhau; tập trung vận động, khuyến khích kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế.
- Tiếp tục thực hiện tuyên truyền về lợi ích của việc không kết hôn muộn, không sinh con quá muộn, không sinh ít con đối với phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời tuyên truyền về các yếu tố bất lợi của việc kết hôn quá sớm, sinh con quá sớm, sinh con quá dày đối với nam, nữ thanh niên, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để nâng cao chất lượng dân số.
- Khuyến khích chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn và khám sức khoẻ trước khi kết hôn, dự phòng vô sinh, điều trị vô sinh. Ưu tiên tuyên truyền, vận động đối với nam, nữ thanh niên, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ.
c) Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động với hình thức đa dạng, phong phú, sinh động, hấp dẫn và thuyết phục. Nâng cao hiệu quả của truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng việc sử dụng các phương tiện truyền thông đa phương tiện, internet và mạng xã hội. Sử dụng hợp lý các loại hình văn hóa, văn nghệ, giải trí. Phát huy vai trò của những người có ảnh hưởng với công chúng, gia đình và dòng họ (những người nổi tiếng trong các lĩnh vực chính trị, khoa học, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, già làng, trưởng bản,...) trong công tác tuyên truyền, vận động sinh đủ con theo chính sách khuyến khích của Nhà nước. Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông trực tiếp, nhất là các hoạt động truyền thông tại nhà, tại cộng đồng thông qua đội ngũ cộng tác viên dân số, tuyên truyền viên, nhân viên y tế thôn bản.
d) Đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường phù hợp với từng cấp học, lứa tuổi trong hệ thống giáo dục; trang bị cho người học các kiến thức, kỹ năng cơ bản, có hệ thống về cấu tạo, cơ chế hoạt động của các cơ quan sinh sản ở người, chăm sóc sức khỏe sinh sản; phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, vô sinh và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; định hình giá trị của việc kết hôn, sinh con lợi ích gia đình và tương lai bền vững của đất nước.
3. Điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích
a) Rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định không phù hợp với mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế.
b) Xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích, khen thưởng, hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con nhằm duy trì mức sinh thay thế bền vững.
- Thực hiện hỗ trợ phương tiện tránh thai, chi phí dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho các đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội; đối tượng thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đơn vị hành chính cấp xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; xã thuộc khu vực biên giới đất liền.
- Thực hiện các chính sách khuyến khích sinh con áp dụng cho các gia đình, cộng đồng, ưu tiên và chú trọng đối với địa bàn có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người.
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt; đồng thời có chính sách khuyến khích không kết hôn muộn, không sinh con muộn và không sinh ít con.
c) Bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con, phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách về lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế;... đến việc sinh ít con; xây dựng, triển khai các mô hình can thiệp thích hợp.
d) Ban hành các biện pháp hỗ trợ các cặp vợ chồng sinh con, sinh đủ hai con, phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi.
- Hỗ trợ tư vấn, cung cấp dịch vụ hôn nhân và gia đình: Phát triển câu lạc bộ kết bạn trăm năm, hỗ trợ nam, nữ thanh niên kết bạn; khuyến khích nam, nữ kết hôn trước 30 tuổi, không kết hôn muộn và sớm sinh con.
- Xây dựng môi trường, cộng đồng phù hợp với các gia đình nuôi con nhỏ; các dịch vụ thân thiện với người lao động như đưa, đón trẻ, trông trẻ, ngân hàng sữa mẹ, bác sỹ gia đình, xây dựng các điểm trông, giữ trẻ, nhà mẫu giáo phù hợp với điều kiện của bà mẹ, nhất là các khu công nghiệp, khu đô thị.
- Hỗ trợ phụ nữ khi mang thai, sinh con và sinh đủ hai con: Tạo điều kiện trở lại nơi làm việc cho phụ nữ sau khi sinh con; miễn giảm các khoản đóng góp công ích theo hộ gia đình.
- Hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con: ưu tiên vào các trường công lập, hỗ trợ chi phí giáo dục trẻ em.
4. Mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan
a) Phổ cập dịch vụ kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản tới mọi người dân đảm bảo công bằng, bình đẳng trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ, không phân biệt giới, người đã kết hôn, người chưa kết hôn để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm nâng cao chất lượng dân số.
b) Xây dựng và triển khai các loại hình dự phòng vô sinh tại cộng đồng; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới hỗ trợ sinh sản.
c) Đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo: Tổ chức các loại hình cung cấp dịch vụ phù hợp; tư vấn, kiểm tra sức khỏe, phát hiện sớm, phòng, tránh các yếu tố nguy cơ dẫn đến sinh con dị tật, mắc các bệnh, tật ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dân số.
5. Các nhiệm vụ và giải pháp khác
a) Đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng
- Cập nhật kiến thức mới, tập huấn lại, bảo đảm đội ngũ cộng tác viên dân số thực hiện đầy đủ, có hiệu quả việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện việc sinh con; tham gia cung cấp một số dịch vụ dân số tới hộ gia đình. Tập huấn cho toàn bộ cộng tác viên, tuyên truyền viên về kiến thức, kỹ năng mới, đáp ứng nhiệm vụ chuyển trọng tâm nội dung điều chỉnh mức sinh sang duy trì mức sinh thay thế.
- Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác dân số các cấp, các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, đặc biệt là kiến thức, kỹ năng lồng ghép các nội dung về bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc vào nhiệm vụ, hoạt động của các ngành, đơn vị.
b) Nghiên cứu khoa học và hệ thông tin quản lý
- Xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ về quy mô dân số, mức sinh trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội; các nghiên cứu tác nghiệp về những giải pháp, can thiệp nhằm bảo đảm mức sinh thay thế.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác dân số; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dân số đồng bộ trong cả tỉnh và tích hợp với Trung ương.
- Thường xuyên cung cấp, thông tin về dân số, thực trạng mức sinh cho các cơ quan chỉ đạo, điều hành ở Trung ương và địa phương.
c) Kiểm tra, giám sát, đánh giá
- Định kỳ kiểm tra, giám sát hỗ trợ, đánh giá việc thực hiện Kế hoạch; kịp thời đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn.
- Tổng kết việc thực hiện Kế hoạch.
IV. Kinh phí thực hiện
1. Nguồn ngân sách nhà nước, bao gồm: Nguồn ngân sách địa phương và nguồn bổ sung ngân sách Trung ương từ Chương trình mục tiêu quốc gia cho ngân sách địa phương (nếu có); lồng ghép các hoạt động của Kế hoạch với các chiến lược, quy hoạch, Kế hoạch của ngành Y tế giai đoạn 2026 - 2030 với các hoạt động dự án Chương trình khác đang triển khai trên địa bàn tỉnh.
2. Huy động sự tham gia, đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, trong và ngoài tỉnh.
3. Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu cân đối, bố trí nguồn kinh phí địa phương theo quy định phân cấp ngân sách nhà nước để thực hiện.
V. Tổ chức thực hiện
1. Sở Y tế
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Kế hoạch này, bảo đảm gắn kết chặt chẽ với các chương trình, kế hoạch liên quan do các Sở, ngành, đơn vị chủ trì thực hiện.
- Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích nhằm duy trì mức sinh thay thế.
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện và định kỳ báo cáo Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân tỉnh và cơ quan có thẩm quyền theo quy định; tổ chức sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện Kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030 bằng hình thức phù hợp.
2. Sở Tài chính
Trên cơ sở đề xuất của Sở Y tế và các cơ quan có liên quan; căn cứ các quy định hiện hành, khả năng cân đối ngân sách tỉnh, tham mưu cấp thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện Kế hoạch theo phân cấp ngân sách hiện hành, lồng ghép trong các chương trình mục tiêu quốc gia đề án, dự án, kế hoạch có liên quan phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công.
3. Sở Nội vụ
Phối hợp với Sở Y tế, các đơn vị, địa phương liên quan tiếp tục ổn định tổ chức bộ máy làm công tác dân số cấp tỉnh; phối hợp thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng ưu tiên, đặc biệt khu công nghiệp, để khuyến khích việc kết hôn, sinh con.
4. Sở Xây dựng
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện rà soát, tổng hợp, đề xuất chính sách hỗ trợ về nhà ở cho cặp vợ chồng, cá nhân để khuyến khích sinh con, nuôi dạy con tốt theo quy định của Luật Dân số.
5. Sở Giáo dục và Đào tạo
Cập nhật các nội dung mới trong chương trình, phương pháp giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường phù hợp với từng cấp học, lứa tuổi trong hệ thống giáo dục; trang bị cho người học các kiến thức, kỹ năng cơ bản, có hệ thống về cấu tạo, cơ chế hoạt động của các cơ quan sinh sản ở người, chăm sóc sức khỏe sinh sản; phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, vô sinh và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; định hình giá trị của việc kết hôn, sinh con lợi ích gia đình và tương lai bền vững của đất nước.
6. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Phối hợp với Sở Y tế đẩy mạnh các hoạt động truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng; sử dụng hợp lý các loại hình văn hóa, văn nghệ, giải trí để tuyên truyền các nội dung Kế hoạch thực hiện Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
7. Sở Dân tộc và Tôn giáo
Phối hợp với Sở Y tế tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện tốt chính sách dân số, giảm tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, tình trạng có thai ngoài ý muốn, nuôi con khoẻ dạy con ngoan để có điều kiện phát triển kinh tế gia đình.
8. Báo và Phát thanh, Truyền hình Lâm Đồng
Tăng thời lượng phát sóng, số lượng tin, bài viết phù hợp về công tác dân số trên các phương tiện thông tin đại chúng; đẩy mạnh tuyên truyền khuyến khích nam, nữ kết hôn trước 30 tuổi, phụ nữ sinh đủ hai con trước tuổi 35 để duy trì mức sinh thay thế.
9. Các Sở, ban, ngành có liên quan: chủ động tham gia thực hiện Kế hoạch này trong phạm vi chức năng nhiệm vụ được giao.
10. Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu
Xây dựng, ban hành Kế hoạch cụ thể và tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch này bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện; bố trí ngân sách địa phương theo phân cấp để triển khai thực hiện các hoạt động nhằm duy trì mức sinh thay thế. Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả thực hiện công tác dân số của địa phương; tổng kết thực hiện Kế hoạch và hằng năm gửi báo cáo về Sở Y tế trước ngày 10/12 để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Y tế.
11. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên, các tổ chức chính trị - xã hội phổ biến, vận động hội viên, đoàn viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia triển khai và giám sát thực hiện Kế hoạch.
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ tại Kế hoạch này, trường hợp phát sinh khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền giải quyết, các cơ quan, đơn vị, địa phương kịp thời báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Y tế) để xem xét, chỉ đạo và giải quyết./.
|
|
TM. UỶ BAN NHÂN
DÂN |
[1] Kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm ngày 01/4/2024
[2] Kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm ngày 01/4/2024
[3] “Tăng trung bình 0,5% tổng tỷ suất sinh trên toàn tỉnh mỗi năm” để góp phần đảm bảo mục tiêu “tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm” theo Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ, vì tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập đã đạt mức sinh thay thế (2,12 con/phụ nữ).
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh