Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Kế hoạch 42/KH-UBND năm 2026 thực hiện Chỉ tiêu y tế Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Số hiệu 42/KH-UBND
Ngày ban hành 06/02/2026
Ngày có hiệu lực 06/02/2026
Loại văn bản Kế hoạch
Cơ quan ban hành Tỉnh Hưng Yên
Người ký Phạm Văn Nghiêm
Lĩnh vực Thể thao - Y tế

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 42/KH-UBND

Hưng Yên, ngày 06 tháng 02 năm 2026

 

KẾ HOẠCH

THỰC HIỆN CHỈ TIÊU Y TẾ NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LẦN THỨ I, NHIỆM KỲ 2025 – 2030

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ UBND tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, đồng thời góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của tỉnh Hưng Yên nói chung và ngành Y tế nói riêng, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch, nhiệm vụ giải pháp thực hiện chỉ tiêu y tế năm 2026 và các năm tiếp theo như sau:

I. THỰC TRẠNG

Trong phát triển kinh tế-xã hội, ngày càng nhận rõ, con người không chỉ là nguồn lực, là quy mô, tiềm lực của nền kinh tế, mà còn là mục tiêu, kết quả và là trung tâm của sự phát triển bền vững. Với ý nghĩa quan trọng đó, trong hoạch định cũng như đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển đất nước, phát triển con người luôn được chính phủ các nước xác định là một trong những chỉ tiêu đặc biệt quan trọng.

Phát triển con người là quá trình làm tăng khả năng lựa chọn của mỗi người cũng như mức độ đạt được phúc lợi của họ. Trong đó, sự lựa chọn cốt yếu là trường thọ, khỏe mạnh, được học hành và được tận hưởng mức sống tử tế; đồng thời, được bảo đảm về nhân quyền và bình đẳng về chính trị. Để đo lường sự phát triển con người, HDI là thước đo tổng hợp phản ánh sự phát triển của con người trên các phương diện: Sức khỏe (thể hiện qua tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh); tri thức (thể hiện qua chỉ số giáo dục) và thu nhập (thể hiện qua tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người).

Những năm trở lại đây, nhờ những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, chất lượng dân số của Việt Nam cũng như của tỉnh Hưng Yên đã đạt được những thành tựu quan trọng, HDI của Việt Nam đã liên tục tăng từ 0,682 điểm (năm 2016) lên 0,687 điểm (năm 2017); 0,693 điểm (năm 2018); 0,703 điểm (năm 2019); 0,706 điểm (năm 2020); 0,703 (2021). Đặc biệt, trong bảng xếp hạng HDI năm 2022, Việt Nam đã tăng 8 bậc từ vị trí 115 lên vị trí 107, tiếp tục nằm trong số các quốc gia đang phát triển có chỉ số HDI cao. Đó là kết quả của những chính sách đúng đắn, hiệu quả và nỗ lực vượt bậc của Đảng, Nhà nước trong thúc đẩy phục hồi kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội sau đại dịch Covid-19 và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của người dân Việt Nam.

Theo số liệu tính đến tháng 6/2025 quy mô dân số tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập là 3.455.236 người (sau khi sáp nhập), trong đó nam 1.699.290 người chiếm 49,0%; nữ 1.755.769 người chiếm 51,0%. Cơ cấu dân số tỉnh Hưng Yên có số người từ 0-14 tuổi là 612.724 người, chiếm 17,8% tổng dân số; số người trong độ tuổi lao động (15 - 60 tuổi) 2.087.161 người chiếm 60,40% tổng dân số; số người trên 60 tuổi trở lên 755.351 người chiếm 21,8% tổng dân số, tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung của cả nước (cả nước là 13,89% số người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên); số người trên 65+ tuổi là 552.176 người chiếm 15,86% dân số. Cơ cấu dân số tiếp tục chuyển dịch theo hướng già hóa, đặt ra yêu cầu tăng cường các chính sách chăm sóc sức khoẻ, an sinh xã hội cho người cao tuổi (theo số liệu của CCDS&TE). Dân số chủ yếu sống ở nông thôn chiếm 82,3% (theo số liệu của Chi cục Thống kê tỉnh), việc phân bố dân cư không đồng đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận dịch vụ dân số – y tế. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hiện nay là 0,78% dân số (theo số liệu CCDS&TE tỉnh). Chất lượng dân số ngày càng được nâng cao: Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 2,37%o; Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi là 3,31%o; Tỷ lệ suy dinh dưỡng (chiều cao/tuổi) trẻ dưới 5 tuổi là 16,2%; Tỷ suất tử vong mẹ/100.000 ca đẻ sống <30; Tỷ lệ bà mẹ được sàng lọc, chẩn đoán trước sinh trên 80%; Tỷ lệ trẻ sơ sinh được tầm soát, chẩn đoán sơ sinh trên 80% so với kế hoạch giao; Tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khoẻ định kỳ ít nhất 01 lần/năm đạt trên 80%. Tuổi thọ bình quân là 75,6 tuổi; số năm sống khỏe của người dân là 68 tuổi.

Tổ chức mạng lưới cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản từ tỉnh đến cơ sở đã từng bước củng cố, phát triển cung cấp đầy đủ, kịp thời, thuận tiện các dịch vụ Dân số cho nhân dân. 100% Trạm Y tế xã có nữ hộ sinh đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc bà mẹ trước, trong và sau sinh; trên 3.800 người kiêm cộng tác viên Y tế - Dân số thôn, tổ dân phố; các Bệnh viện Đa khoa có Khoa lão khoa; 02 Trung tâm Dưỡng lão (Trung tâm An Thái tại khu vực Vũ Thư và Trung tâm Dưỡng lão Phúc thọ thuộc Bệnh viện đa khoa Phước Hải).

Hiện nay cả tỉnh có 3.914 bác sĩ, tỷ lệ số bác sỹ/1 vạn dân đạt 12,1 bác sĩ, thấp hơn 2,9 bác sĩ so với cả nước (15 bác sĩ năm 2025). Thực tế, phân bố bác sĩ không đều và thiếu hụt bác sĩ chuyên khoa, nhiều trạm y tế xã không có bác sĩ cơ hữu hoặc chỉ có một bác sĩ phải kiêm nhiệm nhiều phần việc do cơ chế, chính sách hiện hành chưa đủ mạnh.

Tính đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh có 37 cơ sở y tế công lập có giường bệnh (gồm 17 bệnh viện tuyến tỉnh, 20 bệnh viện đa khoa khu vực) với quy mô 8.620 giường và 16 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tư nhân với quy mô 2.085 giường bệnh. Trong giai đoạn 2021 - 2025, đã có 13/37 cơ sở y tế công lập được đầu tư xây dựng mở rộng quy mô giường bệnh. Sau đầu tư, nâng tổng số giường bệnh theo thiết kế lên 4.736 giường, tăng 1.226 giường so với năm 2020 góp phần đưa chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội (số giường bệnh/10.000 dân) tỉnh Hưng Yên từ 30,0 (năm 2020) lên 39,8 (năm 2025), cao hơn trung bình cả nước; đồng thời, vượt mục tiêu được giao tại Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 19 (2021 – 2025).

Tuy nhiên, từ năm 2020 đến nay nhiều chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và Chính phủ được ban hành hoặc điều chỉnh, sửa đổi để phù hợp với thực tiễn công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ Nhân dân trong tình hình mới như: Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023; Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 25/10/2023 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở trong tình hình mới. Đặc biệt, sau tác động của đại dịch COVID-19 nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh của người dân trong và ngoài tỉnh tại các cơ sở y tế ngày càng tăng cao; quy mô giường bệnh được giao hàng năm và quy mô giường bệnh thực tế theo số bệnh nhân điều trị nội trú tại các cơ sở y tế công lập đã vượt nhiều so với thiết kế.

Thực trạng tỷ lệ giường bệnh Việt Nam đang tăng dần và tiến gần các mục tiêu đề ra, với kết quả năm 2024 đạt khoảng 32,5 giường/10.000 dân và 33 giường/10.000 dân vào năm 2025 nhưng vẫn thấp hơn so với mức trung bình của thế giới, chủ yếu tập trung ở bệnh viện công và còn khoảng cách về giường bệnh tư nhân. Tại Hưng Yên số giường bệnh/1 vạn dân tăng từ 36,9 giường năm 2020 lên 39,8 giường năm 2025, trong đó giường tư nhân đạt 13%.

Hiện nay các nhóm đối tượng bắt buộc khám sức khỏe định kỳ theo quy định của pháp luật là 1.839.466 người đã và đang thực hiện khám sức khỏe định kì hàng năm, cụ thể: (1) Cán bộ công chức, viên chức là 44.526 người, đối tượng này được khám, quản lý sức khỏe định kỳ theo quy định tại Khoản 2 Điều 2, Khoản 1 Điều 21 Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/6/2015; (2) Người lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc phải khám sức khỏe theo Luật Lao động là 442.916 người, trong đó có 3.527 người đang làm việc tại các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (niên giám thống kê năm 2024), đối tượng này được khám, quản lý sức khỏe định kỳ theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/6/2015: “Điều 21. Khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động: 1. Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần.”; (3) Đối tượng học sinh là 600.866 người (niên giám thống kê năm 2024), đối tượng này được khám, quản lý sức khỏe định kỳ theo quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BYT- BGDĐT ngày 12/5/2016 Quy định về công tác y tế trường học và Thông tư 23/2017/TT-BYT ngày 15/5/2015 của Bộ Y tế về hướng dẫn việc lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ theo độ tuổi cho trẻ em; tư vấn chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng.

Người có công và người cao tuổi từ đủ 60 tuổi trở lên đến trên 80 tuổi có 734.084 người (theo báo cáo của Chi cục Dân số), theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư số 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi: “Khám sức khỏe định kỳ người cao tuổi được thực hiện ít nhất một lần một năm (01 lần/năm)”), với mục tiêu tại Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2025-2030 là: “ít nhất 90% người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu kịp thời, khám sức khỏe định kỳ, lập hồ sơ theo dõi sức khỏe; 100% người cao tuổi khi ốm đau, dịch bệnh được khám chữa bệnh và được hưởng sự chăm sóc của gia đình và cộng đồng”. Số lượng bệnh nhân được khám theo dõi hàng tháng: huyết áp là 41.867 người, tiểu đường là 58.798 người.

Đối tượng hiện chưa có các quy định bắt buộc khám sức khỏe định kỳ là 1.226.572 người, đối tượng này chưa thực hiện khám sức khỏe định kỳ, chỉ đi khám chữa bệnh khi có dấu hiệu bệnh hoặc một số rất nhỏ khám kiểm tra sức khỏe chủ động; Số người lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc tại các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 331.400 người (niên giám thống kê năm 2024); Người dân trong độ tuổi lao động tự do, không đi làm và người dân khác không thuộc các nhóm trên là 895.172 người (niên giám thống kê năm 2024).

Theo báo cáo kết quả đến ngày 31/10/2025, số người tham gia BHYT trên địa bàn tỉnh là 2.787.164 người, tăng 13.335 người (0,5%) so với năm 2024, đạt 93,2% theo kế hoạch Bảo hiểm xã hội Việt Nam giao. Dự kiến đến hết tháng 12/2025 đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế là 95,02%, hoàn thành chỉ tiêu Ủy ban nhân dân tỉnh giao.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung:

Nâng cao chỉ số phát triển con người của tỉnh Hưng Yên, phấn đấu chỉ số HDI thuộc nhóm 10 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước. Chăm lo phát triển con người một cách toàn diện, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, phát huy nội lực và tiềm năng của tỉnh Hưng Yên, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm tới, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, sức khỏe, giáo dục và thu nhập bình quân đầu người, lấy con người làm trọng tâm phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao.

Xây dựng và phát triển quy mô giường bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh đồng bộ, hiện đại tương xứng với tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, phù hợp với nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh của người dân trong và ngoài tỉnh. Đồng thời làm căn cứ cho các cơ sở y tế xác định nhu cầu phát triển chuyên môn kỹ thuật, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và huy động các nguồn lực tài chính, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đảm bảo cho mọi người dân tiếp cận đầy đủ và thuận lợi với các dịch vụ khám, chữa bệnh tại các tuyến, đáp ứng mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển.

2. Mục tiêu cụ thể

Chỉ tiêu đại hội

- Chỉ số phát triển con người HDI đạt 0,769 năm 2026 và 0,79 vào năm 2030.

- Tuổi thọ trung bình: đạt 76 tuổi vào năm 2026 và đạt >76,8 tuổi đến năm 2030, trong đó số năm sống khỏe đạt 68,5 tuổi vào năm 2026 và 70 năm đến năm 2030.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1% đến trên 1%.

- Đạt 40 giường bệnh/vạn dân vào năm 2026 và đạt trên 43 giường bệnh/vạn dân đến năm 2030 (gồm 40 giường công lập/vạn dân và 3,0 giường tư nhân/vạn dân).

- Đạt 13 bác sĩ/vạn dân vào năm 2026 và đạt trên 15 bác sĩ/vạn dân đến năm 2030.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...