Kế hoạch 354/KH-UBND phát triển hệ thống quảng bá sản phẩm OCOP năm 2026 do tỉnh Cà Mau ban hành
| Số hiệu | 354/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 19/06/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 19/06/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Cà Mau |
| Người ký | Lê Văn Sử |
| Lĩnh vực | Thương mại |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 354/KH-UBND |
Cà Mau, ngày 19 tháng 6 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG QUẢNG BÁ SẢN PHẨM OCOP NĂM 2026
Nhằm giới thiệu, quảng bá và kết nối tiêu thụ sản phẩm OCOP của tỉnh đến thị trường trong và ngoài nước; đồng thời, để thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm về quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu đối với sản phẩm OCOP trong năm 2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện với những nội dung cụ thể như sau:
A. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
Toàn tỉnh hiện có 305 sản phẩm OCOP (02 sản phẩm 05 sao, 71 sản phẩm 04 sao, 232 sản phẩm 03 sao) của 141 chủ thể (22 doanh nghiệp/công ty, 45 hợp tác xã, 01 tổ hợp tác, 73 hộ kinh doanh); trong đó, có nhiều sản phẩm như: Tôm sinh thái, Cua, muối Bạc Liêu, mật ong U Minh, bánh phồng tôm, ba khía,… tạo dấu ấn trên thị trường trong và ngoài nước. Hiện tại, tỉnh Cà Mau có 21 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP, đặc sản và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, trong đó: 13 điểm đặt tại trung tâm các phường, xã; 8 điểm kết hợp tại các khu du lịch, điểm dừng chân, cửa hàng quà tặng; với các loại hình:
- Các điểm do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập quản lý: Do ngân sách nhà nước đầu tư, thường đặt tại trung tâm hành chính hoặc khu vực công cộng. Nhìn chung, có lợi thế về cơ sở vật chất do được quan tâm đầu tư nên thuận lợi cho công tác quảng bá sản phẩm OCOP của tỉnh. Tuy nhiên quản lý, vận hành kém hiệu quả do chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường và hành vi tiêu dùng thực tế, chưa thu hút khách hàng; việc phối hợp với chủ thể OCOP còn nhiều hạn chế.
- Các điểm do cơ quan nhà nước hỗ trợ, vận động doanh nghiệp đầu tư: Mô hình này được Nhà nước hỗ trợ 1 phần kinh phí (nhà nước hỗ trợ trang thiết bị, biển hiệu, quảng bá…), kinh phí còn lại do doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc cá nhân tự đầu tư và vận hành. Mô hình có tính linh hoạt cao hơn, gắn với hoạt động kinh doanh thực tế, nhưng các điểm trưng bày có quy mô nhỏ, chưa đạt tiêu chí chuẩn theo quy định, trong đó các danh mục, nội dung hỗ trợ theo quy định chưa phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh; hoạt động trưng bày, nhận diện sản phẩm OCOP chưa thống nhất; liên kết sản phẩm còn hạn chế, sản phẩm chưa đa dạng.
- Các điểm do tổ chức, cá nhân tự đầu tư: Đây là các điểm do doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh chủ động đầu tư, thường gắn với nơi sản xuất, kết hợp cửa hàng đặc sản, điểm du lịch. Mô hình này có ưu điểm chủ động, linh hoạt, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu khách hàng, hiệu quả vận hành cao do gắn trực tiếp với lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ chức đầu tư. Trong đó, một số chủ thể OCOP của tỉnh đã chủ động ký gửi, trưng bày sản phẩm tại một số địa bàn trọng điểm như Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình,. Tuy nhiên, việc nhận diện các sản phẩm OCOP chưa rõ ràng, ứng dụng truy xuất nguồn gốc sản phẩm còn hạn chế.
II. ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ KHÓ KHĂN
- Hầu hết các sản phẩm OCOP chưa ổn định về chất lượng và sản lượng do hầu hết các chủ thể hoạt động với quy mô nhỏ. Các chủ thể chưa quan tâm, nâng cấp bao bì, mẫu mã và ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc sản phẩm, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh. Mối liên kết, hợp tác giữa chủ thể OCOP với điểm bán, hệ thống phân phối, cơ sở lưu trú và khu du lịch chưa đạt hiệu quả cao.
- Hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại còn phân tán, chưa thực hiện thường xuyên, liên tục để tạo kênh quảng bá, kết nối tiêu thụ ổn định. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và thương mại điện tử trong phát triển sản phẩm, quản lý điểm bán và quảng bá sản phẩm chưa được quan tâm đầu tư. Cơ chế hỗ trợ, nội dung hỗ trợ các chủ thể OCOP chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Trước tình hình, thực trạng nêu trên, cần xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP gắn với các giải pháp xúc tiến thương mại đồng bộ; trong đó, ưu tiên mở rộng hệ thống các điểm trưng bày, giới thiệu sản phẩm, ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, thương mại điện tử và kết nối với dịch vụ du lịch.
B. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NĂM 2026
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ có lợi thế của tỉnh theo chuỗi giá trị gắn với Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) theo hướng ưu tiên sản phẩm đặc sản, chủ lực, hướng đến mục tiêu ổn định về sản lượng, tiêu chuẩn, giá trị sản phẩm đồng nhất góp phần xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững, hiện đại.
- Tăng cường quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc sản và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu của tỉnh; nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Phát triển hệ thống các điểm trưng bày, giới thiệu và mua bán sản phẩm OCOP theo hướng đồng bộ, hiện đại, chuyên nghiệp, gắn với du lịch và dịch vụ, góp phần tạo tiền đề cho đề án “Phát triển hệ thống trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm OCOP giai đoạn đến năm 2030” với mục tiêu hình thành mạng lưới tiêu thụ sản phẩm OCOP ổn định tại các đô thị lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Ninh Bình, Cần Thơ,…; hình thành các mô hình sản xuất gắn với phát triển dịch vụ trải nghiệm du lịch kinh tế cộng đồng; khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống từ các sản phẩm đặc trưng, bản địa.
2. Yêu cầu
- Tổ chức triển khai kế hoạch phải phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình thực tế trên địa bàn tỉnh; các hoạt động phải thiết thực và hiệu quả, tiết kiệm.
- Luôn đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, phân công nhiệm vụ cụ thể giữa các cơ quan, đơn vị; thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.
II. MỤC TIÊU CỤ THỂ
- Rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng phát triển sản phẩm OCOP và hệ thống 21 điểm giới thiệu, trưng bày và bán sản phẩm OCOP hiện có trên địa bàn tỉnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động các điểm hiện có theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, gắn với nhu cầu thị trường và hoạt động du lịch.
- Hỗ trợ xây dựng 07 điểm trưng bày, quảng bá sản phẩm OCOP (03 điểm trong tỉnh và 04 điểm tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Ninh Bình); đồng thời tiếp tục phối hợp các đơn vị ngoài tỉnh/thành phố lớn rà soát, tìm kiếm địa điểm trưng bày, quảng bá OCOP để triển khai cho các năm tiếp theo.
- Duy trì, nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động livestream quảng bá sản phẩm OCOP và phiên chợ OCOP định kỳ (mỗi tuần tổ chức 01 buổi livestream; mỗi tháng tổ chức phiên chợ 02 ngày, 01 đêm); phấn đấu tăng cường tần suất giới thiệu, quảng bá sản phẩm OCOP trên Fanpage chính thức của cơ quan báo chí chính thống.
- Tổ chức ít nhất 02 lớp tập huấn về thương mại điện tử; 01 lớp đào tạo kỹ năng kinh doanh trên nền tảng số, phát triển thương hiệu, xây dựng hình ảnh cho doanh nghiệp, hợp tác xã; 01 lớp tập huấn phổ biến, hướng dẫn các quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm cho các chủ thể OCOP và các đối tượng liên quan.
- Lựa chọn, triển khai mô hình “Góc OCOP Cà Mau” tại một số cơ sở lưu trú, khách sạn, khu du lịch, điểm dừng chân phù hợp nhằm tăng cường liên kết giữa sản phẩm OCOP với hoạt động du lịch và dịch vụ.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 354/KH-UBND |
Cà Mau, ngày 19 tháng 6 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG QUẢNG BÁ SẢN PHẨM OCOP NĂM 2026
Nhằm giới thiệu, quảng bá và kết nối tiêu thụ sản phẩm OCOP của tỉnh đến thị trường trong và ngoài nước; đồng thời, để thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm về quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu đối với sản phẩm OCOP trong năm 2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện với những nội dung cụ thể như sau:
A. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
Toàn tỉnh hiện có 305 sản phẩm OCOP (02 sản phẩm 05 sao, 71 sản phẩm 04 sao, 232 sản phẩm 03 sao) của 141 chủ thể (22 doanh nghiệp/công ty, 45 hợp tác xã, 01 tổ hợp tác, 73 hộ kinh doanh); trong đó, có nhiều sản phẩm như: Tôm sinh thái, Cua, muối Bạc Liêu, mật ong U Minh, bánh phồng tôm, ba khía,… tạo dấu ấn trên thị trường trong và ngoài nước. Hiện tại, tỉnh Cà Mau có 21 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP, đặc sản và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, trong đó: 13 điểm đặt tại trung tâm các phường, xã; 8 điểm kết hợp tại các khu du lịch, điểm dừng chân, cửa hàng quà tặng; với các loại hình:
- Các điểm do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập quản lý: Do ngân sách nhà nước đầu tư, thường đặt tại trung tâm hành chính hoặc khu vực công cộng. Nhìn chung, có lợi thế về cơ sở vật chất do được quan tâm đầu tư nên thuận lợi cho công tác quảng bá sản phẩm OCOP của tỉnh. Tuy nhiên quản lý, vận hành kém hiệu quả do chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường và hành vi tiêu dùng thực tế, chưa thu hút khách hàng; việc phối hợp với chủ thể OCOP còn nhiều hạn chế.
- Các điểm do cơ quan nhà nước hỗ trợ, vận động doanh nghiệp đầu tư: Mô hình này được Nhà nước hỗ trợ 1 phần kinh phí (nhà nước hỗ trợ trang thiết bị, biển hiệu, quảng bá…), kinh phí còn lại do doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc cá nhân tự đầu tư và vận hành. Mô hình có tính linh hoạt cao hơn, gắn với hoạt động kinh doanh thực tế, nhưng các điểm trưng bày có quy mô nhỏ, chưa đạt tiêu chí chuẩn theo quy định, trong đó các danh mục, nội dung hỗ trợ theo quy định chưa phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh; hoạt động trưng bày, nhận diện sản phẩm OCOP chưa thống nhất; liên kết sản phẩm còn hạn chế, sản phẩm chưa đa dạng.
- Các điểm do tổ chức, cá nhân tự đầu tư: Đây là các điểm do doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh chủ động đầu tư, thường gắn với nơi sản xuất, kết hợp cửa hàng đặc sản, điểm du lịch. Mô hình này có ưu điểm chủ động, linh hoạt, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu khách hàng, hiệu quả vận hành cao do gắn trực tiếp với lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ chức đầu tư. Trong đó, một số chủ thể OCOP của tỉnh đã chủ động ký gửi, trưng bày sản phẩm tại một số địa bàn trọng điểm như Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình,. Tuy nhiên, việc nhận diện các sản phẩm OCOP chưa rõ ràng, ứng dụng truy xuất nguồn gốc sản phẩm còn hạn chế.
II. ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ KHÓ KHĂN
- Hầu hết các sản phẩm OCOP chưa ổn định về chất lượng và sản lượng do hầu hết các chủ thể hoạt động với quy mô nhỏ. Các chủ thể chưa quan tâm, nâng cấp bao bì, mẫu mã và ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc sản phẩm, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh. Mối liên kết, hợp tác giữa chủ thể OCOP với điểm bán, hệ thống phân phối, cơ sở lưu trú và khu du lịch chưa đạt hiệu quả cao.
- Hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại còn phân tán, chưa thực hiện thường xuyên, liên tục để tạo kênh quảng bá, kết nối tiêu thụ ổn định. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và thương mại điện tử trong phát triển sản phẩm, quản lý điểm bán và quảng bá sản phẩm chưa được quan tâm đầu tư. Cơ chế hỗ trợ, nội dung hỗ trợ các chủ thể OCOP chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Trước tình hình, thực trạng nêu trên, cần xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP gắn với các giải pháp xúc tiến thương mại đồng bộ; trong đó, ưu tiên mở rộng hệ thống các điểm trưng bày, giới thiệu sản phẩm, ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, thương mại điện tử và kết nối với dịch vụ du lịch.
B. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NĂM 2026
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ có lợi thế của tỉnh theo chuỗi giá trị gắn với Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) theo hướng ưu tiên sản phẩm đặc sản, chủ lực, hướng đến mục tiêu ổn định về sản lượng, tiêu chuẩn, giá trị sản phẩm đồng nhất góp phần xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững, hiện đại.
- Tăng cường quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc sản và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu của tỉnh; nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Phát triển hệ thống các điểm trưng bày, giới thiệu và mua bán sản phẩm OCOP theo hướng đồng bộ, hiện đại, chuyên nghiệp, gắn với du lịch và dịch vụ, góp phần tạo tiền đề cho đề án “Phát triển hệ thống trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm OCOP giai đoạn đến năm 2030” với mục tiêu hình thành mạng lưới tiêu thụ sản phẩm OCOP ổn định tại các đô thị lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Ninh Bình, Cần Thơ,…; hình thành các mô hình sản xuất gắn với phát triển dịch vụ trải nghiệm du lịch kinh tế cộng đồng; khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống từ các sản phẩm đặc trưng, bản địa.
2. Yêu cầu
- Tổ chức triển khai kế hoạch phải phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình thực tế trên địa bàn tỉnh; các hoạt động phải thiết thực và hiệu quả, tiết kiệm.
- Luôn đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, phân công nhiệm vụ cụ thể giữa các cơ quan, đơn vị; thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.
II. MỤC TIÊU CỤ THỂ
- Rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng phát triển sản phẩm OCOP và hệ thống 21 điểm giới thiệu, trưng bày và bán sản phẩm OCOP hiện có trên địa bàn tỉnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động các điểm hiện có theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, gắn với nhu cầu thị trường và hoạt động du lịch.
- Hỗ trợ xây dựng 07 điểm trưng bày, quảng bá sản phẩm OCOP (03 điểm trong tỉnh và 04 điểm tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Ninh Bình); đồng thời tiếp tục phối hợp các đơn vị ngoài tỉnh/thành phố lớn rà soát, tìm kiếm địa điểm trưng bày, quảng bá OCOP để triển khai cho các năm tiếp theo.
- Duy trì, nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động livestream quảng bá sản phẩm OCOP và phiên chợ OCOP định kỳ (mỗi tuần tổ chức 01 buổi livestream; mỗi tháng tổ chức phiên chợ 02 ngày, 01 đêm); phấn đấu tăng cường tần suất giới thiệu, quảng bá sản phẩm OCOP trên Fanpage chính thức của cơ quan báo chí chính thống.
- Tổ chức ít nhất 02 lớp tập huấn về thương mại điện tử; 01 lớp đào tạo kỹ năng kinh doanh trên nền tảng số, phát triển thương hiệu, xây dựng hình ảnh cho doanh nghiệp, hợp tác xã; 01 lớp tập huấn phổ biến, hướng dẫn các quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm cho các chủ thể OCOP và các đối tượng liên quan.
- Lựa chọn, triển khai mô hình “Góc OCOP Cà Mau” tại một số cơ sở lưu trú, khách sạn, khu du lịch, điểm dừng chân phù hợp nhằm tăng cường liên kết giữa sản phẩm OCOP với hoạt động du lịch và dịch vụ.
- Rà soát từng bước hoàn thiện các điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng số đưa vào hoạt động phòng livestream quảng bá sản phẩm OCOP kết hợp du lịch trong giai đoạn 2027 - 2030.
III. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
Nhiệm vụ thực hiện cụ thể và phân công trách nhiệm được quy định chi tiết tại Phụ lục kèm theo Kế hoạch này.
IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức
- Tăng cường công tác tuyên truyền thường xuyên, liên tục về Chương trình OCOP và định hướng phát triển sản phẩm OCOP trong giai đoạn mới; nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân về vai trò của OCOP trong phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng thương hiệu địa phương, phát triển du lịch và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Đa dạng hóa hình thức truyền thông thông qua báo chí, truyền hình, phát thanh, cổng thông tin điện tử, mạng xã hội, video quảng bá, livestream, hội nghị, hội thảo, sự kiện xúc tiến thương mại, du lịch và các hoạt động quảng bá tại các địa phương.
- Xây dựng nội dung tuyên truyền có chiều sâu, thiết thực và phù hợp yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới, như các mô hình sản xuất kinh doanh OCOP gắn với du lịch cộng đồng, phát triển làng nghề; xây dựng câu chuyện sản phẩm OCOP đặc sắc, phát huy giá trị văn hóa bản địa, truyền thống; lợi ích của việc ứng dụng chuyển đổi số trong việc chuẩn hóa sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử.
2. Củng cố, nâng chất hoạt động của các điểm trưng bày, quảng bá sản phẩm và hỗ trợ phát triển, vận hành các điểm trưng bày mới
- Tập trung rà soát, đánh giá, phân loại toàn bộ 21 điểm hiện có theo các tiêu chí về vị trí, diện tích, cơ cấu sản phẩm, nhận diện thương hiệu, trang thiết bị, bảo quản, nhân sự, thanh toán và ứng dụng công nghệ số; lựa chọn một số điểm có khả năng nâng cấp nhanh để làm mô hình điểm chuẩn ban đầu.
- Hỗ trợ các điểm bán OCOP ứng dụng phần mềm quản lý bán hàng, thanh toán không dùng tiền mặt, màn hình trình chiếu thông tin sản phẩm, phương tiện quảng bá số; xây dựng nội dung số phục vụ trưng bày và bán hàng tại điểm.
- Tiếp tục rà soát, vận dụng và lồng ghép hiệu quả các cơ chế, chính sách hiện hành của Trung ương và của tỉnh để hỗ trợ phát triển sản phẩm OCOP, điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP đến khi có văn bản mới thay thế theo quy định; mạnh dạn áp dụng các quy định, chính sách hỗ trợ các chủ thể và điểm giới thiệu OCOP trong và ngoài tỉnh.
- Khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, vận hành, liên kết phát triển hệ thống điểm OCOP; đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng hóa hình thức hợp tác đầu tư, ký gửi, phân phối, tiêu thụ sản phẩm theo hướng thực chất, hiệu quả và bền vững.
3. Rà soát, đánh giá, nâng chất các sản phẩm OCOP
- Rà soát, đánh giá thực trạng, hiệu quả của các sản phẩm OCOP; qua đó, tập trung hỗ trợ phát triển các sản phẩm OCOP có lợi thế của tỉnh, gắn với kinh tế tuần hoàn, giá trị văn hóa bản địa, nghề truyền thống và du lịch nông thôn theo định hướng tiêu chuẩn chất lượng, giá trị đồng bộ đối với sản phẩm cùng loại.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi phát triển sản phẩm OCOP, từ sản xuất, chế biến, quảng bá đến tiêu thụ sản phẩm. Trong đó, hỗ trợ các chủ thể áp dụng các giải pháp về mã vạch, mã QR, truy xuất nguồn gốc, quản lý sản xuất, quản lý chất lượng, tem điện tử, xây dựng hồ sơ số cho sản phẩm; khuyến khích ứng dụng công nghệ bảo quản, chế biến, đóng gói, kéo dài thời hạn sử dụng, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại đa kênh
- Tăng cường tổ chức các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu trong và ngoài tỉnh; đưa sản phẩm OCOP vào các sự kiện xúc tiến đầu tư, du lịch, hội nghị, hội thảo, hoạt động đối ngoại và quà tặng chính thức của địa phương.
- Hỗ trợ các chủ thể tham gia hội chợ, triển lãm, chương trình kết nối giao thương; kết nối giữa các chủ thể OCOP với hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng đặc sản, cơ sở lưu trú, khu du lịch, doanh nghiệp lữ hành và các sàn thương mại điện tử nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài tỉnh.
- Đổi mới phương thức xúc tiến thương mại theo hướng kết hợp giữa xúc tiến trực tiếp và xúc tiến số; đẩy mạnh liên kết sản phẩm OCOP với các sàn thương mại điện tử lớn, các kênh bán hàng trực tuyến và nền tảng du lịch số để mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để xây dựng trung tâm livestream hoạt động 24/7 (dự kiến hoạt động từ năm 2027).
- Triển khai mô hình trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm OCOP tại các cơ sở lưu trú, khách sạn, khu du lịch, điểm dừng chân theo mô hình “Góc OCOP Cà Mau”; trong đó, thực hiện mô hình quảng bá, giới thiệu và bán sản phẩm đảm bảo hiệu quả. Trường hợp không lắp đặt kệ, tủ trưng bày tại các điểm, đẩy mạnh truyền thông trực quan (Tivi, thiết bị trải nghiệm sản phẩm/tham quan gian hàng OCOP ứng dụng công nghệ thực tế ảo,... nếu phù hợp).
- Lựa chọn, kết nối và phối hợp với các nhân vật nổi tiếng, người có ảnh hưởng, chuyên gia ẩm thực, du lịch, nhà sáng tạo nội dung số phù hợp để tham gia quảng bá sản phẩm OCOP của tỉnh trên các nền tảng truyền thông, mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và tại các sự kiện xúc tiến thương mại, du lịch.
- Nghiên cứu, khảo sát nhu cầu và khả năng triển khai mô hình gian hàng số hóa trưng bày, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm OCOP của tỉnh tại các khu chung cư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Đào tạo nâng cao năng lực các chủ thể OCOP
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực chủ thể OCOP (kỹ năng bán hàng, livestream; quản lý chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm; thiết kế bao bì,...).
- Tổ chức 02 lớp tập huấn về thương mại điện tử; 01 lớp đào tạo kỹ năng kinh doanh trên nền tảng số, phát triển thương hiệu, xây dựng hình ảnh cho doanh nghiệp, hợp tác xã; 01 lớp tập huấn phổ biến, hướng dẫn các quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm cho các chủ thể OCOP và các đối tượng liên quan.
V. KINH PHÍ THỰC HIỆN
Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước (Trung ương và địa phương) theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và quy định của pháp luật liên quan; kinh phí lồng ghép từ các chương trình, đề án, kế hoạch, dự án liên quan (trong đó, ưu tiên sử dụng hiệu quả nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững năm 2025 được chuyển sang thực hiện và giải ngân trong năm 2026); các nguồn vốn tài trợ, viện trợ, nguồn vốn hợp pháp khác từ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân theo quy định.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Giao Sở Công Thương làm đầu mối theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện kế hoạch này. Trong quá trình triển khai thực hiện, có khó khăn, vướng mắc, giao Sở Công Thương chủ trì, phối hợp các sở, ngành có liên quan tổng hợp, báo cáo, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất giải pháp tháo gỡ kịp thời.
2. Sở Tài chính
Căn cứ khả năng cân đối ngân sách, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền phê duyệt và trên cơ sở đề xuất của các cơ quan, đơn vị, địa phương, tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện Kế hoạch theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, phân cấp ngân sách và các văn bản hướng dẫn hiện hành.
3. Các sở, ngành, địa phương, đơn vị được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ (tại Phụ lục phân công kèm theo)
Các đơn vị được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ chủ động lồng ghép kinh phí, triển khai kế hoạch và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả thực hiện. Trường hợp phát sinh kinh phí ngoài khả năng cân đối, đơn vị lập dự toán gửi Sở Tài chính thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; định kỳ báo cáo tiến độ, kết quả về Sở Công Thương để kịp thời theo dõi, tổng hợp.
4. Ủy ban nhân dân các xã, phường
- Chủ trì, rà soát, lựa chọn sản phẩm tiềm năng, chủ thể tiềm năng, vị trí phù hợp để đề xuất phát triển sản phẩm, điểm bán OCOP; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia theo kế hoạch.
- Phối hợp với các sở, ngành trong công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn chủ thể và điểm bán; chủ động lồng ghép các nguồn lực của địa phương theo quy định để hỗ trợ triển khai Chương trình.
5. Chủ thể OCOP
- Các chủ thể OCOP chủ động duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu, câu chuyện sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng; nâng cao năng lực quản trị, sản xuất kinh doanh, xúc tiến thương mại, ứng dụng công nghệ số và bán hàng đa kênh.
- Chủ động phối hợp với các sở, ngành, địa phương, đơn vị tư vấn, đơn vị phân phối và các điểm bán trong việc tham gia hệ thống điểm OCOP, kết nối tiêu thụ, ký gửi, giới thiệu và quảng bá sản phẩm; thực hiện nghiêm các quy định về chất lượng, nguồn gốc, niêm yết giá, an toàn thực phẩm và các quy định của Chương trình OCOP.
- Tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP của tỉnh.
- Các điểm trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm OCOP
- Chủ động phối hợp với các sở, ngành và chủ thể OCOP trong việc tổ chức trưng bày, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm OCOP theo quy định; thực hiện trưng bày sản phẩm bảo đảm đúng tiêu chí, quy chuẩn về nhận diện thương hiệu OCOP, niêm yết giá, thông tin sản phẩm, truy xuất nguồn gốc.
- Tăng cường liên kết với các chủ thể OCOP để đa dạng hóa sản phẩm, bảo đảm nguồn hàng ổn định, chất lượng.
- Chủ động ứng dụng công nghệ trong quản lý, bán hàng, thanh toán không dùng tiền mặt và kết nối thương mại điện tử.
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tình hình hoạt động, doanh thu, khó khăn, vướng mắc về cơ quan quản lý theo quy định.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân các xã, phường cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện tốt nội dung Kế hoạch này./.
|
|
KT. CHỦ TỊCH |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh