Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Kế hoạch 265/KH-UBND năm 2026 về tổng thể đầu tư cải tạo, nâng cấp hệ thống đê điều trên địa bàn thành phố Hà Nội

Số hiệu 265/KH-UBND
Ngày ban hành 07/07/2026
Ngày có hiệu lực 07/07/2026
Loại văn bản Kế hoạch
Cơ quan ban hành Thành phố Hà Nội
Người ký Bùi Duy Cường
Lĩnh vực Lĩnh vực khác

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 265/KH-UBND

Hà Nội, ngày 07 tháng 7 năm 2026

 

KẾ HOẠCH

TỔNG THỂ ĐẦU TƯ CẢI TẠO, NÂNG CẤP HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Triển khai Kế hoạch số 32-KH/ĐU ngày 16/3/2026 của Đảng ủy Ủy ban nhân dân Thành phố về Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình 07-CTr/TU ngày 15/02/2026 của Thành ủy về chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Mục: các chương trình, kế hoạch, đề án, nhiệm vụ, dự án, giải pháp; trong đó có dự án "Nâng cấp, chỉnh trang, đầu tư nâng cấp các tuyến đê kết hợp làm đường giao thông đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống lũ và thích ứng với biến đổi khí hậu". Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành "Kế hoạch tổng thể cải tạo, nâng cấp hệ thống đê điều trên địa bàn thành phố Hà Nội" (sau đây gọi tắt là Kế hoạch) với các nội dung như sau:

I. HIỆN TRẠNG, HẠN CHẾ CỦA HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU THÀNH PHỐ

1. Hiện trạng

Hệ thống đê thành phố Hà Nội là một phần quan trọng nhất và được hình thành đầu tiên của hệ thống đê sông Hồng, sông Thái Bình. Hệ thống đê được xây dựng từ thời nhà Lý (1108) với tuyến đê Cơ Xá (từ Nhật Tân - Yên Phụ - Lương Yên)[1] bảo vệ cho Kinh thành Thăng Long. Trải qua quá trình lịch sử thời phong kiến, Pháp thuộc và sau Cách mạng Tháng Tám được Nhân dân ta xây dựng, bồi đắp đã hình thành hệ thống đê điều như ngày nay. Hệ thống đê điều có nhiệm vụ bảo vệ cho Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 3.340 km², dân số trên 8,5 triệu người, ngoài ra còn bảo vệ cho các địa phương nằm trong vùng Thủ đô như Phú Thọ, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh.

Thành phố Hà Nội có 7 con sông chảy qua: sông Đà, sông Hồng, sông Đuống, sông Công, sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Đáy; ngoài ra còn hệ thống các sông nội tỉnh và thủy lợi: sông Tích, sông Bùi, sông Mỹ Hà, sông Thanh Hà, sông Nhuệ, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cầu Bây... Do đó, để bảo đảm an toàn cho Thủ đô trong mùa mưa lũ, một hệ thống đê đã được phân cấp dài hơn 626,5 km chạy dọc theo các con sông trên địa bàn Thành phố. Hà Nội có tới 79/126 xã, phường có các tuyến đê đi qua. Trong đó, hệ thống đê từ cấp II đến cấp đặc biệt được xây dựng dọc theo bốn con sông lớn là: sông Hồng, sông Đà, sông Đuống, sông Đáy với tổng chiều dài hơn 332km. Ngoài ra còn có hơn 72km đê cấp III; hơn 160 km đê cấp IV và hơn 62km đê cấp V. Cùng 43 tuyến đê bao, đê bối và đê chuyên dùng với tổng chiều dài 144,153km. Dọc các tuyến đê có 182 kè lát mái hộ bờ với tổng chiều dài là 222,9km; 68 kè mỏ hàn; 203 cống qua đê; 248 cửa khẩu qua đê; 355 điếm canh đê; 12 Hạt Quản lý đê; 59 điểm kho, bãi vật tư dự trữ phòng chống lụt bão; hệ thống Giếng giảm áp trên tuyến đê hữu Hồng gồm 279 giếng. Với mật độ sông ngòi dày đặc, chiều dài các tuyến sông có đê lớn, dưới tác động của thời tiết ngày càng cực đoan với nhiều loại hình thiên tai có khả năng ảnh hưởng đến Thành phố. Vì vậy hệ thống đê điều có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác phòng, chống thiên tai. Ngoài tác dụng chính là ngăn lũ bảo vệ cho các vùng dân sinh, kinh tế, hệ thống đê điều còn góp phần không nhỏ vào việc kết nối giao thông giữa các vùng trong tỉnh, liên tỉnh; tạo ra một vùng đất bãi sông trù phú thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, du lịch cũng như phát triển các loại hình kinh tế khác, phát triển đời sống của Nhân dân.

Hiện trạng các tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt “đảm bảo đủ khả năng chống lũ với mực nước thiết kế” và phấn đấu chống được lũ cao hơn. Tuy nhiên, vào mùa lũ cần phải lập "phương án bố phòng hộ đê", cũng như tăng cường kiểm tra, tuần tra canh gác phát hiện sớm sự cố, hư hỏng đê điều để xử lý, ứng cứu hiệu quả ngay từ giờ đầu, đặc biệt là các trọng điểm đê điều xung yếu (năm 2026, trên các tuyến đê xác định còn: 05 trọng điểm xung yếu cấp Thành phố phê duyệt phương án và 22 trọng điểm xung yếu giao cấp xã, phường phê duyệt phương án). Đối với các tuyến đê cấp IV, cấp V và các tuyến đê chưa được phân cấp công trình, hiện trạng còn thiếu cao trình chống lũ từ 0,5m đến 2,1m theo quy hoạch (đê tả Bùi còn thiếu từ 0,5m đến 1,2m (trừ 1,5km mới được đầu tư nâng cấp năm 2019); đê hữu Bùi và các tuyến đê bao còn thiếu từ 1,2m đến 2,1m, nên thường xuyên phải tổ chức chống tràn khi có lũ lớn.

2. Hạn chế

Hệ thống đê điều của thành phố Hà Nội là hệ thống rất lớn và quan trọng bậc nhất cả nước, những năm qua đã từng bước được quan tâm đầu tư, nâng cấp bằng các nguồn vốn khác nhau (vốn Trung ương, vốn Thành phố). Nhưng do khả năng cân đối nguồn vốn còn hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp đồng bộ, hoàn chỉnh hệ thống đê điều, kết hợp phát triển giao thông còn hạn chế, cụ thể:

- Một số dự án đầu tư nâng cấp đê kết hợp giao thông, mới chỉ quan tâm tận dụng mặt bằng hiện trạng để mở rộng mặt đường đê cho giao thông, mà chưa quan tâm đến đầu tư hoàn chỉnh mặt cắt đê (không đánh giá tổng thể đề xuất phương án gia cố nền đê, thân đê, mái đê dốc, chênh cao mặt đê, chân đê lớn, chân đê còn hồ ao, ruộng trũng...); chưa đầu tư đồng bộ đường hành lang chân đê, dốc lên, xuống đê, kết nối giao thông trong khu vực với đê.

- Một số dự án mở rộng mặt đường đê kết hợp giao thông nhưng ở mức độ còn hạn chế, chiều rộng mặt đường khoảng 7m (B mặt đường ~ 7m) và chưa tăng được tải trọng thiết kế để đáp ứng yêu cầu giao thông trên đê và kết nối đồng bộ với hạ tầng giao thông khu vực, cũng như tạo thành các trục giao thông liên vùng kết nối với các địa phương lân cận.

- Hệ thống đê điều có tính chất liên vùng, nên khi các tỉnh lân cận Hà Nội (Phú Thọ, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên) đã đầu tư mở rộng đê cho phát triển giao thông, sẵn sàng cho chống lũ lịch sử, lũ vượt thiết kế, khi đó các tuyến đê của Hà Nội lại trở thành xung yếu, bất lợi hơn trong trường hợp xuất hiện lũ đặc biệt lớn, lũ dài ngày trên hệ thống sông, nguy cơ xảy ra vỡ đê trước.

- Năm 2024, 2025 liên tiếp xảy ra lũ đặc biệt lớn và lập mốc lũ lịch sử mới trên một số tuyến sông (sông Cầu, sông Công, sông Tích, sông Bùi...) vượt xa mực nước thiết kế đê đã làm tràn đê trên diện rộng và nguy cơ vỡ đê rất cao.

II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU

1. Mục tiêu

Đảm bảo phòng, chống thiên tai, giao thông và cảnh quan đô thị. Cụ thể: xây dựng hệ thống đê điều hiện đại, bảo đảm an toàn ứng với mực nước lũ thiết kế và có giải pháp để bảo đảm an toàn đê khi xảy ra lũ lịch sử; phát huy lợi thế của hệ thống đê điều là công trình lịch sử, văn hóa, cảnh quan và giao thông nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là khu vực ven đê, ven sông; nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành và bảo trì hệ thống đê điều kết hợp giao thông. Nhất quán quan điểm chỉ đạo về đầu tư nâng cấp hệ thống đê điều "đảm bảo an toàn phòng, chống lũ; mở rộng tối đa mặt cắt và đảm bảo tối thiểu

02 làn xe, đồng bộ tải trọng xe, kết nối tối ưu hệ thống hạ tầng giao thông khu vực; kết hợp với chỉnh trang đô thị đối với các đoạn tuyến đê đi qua khu vực đô thị; đầu tư hệ thống đê điều hiện đại, đồng bộ, đủ năng lực ứng phó với các kịch bản mưa lũ cực đoan, sử dụng đa mục tiêu, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội".

2. Chỉ tiêu

- An toàn phòng, chống lũ: Nâng cấp các tuyến đê chính đạt tiêu chuẩn kỹ thuật theo cấp đê, bảo đảm an toàn trước các kịch bản lũ thiết kế, bảo đảm cao trình, ổn định kết cấu đê, giảm nguy cơ phát sinh sự cố công trình đê; bảo đảm an toàn vùng bảo vệ, đủ năng lực ứng phó với các kịch bản mưa lũ cực đoan.

- Giao thông: Từng bước hoàn thiện hệ thống giao thông trên đê, bảo đảm an toàn giao thông và an toàn đê điều, hình thành tuyến đường giao thông kết hợp trên mặt đê, đường hành lang chân đê, tăng khả năng kết nối đô thị - nông thôn và tạo thành các trục giao thông liên vùng kết nối với các tỉnh lân cận.

- Khai thác hiệu quả không gian đê điều cho các mục tiêu giao thông, cảnh quan, du lịch sinh thái. Đồng thời thường xuyên cập nhật, khớp nối đồng bộ hạ tầng giao thông với các trục phát triển đô thị lớn của Thành phố như dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, dự án Trục Cảnh quan sông Đáy, dự án Khu Đô thị thể thao Quốc tế Hà Nội và các đô thị ven đê khác theo quy hoạch.

III. GIẢI PHÁP, PHƯƠNG ÁN

1. Giải pháp đầu tư nâng cấp đê

- Tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư trung hạn giai đoạn 2021- 2025 (đối với các dự án chưa hoàn thành); lập kế hoạch đầu tư cải tạo, nâng cấp, chỉnh trang hệ thống đê điều giai đoạn 2026-2030.

- Đối với giai đoạn sau năm 2030: quan tâm đến giải pháp nâng cao chất lượng đê (gia cố thân đê, nền đê, lấp hồ ao, ruộng trũng ven đê) và giữ gìn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan (chỉnh trang đê, trồng cỏ kỹ thuật, trồng hoa mái đê) lồng ghép trong các dự án đầu tư hệ thống đê điều, dự án kết hợp giao thông, chỉnh trang đô thị; giải phóng mặt bằng, di dời nhà ở, công trình trong phạm vi bảo vệ đê; hiện đại hóa công tác quản lý đê điều (lắp đặt hệ thống camera giám sát, xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến…).

- Kế hoạch đầu tư xây dựng, chỉnh trang tuyến đê, quản lý sử dụng bãi sông Hồng khu vực đô thị trung tâm thực hiện trong dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng; đối với các tuyến sông và các khu vực khác, triển khai đồng bộ với Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.

2. Phương án kỹ thuật nâng cấp đê điều

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...