Kế hoạch 12848/KH-UBND năm 2026 phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2027
| Số hiệu | 12848/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 05/08/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 05/08/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Lâm Đồng |
| Người ký | Võ Ngọc Hiệp |
| Lĩnh vực | Doanh nghiệp |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 12848/KH-UBND |
Lâm Đồng, ngày 05 tháng 8 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2027
Thực hiện Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 - 2030 và Công văn số 9439/BTC-DNTN ngày 06/7/2026 của Bộ Tài chính về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã năm 2027, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã năm 2027 trên địa bàn tỉnh với những nội dung sau:
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2026
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2026
1. Đánh giá dựa trên các chỉ tiêu về hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã
a) Về số lượng, doanh thu và thu nhập của Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã
Ước đến hết năm 2026, toàn tỉnh có 1.601 Hợp tác xã (viết tắt là HTX); trong năm 2026, ước thành lập mới 130 HTX và dự kiến hoàn thiện thủ tục giải thể đối với 218 HTX. Doanh thu bình quân của một HTX ước đạt 2.420 triệu đồng/năm, tăng khoảng 15% so với năm 2025; lãi bình quân đạt 332 triệu đồng/năm.
Toàn tỉnh ước có 13 Liên hiệp Hợp tác xã (viết tắt là LHHTX), tăng 01 LHHTX so với năm 2025; trong đó có 04 LHHTX đang hoạt động. Các LHHTX tiếp tục thực hiện vai trò liên kết giữa các HTX thành viên, hỗ trợ tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.
Tổng số tổ hợp tác (viết tắt là THT) ước đạt 4.055 THT, tăng 23 THT so với năm 2025. Hoạt động của THT tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ tại cộng đồng, góp phần hỗ trợ các hộ thành viên liên kết sản xuất, chia sẻ kinh nghiệm và tiếp cận thị trường.
b) Về thành viên, lao động của THT, HTX, LHHTX
Tổng số thành viên HTX ước đạt 166.249 người. Tổng số lao động thường xuyên trong HTX ước đạt 19.320 người; thu nhập bình quân đạt 84 triệu đồng/người/năm, tăng 12% so với năm 2025.
c) Về trình độ cán bộ quản lý THT, HTX, LHHTX
Tổng số cán bộ quản lý HTX ước đạt 3.864 người; trong đó có 976 người đạt trình độ sơ cấp, trung cấp và 966 người đạt trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được quan tâm, tập trung vào quản trị HTX, tài chính, kế toán, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, liên kết chuỗi giá trị và chuyển đổi số.
2. Đánh giá theo lĩnh vực
a) Lĩnh vực nông nghiệp
Nông nghiệp tiếp tục là lĩnh vực chủ yếu của khu vực kinh tế tập thể (viết tắt là KTTT), HTX, với 1.229 HTX, chiếm khoảng 76,76% tổng số HTX toàn tỉnh. Các HTX tập trung hoạt động trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ tổng hợp, môi trường và nước sạch nông thôn; từng bước gắn hoạt động với vùng nguyên liệu, sản phẩm chủ lực, Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản tiếp tục được duy trì, mở rộng, với diện tích liên kết khoảng 85.000 ha và khoảng 47.590 hộ tham gia. Toàn tỉnh có 192 HTX nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị và 198 HTX ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ nông sản. Đến nay, toàn tỉnh có 936 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, trong đó có nhiều sản phẩm do HTX và thành viên HTX sản xuất.
b) Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng
Ước có 59 HTX hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng. Hoạt động chủ yếu là tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản, xây dựng và cung cấp dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống. Phần lớn HTX có quy mô nhỏ, năng lực tài chính, thiết bị và khả năng tham gia các hợp đồng, dự án có quy mô lớn còn hạn chế.
c) Lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm
Toàn tỉnh có 53 HTX thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, chủ yếu là quỹ tín dụng nhân dân; trong đó có 52 quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động bình thường và 01 quỹ đang trong quá trình xử lý pháp nhân. Các quỹ cơ bản phát huy vai trò huy động vốn, cho vay, hỗ trợ thành viên phát triển sản xuất, kinh doanh; góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, hạn chế tín dụng không chính thức tại địa bàn và bảo đảm an sinh xã hội.
d) Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và lĩnh vực khác
Toàn tỉnh có 260 HTX thuộc lĩnh vực thương mại - dịch vụ và lĩnh vực khác. Một số HTX đã chú trọng xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm đặc trưng, tham gia thương mại điện tử, dịch vụ vận tải, du lịch cộng đồng, dịch vụ môi trường và cung cấp các dịch vụ phục vụ thành viên. Tuy nhiên, phần lớn HTX còn có quy mô nhỏ; năng lực quản trị, khả năng phát triển thị trường và mức độ liên kết với doanh nghiệp còn hạn chế.
3. Đánh giá tác động của THT, HTX, LHHTX tới thành viên, kinh tế hộ thành viên
Các THT, HTX, LHHTX từng bước phát huy vai trò tập hợp hộ sản xuất, tổ chức cung ứng vật tư, giống, dịch vụ kỹ thuật, sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ thành viên giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng tiếp cận thị trường. Thông qua HTX, nhiều hộ thành viên được tiếp cận quy trình sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và các hình thức liên kết theo chuỗi giá trị. Khu vực kinh tế tập thể góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và củng cố liên kết cộng đồng.
Đối với Quỹ tín dụng nhân dân (viết tắt là QTDND), tổng nguồn vốn hoạt động đạt khoảng 17.234,82 tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay đạt 13.241,69 tỷ đồng; tổng thu nhập đạt 758,63 tỷ đồng và lợi nhuận đạt 124,06 tỷ đồng. Các QTDND có 110.867 thành viên, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhất là tại khu vực nông nghiệp, nông thôn và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 12848/KH-UBND |
Lâm Đồng, ngày 05 tháng 8 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2027
Thực hiện Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 - 2030 và Công văn số 9439/BTC-DNTN ngày 06/7/2026 của Bộ Tài chính về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã năm 2027, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã năm 2027 trên địa bàn tỉnh với những nội dung sau:
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2026
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2026
1. Đánh giá dựa trên các chỉ tiêu về hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã
a) Về số lượng, doanh thu và thu nhập của Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã
Ước đến hết năm 2026, toàn tỉnh có 1.601 Hợp tác xã (viết tắt là HTX); trong năm 2026, ước thành lập mới 130 HTX và dự kiến hoàn thiện thủ tục giải thể đối với 218 HTX. Doanh thu bình quân của một HTX ước đạt 2.420 triệu đồng/năm, tăng khoảng 15% so với năm 2025; lãi bình quân đạt 332 triệu đồng/năm.
Toàn tỉnh ước có 13 Liên hiệp Hợp tác xã (viết tắt là LHHTX), tăng 01 LHHTX so với năm 2025; trong đó có 04 LHHTX đang hoạt động. Các LHHTX tiếp tục thực hiện vai trò liên kết giữa các HTX thành viên, hỗ trợ tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.
Tổng số tổ hợp tác (viết tắt là THT) ước đạt 4.055 THT, tăng 23 THT so với năm 2025. Hoạt động của THT tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ tại cộng đồng, góp phần hỗ trợ các hộ thành viên liên kết sản xuất, chia sẻ kinh nghiệm và tiếp cận thị trường.
b) Về thành viên, lao động của THT, HTX, LHHTX
Tổng số thành viên HTX ước đạt 166.249 người. Tổng số lao động thường xuyên trong HTX ước đạt 19.320 người; thu nhập bình quân đạt 84 triệu đồng/người/năm, tăng 12% so với năm 2025.
c) Về trình độ cán bộ quản lý THT, HTX, LHHTX
Tổng số cán bộ quản lý HTX ước đạt 3.864 người; trong đó có 976 người đạt trình độ sơ cấp, trung cấp và 966 người đạt trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được quan tâm, tập trung vào quản trị HTX, tài chính, kế toán, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, liên kết chuỗi giá trị và chuyển đổi số.
2. Đánh giá theo lĩnh vực
a) Lĩnh vực nông nghiệp
Nông nghiệp tiếp tục là lĩnh vực chủ yếu của khu vực kinh tế tập thể (viết tắt là KTTT), HTX, với 1.229 HTX, chiếm khoảng 76,76% tổng số HTX toàn tỉnh. Các HTX tập trung hoạt động trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ tổng hợp, môi trường và nước sạch nông thôn; từng bước gắn hoạt động với vùng nguyên liệu, sản phẩm chủ lực, Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản tiếp tục được duy trì, mở rộng, với diện tích liên kết khoảng 85.000 ha và khoảng 47.590 hộ tham gia. Toàn tỉnh có 192 HTX nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị và 198 HTX ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ nông sản. Đến nay, toàn tỉnh có 936 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, trong đó có nhiều sản phẩm do HTX và thành viên HTX sản xuất.
b) Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng
Ước có 59 HTX hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng. Hoạt động chủ yếu là tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản, xây dựng và cung cấp dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống. Phần lớn HTX có quy mô nhỏ, năng lực tài chính, thiết bị và khả năng tham gia các hợp đồng, dự án có quy mô lớn còn hạn chế.
c) Lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm
Toàn tỉnh có 53 HTX thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, chủ yếu là quỹ tín dụng nhân dân; trong đó có 52 quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động bình thường và 01 quỹ đang trong quá trình xử lý pháp nhân. Các quỹ cơ bản phát huy vai trò huy động vốn, cho vay, hỗ trợ thành viên phát triển sản xuất, kinh doanh; góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, hạn chế tín dụng không chính thức tại địa bàn và bảo đảm an sinh xã hội.
d) Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và lĩnh vực khác
Toàn tỉnh có 260 HTX thuộc lĩnh vực thương mại - dịch vụ và lĩnh vực khác. Một số HTX đã chú trọng xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm đặc trưng, tham gia thương mại điện tử, dịch vụ vận tải, du lịch cộng đồng, dịch vụ môi trường và cung cấp các dịch vụ phục vụ thành viên. Tuy nhiên, phần lớn HTX còn có quy mô nhỏ; năng lực quản trị, khả năng phát triển thị trường và mức độ liên kết với doanh nghiệp còn hạn chế.
3. Đánh giá tác động của THT, HTX, LHHTX tới thành viên, kinh tế hộ thành viên
Các THT, HTX, LHHTX từng bước phát huy vai trò tập hợp hộ sản xuất, tổ chức cung ứng vật tư, giống, dịch vụ kỹ thuật, sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ thành viên giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng tiếp cận thị trường. Thông qua HTX, nhiều hộ thành viên được tiếp cận quy trình sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và các hình thức liên kết theo chuỗi giá trị. Khu vực kinh tế tập thể góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và củng cố liên kết cộng đồng.
Đối với Quỹ tín dụng nhân dân (viết tắt là QTDND), tổng nguồn vốn hoạt động đạt khoảng 17.234,82 tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay đạt 13.241,69 tỷ đồng; tổng thu nhập đạt 758,63 tỷ đồng và lợi nhuận đạt 124,06 tỷ đồng. Các QTDND có 110.867 thành viên, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhất là tại khu vực nông nghiệp, nông thôn và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân.
4. Tình hình liên kết và một số mô hình hoạt động hiệu quả theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao
Trong năm 2026, các THT, HTX và LHHTX tiếp tục mở rộng liên kết với doanh nghiệp, cơ sở chế biến, đơn vị cung ứng vật tư, tổ chức tín dụng và tổ chức khoa học, công nghệ trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động liên kết từng bước được tổ chức theo chuỗi giá trị, từ cung ứng vật tư đầu vào, hướng dẫn quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc đến sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và thu nhập của thành viên.
Ước đến hết năm 2026, các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì, mở rộng, với diện tích liên kết khoảng 85.000 ha và khoảng 47.590 hộ tham gia. Toàn tỉnh có 198 HTX ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ nông sản. Việc ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số được triển khai ở nhiều mức độ khác nhau như sử dụng nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tiết kiệm, tưới tự động, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc và quản lý vùng sản xuất.
Một số mô hình tiêu biểu hoạt động hiệu quả theo chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao gồm:
HTX Dịch vụ Nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến liên kết với khoảng 165 hộ nông dân trên diện tích gần 280 ha để sản xuất rau, củ, quả chất lượng cao. HTX tổ chức liên kết từ cung ứng giống, vật tư, hướng dẫn quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc đến thu mua, tiêu thụ sản phẩm; qua đó duy trì đầu ra tương đối ổn định và đạt doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm.
HTX Nông nghiệp Đạ M’ri xây dựng vùng nguyên liệu sầu riêng khoảng 375 ha đạt tiêu chuẩn VietGAP, sản lượng hằng năm khoảng 6.000 tấn; từng bước hình thành liên kết sản xuất, đóng gói và tiêu thụ, trong đó khoảng 75% sản lượng được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập của thành viên.
HTX Thanh long sạch Hòa Lệ tổ chức sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP trên diện tích khoảng 200 ha; liên kết với gần 10 doanh nghiệp để tiêu thụ khoảng 5.000 tấn sản phẩm mỗi năm. HTX đồng thời đầu tư chế biến sâu, phát triển các sản phẩm như rượu vang, nước cốt lên men, mứt và kẹo thanh long, trong đó có sản phẩm được chứng nhận OCOP 4 sao.
HTX Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Vườn Nhà Đà Lạt tập trung phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, có giá trị gia tăng như bí sợi mì, khoai tây tím, lơ san hô; gắn sản xuất với xây dựng thương hiệu, hoàn thiện chất lượng và phát triển sản phẩm OCOP. Doanh thu năm 2025 đạt khoảng 12 tỷ đồng; sản phẩm bí mì sợi được nâng hạng từ OCOP 3 sao lên OCOP 4 sao.
Bên cạnh các mô hình HTX đơn lẻ, việc hình thành và phát triển các LHHTX trong lĩnh vực nông nghiệp đã góp phần liên kết các HTX thành viên, mở rộng quy mô vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực đàm phán, kết nối thị trường và từng bước phát triển dịch vụ bảo quản, chế biến, logistics nông sản theo hướng chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, hoạt động liên kết vẫn còn một số hạn chế: quy mô sản xuất của nhiều HTX còn nhỏ; năng lực quản trị, tài chính và huy động nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu; tỷ lệ sản phẩm qua chế biến sâu còn thấp; hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics còn thiếu; liên kết giữa HTX với doanh nghiệp ở một số ngành hàng chưa ổn định, bền vững. Việc ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số chưa đồng đều, chủ yếu tập trung ở các HTX có điều kiện thuận lợi về vốn, nhân lực và thị trường.
II. KẾT QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KTTT, HTX
1. Kết quả thi hành pháp luật và các văn bản về KTTT, HTX
Các sở, ngành, địa phương tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn; hướng dẫn đăng ký, tổ chức quản trị, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, tiếp cận chính sách hỗ trợ và thực hiện chế độ thông tin, báo cáo. Công tác theo dõi tình hình hoạt động, hướng dẫn xử lý HTX ngừng hoạt động và tháo gỡ khó khăn được duy trì theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan.
2. Công tác quản lý nhà nước về KTTT, HTX
Công tác quản lý nhà nước về KTTT, HTX được thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan; việc đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi, theo dõi tình hình hoạt động và hướng dẫn thực hiện pháp luật được duy trì. Các cơ quan, địa phương tiếp tục rà soát, phân loại HTX, hướng dẫn củng cố đối với HTX hoạt động yếu và thực hiện thủ tục giải thể đối với HTX ngừng hoạt động theo quy định.
Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đặt ra yêu cầu kiện toàn đội ngũ cán bộ phụ trách KTTT tại cấp xã, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu và tăng cường phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, cơ quan chuyên ngành và địa phương trong quản lý, theo dõi hoạt động của THT, HTX, LHHTX.
3. Kết quả triển khai chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, HTX
Các sở, ngành, địa phương đã triển khai các nội dung hỗ trợ theo Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã và các chương trình, chính sách có liên quan. Kết quả chủ yếu như sau:
Về phát triển nguồn nhân lực và truyền thông: Triển khai 22 chương trình, lớp truyền thông với khoảng 1.100 lượt người tham gia. Nội dung tập trung vào phổ biến chính sách, pháp luật, nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, liên kết theo chuỗi giá trị và phát triển KTTT, HTX.
Về ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng sản phẩm: hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cho các HTX tại xã Đắk Mil và xã Thuận An; hỗ trợ 30 HTX áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt, trong đó có 11 HTX được hỗ trợ xây dựng, cấp chứng nhận sản xuất hữu cơ và 19 HTX được hỗ trợ xây dựng, cấp chứng nhận VietGAP. Đồng thời, triển khai các hoạt động hỗ trợ ứng dụng thương mại điện tử, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm trên môi trường số.
Về xúc tiến thương mại, khuyến công, xây dựng mô hình, đầu tư kết cấu hạ tầng và hỗ trợ khôi phục sản xuất khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh: các sở, ngành đã lồng ghép triển khai trong các chương trình, nhiệm vụ chuyên ngành; hỗ trợ HTX tiếp cận thông tin thị trường, tham gia hoạt động kết nối giao thương, ứng dụng máy móc, thiết bị, củng cố mô hình sản xuất và từng bước cải thiện điều kiện phục vụ sản xuất. Kết quả cụ thể tiếp tục được các cơ quan, đơn vị rà soát, tổng hợp theo phạm vi và nguồn kinh phí thực hiện.
Các chính sách hỗ trợ đã góp phần nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; mở rộng liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị; nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường của các HTX. Tuy nhiên, nguồn lực thực hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu; một số nội dung hỗ trợ chưa có hướng dẫn hoặc chưa đủ căn cứ để lập dự toán; thủ tục, điều kiện tiếp cận chính sách còn khó khăn. Hoạt động hỗ trợ chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp; kết quả hỗ trợ đối với HTX thuộc các lĩnh vực khác còn hạn chế và phần lớn được lồng ghép trong các chương trình chung của từng ngành.
4. Kết quả, tình hình thực hiện các chương trình, đề án
Các sở, ngành, địa phương đã lồng ghép nhiệm vụ hỗ trợ phát triển KTTT, HTX trong các chương trình, kế hoạch, đề án về cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, OCOP, khuyến công, xúc tiến thương mại, ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, phát triển vùng nguyên liệu và liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Việc lồng ghép góp phần huy động thêm nguồn lực, hỗ trợ HTX đầu tư thiết bị, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
5. Hợp tác quốc tế về KTTT
Trong năm 2026, Liên đoàn Hợp tác xã Raiffeisen Cộng hòa Liên bang Đức (DGRV) tiếp tục phối hợp, hỗ trợ Liên minh Hợp tác xã tỉnh triển khai 03 hoạt động, gồm 01 hội thảo quốc tế, 01 khóa tập huấn và 01 chương trình thực hành tập huấn. Hội thảo có 58 HTX tham dự; khóa tập huấn về chiến lược kinh doanh, marketing và định vị sản phẩm có 22 HTX tham gia; chương trình thực hành tập huấn có 41 đại biểu tham dự. Tổng giá trị hỗ trợ 406,524 triệu đồng, trong đó DGRV hỗ trợ 398,814 triệu đồng và kinh phí đối ứng của địa phương 7,710 triệu đồng.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Kết quả đạt được
Năm 2026, khu vực KTTT, HTX trên địa bàn tỉnh tiếp tục được củng cố, phát triển; số lượng HTX thành lập mới vượt kế hoạch đề ra. Hoạt động của các HTX từng bước gắn với nhu cầu của thành viên và yêu cầu thị trường; vai trò của HTX trong tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, liên kết hộ thành viên với doanh nghiệp, tạo việc làm và hỗ trợ nâng cao thu nhập tiếp tục được phát huy.
Các hình thức liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị tiếp tục được duy trì và mở rộng, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhiều HTX đã tham gia tổ chức vùng nguyên liệu, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; chú trọng sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm OCOP. Một số mô hình HTX hoạt động hiệu quả đã khẳng định vai trò đầu mối trong tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm của thành viên.
Hoạt động của các HTX trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, vận tải, môi trường và các lĩnh vực khác tiếp tục được duy trì. Hệ thống QTDND cơ bản hoạt động ổn định, phát huy vai trò huy động vốn, cung ứng tín dụng và dịch vụ tài chính cho thành viên, nhất là tại khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đào tạo, bồi dưỡng, tư vấn, xúc tiến thương mại, khuyến công, hỗ trợ ứng dụng khoa học, công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm được các sở, ngành, địa phương quan tâm triển khai. Các chính sách hỗ trợ bước đầu góp phần nâng cao năng lực quản trị, điều kiện sản xuất, khả năng liên kết và tiếp cận thị trường của HTX. Hoạt động hợp tác quốc tế tiếp tục hỗ trợ thiết thực cho việc nâng cao năng lực quản trị, xây dựng chiến lược kinh doanh, marketing, phát triển thương hiệu và chuyển đổi số.
Việc triển khai Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản hướng dẫn từng bước đi vào nền nếp. Công tác rà soát, phân loại tình trạng hoạt động, đăng ký, quản lý sau đăng ký, cập nhật dữ liệu và xử lý HTX ngừng hoạt động được quan tâm thực hiện. Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong quản lý nhà nước và hỗ trợ phát triển KTTT, HTX từng bước được tăng cường.
2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các HTX chưa đồng đều; số HTX ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng còn lớn. Đến hết năm 2025, toàn tỉnh còn 166 HTX ngừng hoạt động chưa hoàn thành thủ tục giải thể; việc rà soát, xử lý và giải thể còn kéo dài, ảnh hưởng đến chất lượng phát triển khu vực KTTT, HTX và hiệu quả quản lý nhà nước.
Phần lớn HTX có quy mô nhỏ, vốn điều lệ và khả năng tích lũy còn hạn chế; cơ sở vật chất, nhà kho, công trình sơ chế, chế biến, bảo quản và máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu. Khả năng huy động nguồn lực để mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm còn khó khăn.
Năng lực quản trị, quản lý tài chính, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển thị trường và chuyển đổi số của một bộ phận cán bộ HTX còn hạn chế. Nhiều HTX chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn, phương án kinh doanh có tính khả thi cao; thiếu nhân lực trẻ, có trình độ chuyên môn và khả năng tiếp cận phương thức quản trị hiện đại.
Liên kết giữa HTX với doanh nghiệp và các chủ thể khác tuy đã được mở rộng nhưng chưa thật sự ổn định, bền vững; một số liên kết còn mang tính thời vụ, chưa có cơ chế phân chia lợi ích và rủi ro phù hợp. Khả năng tiếp cận vốn tín dụng, đất đai, khoa học, công nghệ, thông tin thị trường và chính sách hỗ trợ của nhiều HTX còn hạn chế.
Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương mại điện tử chưa đồng đều. Tỷ lệ sản phẩm qua chế biến sâu còn thấp; hạ tầng phục vụ bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị.
b) Nguyên nhân
Nguồn lực thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, HTX còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Một số nội dung hỗ trợ chưa đủ căn cứ lập dự toán hoặc còn khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện; phần lớn hoạt động hỗ trợ phải lồng ghép trong các chương trình, kế hoạch của từng ngành nên phạm vi và số lượng HTX được thụ hưởng còn hạn chế.
Năng lực nội tại, tính chủ động và khả năng huy động nguồn lực của nhiều HTX còn yếu. Một số HTX chưa xây dựng được phương án sản xuất, kinh doanh khả thi; chưa chủ động đổi mới quản trị, ứng dụng khoa học, công nghệ, tìm kiếm thị trường và thiết lập quan hệ liên kết ổn định với doanh nghiệp.
Đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về KTTT, HTX tại cơ sở còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm; năng lực theo dõi, tổng hợp, hướng dẫn và hỗ trợ HTX chưa đồng đều. Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong cập nhật dữ liệu, rà soát, củng cố và xử lý HTX ngừng hoạt động chưa chặt chẽ, đồng bộ.
Biến động thị trường, giá vật tư, chi phí đầu vào, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là đối với HTX nông nghiệp. Yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thị trường tiêu thụ cũng tạo áp lực lớn đối với các HTX có quy mô nhỏ, năng lực tài chính và trình độ công nghệ còn hạn chế.
3. Bài học kinh nghiệm
Phát triển KTTT, HTX phải xuất phát từ nhu cầu hợp tác và lợi ích thực tế của thành viên; lấy chất lượng, hiệu quả hoạt động, khả năng cung cấp dịch vụ và thu nhập của thành viên làm thước đo. Việc thành lập mới HTX phải gắn với phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, nhu cầu thị trường và lợi thế của từng ngành, địa bàn.
Cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; tăng cường phối hợp, kiểm tra, giám sát và trao đổi thông tin trong quản lý, hỗ trợ phát triển KTTT, HTX. Khó khăn, vướng mắc của HTX phải được nắm bắt, hướng dẫn và xử lý kịp thời theo chức năng, thẩm quyền.
Chính sách hỗ trợ phải được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn đúng đối tượng và gắn với khả năng phát huy hiệu quả sau hỗ trợ; ưu tiên HTX có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tham gia chuỗi giá trị, phát triển vùng nguyên liệu, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường.
Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ quản lý HTX; khuyến khích thu hút nhân lực trẻ, có trình độ chuyên môn về làm việc tại HTX. Đồng thời, phát huy tính chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và khả năng huy động nguồn lực của HTX, hạn chế tư tưởng trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước.
Phải thường xuyên rà soát, cập nhật và chuẩn hóa dữ liệu về THT, HTX, LHHTX, bảo đảm thống nhất về phạm vi, thời điểm và tiêu chí thống kê; kịp thời củng cố HTX hoạt động yếu, hỗ trợ HTX có khả năng phục hồi và xử lý HTX ngừng hoạt động theo đúng quy định.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2027
I. MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
1. Kế hoạch phát triển KTTT, HTX năm 2027 phải phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Chiến lược phát triển KTTT, HTX giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình tổng thể về phát triển KTTT giai đoạn 2026 - 2030 và các chương trình, kế hoạch có liên quan.
2. Phát triển KTTT, HTX phải xuất phát từ nhu cầu chung thực tế của thành viên trên các lĩnh vực, địa bàn; tuân thủ các giá trị, nguyên tắc cơ bản của HTX; bảo đảm tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi.
3. Các chỉ tiêu phải khả thi, phù hợp kết quả thực hiện năm 2026 và mục tiêu dài hạn; đồng thời chú trọng các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, hiệu quả, thu nhập thành viên, năng lực quản trị, liên kết chuỗi, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
II. NỘI DUNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2027
1. Dự báo những thuận lợi, khó khăn
a) Thuận lợi
Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển KTTT, HTX tiếp tục được hoàn thiện. Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ và Chương trình tổng thể về phát triển KTTT giai đoạn 2026 - 2030 tạo cơ sở pháp lý quan trọng để củng cố, đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động và triển khai các chính sách hỗ trợ đối với THT, HTX, LHHTX.
Tỉnh Lâm Đồng có điều kiện tự nhiên, khí hậu và thổ nhưỡng đa dạng, thuận lợi phát triển nền nông nghiệp hàng hóa với nhiều vùng sản xuất tập trung và sản phẩm chủ lực có giá trị kinh tế cao như rau, hoa, cà phê, chè, cây ăn quả, mắc ca, sầu riêng và chăn nuôi bò sữa. Đây là lợi thế để phát triển HTX gắn với vùng nguyên liệu, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hữu cơ, sản phẩm OCOP, công nghiệp chế biến, du lịch nông nghiệp và liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị.
Nhiều HTX đã từng bước hình thành liên kết với doanh nghiệp, cơ sở chế biến và hệ thống phân phối; chú trọng áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Cùng với xu hướng tiêu dùng xanh, nhu cầu đối với sản phẩm an toàn, hữu cơ, có nguồn gốc rõ ràng và sự phát triển của thương mại điện tử, chuyển đổi số, các HTX có thêm điều kiện đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh, quảng bá sản phẩm và tiếp cận thị trường trong nước, xuất khẩu.
b) Khó khăn
Năng lực sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của nhiều HTX còn hạn chế; quy mô hoạt động nhỏ, nguồn vốn và khả năng tích lũy thấp, cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu. Năng lực quản trị, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường của một bộ phận cán bộ quản lý HTX chưa cao, dẫn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động chưa đồng đều.
Hoạt động liên doanh, liên kết giữa các HTX và giữa HTX với doanh nghiệp chưa chặt chẽ, bền vững; khả năng hình thành vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học, công nghệ và mở rộng thị trường tiêu thụ còn hạn chế. Một số HTX chưa phát huy đầy đủ vai trò cung cấp dịch vụ và hỗ trợ phát triển kinh tế hộ thành viên.
Công tác tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển KTTT, HTX tại một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn bất cập; đội ngũ cán bộ phụ trách còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm. Nhận thức của một bộ phận thành viên về quyền, nghĩa vụ và nguyên tắc hoạt động của HTX chưa đầy đủ; tinh thần chủ động, trách nhiệm và năng lực tổ chức thực hiện của một số cán bộ quản lý HTX còn hạn chế.
2. Định hướng chung về phát triển KTTT, HTX
Tiếp tục củng cố, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của khu vực KTTT, lấy HTX làm nòng cốt; phát triển HTX đa dạng về quy mô, lĩnh vực, phù hợp với nhu cầu của thành viên và lợi thế từng địa bàn. Ưu tiên phát triển HTX nông nghiệp gắn với vùng nguyên liệu, sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời khuyến khích phát triển HTX trong công nghiệp, chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch, vận tải và các lĩnh vực khác.
Khuyến khích người dân, hộ kinh doanh, tổ chức và doanh nghiệp tham gia, liên kết với HTX; lựa chọn, xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX hoạt động hiệu quả. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; chuẩn hóa dữ liệu, củng cố HTX hoạt động yếu, xử lý HTX ngừng hoạt động; triển khai chính sách hỗ trợ công khai, đúng đối tượng và gắn với hiệu quả thực tế.
3. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của khu vực KTTT, lấy HTX làm nòng cốt; nâng cao năng lực tự chủ, quản trị, huy động nguồn lực và sức cạnh tranh của HTX. Khuyến khích kết nạp thành viên mới, thu hút người dân, hộ kinh doanh, tổ chức, doanh nghiệp tham gia hoặc liên kết với HTX; tăng cường liên kết giữa các HTX và giữa HTX với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị.
Phát triển các mô hình KTTT, HTX hiệu quả, bền vững gắn với tiềm năng, lợi thế, vùng nguyên liệu và sản phẩm chủ lực của tỉnh; chú trọng HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, HTX gắn với sản phẩm OCOP, du lịch, dịch vụ và vùng đồng bào dân tộc thiểu số để xây dựng mô hình điển hình, tạo cơ sở nhân rộng. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu; triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của HTX và thành viên. Qua đó, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của thành viên, người lao động và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh.
4. Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đến hết năm 2027, toàn tỉnh có 1.731 HTX. Trong năm, phấn đấu thành lập mới 130 HTX, trong đó có khoảng trên 40 HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; rà soát, hướng dẫn, hỗ trợ thủ tục đối với các HTX giải thể theo quy định của pháp luật.
Duy trì, củng cố 13 LHHTX trên địa bàn tỉnh; tiếp tục rà soát, củng cố hoặc hướng dẫn xử lý các LHHTX ngừng hoạt động theo quy định.
Phát triển tổng số THT lên khoảng 4.075 THT, trong đó có khoảng 1.305 THT nông nghiệp và 2.770 THT phi nông nghiệp; tiếp tục rà soát, hướng dẫn THT thực hiện đăng ký hoạt động theo quy định.
Phấn đấu tổng số thành viên HTX đạt khoảng 166.899 người; tổng số lao động thường xuyên trong HTX đạt khoảng 19.970 người.
Tổng số cán bộ quản lý HTX đạt khoảng 4.059 người; trong đó có 1.026 người đạt trình độ sơ cấp, trung cấp và 996 người đạt trình độ cao đẳng, đại học trở lên.
Doanh thu bình quân của một HTX đạt khoảng 2.600 triệu đồng/năm; trong đó doanh thu bình quân của HTX với thành viên đạt khoảng 1.320 triệu đồng/năm. Lãi bình quân của một HTX đạt khoảng 354 triệu đồng/năm; thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong HTX đạt khoảng 90 triệu đồng/người/năm.
Phấn đấu có 192 HTX nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị và 250 HTX ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ nông sản; tiếp tục duy trì, mở rộng các chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, phát triển vùng nguyên liệu và sản phẩm OCOP.
Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của HTX; ưu tiên hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, ứng dụng khoa học, công nghệ, đầu tư máy móc, thiết bị, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường theo quy định.
5. Các giải pháp phát triển KTTT, HTX năm 2027
5.1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thi hành pháp luật
Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết số 20-NQ/TW, Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị định số 113/2024/NĐ-CP 12/9/2024 của Chính phủ, Chương trình tổng thể về phát triển KTTT giai đoạn 2026 - 2030 và các cơ chế, chính sách có liên quan; đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Hướng dẫn THT, HTX, LHHTX rà soát, kiện toàn tổ chức và hoạt động; sửa đổi, bổ sung điều lệ, hoàn thiện bộ máy quản trị, kiểm soát nội bộ, chế độ tài chính, kế toán, thông tin, báo cáo; thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động theo quy định.
5.2. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
Rà soát, hoàn thiện cơ chế phối hợp, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương trong quản lý, hỗ trợ phát triển KTTT, HTX; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, nhất là cán bộ trực tiếp theo dõi tại cơ sở.
Rà soát, chuẩn hóa và thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu về THT, HTX, LHHTX; phân loại rõ tình trạng đang hoạt động, tạm ngừng hoạt động, ngừng hoạt động, đang thực hiện thủ tục giải thể và đã giải thể; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, cơ quan chuyên ngành và địa phương.
Hướng dẫn củng cố đối với HTX còn khả năng phục hồi; xử lý HTX ngừng hoạt động theo đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật và thực hiện chính sách hỗ trợ; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh.
5.3. Củng cố, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức KTTT
Tư vấn, hỗ trợ thành lập mới THT, HTX, LHHTX trên cơ sở nhu cầu hợp tác thực tế, phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, sự tự nguyện và cam kết trách nhiệm của thành viên; bảo đảm hoạt động thực chất, hiệu quả, không chạy theo số lượng.
Tập trung củng cố HTX hoạt động trung bình, yếu; hỗ trợ hoàn thiện phương án sản xuất, kinh doanh, quản trị tài chính, kiểm soát nội bộ, phát triển thành viên và nâng cao chất lượng dịch vụ. Khuyến khích HTX tăng vốn góp, huy động nguồn lực hợp pháp, mở rộng quy mô và đa dạng hóa dịch vụ phục vụ thành viên.
Lựa chọn, hỗ trợ xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX hoạt động hiệu quả, phù hợp với lợi thế từng ngành, lĩnh vực và địa bàn; chú trọng HTX nông nghiệp gắn với vùng nguyên liệu, HTX ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp chế biến, thương mại - dịch vụ, du lịch cộng đồng, vận tải, môi trường và dịch vụ phục vụ đời sống.
5.4. Phát triển nguồn nhân lực
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản trị HTX, tài chính, kế toán, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, marketing, chuyển đổi số, tiêu chuẩn chất lượng và liên kết theo chuỗi giá trị cho cán bộ quản lý, thành viên HTX và cán bộ làm công tác quản lý nhà nước.
Khuyến khích, hỗ trợ lao động trẻ, người có trình độ chuyên môn về làm việc tại HTX theo quy định; tăng cường đào tạo gắn với mô hình thực tế, kết nối HTX với chuyên gia, cơ sở đào tạo, nghiên cứu và doanh nghiệp để nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất và phát triển thị trường.
5.5. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Hỗ trợ HTX ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản trị, tài chính, kế toán, tổ chức sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến, truy xuất nguồn gốc, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm; ưu tiên công nghệ tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hỗ trợ xây dựng, áp dụng và chứng nhận các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ và hệ thống quản lý chất lượng phù hợp; đăng ký mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Tăng cường xác lập, quản lý, khai thác và phát triển quyền sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và thương hiệu sản phẩm của HTX.
5.6. Phát triển liên kết sản xuất, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường
Thúc đẩy liên kết giữa HTX với thành viên, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở chế biến, đơn vị cung ứng vật tư và hệ thống phân phối; hỗ trợ xây dựng, triển khai dự án, kế hoạch liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị.
Hỗ trợ HTX tham gia hội chợ, triển lãm, hội nghị kết nối cung cầu, xúc tiến thương mại trong và ngoài tỉnh; phát triển bao bì, nhãn hiệu, thương hiệu, kênh phân phối, sàn thương mại điện tử và nền tảng số để quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm.
Tăng cường cung cấp thông tin, dự báo thị trường; hướng dẫn HTX đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và rào cản kỹ thuật của thị trường trong nước, xuất khẩu; chủ động phòng ngừa rủi ro trong liên kết và tiêu thụ sản phẩm.
5.7. Hỗ trợ tiếp cận vốn, đất đai và đầu tư kết cấu hạ tầng
Triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, HTX theo quy định; lồng ghép hiệu quả nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, đề án, dự án và các nguồn vốn hợp pháp khác, bảo đảm đúng mục tiêu, đối tượng và nội dung hỗ trợ.
Tạo điều kiện để HTX tiếp cận tín dụng trên cơ sở phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, minh bạch về tài chính và có khả năng trả nợ; nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX. Tiếp tục củng cố hệ thống QTDND, bảo đảm hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả và đúng quy định.
Rà soát nhu cầu, hướng dẫn HTX thực hiện thủ tục về đất đai; ưu tiên hỗ trợ đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu, kho, cơ sở sơ chế, chế biến, bảo quản, logistics và máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất đối với HTX đáp ứng điều kiện, có phương án sử dụng hiệu quả và khả năng duy trì hoạt động sau hỗ trợ.
5.8. Phát huy vai trò của Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và hợp tác quốc tế
Phát huy vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức KTTT và thành viên; tăng cường tư vấn thành lập, củng cố tổ chức, quản trị, đào tạo, tiếp cận vốn, ứng dụng khoa học, công nghệ và kết nối thị trường cho HTX.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, người dân, hộ kinh doanh và tổ chức tham gia phát triển KTTT, HTX; xây dựng mô hình phù hợp với phụ nữ, thanh niên, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, ngành nghề và điều kiện của từng địa bàn.
Tiếp tục mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và các địa phương có khu vực KTTT, HTX phát triển để trao đổi kinh nghiệm, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực quản trị, phát triển thị trường và nhân rộng mô hình hoạt động hiệu quả.
6. Nguồn vốn thực hiện
Kinh phí thực hiện Kế hoạch được bố trí từ nguồn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương theo phân cấp và khả năng cân đối ngân sách; nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, đề án, dự án có liên quan; vốn tín dụng, vốn của các tổ chức KTTT và các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định.
Nhu cầu kinh phí hỗ trợ bước đầu trong lĩnh vực nông nghiệp năm 2027 là 16.350 triệu đồng, gồm 10.250 triệu đồng từ ngân sách trung ương và 6.100 triệu đồng từ ngân sách địa phương; trong đó, nhu cầu vốn đầu tư phát triển là 5.000 triệu đồng. Việc bố trí kinh phí thực hiện căn cứ nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền phê duyệt, khả năng cân đối ngân sách và quy định của pháp luật.
Đối với vốn đầu tư công, việc bố trí, quản lý và sử dụng vốn thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp tác xã, đầu tư công, Nghị quyết số 70/2025/UBTVQH15 và các quy định có liên quan. Đối với kinh phí chi thường xuyên, các nhiệm vụ đã có đầy đủ căn cứ, tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi được tổng hợp vào dự toán ngân sách nhà nước theo quy định; các nội dung chưa đủ căn cứ lập dự toán chỉ thực hiện sau khi cơ quan có thẩm quyền ban hành hướng dẫn.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Tài chính
a) Chủ trì theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình và kết quả thực hiện Kế hoạch; phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí thực hiện theo khả năng cân đối ngân sách, phân cấp ngân sách và quy định của pháp luật.
b) Phối hợp rà soát, đề xuất cơ chế, chính sách và giải pháp huy động, lồng ghép các nguồn lực hỗ trợ phát triển KTTT, HTX; tổng hợp khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong quá trình thực hiện, báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo.
c) Định kỳ tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch gửi Bộ Tài chính theo quy định.
2. Liên minh Hợp tác xã tỉnh
a) Phát huy vai trò nòng cốt trong phát triển KTTT, HTX; tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tư vấn thành lập mới, củng cố, kiện toàn tổ chức và phát triển thành viên; hỗ trợ HTX hoàn thiện phương án sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát nội bộ và chất lượng hoạt động.
b) Chủ trì, phối hợp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, thành viên HTX; tư vấn tiếp cận vốn, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; xây dựng, nhân rộng mô hình HTX hoạt động hiệu quả; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, quảng bá, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm.
c) Theo dõi, rà soát, tổng hợp tình hình hoạt động, nhu cầu hỗ trợ, khó khăn, vướng mắc của THT, HTX, LHHTX; phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương chuẩn hóa số liệu, đánh giá, phân loại HTX và đề xuất giải pháp hỗ trợ. Thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX theo quy định; tiếp tục mở rộng hợp tác với các tổ chức trong nước, quốc tế để trao đổi kinh nghiệm, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực cho khu vực KTTT, HTX.
3. Sở Nông nghiệp và Môi trường
a) Chủ trì triển khai các nhiệm vụ phát triển HTX nông nghiệp gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, vùng nguyên liệu, sản phẩm chủ lực và Chương trình OCOP; thúc đẩy liên kết giữa HTX với doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất, sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị.
b) Hỗ trợ HTX áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Triển khai các nội dung hỗ trợ đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến; hỗ trợ vốn, giống để khôi phục sản xuất khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh theo quy định.
c) Rà soát, hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn về đất đai đối với các tổ chức KTTT theo chức năng, nhiệm vụ; theo dõi, tổng hợp, đánh giá và cung cấp đầy đủ số liệu về KTTT, HTX trong lĩnh vực nông nghiệp.
4. Sở Công Thương
a) Xây dựng và triển khai các chương trình khuyến công, trong đó quan tâm hỗ trợ HTX ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp chế biến và nâng cao năng lực sản xuất.
b) Chủ trì hỗ trợ HTX tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ, triển lãm, kết nối cung cầu, phát triển thị trường, thương mại điện tử và các kênh phân phối; cung cấp thông tin thị trường, quy định về phòng vệ thương mại và rào cản kỹ thuật, tạo điều kiện để HTX quảng bá, tiêu thụ sản phẩm và mở rộng thị trường trong nước, xuất khẩu.
5. Sở Khoa học và Công nghệ
a) Chủ trì triển khai các nhiệm vụ hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong quản trị, sản xuất, kinh doanh của các tổ chức KTTT.
b) Hướng dẫn, hỗ trợ HTX áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc; xác lập, quản lý, khai thác và phát triển quyền sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và thương hiệu sản phẩm. Ưu tiên hỗ trợ các mô hình ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao giá trị sản phẩm.
6. Sở Xây dựng
a) Chủ trì thực hiện quản lý nhà nước đối với HTX hoạt động trong lĩnh vực vận tải và các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý; hướng dẫn HTX chấp hành quy định về điều kiện kinh doanh, an toàn kỹ thuật, chất lượng dịch vụ và tổ chức hoạt động phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành.
b) Phối hợp hỗ trợ củng cố, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số đối với các HTX vận tải; tổng hợp tình hình hoạt động, khó khăn, vướng mắc và nhu cầu hỗ trợ của HTX thuộc lĩnh vực quản lý.
7. Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 10
a) Tiếp tục triển khai các chính sách tín dụng có liên quan đến khu vực KTTT, HTX; chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tạo điều kiện để HTX tiếp cận vốn trên cơ sở đáp ứng điều kiện vay vốn và có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi.
b) Tăng cường quản lý, thanh tra, giám sát, củng cố hệ thống QTDND hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả và đúng quy định; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, điều hành và quản trị rủi ro. Theo dõi, tổng hợp tình hình hoạt động của QTDND và khả năng tiếp cận tín dụng của HTX trên địa bàn tỉnh.
8. Thuế tỉnh Lâm Đồng
a) Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các chính sách thuế, phí, lệ phí và các chính sách miễn, giảm, gia hạn có liên quan đến THT, HTX, LHHTX; hỗ trợ hướng dẫn các tổ chức KTTT thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế, sử dụng hóa đơn và chấp hành nghĩa vụ tài chính theo quy định.
b) Phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh, chính quyền địa phương và công an xã, phường triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” theo Quyết định số 595/QĐ-CT ngày 08/5/2026 của Cục trưởng Cục Thuế và Văn bản số 9409/BTC-CT của Bộ Tài chính đối với HTX ngừng hoạt động, chờ giải thể, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; cung cấp, đối chiếu thông tin phục vụ rà soát, phân loại, cập nhật dữ liệu về HTX, LHHTX và xử lý các trường hợp giải thể, chấm dứt hoạt động theo quy định tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ.
9. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội
a) Tăng cường tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, người dân, hộ kinh doanh và tổ chức tham gia phát triển KTTT, HTX; phối hợp xây dựng, củng cố và nhân rộng các mô hình phù hợp với phụ nữ, thanh niên, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số và điều kiện của từng địa bàn.
b) Tham gia giám sát việc thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, HTX; kịp thời phản ánh nhu cầu, khó khăn, vướng mắc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên, người lao động trong các tổ chức KTTT.
10. Các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị có liên quan
a) Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động lồng ghép và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Kế hoạch; tạo điều kiện để các tổ chức KTTT tham gia các chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội thuộc ngành, lĩnh vực quản lý.
b) Phối hợp rà soát nhu cầu, triển khai chính sách hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp và chuẩn hóa số liệu; kịp thời hướng dẫn, giải quyết hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết khó khăn, vướng mắc của THT, HTX, LHHTX.
11. UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý
a) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về KTTT, HTX; rà soát, cập nhật, quản lý tình hình THT, HTX, LHHTX trên địa bàn; hướng dẫn thành lập mới trên cơ sở nhu cầu hợp tác thực tế, phương án sản xuất, kinh doanh khả thi và sự tự nguyện của thành viên.
b) Theo dõi, đánh giá, phân loại HTX; hỗ trợ củng cố HTX hoạt động trung bình, yếu; rà soát, xử lý HTX ngừng hoạt động, không còn khả năng củng cố theo quy định. Xác định nhu cầu hỗ trợ, lồng ghép nguồn lực và tạo điều kiện để HTX tiếp cận đất đai, tín dụng, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại và tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
12. Chế độ thông tin, báo cáo
Các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch hàng quý, trước ngày 20 của tháng cuối quý và báo cáo năm trước ngày 05/12/2027, gửi Sở Tài chính, đồng gửi Liên minh Hợp tác xã tỉnh để phối hợp rà soát, tổng hợp.
Trên đây là Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2027, yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, địa phương kịp thời báo cáo Sở Tài chính để tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh xem xét, quyết định./.
|
|
KT. CHỦ TỊCH |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh