Kế hoạch 12/KH-UBND năm 2026 thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU và Kết luận 05-KL/TU sửa đổi Nghị quyết 02-NQ/TU gắn với thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng không ma túy đến hết năm 2030
| Số hiệu | 12/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 14/01/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 14/01/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Đà Nẵng |
| Người ký | Trần Anh Tuấn |
| Lĩnh vực | Văn hóa - Xã hội |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 12/KH-UBND |
Đà Nẵng, ngày 14 tháng 01 năm 2026 |
Những năm qua, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn thành phố đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, huy động được đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân tích cực tham gia công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy, qua đó đã đạt nhiều kết quả tích cực; công tác phòng ngừa được chú trọng với nhiều nội dung, hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng; công tác đấu tranh tội phạm, tệ nạn ma túy được triển khai quyết liệt, triệt phá nhiều đường dây, điểm, tụ điểm phức tạp về ma túy; công tác cai nghiện, quản lý sau cai được quan tâm; hoạt động hợp tác phòng, chống ma túy được tăng cường, góp phần tích cực bảo đảm an ninh, trật tự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại của thành phố.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm, tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố còn diễn biến phức tạp; phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, triệt để lợi dụng không gian mạng để hoạt động. Công tác nắm tình hình, quản lý địa bàn, đối tượng có lúc, có nơi chưa chặt chẽ; công tác đấu tranh triệt xóa “nguồn cung” về ma túy chưa triệt để, đối tượng mua bán trái phép chất ma túy (TPCMT) ngày càng tinh vi, lợi dụng không gian mạng để hoạt động phạm tội và móc nối với các đối tượng ngoại tỉnh, thậm chí từ Lào đưa về thành phố Đà Nẵng; “nguồn cầu” về ma túy vẫn còn ở mức cao, các đối tượng sử dụng TPCMT và người nghiện điều trị bằng Methadone ngoài xã hội chưa được quản lý chặt chẽ, số đối tượng sót, lọt chưa đưa vào diện quản lý vẫn còn nhiều; công tác quản lý nhà nước về cư trú, quản lý người nước ngoài và quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện về ANTT còn những sở hở, thiếu sót để các đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội, vi phạm pháp luật về ma túy. Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự quyết liệt trong lãnh, chỉ đạo, dẫn đến chưa huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng, chống ma túy. Nguồn lực cho công tác phòng, chống ma túy còn hạn chế.
Dự báo tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố thời gian tới tiếp tục diễn biến phức tạp; cùng với xu hướng sử dụng ma túy tổng hợp và các loại ma túy mới có độc tính cao ngày càng nhiều dẫn đến nguy cơ gia tăng, khó kiểm soát số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy, gây hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe, giống nòi, chất lượng lao động; làm gia tăng các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Để triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 31/10/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong tình hình mới và Kết luận số 05-KL/TU ngày 31/12/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 31/10/2025, trong đó xác định tập trung thực hiện thành công mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng không ma túy đến hết năm 2030 và giữ vững kết quả trong những năm tiếp theo, gắn với tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Kết luận số 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 16/4/2025 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy, UBND thành phố ban hành kế hoạch triển khai thực hiện như sau:
1. Quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU của Ban Thường vụ Thành ủy và các văn bản chỉ đạo của Trung ương về công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy nói chung và xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy nói riêng; trong đó, tập trung tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền từ thành phố đến cơ sở; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và Nhân dân; phát huy vai trò nòng cốt của các lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy và huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc.
2. Tập trung lực lượng, triển khai đồng bộ các giải pháp; lấy phòng ngừa là chính, tích cực đấu tranh ngăn chặn ma túy từ xa, từ sớm là quan trọng để giải quyết tổng thể cả về giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại của ma túy, nhằm ổn định tình hình an ninh, trật tự, góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
3. Việc thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU của Ban Thường vụ Thành ủy và các văn bản chỉ đạo của Trung ương về công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy phải được xác định là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục, lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ, quyết liệt, quyết tâm rất cao và có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội; quá trình thực hiện phải đảm bảo nghiêm túc, hiệu quả, tiết kiệm, khoa học, đúng quy định, đúng tiến độ, không hình thức.
II. MỤC TIÊU XÂY DỰNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG KHÔNG MA TÚY ĐẾN HẾT NĂM 2030
1. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy, đảm bảo mục tiêu hết năm 2030 phải xây dựng thành công 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy và giữ vững kết quả thành phố không ma túy trong những năm tiếp theo, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.
2. Phát hiện, thống kê và lập hồ sơ quản lý chặt 100% người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy và người bị quản lý sau cai nghiện ma túy.
3. Phát hiện, đấu tranh xử lý triệt để “nguồn cung” về ma túy, không để trở thành địa bàn trung chuyển ma túy của khu vực và các nước; đấu tranh, giải quyết 100% đường dây, điểm tổ chức, chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy và 100% các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy; không để hình thành, tái phức tạp các điểm, đường dây đã giải quyết.
4. Triệt xóa 100% diện tích trồng cây có chứa chất ma túy và phòng ngừa, không để trồng và tái trồng cây có chứa chất ma túy.
5. Kiểm soát và quản lý chặt chẽ 100% các loại tiền chất ma túy, chất gây nghiện, chất hướng thần.
6. Nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện, quản lý sau cai, làm giảm và tiến tới không để phát sinh người nghiện ma túy mới và hạn chế tình trạng tái nghiện ma túy sau cai nghiện ma túy.
III. PHẠM VI, LỘ TRÌNH XÂY DỰNG XÃ, PHƯỜNG, ĐẶC KHU KHÔNG MA TÚY ĐẾN NĂM 2030
a) Năm 2026: Phấn đấu xây dựng ít nhất 40% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (38/94 xã, phường, đặc thù), trong đó:
- Tập trung xây dựng 13 xã, phường không ma túy, gồm: Đông Giang, Nông Sơn, Trà Tân, Phước Thành, Phú Thuận, Nam Trà My, Tam Hải, Trà Liên, Thạnh Mỹ, Hội An Đông, Hiệp Đức, Thu Bồn, Hải Châu.
- Tiếp tục giữ vững 25 xã, đặc khu đạt tiêu chí không ma túy trong năm 2025, gồm: Phước Năng, Đức Phú, Phước Trà, Trà Đốc, Tây Giang, Trà Leng, Sông Vàng, Sông Kôn, Hùng Sơn, Trà Linh, Quế Phước, Bến Giằng, Trà Giáp, Phước Hiệp, Phước Chánh, Nam Giang, Bến Hiên, Tân Hiệp, La Dêê, La Êê, Đắc Pring, Trà Vân, Trà Tập, Avương, Đặc khu Hoàng Sa.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy để đảm bảo thực hiện đạt, vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
b) Năm 2027: Phấn đấu xây dựng ít nhất 55% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (52/94 xã, phường, đặc khu), trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường không ma túy, gồm: Duy Xuyên, Hòa Tiến, Xuân Phú, Lãnh Ngọc, Hòa Vang, Thăng Phú, Trà My, Hội An, Thượng Đức, Tam Mỹ, Duy Nghĩa, Gò Nổi, Nam Phước, Điện Bàn Tây.
- Tiếp tục giữ vững 38 xã, phường, đặc khu đạt tiêu chí không ma túy trong năm 2026.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy để đảm bảo thực hiện đạt, vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
c) Năm 2028: Phấn đấu xây dựng ít nhất 70% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (66/94 xã, phường, đặc khu), trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường không ma túy, gồm: Vu Gia, Thăng Điền, Quảng Phú, Bà Nà, Thăng Trường, Hà Nha, Thăng An, Khâm Đức, Điện Bàn Bắc, Quế Sơn Trung, Bàn Thạch, Việt An, Chiến Đàn, Đại Lộc.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 12/KH-UBND |
Đà Nẵng, ngày 14 tháng 01 năm 2026 |
Những năm qua, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn thành phố đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, huy động được đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân tích cực tham gia công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy, qua đó đã đạt nhiều kết quả tích cực; công tác phòng ngừa được chú trọng với nhiều nội dung, hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng; công tác đấu tranh tội phạm, tệ nạn ma túy được triển khai quyết liệt, triệt phá nhiều đường dây, điểm, tụ điểm phức tạp về ma túy; công tác cai nghiện, quản lý sau cai được quan tâm; hoạt động hợp tác phòng, chống ma túy được tăng cường, góp phần tích cực bảo đảm an ninh, trật tự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại của thành phố.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm, tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố còn diễn biến phức tạp; phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, triệt để lợi dụng không gian mạng để hoạt động. Công tác nắm tình hình, quản lý địa bàn, đối tượng có lúc, có nơi chưa chặt chẽ; công tác đấu tranh triệt xóa “nguồn cung” về ma túy chưa triệt để, đối tượng mua bán trái phép chất ma túy (TPCMT) ngày càng tinh vi, lợi dụng không gian mạng để hoạt động phạm tội và móc nối với các đối tượng ngoại tỉnh, thậm chí từ Lào đưa về thành phố Đà Nẵng; “nguồn cầu” về ma túy vẫn còn ở mức cao, các đối tượng sử dụng TPCMT và người nghiện điều trị bằng Methadone ngoài xã hội chưa được quản lý chặt chẽ, số đối tượng sót, lọt chưa đưa vào diện quản lý vẫn còn nhiều; công tác quản lý nhà nước về cư trú, quản lý người nước ngoài và quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện về ANTT còn những sở hở, thiếu sót để các đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội, vi phạm pháp luật về ma túy. Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự quyết liệt trong lãnh, chỉ đạo, dẫn đến chưa huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng, chống ma túy. Nguồn lực cho công tác phòng, chống ma túy còn hạn chế.
Dự báo tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố thời gian tới tiếp tục diễn biến phức tạp; cùng với xu hướng sử dụng ma túy tổng hợp và các loại ma túy mới có độc tính cao ngày càng nhiều dẫn đến nguy cơ gia tăng, khó kiểm soát số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy, gây hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe, giống nòi, chất lượng lao động; làm gia tăng các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Để triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 31/10/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong tình hình mới và Kết luận số 05-KL/TU ngày 31/12/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 31/10/2025, trong đó xác định tập trung thực hiện thành công mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng không ma túy đến hết năm 2030 và giữ vững kết quả trong những năm tiếp theo, gắn với tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Kết luận số 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 16/4/2025 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy, UBND thành phố ban hành kế hoạch triển khai thực hiện như sau:
1. Quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU của Ban Thường vụ Thành ủy và các văn bản chỉ đạo của Trung ương về công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy nói chung và xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy nói riêng; trong đó, tập trung tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền từ thành phố đến cơ sở; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và Nhân dân; phát huy vai trò nòng cốt của các lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy và huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc.
2. Tập trung lực lượng, triển khai đồng bộ các giải pháp; lấy phòng ngừa là chính, tích cực đấu tranh ngăn chặn ma túy từ xa, từ sớm là quan trọng để giải quyết tổng thể cả về giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại của ma túy, nhằm ổn định tình hình an ninh, trật tự, góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
3. Việc thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU của Ban Thường vụ Thành ủy và các văn bản chỉ đạo của Trung ương về công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy phải được xác định là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục, lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ, quyết liệt, quyết tâm rất cao và có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội; quá trình thực hiện phải đảm bảo nghiêm túc, hiệu quả, tiết kiệm, khoa học, đúng quy định, đúng tiến độ, không hình thức.
II. MỤC TIÊU XÂY DỰNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG KHÔNG MA TÚY ĐẾN HẾT NĂM 2030
1. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy, đảm bảo mục tiêu hết năm 2030 phải xây dựng thành công 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy và giữ vững kết quả thành phố không ma túy trong những năm tiếp theo, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.
2. Phát hiện, thống kê và lập hồ sơ quản lý chặt 100% người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy và người bị quản lý sau cai nghiện ma túy.
3. Phát hiện, đấu tranh xử lý triệt để “nguồn cung” về ma túy, không để trở thành địa bàn trung chuyển ma túy của khu vực và các nước; đấu tranh, giải quyết 100% đường dây, điểm tổ chức, chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy và 100% các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy; không để hình thành, tái phức tạp các điểm, đường dây đã giải quyết.
4. Triệt xóa 100% diện tích trồng cây có chứa chất ma túy và phòng ngừa, không để trồng và tái trồng cây có chứa chất ma túy.
5. Kiểm soát và quản lý chặt chẽ 100% các loại tiền chất ma túy, chất gây nghiện, chất hướng thần.
6. Nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện, quản lý sau cai, làm giảm và tiến tới không để phát sinh người nghiện ma túy mới và hạn chế tình trạng tái nghiện ma túy sau cai nghiện ma túy.
III. PHẠM VI, LỘ TRÌNH XÂY DỰNG XÃ, PHƯỜNG, ĐẶC KHU KHÔNG MA TÚY ĐẾN NĂM 2030
a) Năm 2026: Phấn đấu xây dựng ít nhất 40% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (38/94 xã, phường, đặc thù), trong đó:
- Tập trung xây dựng 13 xã, phường không ma túy, gồm: Đông Giang, Nông Sơn, Trà Tân, Phước Thành, Phú Thuận, Nam Trà My, Tam Hải, Trà Liên, Thạnh Mỹ, Hội An Đông, Hiệp Đức, Thu Bồn, Hải Châu.
- Tiếp tục giữ vững 25 xã, đặc khu đạt tiêu chí không ma túy trong năm 2025, gồm: Phước Năng, Đức Phú, Phước Trà, Trà Đốc, Tây Giang, Trà Leng, Sông Vàng, Sông Kôn, Hùng Sơn, Trà Linh, Quế Phước, Bến Giằng, Trà Giáp, Phước Hiệp, Phước Chánh, Nam Giang, Bến Hiên, Tân Hiệp, La Dêê, La Êê, Đắc Pring, Trà Vân, Trà Tập, Avương, Đặc khu Hoàng Sa.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy để đảm bảo thực hiện đạt, vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
b) Năm 2027: Phấn đấu xây dựng ít nhất 55% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (52/94 xã, phường, đặc khu), trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường không ma túy, gồm: Duy Xuyên, Hòa Tiến, Xuân Phú, Lãnh Ngọc, Hòa Vang, Thăng Phú, Trà My, Hội An, Thượng Đức, Tam Mỹ, Duy Nghĩa, Gò Nổi, Nam Phước, Điện Bàn Tây.
- Tiếp tục giữ vững 38 xã, phường, đặc khu đạt tiêu chí không ma túy trong năm 2026.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy để đảm bảo thực hiện đạt, vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
c) Năm 2028: Phấn đấu xây dựng ít nhất 70% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (66/94 xã, phường, đặc khu), trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường không ma túy, gồm: Vu Gia, Thăng Điền, Quảng Phú, Bà Nà, Thăng Trường, Hà Nha, Thăng An, Khâm Đức, Điện Bàn Bắc, Quế Sơn Trung, Bàn Thạch, Việt An, Chiến Đàn, Đại Lộc.
- Tiếp tục giữ vững 52 xã, phường, đặc khu đạt tiêu chí không ma túy trong năm 2027.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy đảm bảo thực hiện đạt, vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
d) Năm 2029: Phấn đấu xây dựng ít nhất 85% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (80/94 xã, phường, đặc khu); trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường không ma túy, gồm: Thăng Bình, Tam Xuân, An Thắng, Quế Sơn, Đồng Dương, Tây Hồ, Hòa Xuân, Hải Vân, Sơn Cẩm Hà, Hòa Cường, Điện Bàn, Hội An Tây, Tam Anh, Phú Ninh.
- Tiếp tục giữ vững 66 xã, phường, đặc khu đạt tiêu chí không ma túy trong năm 2028.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy đảm bảo thực hiện đạt, vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
e) Năm 2030: Phấn đấu xây dựng 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (94 xã, phường, đặc khu), trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường còn lại không ma túy, gồm: An Khê, Liên Chiểu, An Hải, Cẩm Lệ, Tiên Phước, Núi Thành, Hương Trà, Ngũ Hành Sơn, Điện Bàn Đông, Tam Kỳ, Thạnh Bình, Hòa Khánh, Sơn Trà, Thanh Khê.
- Tiếp tục giữ vững 80 xã, phường, đặc khu đạt tiêu chí không ma túy trong năm 2029.
2. Lưu ý: Trường hợp xã, phường đã được công nhận là địa bàn không ma túy hoặc những xã, phường được lựa chọn trong năm nhưng thực hiện không đảm bảo các tiêu chí xác định địa bàn không ma túy, để phát sinh tội phạm và tệ nạn ma túy thì phải tiếp tục xây dựng kế hoạch thực hiện chuyển hóa thành công trong năm liền kề tiếp theo.
IV. NỘI DUNG VÀ PHÂN CÔNG THỰC HIỆN
a) Nội dung thực hiện:
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương từ thành phố đến cơ sở, đặc biệt là người đứng đầu phải nêu cao vai trò, trách nhiệm và tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả những nội dung yêu cầu, mục tiêu của Nghị quyết 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU, Nghị quyết số 93/NQ-CP và Kết luận số 132-KL/TW; gắn với triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia PCMT đến năm 2030 và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, chuyển đổi mục đích cây trồng, đào tạo việc làm, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí và sự tham gia tích cực của Nhân dân trong phòng ngừa, tố giác, đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy.
- Hằng năm, từng đơn vị, địa phương phải ban hành chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp và xây dựng đơn vị, địa phương đạt tiêu chí không ma túy theo lộ trình đề ra, đảm bảo đến hết năm 2030 đạt 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố không ma túy. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, các ngành phải chịu trách nhiệm về tình hình ma túy tại địa phương, cơ quan, đơn vị được giao phụ trách; lấy hiệu quả công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn được giao phụ trách là một tiêu chí đánh giá, xếp loại cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị, địa phương hằng năm; kiên quyết xây dựng văn hóa bài trừ ma túy trong cơ quan, đơn vị và toàn xã hội; tăng cường tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong phòng, chống ma túy; định kỳ hằng tháng hoặc hằng quý nghe báo cáo và cho ý kiến cụ thể về thực hiện nhiệm vụ phòng, chống ma túy; thường xuyên tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nảy sinh.
- Tham mưu triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Luật PCMT sửa đổi, bổ sung của Quốc hội và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính phủ. Tham mưu triển khai các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài, quản lý cơ sở ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT dễ bị tội phạm ma túy lợi dụng hoạt động phạm tội. Bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy và đội ngũ cán bộ chuyên trách, trực tiếp tham gia PCMT, đặc biệt là cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.
b) Phân công thực hiện:
- Công an thành phố chủ trì, đồng thời tham mưu thực hiện; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU, các văn bản chỉ đạo của UBND thành phố về công tác PCMT và mục tiêu chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp, xây dựng địa bàn không ma túy.
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể chủ trì tham mưu quán triệt, triển khai công tác phòng, chống ma túy tại đơn vị mình theo phân công theo Nghị quyết 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU và các văn bản chỉ đạo của các cấp, các ngành.
- UBND các xã, phường, đặc khu chủ trì chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể và phát động phong trào toàn dân tham gia công tác PCMT và thực hiện mục tiêu xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy theo lộ trình, mục tiêu đề ra.
2. Thực hiện tốt công tác truyền thông, tuyên truyền PCMT
a) Phát huy vai trò cơ quan báo chí, các mạng viễn thông, Cổng Thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, đoàn thể và hệ thống thông tin tại cơ sở, các nền tảng mạng xã hội để đăng tải, phát sóng các chuyên đề, chuyên mục, tác phẩm báo chí, tin, bài, phóng sự tuyên truyền về PCMT.
- Phân công thực hiện:
+ Công an thành phố chủ trì, đồng thời phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ và các sở, ngành, đoàn thể, địa phương thực hiện.
+ UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo ban, ngành, đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
b) Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, truyền thông và giáo dục PCMT trực tiếp thông qua các hội nghị tuyên truyền, các sự kiện truyền thông, văn nghệ, trò chơi, giao lưu, cuộc thi, hội thi tìm hiểu pháp luật PCMT hướng đến đối tượng là người dân, học sinh, sinh viên, công nhân; chú trọng tổ chức các hoạt động tuyên truyền kết hợp gọi hỏi, giáo dục, răn đe các đối tượng nổi, đối tượng nguy cơ cao phạm tội, vi phạm pháp luật về ma túy như người thất nghiệp, thiếu việc làm, người lao động tại các khu vực khai thác khoáng sản trái phép, thanh niên hư hỏng, từng có tiền án, tiền sự liên quan ma túy.
- Phân công thực hiện:
+ Công an thành phố chủ trì, đồng thời phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục và Đào tạo, Liên đoàn Lao động thành phố và các sở, ngành, cơ quan, địa phương thực hiện.
+ UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo ban, ngành, đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
c) Tập trung phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; phát huy tối đa vai trò của gia đình, nhà trường, các tổ quản lý đối tượng tại cơ sở, của bí thư chi bộ, tổ trưởng tổ dân phố, già làng, trưởng bản, người có uy tín, hội phụ nữ, đoàn thanh niên... với phương châm “đi từng nhà, rà từng người”, từng tổ, từng khu phố để vận động và tuyên truyền. Đẩy mạnh xây dựng, nhân rộng các mô hình PCMT hay, hiệu quả như: Cơ quan, đơn vị, gia đình, dòng họ, trường học, thôn, khối phố, tổ, khu dân cư không ma túy, không tệ nạn xã hội; mô hình “Phòng ngừa, ngăn chặn ma túy xâm nhập học đường” trong các trường học; mô hình “Doanh nghiệp không tệ nạn ma túy” tại các công ty, doanh nghiệp;...
- Phân công thực hiện:
+ Công an thành phố chủ trì, đồng thời phối hợp với Sở Giáo dục Đào tạo, Liên đoàn Lao động thành phố và các sở, ngành, cơ quan, địa phương thực hiện.
+ UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo ban, ngành, đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
a) Nội dung thực hiện:
- Tập trung thực hiện tốt công tác rà soát, thống kê tại từng tổ dân phố, từng khu dân cư với phương châm “đi từng nhà, rà từng người” và cử lực lượng kiểm tra, thực hiện đến từng xã, từng thôn, khối phố đảm bảo phát hiện, quản lý và đấu tranh, xử lý toàn diện, triệt để 100% người nghiện, người sử dụng TPCMT, người quản lý sau cai, đảm bảo số liệu, hồ sơ “đúng, đủ, sạch, sống” làm căn cứ để đánh giá đúng tính chất địa bàn, có kế hoạch, phương án quản lý, phòng ngừa, đấu tranh kịp thời, hiệu quả; xem xét, kiểm điểm trách nhiệm của các tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu Công an địa phương khi để sót, lọt đối tượng liên ma túy không đưa vào diện quản lý.
- Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng, phát huy tối đa vai trò, trách nhiệm của gia đình, chính quyền các cấp và tổ chức xã hội trong công tác quản lý người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy và người sau cai nghiện ma túy; đảm bảo 100% người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy có hồ sơ được quản lý chặt chẽ; 100% hoạt động phạm tội, hành vi vi phạm pháp luật của người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy được phát hiện, xử lý nghiêm minh.
- Tập trung chỉ đạo rà soát, xét nghiệm định kỳ, đột xuất nhóm các đối tượng nghi vấn liên quan ma túy và trong số người sử dụng TPCMT đang quản lý trên địa bàn để kịp thời phát hiện, lập hồ sơ xác định tình trạng nghiện và áp dụng các hình thức cai nghiện phù hợp.
- Đẩy mạnh rà soát, tổ chức xét nghiệm chất ma túy để phát hiện, bắt giữ, xử lý đối tượng theo Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, gồm: (1) Người đang trong thời hạn cai nghiện hoặc đang trong thời gian điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; (2)trong thời hạn quản lý sau cai nghiện; (3)trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết hạn quản lý sau cai nghiện và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; (4)trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy 2021.
- Theo dõi, quản lý các đối tượng loạn thần “ngáo đá” trên địa bàn, thực hiện các biện pháp phòng ngừa người sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp có biểu hiện loạn thần “ngáo đá” thực hiện hành vi xâm phạm trật tự xã hội; tập trung triển khai các biện pháp để xét nghiệm chất ma túy, xác định tình trạng nghiện, đưa đi cai nghiện tập trung hoặc chữa bệnh tâm thần nhằm phòng ngừa đối tượng phạm tội, vi phạm pháp luật; trường hợp đối tượng ở ngoài xã hội phải phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và gia đình quản lý chặt chẽ.
b) Phân công thực hiện:
- UBND các xã, phường, đặc khu chủ trì, chỉ đạo lực lượng Công an xã, phường, đặc khu và các ban, ngành, đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
- Công an thành phố theo dõi, đôn đốc, tham mưu chỉ đạo thực hiện, tổng hợp kết quả báo cáo UBND thành phố và Bộ, ngành Trung ương theo dõi.
- Sở Y tế chỉ đạo lực lượng y tế cơ sở phối hợp thực hiện.
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể phối hợp thực hiện.
4. Nâng cao năng lực, hiệu quả phòng, chống tội phạm ma túy của các lực lượng chuyên trách
a) Nội dung thực hiện:
- Nắm, phân tích, dự báo và đánh giá đúng tình hình tội phạm về ma túy; xác định rõ vai trò chủ công, nòng cốt của lực lượng Công an trong tham mưu trực tiếp cho cấp ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ các lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển trong phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm ma túy.
- Tập trung đấu tranh, triệt phá các băng nhóm, tổ chức, đường dây tội phạm về ma túy trên các địa bàn trọng điểm, bắt giữ cả đường dây, đối tượng cầm đầu, truy nguyên nguồn gốc ma túy.
- Tiến hành theo đúng quy định của pháp luật các hoạt động điều tra, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ phục vụ công tác truy tố, xét xử kịp thời, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không để xảy ra oan sai. Tập trung điều tra, mở rộng làm rõ các đối tượng liên quan đến việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong các vụ án, vụ việc để xử lý triệt để theo quy định pháp luật nhằm cắt giảm “nguồn cung” về ma túy; phải làm rõ “nguồn cung”, đường dây, ổ nhóm, điểm, tụ điểm về ma túy; các đối tượng chủ mưu, cầm đầu để “truy tận gốc” xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; ngăn chặn các đối tượng “nguồn cầu” tiếp cận với “nguồn cung” ma túy; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “cắt khúc, làm gọn hồ sơ, bắt gì xử lý đấy” trong hoạt động điều tra các vụ án về ma túy.
- Nâng cao hiệu quả phối hợp đấu tranh giữa các lực lượng chuyên trách PCMT. Kịp thời rút kinh nghiệm việc thực hiện các kế hoạch phối hợp nhằm bổ sung các nội dung, biện pháp phù hợp để triển khai có hiệu quả kế hoạch này.
- Tăng cường công tác quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài, quản lý các cơ sở ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT trên địa bàn; thường xuyên tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, gắn với tổ chức kiểm tra, truy quét, đẩy đuổi, triệt xóa, không để hình thành, tồn tại các điểm, đối tượng hoạt động phạm tội, vi phạm pháp luật về ma túy, nhất là tại các các cơ sở kinh doanh có điều kiện về ANTT như quán bar, pub, karaoke, dịch vụ lưu trú, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống sử dụng nhạc công suất lớn..., kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng các cơ sở này để tụ tập, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, sử dụng shisha, bóng cười; vi phạm quy định pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiếng ồn, sử dụng hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ (phải xác định công tác kiểm tra, truy quét, đẩy đuổi, triệt xóa, không cho các cơ sở, đối tượng có cơ hội, điều kiện hoạt động phạm tội, vi phạm pháp luật về ma túy là biện pháp trọng tâm, quan trọng để làm sạch, giữ sạch địa bàn).
b) Phân công thực hiện:
- Công an thành phố, Bộ đội Biên phòng, Vùng Cảnh sát biển 2 phát huy vai trò nòng cốt, chủ công và phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan,
- UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo Công an xã, phường và các ban, ngành, đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể phối hợp thực hiện và cung cấp thông tin cho lực lượng chuyên trách PCMT thực hiện.
5. Nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy
a) Công tác cai nghiện ma túy tại các cơ sở cai nghiện ma túy công lập
- Nội dung thực hiện:
+ Cơ sở cai nghiện ma túy chấp hành nghiêm quy định về cai nghiện, đảm bảo người nghiện sau khi hoàn thành chương trình cai nghiện ma túy được hoàn thiện cả về thể chất, tinh thần, là công dân tốt (thực hiện thường xuyên).
+ Xây dựng mô hình Cơ sở cai nghiện ma túy chất lượng cao, phấn đấu có những mô hình mẫu điển hình (năm 2026 và hàng năm).
+ Quan tâm nâng cấp, sửa chữa, xây mới các hạng mục cơ sở cai nghiện, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về công suất và diện tích tối thiểu đủ để tổ chức cai nghiện tự nguyện và bắt buộc cho tất cả người nghiện trên địa bàn thành phố (thực hiện thường xuyên).
+ Tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ giáo dục chính trị, bổ túc văn hóa, dạy nghề, giới thiệu việc làm cho người đang áp dụng các biện pháp cai nghiện tại các Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố.
- Phân công nhiệm vụ:
+ Công an thành phố chủ trì, phối hợp Sở Tài chính tham mưu trình cấp có thẩm quyền quyết định; đồng thời, báo cáo Bộ Công an hỗ trợ, đầu tư.
+ Sở Giáo dục và Đào tạo phân công các Trung tâm, cơ sở giáo dục, giáo viên, giảng viên phối hợp, hỗ trợ Công an thành phố giảng dạy một số kiến thức cơ bản về chính trị, bổ túc văn hóa cho người cai nghiện ma túy theo đề nghị của Công an thành phố.
b) Tập trung tham mưu triển khai công tác cai nghiện tại gia đình, cộng đồng đảm bảo đúng quy định, thực chất, hiệu quả
- Nội dung thực hiện:
+ Phát triển hệ thống dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và các mô hình tổ chức công tác cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng (thường xuyên, định kỳ, hằng năm). Trong đó, chú trọng tổ chức rà soát, thẩm định điều kiện các cơ sở đủ điều kiện cung cấp dịch vụ cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; hoàn thành các thủ tục tham mưu công bố các đơn vị, tổ chức, cá nhân đủ điều kiện; triển khai hiệu quả việc sử dụng thiết bị điện tử giám sát đối tượng theo quy định mới. Nghiên cứu tham mưu hoàn chỉnh các thủ tục còn thiếu, vướng mắc để công bố các cơ sở cai nghiện công lập và ngoài công lập trên địa bàn thành phố được cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng (hoàn thành trong quý 2/2026).
- Phân công nhiệm vụ:
+ Công an thành phố chủ trì tham mưu thực hiện;
+ Sở Y tế và các sở, ban, ngành liên quan phối hợp thực hiện.
+ UBND các xã, phường chỉ đạo Công an các xã, phường và ban, ngành cùng cấp thực hiện tại địa phương:
Chủ trì, phối hợp với các cơ sở đủ điều kiện cung cấp dịch vụ cai nghiện tại gia đình, cộng đồng được công bố tổ chức quản lý người nghiện ma túy cai nghiện tại gia đình, cộng đồng đảm bảo người cai nghiện tại gia đình, cộng đồng được điều trị theo quy định.
Tổ chức rà soát các đơn vị, tổ chức, cá nhân trên địa bàn đủ điều kiện cung cấp dịch vụ, cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; hướng dẫn các đơn vị, tổ chức, cá nhân đủ điều kiện lập hồ sơ đề nghị công bố theo quy định tại Quyết định số 7886/QĐ-BCA; gửi Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố để xem xét, giải quyết.
Xây dựng mô hình tổ chức cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; trong đó, chú trọng giúp đỡ, hỗ trợ sinh kế, tự học nghề và giải quyết việc làm cho người cai nghiện tại gia đình, cộng đồng.
c) Nâng cao hiệu quả công tác điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
- Nội dung thực hiện: Tăng cường quản lý chặt chẽ và thường xuyên tổ chức xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể các đối tượng đang điều trị để phát hiện các đối tượng vi phạm, sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian điều trị để xử lý theo Điều 256a Bộ luật Hình sự; triển khai hiệu quả việc sử dụng thiết bị điện tử giám sát đối tượng theo quy định mới (thực hiện thường xuyên, đột xuất).
- Phân công nhiệm vụ:
+ Công an thành phố chủ trì thực hiện.
+ Sở Y tế chỉ đạo Trung tâm kiểm soát bệnh tật thành phố và các cơ sở cấp phát thuốc thay thế Methadone phối hợp lực lượng Công an thực hiện.
+ UBND các xã, phường chỉ đạo Công an các xã, phường và ban, ngành cùng cấp thực hiện tại địa phương.
d) Công tác quản lý sau cai nghiện ma túy
- Nội dung thực hiện:
+ Tổ chức rà soát, phát hiện, lập hồ sơ và quản lý chặt chẽ người sau cai nghiện ma túy ngay sau khi người nghiện hoàn thành chương trình cai nghiện; triển khai hiệu quả việc sử dụng thiết bị điện tử giám sát đối tượng theo quy định mới (thực hiện thường xuyên).
+ Thực hiện tốt công tác hỗ trợ, tư vấn, giúp đỡ, phòng, chống tái nghiện ma túy, đảm bảo người bị quản lý sau cai nghiện ma túy được giúp đỡ, phòng, chống tái nghiện ma túy trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy (thực hiện thường xuyên).
+ Hỗ trợ, giúp đỡ sinh kế, học nghề, giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện; đảm bảo người bị quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi tiếp tục đi học ở các bậc học phổ thông tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân được miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; người sau cai nghiện khi tham gia đào tạo nghề nghiệp được hưởng chính sách hỗ trợ và được vay vốn sinh kế theo quy định (thực hiện thường xuyên).
+ Xây dựng các mô hình quản lý, phòng ngừa tái nghiện và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện ma túy; nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả (thực hiện thường xuyên hàng năm).
+ Tổ chức xét nghiệm chất ma túy đối với người đang bị quản lý sau cai nghiện, người trong thời hạn 02 năm sau hoàn thành quản lý sau cai nghiện để phát hiện các đối tượng tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nhằm bắt giữ, khởi tố theo Điều 256a Bộ luật Hình sự (thực hiện thường xuyên).
- Phân công thực hiện:
+ Công an thành phố chủ trì thực hiện.
+ Sở Y tế phối hợp Công an thành phố thực hiện.
+ UBND các xã, phường chỉ đạo Công an các xã, phường và ban, ngành cùng cấp thực hiện tại địa phương.
6. Tăng cường đầu tư nguồn lực cho công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy
a) Nội dung thực hiện:
- Quan tâm đầu tư nguồn lực cho công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của từng đơn vị, địa phương. Hằng năm, tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, đồng thời tích cực tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế, huy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và Nhân dân, bảo đảm kinh phí cho công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy.
- Xây dựng củng cố, kiện toàn nâng cao năng lực của lực lượng chuyên trách làm công tác phòng, chống ma túy từ thành phố tới xã, phường, bảo đảm đủ khả năng, điều kiện thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ. Bổ sung chính sách cơ chế, chính sách đặc thù đối với cán bộ trực tiếp làm công tác đấu tranh phòng, chống ma túy; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ làm công tác phòng, chống ma túy. Đầu tư nguồn lực, trang thiết bị chuyên dụng cho công tác phòng, chống ma túy. Thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo và quan tâm đầu tư, đảm bảo điều kiện cho các cơ sở cai nghiện ma túy trên địa bàn thành phố hoạt động hiệu quả, đảm bảo an ninh, an toàn công tác cai nghiện.
- Tăng cường công tác quản lý, giáo dục chính trị, tư tưởng và quán triệt cán bộ, chiến sĩ siết chặt kỷ cương, kỷ luật, tư thế, lễ tiết, tác phong, quy trình công tác, đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu đơn vị. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện đợt cao điểm, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm, thiếu trách nhiệm, dung túng, “bảo kê”, tiếp tay, bao che cho tội phạm, vi phạm pháp luật hoặc để tội phạm, tệ nạn ma túy hoạt động phức tạp mà không chủ động phát hiện, xử lý. Thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình tiên tiến. Có chính sách động viên, hỗ trợ người có công, bị thương, bị phơi nhiễm HIV, thân nhân cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong quá trình làm nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy.
b) Phân công thực hiện:
- Công an thành phố phối hợp Sở Tài chính tham mưu cấp có thẩm quyền đầu tư, phân bổ các nguồn kinh phí phục vụ thực hiện công tác PCMT và mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng không ma túy đến hết năm 2030.
- Sở Tài chính phối hợp tham mưu bố trí nguồn kinh phí để thực hiện, trong đó, nghiên cứu tham mưu dự trù bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ công tác PCMT nói chung và phục vụ thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng không ma túy đến năm 2030 và từng năm nói riêng.
- UBND các xã, phường, đặc khu quan tâm đầu tư, huy động nguồn lực tại địa phương để đẩy mạnh triển khai các hoạt động thực hiện những nội dung chỉ đạo.
- Các sở, ban, ngành liên quan phối hợp thực hiện.
7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phòng, chống và kiểm soát ma túy
a) Nội dung thực hiện:
- Tăng cường, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống và kiểm soát ma túy; thực hiện có trách nhiệm các cam kết quốc tế trong phòng, chống ma túy mà Việt Nam đã ký kết và tham gia.
- Phối hợp tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng, chống ma túy với lực lượng chức năng tỉnh Sê Kông (Lào) đảm bảo thiết thực, hiệu quả theo phương châm giúp bạn là giúp mình, ngăn chặn ma túy từ xa, từ sớm, từ bên kia biên giới, không để hình thành và tồn tại các đường dây, đối tượng phạm tội ma túy qua biên giới, xuyên quốc gia; chú trọng tham mưu triển khai và phát huy hiệu quả của Tổ công tác phòng, chống ma túy tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Văn phòng liên lạc phòng, chống ma túy và tội phạm (BLO) giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Sê Kông (Lào).
b) Phân công thực hiện:
- Công an thành phố, Bộ đội Biên phòng thành phố, Chi cục Hải quan khu vực XII, Vùng Cảnh sát biển 2 phối hợp thực hiện; chủ động tham mưu UBND thành phố triển khai thực hiện hiệu quả các hoạt động hợp tác phòng, chống tội phạm và ma túy với Ủy ban chính quyền tỉnh Sê Kông (Lào).
- UBND các xã, phường giáp biên chủ động triển khai thường xuyên, hiệu quả công tác hợp tác phòng, chống tội phạm và ma túy với chính quyền và lực lượng chức năng các địa phương giáp biên của tỉnh Sê Kông (Lào)
- Các sở, ban, ngành liên quan phối hợp thực hiện.
1. Các sở, ban, ngành liên quan và UBND các xã, phường, đặc khu xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kế hoạch này tại đơn vị, địa phương (gửi Kế hoạch thực hiện về Công an thành phố - qua Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy trước ngày 30/01/2026). Trong đó, yêu cầu đề ra biện pháp, giải pháp, lộ trình cụ thể để thực hiện công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy và xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy (Lưu ý đề ra tiến độ, lộ trình xây dựng từng đơn vị, cơ quan, gia đình, trường học, thân, tổ, khu dân cư, khu phố... trên địa bàn không ma túy), phải hoàn thành và giữ vững kết quả đảm bảo đến hết năm 2030 xây dựng thành công thành phố Đà Nẵng không ma túy.
Định kỳ 06 tháng (trước ngày 16/6), 01 năm (trước ngày 16/12) tiến hành sơ kết và gửi về Công an thành phố (qua Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy) để tổng hợp, tham mưu báo cáo Bộ Công an, Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
2. Giao Công an thành phố chủ trì hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, giám sát, đánh giá việc triển khai thực hiện Kế hoạch và xây dựng báo cáo kết quả thực hiện. Định kỳ hằng năm, tham mưu UBND thành phố ban hành Kế hoạch thực hiện và kịp thời đề xuất điều chỉnh các địa bàn, lộ trình, bổ sung nhiệm vụ của Kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế. Tham mưu UBND thành phố tổ chức tổng kết thực hiện Kế hoạch vào năm 2030, gắn với tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
3. Kinh phí thực hiện Chương trình
- Kinh phí Trung ương do ngân sách nhà nước đảm bảo, được bố trí trong dự toán chi thường xuyên theo phân cấp ngân sách hiện hành và các Chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn hợp pháp khác.
- Kinh phí sự nghiệp do ngân sách nhà nước thành phố đảm bảo được bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm của các sở, ngành chủ trì triển khai các Dự án, Tiểu Dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 trên cơ sở được phê duyệt.
- Kinh phí thực hiện ở địa phương do ngân sách địa phương bố trí và các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác theo quy định. Việc quản lý và sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Giao Công an thành phố chủ trì, đồng thời phối hợp với Sở Tài chính và các sở, ban, ngành, địa phương liên quan dự toán, báo cáo đề xuất nguồn kinh phí để tham mưu trình cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, hỗ trợ, bố trí thực hiện từng nội dung của kế hoạch này đảm bảo nghiêm túc, tiết kiệm, đúng quy định, đúng mục đích, phát huy hiệu quả.
Kế hoạch này thay thế Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 15/8/2025 của UBND thành phố về triển khai thực hiện mục tiêu xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Quá trình thực hiện có khó khăn, vướng mắc cần trao đổi, đề nghị các sở, ban, ngành, địa phương liên hệ về Công an thành phố (qua Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy) để được hướng dẫn./.
|
|
KT. CHỦ TỊCH |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh