Kế hoạch 119/KH-UBND thực hiện công tác phòng, chống tội phạm năm 2026 do thành phố Huế ban hành
| Số hiệu | 119/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 09/03/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 09/03/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Huế |
| Người ký | Nguyễn Thanh Bình |
| Lĩnh vực | Văn hóa - Xã hội |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 119/KH-UBND |
Huế, ngày 09 tháng 3 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM NĂM 2026
Phát huy những kết quả đạt được trong năm 2025, tiếp tục triển khai có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; nghị quyết của Quốc hội; chiến lược, các chương trình của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành kế hoạch thực hiện với những nội dung cụ thể như sau:
I. MỤC TIÊU, YÊU CẦU
1. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng, Quốc hội; Chiến lược, Chương trình của Chính phủ về chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; kiến tạo môi trường an ninh, an toàn, chuyên nghiệp; tạo tiền đề, sức bật triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV.
2. Nâng cao hiệu quả, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong phòng, chống tội phạm; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động phòng ngừa với tích cực phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ đối với những hành vi phạm tội. Kịp thời phát hiện, khắc phục những sơ hở, thiếu sót; qua đó, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh, trật tự (ANTT).
3. Xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan chuyên trách trong công tác phòng, chống tội phạm; lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt từ thành phố tới cơ sở; thực hiện nghiêm quy định của Đảng về trách nhiệm “nêu gương”, đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công tác bảo đảm ANTT của đơn vị, địa phương; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các sở, ban, ngành, các tổ chức xã hội trong công tác phòng, chống tội phạm.
4. Tăng cường khai thác, ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, chuyển đổi số, chuyển đổi trạng thái các mặt công tác từ “truyền thống” sang “hiện đại” vào công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm. Tiếp tục khai thác tối đa hiệu quả của hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Căn cước công dân, Đề án 06/CP phục vụ công tác nghiệp vụ và các yêu cầu quản lý xã hội, phòng, chống tội phạm.
II. NHIỆM VỤ, PHÂN CÔNG THỰC HIỆN
1. Nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác phòng, chống tội phạm
a) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng, Quốc hội; Chiến lược, Chương trình của Chính phủ trong công tác phòng, chống tội phạm[1]. Xác định công tác phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và lâu dài, phải thực hiện mọi nơi, mọi lúc, mọi địa bàn, lĩnh vực, có trọng tâm, trọng điểm gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
b) Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng; sự chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, tập thể, cá nhân trong phòng, chống tội phạm, bảo đảm ANTT. Xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu ở những nơi để tội phạm gia tăng, phức tạp, lộng hành, kéo dài nhưng không có biện pháp giải quyết kịp thời, triệt để, gây bức xúc, dư luận trong Nhân dân (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
c) Thường xuyên rà soát, củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo có liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm các cấp theo phương án sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phân công rõ trách nhiệm của từng thành viên, gắn với trách nhiệm quản lý từng địa bàn, lĩnh vực (Công an thành phố tham mưu; các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
d) Tổ chức kiểm tra, khảo sát liên ngành đánh giá tình hình, kết quả thực hiện công tác phòng, chống tội phạm tại các cơ quan, địa bàn trọng điểm; định kỳ giao ban, hội ý Ban Chỉ đạo 138 các cấp để kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc, tình hình nổi lên trong công tác phòng, chống tội phạm (Công an thành phố chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện). Sơ kết, tổng kết các chuyên đề, đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm. Triển khai đánh giá tình hình, tiêu chí xác định địa bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội để tập trung chuyển hóa, ổn định địa bàn (Ban Chỉ đạo 138 thành phố và địa phương thực hiện).
2. Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ; quán triệt yêu cầu phòng ngừa là chính, là cơ bản, thường xuyên lâu dài
2.1. Phòng ngừa xã hội
(1) Tiến hành rà soát tổng thể các yếu tố là nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm thuộc chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, lĩnh vực, địa phương quản lý. Chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, tổ chức xã hội cùng vào cuộc; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia công tác phòng ngừa tội phạm. Tăng cường công tác bảo đảm an sinh xã hội, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ, giải quyết kịp thời khó khăn về đời sống của Nhân dân, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật; nhất là đối với những người yếu thế (người chấp hành xong án phạt tù về địa phương, người sau cai nghiện ma túy, thanh thiếu niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…). Kịp thời nắm, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ Nhân dân gắn với công tác quản lý cư trú theo phương châm “từ mâu thuẫn to thành nhỏ, từ nhỏ thành không mâu thuẫn”, không để mâu thuẫn kéo dài, phức tạp phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật. Tăng cường quản lý, giáo dục pháp luật cho đoàn viên, hội viên, con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(2) Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền sâu rộng đến mọi người dân, phù hợp từng lứa tuổi (nhất là ứng dụng triệt để các thành tựu khoa học công nghệ, chuyển đổi số, giá trị của dữ liệu) tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong phòng ngừa, phát hiện, tố giác, đấu tranh xử lý tội phạm, bảo đảm hiệu quả, kịp thời. Đấu tranh, phản bác những quan điểm, tư tưởng sai trái, luận điệu xuyên tạc, thông tin không đúng sự thật về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác phòng, chống tội phạm; thường xuyên tuyên truyền phản ánh khách quan, toàn diện công tác phòng, chống tội phạm của các lực lượng chức năng. Huy động sự tham gia của các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin, người có uy tín, có ảnh hưởng trong cộng đồng dân cư... để phối hợp tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc điểm của địa phương, lĩnh vực (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(3) Tổ chức truyền thông lưu động tại các địa điểm công cộng, khu dân cư, trường học hoặc các sự kiện...; cho cam đoan, cam kết đối với các đối tượng nguy cơ cao, đối tượng dễ bị tác động, lôi kéo vi phạm pháp luật (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện). Lồng ghép tuyên truyền phòng, chống tội phạm vào các chương trình, hoạt động tại khu công nghiệp, khu chế xuất cho đoàn viên công đoàn và công nhân lao động (Liên đoàn Lao động chủ trì phối hợp các cơ quan, sở, ngành, địa phương thực hiện); lồng ghép tuyên truyền về phòng, chống tội phạm vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao và du lịch, kết hợp xây dựng các hương ước, quy ước tại cộng đồng dân cư, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường học, khu dân cư (Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì phối hợp các cơ quan, sở, ngành, địa phương thực hiện).
(4) Củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; hoạt động của các mô hình phòng, chống tội phạm ở cơ sở. Tập trung xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến theo hướng xã hội hóa, đồng thời thanh loại những mô hình hoạt động kém hiệu quả, hình thức. Có biện pháp bảo vệ người tố cáo; kịp thời động viên, khen thưởng người có thành tích trong công tác phòng, chống tội phạm; nâng cao hiệu quả giám sát và thực hiện các kiến nghị, khiếu nại của Nhân dân ở cơ sở (Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố chủ trì, phối hợp Công an thành phố và các địa phương thực hiện).
(5) Chỉ đạo, thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở bảo đảm đi vào thực chất, hiệu quả, nhất là liên quan đến vấn đề đất đai, môi trường, thực hiện chế độ chính sách, quan hệ lao động; không để phát sinh vụ việc phức tạp, hình thành “điểm nóng” về ANTT, góp phần làm giảm các loại tội phạm do nguyên nhân xã hội (Sở Tư pháp, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức thành viên, các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(6) Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030; chủ trương xây dựng 100% xã, phường không ma túy giai đoạn 2025 - 2030[2]. Phối hợp làm tốt công tác quản lý sau cai, quản lý, giáo dục người nghiện tại địa bàn cơ sở, nhất là các đối tượng có biểu hiện “ngáo đá”, “loạn thần” không để xảy ra các vụ việc gây mất ANTT (Công an thành phố chủ trì phối hợp các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(7) Thực hiện có hiệu quả Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng; Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù, góp phần hạn chế tình trạng tái phạm tội. Chú trọng công tác hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm; xây dựng, duy trì và nhân rộng các mô hình hiệu quả trong công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
2.2. Công tác phòng ngừa nghiệp vụ
(1) Tiếp tục đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả từng khâu công tác nghiệp vụ theo hướng: Điều tra cơ bản là cơ sở, nền tảng để phát hiện, phát triển nghiệp vụ; nắm tình hình bao quát, toàn diện, có chiều sâu; quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng; chủ động nhận diện để phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm, vi phạm pháp luật.
(2) Nâng cao chất lượng, hiệu quả và đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong công tác phòng ngừa nghiệp vụ của các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tội phạm thuộc lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Hải quan,… làm nền tảng, cốt lõi trong tấn công, trấn áp tội phạm (Công an thành phố, Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng, Chi Cục Hải quan Khu vực IX và các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(3) Tiếp tục thực hiện nghiêm, có hiệu quả các biện pháp xử lý hành chính, đặc biệt là công tác quản lý, giáo dục đối tượng ở địa bàn cơ sở. Tăng cường công tác lập hồ sơ giáo dục tại xã, phường, đưa đối tượng đi cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác tuần tra, mật phục, bảo đảm khép kín tuyến, địa bàn (Công an thành phố, các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(4) Thường xuyên rà soát đối tượng tại địa bàn cơ sở (đối tượng quản lý theo quy định của pháp luật, đối tượng quản lý về mặt nghiệp vụ, đối tượng khác có nguy cơ phạm tội...) và phân công trách nhiệm cụ thể cho các tập thể, cá nhân có liên quan trong quản lý, giáo dục đối tượng; củng cố và phát huy vai trò của lực lượng Cảnh sát khu vực, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở trong công tác quản lý, phòng ngừa tội phạm. Tổ chức tốt công tác tiếp nhận và tái hòa nhập cộng đồng đối với người đã chấp hành xong án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện và số được đặc xá năm 2025 theo quyết định của Chủ tịch nước (Công an thành phố, sở ngành, địa phương thực hiện).
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 119/KH-UBND |
Huế, ngày 09 tháng 3 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM NĂM 2026
Phát huy những kết quả đạt được trong năm 2025, tiếp tục triển khai có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; nghị quyết của Quốc hội; chiến lược, các chương trình của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành kế hoạch thực hiện với những nội dung cụ thể như sau:
I. MỤC TIÊU, YÊU CẦU
1. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng, Quốc hội; Chiến lược, Chương trình của Chính phủ về chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; kiến tạo môi trường an ninh, an toàn, chuyên nghiệp; tạo tiền đề, sức bật triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV.
2. Nâng cao hiệu quả, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong phòng, chống tội phạm; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động phòng ngừa với tích cực phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ đối với những hành vi phạm tội. Kịp thời phát hiện, khắc phục những sơ hở, thiếu sót; qua đó, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh, trật tự (ANTT).
3. Xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan chuyên trách trong công tác phòng, chống tội phạm; lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt từ thành phố tới cơ sở; thực hiện nghiêm quy định của Đảng về trách nhiệm “nêu gương”, đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công tác bảo đảm ANTT của đơn vị, địa phương; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các sở, ban, ngành, các tổ chức xã hội trong công tác phòng, chống tội phạm.
4. Tăng cường khai thác, ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, chuyển đổi số, chuyển đổi trạng thái các mặt công tác từ “truyền thống” sang “hiện đại” vào công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm. Tiếp tục khai thác tối đa hiệu quả của hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Căn cước công dân, Đề án 06/CP phục vụ công tác nghiệp vụ và các yêu cầu quản lý xã hội, phòng, chống tội phạm.
II. NHIỆM VỤ, PHÂN CÔNG THỰC HIỆN
1. Nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác phòng, chống tội phạm
a) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng, Quốc hội; Chiến lược, Chương trình của Chính phủ trong công tác phòng, chống tội phạm[1]. Xác định công tác phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và lâu dài, phải thực hiện mọi nơi, mọi lúc, mọi địa bàn, lĩnh vực, có trọng tâm, trọng điểm gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
b) Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng; sự chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, tập thể, cá nhân trong phòng, chống tội phạm, bảo đảm ANTT. Xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu ở những nơi để tội phạm gia tăng, phức tạp, lộng hành, kéo dài nhưng không có biện pháp giải quyết kịp thời, triệt để, gây bức xúc, dư luận trong Nhân dân (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
c) Thường xuyên rà soát, củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo có liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm các cấp theo phương án sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phân công rõ trách nhiệm của từng thành viên, gắn với trách nhiệm quản lý từng địa bàn, lĩnh vực (Công an thành phố tham mưu; các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
d) Tổ chức kiểm tra, khảo sát liên ngành đánh giá tình hình, kết quả thực hiện công tác phòng, chống tội phạm tại các cơ quan, địa bàn trọng điểm; định kỳ giao ban, hội ý Ban Chỉ đạo 138 các cấp để kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc, tình hình nổi lên trong công tác phòng, chống tội phạm (Công an thành phố chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện). Sơ kết, tổng kết các chuyên đề, đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm. Triển khai đánh giá tình hình, tiêu chí xác định địa bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội để tập trung chuyển hóa, ổn định địa bàn (Ban Chỉ đạo 138 thành phố và địa phương thực hiện).
2. Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ; quán triệt yêu cầu phòng ngừa là chính, là cơ bản, thường xuyên lâu dài
2.1. Phòng ngừa xã hội
(1) Tiến hành rà soát tổng thể các yếu tố là nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm thuộc chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, lĩnh vực, địa phương quản lý. Chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, tổ chức xã hội cùng vào cuộc; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia công tác phòng ngừa tội phạm. Tăng cường công tác bảo đảm an sinh xã hội, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ, giải quyết kịp thời khó khăn về đời sống của Nhân dân, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật; nhất là đối với những người yếu thế (người chấp hành xong án phạt tù về địa phương, người sau cai nghiện ma túy, thanh thiếu niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…). Kịp thời nắm, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ Nhân dân gắn với công tác quản lý cư trú theo phương châm “từ mâu thuẫn to thành nhỏ, từ nhỏ thành không mâu thuẫn”, không để mâu thuẫn kéo dài, phức tạp phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật. Tăng cường quản lý, giáo dục pháp luật cho đoàn viên, hội viên, con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(2) Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền sâu rộng đến mọi người dân, phù hợp từng lứa tuổi (nhất là ứng dụng triệt để các thành tựu khoa học công nghệ, chuyển đổi số, giá trị của dữ liệu) tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong phòng ngừa, phát hiện, tố giác, đấu tranh xử lý tội phạm, bảo đảm hiệu quả, kịp thời. Đấu tranh, phản bác những quan điểm, tư tưởng sai trái, luận điệu xuyên tạc, thông tin không đúng sự thật về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công tác phòng, chống tội phạm; thường xuyên tuyên truyền phản ánh khách quan, toàn diện công tác phòng, chống tội phạm của các lực lượng chức năng. Huy động sự tham gia của các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin, người có uy tín, có ảnh hưởng trong cộng đồng dân cư... để phối hợp tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc điểm của địa phương, lĩnh vực (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(3) Tổ chức truyền thông lưu động tại các địa điểm công cộng, khu dân cư, trường học hoặc các sự kiện...; cho cam đoan, cam kết đối với các đối tượng nguy cơ cao, đối tượng dễ bị tác động, lôi kéo vi phạm pháp luật (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện). Lồng ghép tuyên truyền phòng, chống tội phạm vào các chương trình, hoạt động tại khu công nghiệp, khu chế xuất cho đoàn viên công đoàn và công nhân lao động (Liên đoàn Lao động chủ trì phối hợp các cơ quan, sở, ngành, địa phương thực hiện); lồng ghép tuyên truyền về phòng, chống tội phạm vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao và du lịch, kết hợp xây dựng các hương ước, quy ước tại cộng đồng dân cư, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường học, khu dân cư (Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì phối hợp các cơ quan, sở, ngành, địa phương thực hiện).
(4) Củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; hoạt động của các mô hình phòng, chống tội phạm ở cơ sở. Tập trung xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến theo hướng xã hội hóa, đồng thời thanh loại những mô hình hoạt động kém hiệu quả, hình thức. Có biện pháp bảo vệ người tố cáo; kịp thời động viên, khen thưởng người có thành tích trong công tác phòng, chống tội phạm; nâng cao hiệu quả giám sát và thực hiện các kiến nghị, khiếu nại của Nhân dân ở cơ sở (Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố chủ trì, phối hợp Công an thành phố và các địa phương thực hiện).
(5) Chỉ đạo, thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở bảo đảm đi vào thực chất, hiệu quả, nhất là liên quan đến vấn đề đất đai, môi trường, thực hiện chế độ chính sách, quan hệ lao động; không để phát sinh vụ việc phức tạp, hình thành “điểm nóng” về ANTT, góp phần làm giảm các loại tội phạm do nguyên nhân xã hội (Sở Tư pháp, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức thành viên, các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(6) Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030; chủ trương xây dựng 100% xã, phường không ma túy giai đoạn 2025 - 2030[2]. Phối hợp làm tốt công tác quản lý sau cai, quản lý, giáo dục người nghiện tại địa bàn cơ sở, nhất là các đối tượng có biểu hiện “ngáo đá”, “loạn thần” không để xảy ra các vụ việc gây mất ANTT (Công an thành phố chủ trì phối hợp các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(7) Thực hiện có hiệu quả Nghị định số 49/2020/NĐ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về tái hòa nhập cộng đồng; Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17/8/2023 của Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù, góp phần hạn chế tình trạng tái phạm tội. Chú trọng công tác hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm; xây dựng, duy trì và nhân rộng các mô hình hiệu quả trong công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
2.2. Công tác phòng ngừa nghiệp vụ
(1) Tiếp tục đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả từng khâu công tác nghiệp vụ theo hướng: Điều tra cơ bản là cơ sở, nền tảng để phát hiện, phát triển nghiệp vụ; nắm tình hình bao quát, toàn diện, có chiều sâu; quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng; chủ động nhận diện để phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm, vi phạm pháp luật.
(2) Nâng cao chất lượng, hiệu quả và đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong công tác phòng ngừa nghiệp vụ của các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tội phạm thuộc lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Hải quan,… làm nền tảng, cốt lõi trong tấn công, trấn áp tội phạm (Công an thành phố, Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng, Chi Cục Hải quan Khu vực IX và các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(3) Tiếp tục thực hiện nghiêm, có hiệu quả các biện pháp xử lý hành chính, đặc biệt là công tác quản lý, giáo dục đối tượng ở địa bàn cơ sở. Tăng cường công tác lập hồ sơ giáo dục tại xã, phường, đưa đối tượng đi cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác tuần tra, mật phục, bảo đảm khép kín tuyến, địa bàn (Công an thành phố, các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
(4) Thường xuyên rà soát đối tượng tại địa bàn cơ sở (đối tượng quản lý theo quy định của pháp luật, đối tượng quản lý về mặt nghiệp vụ, đối tượng khác có nguy cơ phạm tội...) và phân công trách nhiệm cụ thể cho các tập thể, cá nhân có liên quan trong quản lý, giáo dục đối tượng; củng cố và phát huy vai trò của lực lượng Cảnh sát khu vực, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở trong công tác quản lý, phòng ngừa tội phạm. Tổ chức tốt công tác tiếp nhận và tái hòa nhập cộng đồng đối với người đã chấp hành xong án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện và số được đặc xá năm 2025 theo quyết định của Chủ tịch nước (Công an thành phố, sở ngành, địa phương thực hiện).
(5) Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tiến hành thanh tra, kiểm tra, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước về ANTT, quản lý các hoạt động đầu tư công, tài chính, đấu giá, đấu thầu, ngân hàng, thông tin truyền thông, văn hóa, du lịch, môi trường, xây dựng cơ bản, y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quản lý thị trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, đất đai, tài nguyên, trật tự, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ, quản lý hoạt động xuất khẩu lao động... (Công an thành phố, các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
3. Chủ động nhận diện các loại tội phạm để có giải pháp đấu tranh trấn áp theo tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm; rà soát, bổ sung, điều chỉnh, triển khai quyết liệt các phương án, kế hoạch đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phù hợp đặc điểm tình hình, địa bàn, không để tội phạm hoạt động lộng hành, gây bức xúc dư luận xã hội.
Tiếp tục trấn áp mạnh tội phạm có tổ chức, không để hoạt động lộng hành, nhất là tội phạm có tổ chức liên quan đến “tín dụng đen”; tội phạm xuyên quốc gia; tội phạm sử dụng vũ khí, vật liệu nổ gây án nghiêm trọng; tội phạm chống người thi hành công vụ, xâm phạm sở hữu, giết người do nguyên nhân xã hội; tội phạm xâm hại trẻ em; tội phạm mua bán người; các tệ nạn cờ bạc, mại dâm... Đấu tranh quyết liệt với “tội phạm đường phố”, giải quyết hiệu quả tình trạng băng, nhóm thanh, thiếu niên tụ tập gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích, đặc biệt là ở các khu vực trung tâm, đô thị; đấu tranh triệt phá các đường dây buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Triệt xóa các đường dây mua bán, vận chuyển trái phép ma túy xuyên quốc gia, liên địa bàn, chủ động ngăn chặn ma túy từ xa, từ sớm, không để thẩm lậu vào địa bàn... quyết tâm tạo chuyển biến đột phá trong công tác phòng, chống ma túy, tạo điều kiện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng xã, phường không ma túy, giai đoạn 2025 - 2030. Đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả đối với tội phạm về môi trường, khai thác tài nguyên, khoáng sản, vệ sinh, an toàn thực phẩm.
Tăng cường phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao; nhất là tội phạm lừa đảo qua mạng, phát tán mã độc, tạo lập Web giả mạo để thu thập dữ liệu, thông tin để hoạt động phạm tội... Thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế phát sinh đối tượng truy nã mới, nâng cao hiệu quả công tác bắt, vận động đối tượng truy nã ra đầu thú, nhất là số đối tượng nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm. Duy trì và nâng cao hiệu quả các tổ công tác đặc biệt và các mô hình kết hợp lực lượng tuần tra, kiểm soát công khai để phòng ngừa, răn đe tội phạm (Công an thành phố chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
Triển khai quyết liệt các mặt công tác phòng, chống tội phạm; phòng, chống ma túy, mua bán người; tăng cường tuần tra, kiểm soát chặt chẽ biên giới, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm; tuyên truyền, vận động Nhân dân ở khu vực biên giới, ngư dân chấp hành pháp luật, tích cực tham gia tố giác tội phạm, giữ vững ANTT khu vực biên giới, vùng biển (Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
4. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm
Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Thường xuyên theo dõi, quản lý, số liệu tạm đình chỉ để kịp thời phục hồi giải quyết các vụ việc, vụ án tạm đình chỉ theo quy định của pháp luật; phối hợp xây dựng phần mềm liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng để quản lý nguồn tin về tội phạm và các vụ việc, vụ án tạm đình chỉ. Tiếp tục kiện toàn mô hình Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; trong đó chủ động rà soát, bổ sung và bố trí hợp lý cơ cấu đội ngũ cán bộ điều tra, điều tra viên phù hợp với yêu cầu công việc trong tình hình hiện nay, nhất là Công an cấp xã; không để xảy ra tình trạng oan, sai, bức cung, nhục hình, bỏ lọt tội phạm. Phát huy hiệu quả hoạt động phối hợp điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, bảo đảm kịp thời và nghiêm minh; lựa chọn một số vụ án điểm thực hiện thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để đưa ra truy tố, xét xử nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, phòng ngừa chung (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố và Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thực hiện).
5. Tăng cường xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách pháp luật liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật Tiếp tục rà soát, nghiên cứu, tham mưu, kiến nghị điều chỉnh cơ chế, chính sách pháp luật liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật theo phương án sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy. Đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các luật đã được Quốc hội thông qua, không tạo khoảng trống pháp lý gây khó khăn cho công tác phòng, chống tội phạm. Tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về hệ thống văn bản pháp luật mới cho lực lượng trực tiếp thực hiện đấu tranh, xử lý tội phạm, lực lượng tham mưu phòng, chống tội phạm thuộc Công an, Quân đội, ngành Kiểm sát, Tòa án, Hải quan... (Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
6. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan bảo vệ pháp luật đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ Nhân dân, đảm bảo yêu cầu công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, xây dựng cán bộ nghiệp vụ - công nghệ. Tăng cường lực lượng, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho lực lượng trực tiếp đấu tranh với tội phạm... Triển khai công tác thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, góp phần phòng ngừa sai phạm từ sớm, từ xa (các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
7. Củng cố, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành, các tổ chức trong công tác phòng, chống tội phạm. Thực hiện có hiệu quả các Quy chế, Chương trình phối hợp về phòng, chống tội phạm giữa Công an thành phố với các sở, ban, ngành, thành viên Ban Chỉ đạo 138 thành phố. Tổ chức các hoạt động phối hợp phòng, chống tội phạm, bảo đảm ANTT trên tuyến, địa bàn, khu vực biên giới…; tuyên truyền, hội thảo, tọa đàm, tập huấn, khảo sát, kiểm tra công tác phòng, chống tội phạm (Công an thành phố chủ trì phối hợp các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện).
8. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật
Tổ chức thực hiện tốt các Công ước quốc tế, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, Hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. Tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ quan chức năng thuộc nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; nhất là củng cố, phát huy quan hệ với Công an 04 tỉnh Sê Kông, Salavan, Chăm Pa Sắc, Sa Vẳn Na Khệt, Lào và Công an tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc... chủ động phòng ngừa tội phạm từ sớm, từ xa, ngoài khu vực biên giới và đấu tranh hiệu quả với tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm trên không gian mạng, tội phạm ma túy, tội phạm mua bán người,... Chủ động thông tin đối ngoại về chủ trương, chính sách, pháp luật và nỗ lực của Việt Nam trong phòng, chống tội phạm. Tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế cho công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật theo quy định pháp luật (Sở Ngoại vụ, Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố và các sở, ban, ngành, địa phương liên quan thực hiện).
9. Tổ chức quản lý, sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm thành phố đảm bảo đúng quy định pháp luật
Tổ chức thực hiện có hiệu quả Quyết định số 07/2026/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm[3]. Ban hành Quyết định về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm thành phố (hoàn thành trước ngày 25/3/2026); tăng cường các hoạt động huy động nguồn lực xã hội, phục vụ, hỗ trợ công tác phòng, chống tội phạm, đặc biệt là ở địa bàn cơ sở. Đầu tư kinh phí, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất phục vụ công tác phòng, chống tội phạm, ưu tiên đầu tư cho lực lượng cơ sở để kịp thời giải quyết từ đầu, từ sớm các vấn đề phức tạp về ANTT nảy sinh tại cơ sở (Công an thành phố, Sở Tài chính, các sở, ngành liên quan, địa phương thực hiện).
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Căn cứ các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống tội phạm và nội dung Kế hoạch này, các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp thành phố; các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn; Ủy ban nhân dân các xã, phường theo chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực, địa bàn phụ trách, ban hành văn bản triển khai thực hiện bảo đảm thiết thực, phù hợp, hiệu quả. Văn bản gửi về Công an thành phố - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 138 thành phố (đường Võ Chí Công, phường Vỹ Dạ, thành phố Huế; số điện thoại: 069.4149.315) trước ngày 20/3/2026 để tập hợp, theo dõi.
2. Định kỳ, các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương báo cáo kết quả thực hiện (06 tháng đầu năm trước ngày 12/6/2026; tổng kết năm trước ngày 10/12/2026) gửi về Công an thành phố để tổng hợp, tham mưu báo cáo Bộ Công an và Ủy ban nhân dân thành phố theo quy định.
3. Giao Công an thành phố - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 138 thành phố có trách nhiệm tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn việc thực hiện Kế hoạch này; định kỳ tổ chức kiểm tra tình hình, kết quả công tác phòng, chống tội phạm; tham mưu sơ, tổng kết theo quy định./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
[1] Trong đó: Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 263/2025/QH15 về tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Quốc hội khóa XIV và XV về giám sát chuyên đề và chất vấn và Nghị quyết số 265/2025/QH15 về kết quả Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.
[2] Chỉ thị số 70-CT/TU, ngày 29/8/2025 của Thành ủy về triển khai quyết liệt chủ trương xây dựng 100% xã, phường không ma túy giai đoạn 2025 - 2030; Kế hoạch số 361/KH-UBND ngày 26/8/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố về xây dựng xã, phường không ma túy giai đoạn 2025 - 2030; Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 11/02/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Huế về xây dựng thành phố Huế không ma túy.
[3] Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 3 năm 2026 (thay thế Quyết định số 04/2019/QĐ-TTg ngày 22/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ).
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh