Công văn 9359/BTC-ĐT về tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước 5 tháng, ước 6 tháng năm 2025 do Bộ Tài chính ban hành
| Số hiệu | 9359/BTC-ĐT |
| Ngày ban hành | 26/06/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 26/06/2025 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Bộ Tài chính |
| Người ký | Đỗ Thành Trung |
| Lĩnh vực | Đầu tư,Tài chính nhà nước |
|
BỘ
TÀI CHÍNH |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số:
9359/BTC-ĐT |
Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2025 |
Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ.
Căn cứ Quyết định số 1508/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2025, giao dự toán, kế hoạch đầu tư công từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương; thực hiện quy định về chế độ báo cáo tình hình giải ngân tại Luật Đầu tư công 2024 và Nghị định số 85/2025/NĐ-CP ngày 08/4/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư công, Bộ Tài chính báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) lũy kế 5 tháng, ước 6 tháng năm 2025 như sau:
I. VỀ TÌNH HÌNH PHÂN BỔ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG NGUỒN NSNN NĂM 2025
1. Kế hoạch đầu tư công nguồn NSNN năm 2025
1.1. Tổng số vốn năm 2025 được Quốc hội quyết nghị[1] và phân bổ cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 829.365 tỷ đồng[2], bao gồm: vốn ngân sách trung ương (NSTW) là 353.638 tỷ đồng (bao gồm: vốn trong nước là 329.038 tỷ đồng, vốn nước ngoài là 24.600 tỷ đồng) và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 475.727 tỷ đồng. Trong đó, vốn Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) là 25.405 tỷ đồng (bao gồm: vốn trong nước là 25.200 tỷ đồng, vốn nước ngoài là 205 tỷ đồng).
Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội, tại Quyết định 1508/QĐ-TTg ngày 04/12/2024, Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2025 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 825.922,3 tỷ đồng, bao gồm: vốn NSTW là 350.195 tỷ đồng (vốn trong nước là 325.605,7 tỷ đồng[3], vốn nước ngoài là 24.589,3 tỷ đồng) và vốn NSĐP là 475.727 tỷ đồng.
Ngày 13/6/2025, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1148/QĐ-TTg về giao bổ sung dự toán chi đầu tư phát triển, kế hoạch đầu tư công vốn NSTW năm 2025 cho các địa phương thực hiện 03 CTMTQG (đợt 2) là 2.465,2 tỷ đồng (vốn trong nước). Nếu tính số vốn CTMTQG mới giao bổ sung, tổng kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao là 828.387,5 tỷ đồng; trong đó, vốn CTMTQG là 24.427,05 tỷ đồng[4].
1.2. Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2025 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo) là 79.162,7 tỷ đồng.
1.3. Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến thời điểm báo cáo là 61.699,2 tỷ đồng, trong đó: NSTW là 34.255,7 tỷ đồng (theo ngành lĩnh vực là 29.075,2 tỷ đồng[5]; CTMTQG là 5.762,9 tỷ đồng), NSĐP là 27.443,5 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch giao năm 2025 (kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 966.784,2 tỷ đồng. Nếu tính số vốn CTMTQG mới giao bổ sung, tổng kế hoạch giao năm 2025 là 969.249,38 tỷ đồng.
2. Tình hình triển khai phân bổ chi tiết kế hoạch vốn của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương
2.1. Kế hoạch vốn đã triển khai phân bổ:
Tổng số vốn đã phân bổ là 896.913,5 tỷ đồng. Nếu không tính số kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng là 79.162,7 tỷ đồng, tổng số vốn đã phân bổ là 817.750,8 tỷ đồng, đạt 99,01% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao (825.922,3 tỷ đồng). Bao gồm NSTW là 342.940,8 tỷ đồng (vốn trong nước là 319.899 tỷ đồng, vốn nước ngoài là 23.042 tỷ đồng), NSĐP là 553.972,7 tỷ đồng.
2.2. Kế hoạch vốn chưa được triển khai phân bổ:
Tính đến ngày 20/6/2025, có 19/47[6] bộ, cơ quan trung ương và 18/63 địa phương chưa phân bổ hết kế hoạch vốn đã được Thủ tướng Chính phủ giao với tổng số vốn chưa phân bổ là 8.171,5 tỷ đồng, chiếm 0,99% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Cụ thể:
- Vốn NSTW chưa phân bổ là 7.254,2 tỷ đồng của 19/47 bộ, cơ quan trung ương và 18/63 địa phương (chiếm 2,07% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (350.195 tỷ đồng). Trong đó: vốn theo ngành, lĩnh vực là 7.097,1 tỷ đồng; vốn CTMTQG là 157,1 tỷ đồng.
- Vốn cân đối NSĐP chưa phân bổ là 917,3 tỷ đồng của Nghệ An[7].
2.3. Về phương án điều chỉnh kế hoạch vốn đầu công nguồn NSTW năm 2025:
- Tại Nghị quyết số 124/NQ-CP ngày 08/5/2025 về phiên họp thường kỳ tháng 4/2025, Chính phủ đã cho phép: (1) 05 bộ, cơ quan trung ương và 19 địa phương tiếp tục thực hiện và giải ngân đối với số vốn phân bổ sau ngày 15/3/2025 với số vốn là 43,8 nghìn tỷ đồng; (2) 03 bộ, cơ quan (Bộ Tài chính, Văn phòng Trung ương Đảng, Tòa án nhân dân tối cao) tiếp tục phân bổ 805 tỷ đồng vốn NSTW chưa phân bổ để thực hiện các dự án quan trọng, sử dụng nguồn tăng thu.
- Theo báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Bộ Tài chính ghi nhận 25 bộ, cơ quan trung ương và 08 địa phương đề nghị điều chỉnh giảm kế hoạch vốn nguồn NSTW năm 2025 (bao gồm số chưa phân bổ và số đã phân bổ chi tiết) là 9.429,16 tỷ đồng (Chi tiết tại Phụ lục IC kèm theo). Theo đó, các nguyên nhân đề xuất điều chỉnh giảm chủ yếu do: (i) đang điều chỉnh quy mô, đối tượng, sự cần thiết đầu tư để phù hợp với bộ máy tổ chức sau khi sắp xếp, sáp nhập[8]; (ii) một số dự án đã bố trí đủ tổng mức đầu tư không còn nhu cầu sử dụng, dự án gặp vướng mắc không có khả năng triển khai thực hiện trong năm 2025, đề xuất kéo dài thời gian thực hiện sang giai đoạn sau hoặc phải dừng thực hiện[9]; (iii) dự án chuyển giao cơ quan chủ quản từ trung ương về địa phương theo quy định mới về phân cấp quản lý[10]; (iv) dự án thay đổi chủ trương đầu tư do thay đổi cơ cấu nguồn vốn (sử dụng vốn chi thường xuyên thay cho chi đầu tư)[11]; (v) dự án ODA bố trí đủ vốn CTMTQG theo quy mô, đối tượng, mục tiêu được phê duyệt nên không còn nhu cầu sử dụng vốn[12];...
Đối với số vốn đề xuất điều chỉnh giảm nêu trên: trên cơ sở đề xuất bổ sung kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Bộ Tài chính đã có Tờ trình số 243/TTr-BTC ngày 28/5/2025[13] trình Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, điều chỉnh giảm 4.696,8 tỷ đồng kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 của 10 bộ, cơ quan trung ương và 03 địa phương[14] để bổ sung tương ứng cho 03 bộ, cơ quan trung ương và 17 địa phương[15] theo chỉ đạo tại Nghị quyết số 124/NQ-CP ngày 08/5/2025 của Chính phủ.
II. VỀ TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG NGUỒN NSNN NĂM 2025 (Phụ lục I đính kèm)
Bộ Tài chính đánh giá lũy kế giải ngân đến hết tháng 5, ước giải ngân đến hết tháng 6 trên tổng số kế hoạch vốn giao năm 2025 là 966.784,2 tỷ đồng và số kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao là 825.922,3 tỷ đồng (không bao gồm 2.465,2 tỷ đồng vốn CTMTQG do mới được giao bổ sung vào ngày 13/6/2025), để đảm bảo đánh giá khách quan, sát thực tế tiến độ thực hiện của cả nước tính đến thời điểm báo cáo.
- Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/5/2025 là 193.492,6 tỷ đồng, đạt 20,01 % tổng kế hoạch (966.784,2 tỷ đồng).
- Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 30/6/2025 là 281.537,9 tỷ đồng, đạt 29,12% tổng kế hoạch, cụ thể:
1. Giải ngân vốn kế hoạch các năm trước kéo dài sang năm 2025:
- Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/5/2025 là 8.950,3 tỷ đồng, đạt 14,51% kế hoạch (61.699,2 tỷ đồng).
- Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 30/6/2025 là 13.404,1 tỷ đồng, đạt 21,72% kế hoạch.
|
BỘ
TÀI CHÍNH |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số:
9359/BTC-ĐT |
Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2025 |
Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ.
Căn cứ Quyết định số 1508/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2025, giao dự toán, kế hoạch đầu tư công từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương; thực hiện quy định về chế độ báo cáo tình hình giải ngân tại Luật Đầu tư công 2024 và Nghị định số 85/2025/NĐ-CP ngày 08/4/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư công, Bộ Tài chính báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) lũy kế 5 tháng, ước 6 tháng năm 2025 như sau:
I. VỀ TÌNH HÌNH PHÂN BỔ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG NGUỒN NSNN NĂM 2025
1. Kế hoạch đầu tư công nguồn NSNN năm 2025
1.1. Tổng số vốn năm 2025 được Quốc hội quyết nghị[1] và phân bổ cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 829.365 tỷ đồng[2], bao gồm: vốn ngân sách trung ương (NSTW) là 353.638 tỷ đồng (bao gồm: vốn trong nước là 329.038 tỷ đồng, vốn nước ngoài là 24.600 tỷ đồng) và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 475.727 tỷ đồng. Trong đó, vốn Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) là 25.405 tỷ đồng (bao gồm: vốn trong nước là 25.200 tỷ đồng, vốn nước ngoài là 205 tỷ đồng).
Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội, tại Quyết định 1508/QĐ-TTg ngày 04/12/2024, Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2025 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 825.922,3 tỷ đồng, bao gồm: vốn NSTW là 350.195 tỷ đồng (vốn trong nước là 325.605,7 tỷ đồng[3], vốn nước ngoài là 24.589,3 tỷ đồng) và vốn NSĐP là 475.727 tỷ đồng.
Ngày 13/6/2025, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1148/QĐ-TTg về giao bổ sung dự toán chi đầu tư phát triển, kế hoạch đầu tư công vốn NSTW năm 2025 cho các địa phương thực hiện 03 CTMTQG (đợt 2) là 2.465,2 tỷ đồng (vốn trong nước). Nếu tính số vốn CTMTQG mới giao bổ sung, tổng kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao là 828.387,5 tỷ đồng; trong đó, vốn CTMTQG là 24.427,05 tỷ đồng[4].
1.2. Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2025 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo) là 79.162,7 tỷ đồng.
1.3. Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến thời điểm báo cáo là 61.699,2 tỷ đồng, trong đó: NSTW là 34.255,7 tỷ đồng (theo ngành lĩnh vực là 29.075,2 tỷ đồng[5]; CTMTQG là 5.762,9 tỷ đồng), NSĐP là 27.443,5 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch giao năm 2025 (kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 966.784,2 tỷ đồng. Nếu tính số vốn CTMTQG mới giao bổ sung, tổng kế hoạch giao năm 2025 là 969.249,38 tỷ đồng.
2. Tình hình triển khai phân bổ chi tiết kế hoạch vốn của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương
2.1. Kế hoạch vốn đã triển khai phân bổ:
Tổng số vốn đã phân bổ là 896.913,5 tỷ đồng. Nếu không tính số kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng là 79.162,7 tỷ đồng, tổng số vốn đã phân bổ là 817.750,8 tỷ đồng, đạt 99,01% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao (825.922,3 tỷ đồng). Bao gồm NSTW là 342.940,8 tỷ đồng (vốn trong nước là 319.899 tỷ đồng, vốn nước ngoài là 23.042 tỷ đồng), NSĐP là 553.972,7 tỷ đồng.
2.2. Kế hoạch vốn chưa được triển khai phân bổ:
Tính đến ngày 20/6/2025, có 19/47[6] bộ, cơ quan trung ương và 18/63 địa phương chưa phân bổ hết kế hoạch vốn đã được Thủ tướng Chính phủ giao với tổng số vốn chưa phân bổ là 8.171,5 tỷ đồng, chiếm 0,99% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Cụ thể:
- Vốn NSTW chưa phân bổ là 7.254,2 tỷ đồng của 19/47 bộ, cơ quan trung ương và 18/63 địa phương (chiếm 2,07% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (350.195 tỷ đồng). Trong đó: vốn theo ngành, lĩnh vực là 7.097,1 tỷ đồng; vốn CTMTQG là 157,1 tỷ đồng.
- Vốn cân đối NSĐP chưa phân bổ là 917,3 tỷ đồng của Nghệ An[7].
2.3. Về phương án điều chỉnh kế hoạch vốn đầu công nguồn NSTW năm 2025:
- Tại Nghị quyết số 124/NQ-CP ngày 08/5/2025 về phiên họp thường kỳ tháng 4/2025, Chính phủ đã cho phép: (1) 05 bộ, cơ quan trung ương và 19 địa phương tiếp tục thực hiện và giải ngân đối với số vốn phân bổ sau ngày 15/3/2025 với số vốn là 43,8 nghìn tỷ đồng; (2) 03 bộ, cơ quan (Bộ Tài chính, Văn phòng Trung ương Đảng, Tòa án nhân dân tối cao) tiếp tục phân bổ 805 tỷ đồng vốn NSTW chưa phân bổ để thực hiện các dự án quan trọng, sử dụng nguồn tăng thu.
- Theo báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Bộ Tài chính ghi nhận 25 bộ, cơ quan trung ương và 08 địa phương đề nghị điều chỉnh giảm kế hoạch vốn nguồn NSTW năm 2025 (bao gồm số chưa phân bổ và số đã phân bổ chi tiết) là 9.429,16 tỷ đồng (Chi tiết tại Phụ lục IC kèm theo). Theo đó, các nguyên nhân đề xuất điều chỉnh giảm chủ yếu do: (i) đang điều chỉnh quy mô, đối tượng, sự cần thiết đầu tư để phù hợp với bộ máy tổ chức sau khi sắp xếp, sáp nhập[8]; (ii) một số dự án đã bố trí đủ tổng mức đầu tư không còn nhu cầu sử dụng, dự án gặp vướng mắc không có khả năng triển khai thực hiện trong năm 2025, đề xuất kéo dài thời gian thực hiện sang giai đoạn sau hoặc phải dừng thực hiện[9]; (iii) dự án chuyển giao cơ quan chủ quản từ trung ương về địa phương theo quy định mới về phân cấp quản lý[10]; (iv) dự án thay đổi chủ trương đầu tư do thay đổi cơ cấu nguồn vốn (sử dụng vốn chi thường xuyên thay cho chi đầu tư)[11]; (v) dự án ODA bố trí đủ vốn CTMTQG theo quy mô, đối tượng, mục tiêu được phê duyệt nên không còn nhu cầu sử dụng vốn[12];...
Đối với số vốn đề xuất điều chỉnh giảm nêu trên: trên cơ sở đề xuất bổ sung kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Bộ Tài chính đã có Tờ trình số 243/TTr-BTC ngày 28/5/2025[13] trình Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, điều chỉnh giảm 4.696,8 tỷ đồng kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 của 10 bộ, cơ quan trung ương và 03 địa phương[14] để bổ sung tương ứng cho 03 bộ, cơ quan trung ương và 17 địa phương[15] theo chỉ đạo tại Nghị quyết số 124/NQ-CP ngày 08/5/2025 của Chính phủ.
II. VỀ TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG NGUỒN NSNN NĂM 2025 (Phụ lục I đính kèm)
Bộ Tài chính đánh giá lũy kế giải ngân đến hết tháng 5, ước giải ngân đến hết tháng 6 trên tổng số kế hoạch vốn giao năm 2025 là 966.784,2 tỷ đồng và số kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao là 825.922,3 tỷ đồng (không bao gồm 2.465,2 tỷ đồng vốn CTMTQG do mới được giao bổ sung vào ngày 13/6/2025), để đảm bảo đánh giá khách quan, sát thực tế tiến độ thực hiện của cả nước tính đến thời điểm báo cáo.
- Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/5/2025 là 193.492,6 tỷ đồng, đạt 20,01 % tổng kế hoạch (966.784,2 tỷ đồng).
- Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 30/6/2025 là 281.537,9 tỷ đồng, đạt 29,12% tổng kế hoạch, cụ thể:
1. Giải ngân vốn kế hoạch các năm trước kéo dài sang năm 2025:
- Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/5/2025 là 8.950,3 tỷ đồng, đạt 14,51% kế hoạch (61.699,2 tỷ đồng).
- Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 30/6/2025 là 13.404,1 tỷ đồng, đạt 21,72% kế hoạch.
2. Về giải ngân vốn kế hoạch năm 2025:
2.1. Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/5/2025 là 184.542,3 tỷ đồng, đạt 20,4% kế hoạch (905.084,9 tỷ đồng), đạt 22,34% kế.hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Trong đó, CTMTQG là 7.162,5 tỷ đồng (đạt 32,61% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).
2.2. Ước giải ngân từ đầu năm đến ngày 30/6/2025 là 268.133,9 tỷ đồng, đạt 29,6% kế hoạch, đạt 32,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (cùng kỳ năm 2024 đạt 26,4% kế hoạch và đạt 28,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao). Trong đó, CTMTQG là 9.258 tỷ đồng (đạt 42,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).
Cụ thể như sau:
ĐVT: Tỷ đồng
|
STT |
Nội dung |
Ước thanh toán đến ngày 30/6/2025 |
Tỷ lệ (%) thực hiện |
Tỷ lệ (%) so với KH TTg |
Cùng kỳ năm 2024 |
||
|
Số tiền |
Tỷ lệ (%) thực hiện |
Tỷ lệ (%) so với KH TTg |
|||||
|
|
TỔNG SỐ |
268.133,9 |
29,6% |
32,5% |
188.4063 |
26,4% |
28,2% |
|
|
VỐN TRONG NƯỚC |
266.225,8 |
30,2% |
33,2% |
185.773,7 |
26,7% |
28,6% |
|
|
VỐN NƯỚC NGOÀI |
1.908 |
7,8% |
7,8% |
2.632,6 |
13,2% |
13,2% |
|
A |
VỐN NSĐP |
179.669 |
32,4% |
37,8% |
118.624,5 |
24,8% |
27,4% |
|
B |
VỐN NSTW |
88.464,9 |
25,3% |
25,3% |
69.781,8 |
29,5% |
29,5% |
|
- |
Vốn NSTW đầu tư theo ngành, lĩnh vực |
79.206,9 |
24,1% |
24,1% |
61.143,5 |
29,2% |
29,2% |
|
+ |
Vốn trong nước |
77.341,6 |
25,5% |
25,5% |
58.532,7 |
30,7% |
30,7% |
|
+ |
Vốn nước ngoài |
1.865,3 |
7,6% |
7,6% |
2.610,7 |
13,6% |
13,6% |
|
- |
Vốn CTMTQG |
9.258 |
42,2% |
42,2% |
8.6383 |
31,7% |
31,7% |
|
|
Vốn trong nước |
9.215,3 |
42,3% |
42,3% |
8.616,5 |
32,6% |
32,6% |
|
|
Vốn nước ngoài |
42,7 |
22% |
22% |
21,9 |
2,7% |
2,7% |
3. Nhận xét tình hình giải ngân kế hoạch vốn
- Ước giải ngân cả nước đến hết tháng 6 đạt 32,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tiếp tục duy trì tốc độ tích cực, vượt tỷ lệ giải ngân cùng kỳ năm 2024 đạt 28,2%; trong đó, riêng vốn NSĐP có tỷ lệ đạt 37,8% (cao hơn cùng kỳ năm 2024 là 27,4%), vốn NSTW mới đạt 25,3% (tuy tỷ lệ thấp hơn cùng kỳ năm 2024 là 29,5% nhưng cao hơn về số tuyệt đối).
- Bộ Tài chính đã tổng hợp, ước tính tỷ lệ giải ngân 6 tháng tính trên kế hoạch đề xuất điều chỉnh giảm[16] để đảm bảo đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch vốn theo đúng nhu cầu vốn thực tế của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương. Cụ thể:
Kết quả trong 6 tháng năm 2025, so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 08 bộ, cơ quan trung ương và 37 địa phương có tỷ lệ ước giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước[17]; có 32 bộ, cơ quan trung ương và 26 địa phương có tỷ lệ ước giải ngân đạt dưới bình quân chung cả nước[18].
Một số bộ, cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân tốt trên 40% như: Tổng liên đoàn lao động VN (86,4%); Đài Tiếng nói Việt Nam (73,8%); Bộ Công an (45,2%); Ngân hàng Chính sách xã hội (41,2%) và các địa phương giải ngân tốt trên 50% như: Phú Thọ (85,7%); Hà Tĩnh (75,6%); Lào Cai (66,6%), Thái Nguyên (65,4%); Bắc Ninh (62,3%); Hà Nam (59,5%); Ninh Bình (59,5%); Bà Rịa - Vũng Tàu (54,9%); Nam Định (53,9%).
III. NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾN ĐỘ GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG
Tại các Hội nghị thúc đẩy tăng trưởng đầu tư công năm 2025, Bộ Tài chính đã ghi nhận và tổng hợp, báo cáo Chính phủ các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân kế hoạch đầu tư công trong 05 tháng đầu năm. Tính đến nay, kết quả giải ngân của nhiều bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã có chuyển biến tích cực, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, nhờ vậy tỷ lệ giải ngân chung của cả nước đã vượt tỷ lệ giải ngân cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, theo báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, vẫn còn tồn tại một số nguyên nhân gây khó khăn kéo dài, chưa được khắc phục triệt để như sau:
1. Về giải phóng mặt bằng: Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng phục vụ thi công các dự án còn chậm do khó khăn trong việc xác định giá đất đền bù do chưa đạt được thỏa thuận đối với người dân, chậm bàn giao mặt bằng; xác định nguồn gốc sử dụng đất của các hộ gặp nhiều khó khăn do chuyển nhượng nhiều lần nên mất thời gian, việc hoàn thiện hồ sơ thu hồi đất qua nhiều bước; khó khăn trong việc xây dựng bảng giá đất do sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh theo quy định của Luật Đất đai 2024,...
2. Về nguyên vật liệu: Nguồn cung một số nguyên vật liệu hạn chế (đất, cát đắp...); giá nhiều nguyên vật liệu tăng đột biến so với thời điểm mời thầu làm tăng chi phí dự án,...
3. Liên quan quá trình sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp:
Để phù hợp với cơ cấu bộ máy sau khi thực hiện sắp xếp, tinh gọn, các cơ quan trung ương và địa phương phải tạm dừng khởi công mới một số dự án hoặc đang trong quá trình rà soát để xác định lại nhu cầu, điều chỉnh quy mô, phạm vi đầu tư dự án, dẫn đến chưa tiếp tục bố trí vốn thực hiện dự án để chờ kết quả rà soát, tránh lãng phí.
Ngoài ra, việc thay đổi trong trách nhiệm, quyền hạn, quy trình quản lý dự án tại địa phương do không duy trì cấp huyện và các cơ quan chức năng mới sau sắp xếp, sáp nhập cũng là nguyên nhân làm cho công tác thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế xây dựng, công tác thanh toán, quyết toán phải kéo dài thời gian xử lý, ảnh hưởng đến công tác GPMB các dự án của trung ương và địa phương do các đơn vị cấp huyện là tổ chức chủ chốt triển khai công tác giải phóng mặt bằng (GPMB),...
4. Về các dự án ODA: các dự án chậm giải ngân do (i) chưa hoàn thành quy trình thủ tục đầu tư (đang điều chỉnh, gia hạn thời gian thực hiện, thời gian giải ngân hoặc chưa hoàn thiện các thủ tục ký kết và hiệu lực của Hiệp định vay); đang thực hiện các thủ tục cho công tác đấu thầu, chuẩn bị ký kết Hợp đồng và xử lý các vướng mắc trong công tác GPMB; (iii) một số bộ ngành, địa phương vẫn ưu tiên tập trung hoàn chứng từ các khoản giải ngân từ tài khoản đặc biệt theo kế hoạch vốn năm 2024,...
5. Về nguồn thu NSĐP: Các khó khăn liên quan đến nguồn thu sử dụng đất do chưa đảm bảo so với dự toán được cấp thẩm quyền giao, một số địa phương có số thu từ đất lớn nhưng từ đầu năm chưa thu được dẫn đến chậm phân bổ nguồn thu sử dụng đất, ảnh hưởng việc triển khai thực hiện và giải ngân các dự án sử dụng nguồn vốn này.
6. Về CTMTQG:
- Việc hoàn thiện thể chế xử lý khó khăn, vướng mắc còn chậm, đến nay, vẫn chưa hoàn thành xử lý vướng mắc đối với các nhiệm vụ dở dang tại các xã đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới trong thực hiện CTMTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
- Định mức hỗ trợ thực hiện một số nội dung thuộc các chương trình (như mức hỗ trợ tiền ăn cho đối tượng đào tạo nghề, mức hỗ trợ phát triển sản xuất...) còn thấp, chưa tạo sự khuyến khích các đối tượng tham gia thực hiện.
IV. VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN QUAN TRỌNG QUỐC GIA NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI (Phụ lục III đính kèm)
- Các bộ, cơ quan, địa phương đã phân bổ chi tiết toàn bộ 11/11 dự án quan trọng quốc gia ngành giao thông vận tải với tổng số vốn là 88.750,1 tỷ đồng, trong đó: vốn NSTW là 74.352,6 tỷ đồng; vốn NSĐP là 14.397,5 tỷ đồng. Bộ Tài chính đã kịp thời duyệt dự toán để đảm bảo vốn cho các dự án.
- Đến hết ngày 31/5/2025, tổng số vốn giải ngân của 11 dự án quan trọng quốc gia ngành giao thông vận tải là 14.606,5 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 16,5% kế hoạch được giao (88.750,1 tỷ đồng), trong đó, vốn NSTW là 12.734,9 tỷ đồng, đạt 17,1%; vốn NSĐP là 1.871,6 tỷ đồng, đạt 13%.
Như vậy, hết 5 tháng đầu năm, tiến độ giải ngân các dự án quan trọng quốc gia ngành giao thông vận tải vẫn còn chậm, tiếp tục thấp hơn so với tỷ lệ giải ngân chung của Bộ Xây dựng (sau sáp nhập) (19,7%) và bình quân chung của cả nước (22,34%).
- Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, thời gian qua các địa phương, các chủ đầu tư đã nỗ lực cố gắng, chủ động triển khai, khắc phục các khó khăn để đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân các dự án, cụ thể: (i) vướng mắc về GPMB (Vành đai 3 TP Hồ Chí Minh; Đường HCM đoạn Chợ Chu - Ngã ba Trung Sơn); (ii) thiếu nguồn nguyên vật liệu (DATP3, DATP4 Cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; Cao tốc Hòa Liên - Túy Loan); (iii) một số DATP án đã hoàn thành, dư vốn, hiện đang điều chỉnh vốn cho các DATP khác và bổ sung cho Đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (Cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020; Cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021- 2025); (iv) dự án đang lựa chọn nhà đầu tư, chưa thi công (DATP3 Vành đai 4 Vùng thủ đô Hà Nội)...
Bộ Tài chính được giao làm đơn vị đầu mối đôn đốc, tổng hợp báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương thuộc các Tổ công tác kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công theo Quyết định số 523/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Theo phân công, Bộ Tài chính đã có báo cáo về tình hình thực hiện và giải ngân của các bộ, cơ quan trung ương thuộc từng Tổ công tác; trong đó, đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp để phấn đấu hoàn thành mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 đồng thời đã trả lời kiến nghị của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương thuộc lĩnh vực được giao và kiến nghị các bộ, cơ quan trung ương trả lời các kiến nghị thuộc lĩnh vực phụ trách, gửi các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thuộc các Tổ công tác.
VI. VỀ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP CỦA BỘ TÀI CHÍNH
Để triển khai đảm bảo tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 đạt mục tiêu 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng đạt mục tiêu 8% năm 2025, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, triển khai kịp thời, quyết liệt, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại các Hội nghị thúc đẩy tăng trưởng đầu tư công năm 2025. Theo đó, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tầm như sau: (1) Phát huy hơn nữa vai trò người đứng đầu các Bộ, cơ quan, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các dự án đầu tư công; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, xử lý vướng mắc phát sinh ngay tại đơn vị, công trường dự án, đảm bảo kịp thời, linh hoạt, hiệu quả. (2) Đánh giá, biểu dương khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân làm tốt; phê bình xử lý tập thể, cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công. (3) Quyết liệt chỉ đạo, tổ chức triển khai, bảo đảm không để xảy ra tình trạng đứt gãy, gián đoạn trong việc triển khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công trong giai đoạn sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp, chuẩn bị kết thúc chính quyền địa phương cấp huyện. (4) Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia trong lĩnh vực giao thông vận tải để phấn đấu hoàn thành ít nhất 3.000km đường bộ cao tốc; khẩn trương chủ động chuẩn bị để tổ chức khánh thành, khởi công đồng loạt các công trình, dự án trên cả nước, chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. (5) Tiếp tục phát huy vai trò của 07 Tổ công tác kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công năm 2025; các thành viên Tổ công tác theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động nắm bắt, kịp thời tháo gỡ, xử lý những khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền...
Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ./
|
|
KT.
BỘ TRƯỞNG |
[1] Tại Nghị quyết số 160/2024/QH15 ngày 13/11/2024 của Quốc hội
[2] Không bao gồm 19.480 tỷ đồng chi cho các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển không thuộc phạm vi của Luật Đầu tư công (bao gồm thanh toán bù giá cho dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn; Cấp vốn cho Quỹ hỗ trợ đầu tư) và 520 tỷ đồng kinh phí bổ sung vốn điều lệ cho các doanh nghiệp quốc phòng.
[3] Vốn trong nước nguồn NSTW bao gồm: 266.968 tỷ đồng từ nguồn kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025; 58.638 tỷ đồng từ nguồn tăng thu NSTW năm 2021, 2022, 2023.
[4] Vốn CTMTQG còn lại chưa giao chi tiết là 978 tỷ đồng (vốn trong nước: 967,3 tỷ đồng, vốn nước ngoài: 10,7 tỷ đồng).
[5] Trong đó: 15.823,86 tỷ đồng vốn NSTW mới được cho phép kéo dài tại văn bản số 7067/BTC-TH ngày 23/5/2025 của Bộ Tài chính về thông báo kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn NSTW năm 2024 sang năm 2025.
[6] Không bao gồm BQL khu công nghệ cao Hòa Lạc, do đã được điều chuyển kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025 và kế hoạch năm 2024 sang TP Hà Nội. Tuy nhiên, theo Quyết định số 1508/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, BQL khu công nghệ cao Hòa Lạc vẫn được giao kế hoạch năm 2025 là 563,197 tỷ đồng, chưa giao cho TP Hà Nội quản lý.
[7] Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An đã thông qua dự kiến phương án phân bổ cho các dự án và các chủ đầu tư đang hoàn thiện hồ sơ thủ tục để trình cấp thẩm quyền phê duyệt.
[8] Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ.
[9] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban dân tộc, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đài Tiếng nói, Viện HL Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Quốc hội; Thái Nguyên, Quảng Bình, Kiên Giang, Sóc Trăng, Hà Tĩnh, Hà Giang...
[10] Bộ Giao thông vận tải. Cụ thể; số vốn chưa phân bổ tương ứng với số vốn dự kiến phân bổ cho “Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 24B đoạn Km23+050 - Km29+800 tỉnh Quảng Ngãi”, thực hiện quy định phân cấp Quốc lộ về địa phương tại Nghị định số 165/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ.
[11] Văn phòng Quốc hội.
[12] Nghệ An, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Đắk Nông.
[13] Về việc phân bổ, điều chỉnh kế hoạch đầu tư vốn NSTW năm 2025 từ nguồn tăng thu NSTW năm 2022; điều chỉnh Kế hoạch đầu tư công vốn NSTW năm 2025 giữa các bộ, cơ quan trung ương và địa phương; điều chỉnh kế hoạch đầu tư công vốn NSTW năm 2025 để phù hợp với tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương sau sắp xếp.
[14] Bao gồm: Bộ Kế hoạch và đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ việt Nam; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Thái Nguyên; Điện Biên; Kiên Giang.
[15] Bao gồm: Bộ Xây dựng; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Hội Nông dân Việt Nam; Tuyên Quang; Yên Bái; Sơn La; Lai Châu; Hà Nam; Ninh Bình; Thái Bình; Quảng Ngãi; Gia Lai; Kon Tum; Lâm Đồng; Thành phố Hồ Chí Minh; Bình Dương; Tây Ninh; Bến Tre; Vĩnh Long; Thành phố Cần Thơ.
[16] Bao gồm tổng hợp đề xuất điều chỉnh vốn NSTW của 10 bộ, cơ quan trung ương và 03 địa phương đang trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định (Tờ trình số 243/TTr-BTC ngày 28/5/2025 của Bộ Tài chính).
[17] Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Tài chính; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Đài Tiếng nói việt Nam; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam; Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Ngân hàng Chính sách xã hội; Hà Giang; Tuyên Quang; Cao Bằng; Lào Cai; Yên Bái; Thái Nguyên; Bắc Kạn; Phú Thọ; Bắc Giang; Điện Biên; Quảng Ninh; Hải Dương; Vĩnh Phúc; Bắc Ninh; Nam Định; Thái Bình; Thanh Hóa; Nghệ An; Hà Tĩnh; Quảng Bình; Thành phố Huế; Quảng Nam; Quảng Ngãi; Bình Định; Khánh Hòa; Ninh Thuận; Bình Thuận; Đắk Lắk; Gia Lai; Kon Tum; Bà Rịa Vũng Tàu; Long An; Tiền Giang; Vĩnh Long; Sóc Trăng.
[18] Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Trung ương Đảng; Văn phòng Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Bộ Ngoại giao; Bộ Tư pháp; Bộ Công Thương; Bộ Xây dựng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Nội vụ; Thanh tra Chính phủ; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Kiểm toán Nhà nước; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Nông dân Việt Nam; Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Tập đoàn Điện lực Việt Nam; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam; Lạng Sơn; Hòa Bình; Sơn La; Lai Châu; Thành phố Hà Nội, Thành phố Hài Phòng; Hưng Yên; Quảng Trị; Thành phố Đà Nẵng; Phú Yên; Đắk Nông; Lâm Đồng; Thành phố Hồ Chí Minh; Đồng Nai; Bình Dương; Bình Phước; Tây Ninh; Bến Tre; Trà Vinh; Thành phố Cần Thơ; Hậu Giang; An Giang; Đồng Tháp; Kiên Giang; Bạc Liêu; Cà Mau.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh
