Công văn 680/CT-QLT2 năm 2024 về khai, nộp thuế khi chuyển nhượng tài sản bảo đảm là bất động sản do Cục Thuế doanh nghiệp lớn ban hành
| Số hiệu | 680/CT-QLT2 |
| Ngày ban hành | 13/06/2024 |
| Ngày có hiệu lực | 13/06/2024 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Cục Thuế Doanh nghiệp lớn |
| Người ký | Nguyễn Tiến Hưng |
| Lĩnh vực | Thuế - Phí - Lệ Phí,Bất động sản |
|
TỔNG CỤC THUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 680/CT-QLT2 |
Hà Nội, ngày 13 tháng 6 năm 2024 |
Kính gửi: Tổng cục Thuế.
Cục Thuế doanh nghiệp lớn nhận được công văn số 29/HHNH-PLNV ngày 15/01/2024 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, công văn số 03/2024/CV-HDBank ngày 08/01/2024 của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh, công văn số 15173/NHNo-TCKT ngày 12/12/2023 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, công văn số 578/MBN-TCKT ngày 31/8/2022 và công văn số 897/MBN-TCKT ngày 27/12/2023 của Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC) phản ánh vướng mắc về việc thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế khi chuyển nhượng tài sản bảo đảm (TSBĐ) là bất động sản để thu hồi nợ. Về vấn đề này, Cục Thuế doanh nghiệp lớn báo cáo Tổng cục như sau:
1. Vướng mắc của các tổ chức tín dụng (TCTD)
Đối với hoạt động ngân hàng, trường hợp các TCTD cho khách hàng vay vốn trên cơ sở nhận TSBĐ khoản vay là bất động sản nếu khách hàng không trả được nợ đến hạn và các bên không có thỏa thuận khác thì TCTD có quyền xử lý nợ, bán tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng đã ký kết.
Theo quy định tại Điều 139 Luật Các TCTD năm 2024 thì trong thời hạn 05 năm (Luật Các TCTD năm 2010 quy định trong thời hạn 03 năm) kể từ ngày quyết định xử lý TSBĐ là bất động sản, TCTD phải bán, chuyển nhượng hoặc mua lại bất động sản này để bảo đảm tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định và mục đích sử dụng tài sản cố định quy định. Như vậy, tại thời điểm bán, chuyển nhượng thì TSBĐ này vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (khách hàng đi vay).
Quy định về khai, nộp thuế của TCTD khi bán, chuyển nhượng bất động sản là TSBĐ như sau:
a. Về thuế GTGT:
Theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 4[1] Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT thì bán TSBĐ tiền vay do TCTD hoặc cơ quan thi hành án để trả nợ khoản vay có bảo đảm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
b. Về thuế TNCN:
Theo quy định tại điểm g[2] khoản 4 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính Phủ và tiết a.1[3] khoản 3 Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì đối với trường hợp bên có TSBĐ là cá nhân thì khi bán TSBĐ là bất động sản, TCTD kê khai, nộp thuế TNCN theo từng lần phát sinh thay cho cá nhân có TSBĐ.
c. Về thuế TNDN:
Tại khoản 4 Điều 17 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính quy định “Trường hợp tổ chức tín dụng nhận giá trị bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thì tổ chức tín dụng khi được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật phải kê khai nộp thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào Ngân sách Nhà nước”.
Như vậy, pháp luật thuế TNDN đã có quy định TCTD thực hiện việc kê khai, nộp thuế thay cho bên có TSBĐ khi thực hiện bán, chuyển nhượng TSBĐ là bất động sản. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế (Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC) hiện nay chưa có quy định về khai theo từng lần phát sinh và thủ tục, mẫu biểu khai thuế của trường hợp này[4].
Trước đây, tại khoản 2[5] Điều 12 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 được sửa đổi, bổ sung tại Điều 16 Thông tư số 151/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính có quy định đối với các doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh bất động sản khi chuyển nhượng bất động sản thực hiện khai thuế TNDN theo từng lần phát sinh (nếu có nhu cầu). Vận dụng theo quy định này, các TCTD khi chuyển nhượng TSBĐ là bất động sản đã thực hiện kê khai, nộp thuế thay theo từng lần phát sinh cho bên có TSBĐ. Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và điểm b khoản 2, tiết b.2 điểm b khoản 3 Điều 17 Thông tư số 80/2021/TT-BTC đã quy định cụ thể các trường hợp khai thuế theo từng lần phát sinh và không quy định khai theo từng lần phát sinh khi chuyển nhượng bất động sản (trừ trường hợp người nộp thuế thực hiện khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và khai thuế TNDN theo phương pháp tỷ lệ trên doanh thu), dẫn đến hiện nay các TCTD không có cơ sở để thực hiện kê khai, nộp thuế TNDN thay cho bên có TSBĐ khi bán, chuyển nhượng TSBĐ là bất động sản.
2. Vướng mắc của Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC)
Căn cứ Nghị định số 129/2020/NĐ-CP ngày 27/10/2020 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ của DATC thì DATC được mua các khoản nợ và tài sản (bao gồm cả tài sản gắn liền với đất là tài sản bảo đảm của khoản nợ) của các tổ chức và cá nhân, DATC được kế thừa các quyền và nghĩa vụ của chủ nợ, chủ tài sản, bên nhận bảo đảm liên quan đến các khoản nợ, tài sản đã mua theo quy định của pháp luật.
Như vậy, DATC được mua các khoản nợ bao gồm cả khoản nợ có tài sản gắn liền với đất là TSBĐ của khoản nợ của các TCTD. Tuy nhiên, về đối tượng không chịu thuế GTGT khi bán TSBĐ tại Thông tư số 219/2013/TT-BTC hay các quy định về khai thay, nộp thuế TNCN, thuế TNDN thay cho bên đi vay (bên có TSBĐ) khi bán TSBĐ để thu hồi nợ trong các pháp luật thuế chỉ có quy định cho các TCTD, chưa có quy định đối với các tổ chức như DATC.
Về thủ tục, mẫu biểu khai, nộp thuế TNDN, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC hiện nay chưa có quy định về khai theo từng lần phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và thủ tục, mẫu biểu kê khai đối với trường hợp này. Do đó, DATC gặp vướng mắc tương tự như các TCTD khi thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế TNDN thay cho bên có TSBĐ khi bán, chuyển nhượng TSBĐ là bất động sản.
II. Ý kiến Cục Thuế doanh nghiệp lớn
Qua nghiên cứu các nội dung vướng mắc như đã nêu ở trên, Cục Thuế doanh nghiệp lớn thấy rằng:
1. Đối với các tổ chức tín dụng
Quy định của pháp luật về thuế TNDN có quy định các TCTD khi được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật thì các TCTD phải kê khai nộp thuế TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào NSNN. Trường hợp, TSBĐ là bất động sản chưa sang tên cho TCTD mà vẫn thuộc quyền sở hữu của bên có TSBĐ thì TCTD phải đứng ra để khai thay, nộp thay thuế TNDN cho bên có TSBĐ. Tuy nhiên, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC hiện nay chưa có quy định về khai theo từng lần phát sinh và mẫu biểu khai thuế đối với trường hợp TCTD khai thay bên có TSBĐ khi bán TSBĐ là bất động sản.
Cục Thuế DNL đề nghị Tổng cục Thuế (Vụ Chính sách) nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuế (sửa đổi Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, Thông tư số 80/2021/TT-BTC) tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD khai, nộp thuế khi bán TSBĐ là bất động sản để thu hồi nợ, phù hợp với bản chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
2. Đối với Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam
Theo quy định DATC được mua các khoản nợ và tài sản (bao gồm cả tài sản gắn liền với đất là TSBĐ của khoản nợ), khi đó DATC được kế thừa các quyền và nghĩa vụ của chủ nợ, chủ tài sản, bên nhận bảo đảm liên quan đến các khoản nợ, tài sản đã mua theo quy định của pháp luật, về bản chất, nghiệp vụ xử lý, bán TSBĐ là bất động sản do DATC mua lại từ các TCTD là tương tự như nghiệp vụ bán TSBĐ để thu hồi nợ của các TCTD.
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về thuế trong trường hợp bán TSBĐ để thu hồi nợ hiện nay chỉ quy định cụ thể cho các TCTD mà chưa có quy định đối với DATC (hoặc VAMC). Do đó, Cục Thuế DNL đề nghị Tổng cục Thuế (Vụ Chính sách) nghiên cứu báo cáo Bộ Tài chính (qua Cục QLGS Chính sách thuế, phí và lệ phí) để hoàn thiện các quy định về chính sách thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNDN theo hướng thống nhất về mặt chính sách thuế áp dụng đối với TCTD và các tổ chức khác có chức năng mua, bán, xử lý nợ theo quy định của pháp luật.
Cục Thuế doanh nghiệp lớn kính báo cáo./.
|
TỔNG CỤC THUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 680/CT-QLT2 |
Hà Nội, ngày 13 tháng 6 năm 2024 |
Kính gửi: Tổng cục Thuế.
Cục Thuế doanh nghiệp lớn nhận được công văn số 29/HHNH-PLNV ngày 15/01/2024 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, công văn số 03/2024/CV-HDBank ngày 08/01/2024 của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh, công văn số 15173/NHNo-TCKT ngày 12/12/2023 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, công văn số 578/MBN-TCKT ngày 31/8/2022 và công văn số 897/MBN-TCKT ngày 27/12/2023 của Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC) phản ánh vướng mắc về việc thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế khi chuyển nhượng tài sản bảo đảm (TSBĐ) là bất động sản để thu hồi nợ. Về vấn đề này, Cục Thuế doanh nghiệp lớn báo cáo Tổng cục như sau:
1. Vướng mắc của các tổ chức tín dụng (TCTD)
Đối với hoạt động ngân hàng, trường hợp các TCTD cho khách hàng vay vốn trên cơ sở nhận TSBĐ khoản vay là bất động sản nếu khách hàng không trả được nợ đến hạn và các bên không có thỏa thuận khác thì TCTD có quyền xử lý nợ, bán tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng đã ký kết.
Theo quy định tại Điều 139 Luật Các TCTD năm 2024 thì trong thời hạn 05 năm (Luật Các TCTD năm 2010 quy định trong thời hạn 03 năm) kể từ ngày quyết định xử lý TSBĐ là bất động sản, TCTD phải bán, chuyển nhượng hoặc mua lại bất động sản này để bảo đảm tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định và mục đích sử dụng tài sản cố định quy định. Như vậy, tại thời điểm bán, chuyển nhượng thì TSBĐ này vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (khách hàng đi vay).
Quy định về khai, nộp thuế của TCTD khi bán, chuyển nhượng bất động sản là TSBĐ như sau:
a. Về thuế GTGT:
Theo quy định tại điểm a khoản 8 Điều 4[1] Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT thì bán TSBĐ tiền vay do TCTD hoặc cơ quan thi hành án để trả nợ khoản vay có bảo đảm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
b. Về thuế TNCN:
Theo quy định tại điểm g[2] khoản 4 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính Phủ và tiết a.1[3] khoản 3 Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì đối với trường hợp bên có TSBĐ là cá nhân thì khi bán TSBĐ là bất động sản, TCTD kê khai, nộp thuế TNCN theo từng lần phát sinh thay cho cá nhân có TSBĐ.
c. Về thuế TNDN:
Tại khoản 4 Điều 17 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính quy định “Trường hợp tổ chức tín dụng nhận giá trị bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thì tổ chức tín dụng khi được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật phải kê khai nộp thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào Ngân sách Nhà nước”.
Như vậy, pháp luật thuế TNDN đã có quy định TCTD thực hiện việc kê khai, nộp thuế thay cho bên có TSBĐ khi thực hiện bán, chuyển nhượng TSBĐ là bất động sản. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế (Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC) hiện nay chưa có quy định về khai theo từng lần phát sinh và thủ tục, mẫu biểu khai thuế của trường hợp này[4].
Trước đây, tại khoản 2[5] Điều 12 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 được sửa đổi, bổ sung tại Điều 16 Thông tư số 151/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính có quy định đối với các doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh bất động sản khi chuyển nhượng bất động sản thực hiện khai thuế TNDN theo từng lần phát sinh (nếu có nhu cầu). Vận dụng theo quy định này, các TCTD khi chuyển nhượng TSBĐ là bất động sản đã thực hiện kê khai, nộp thuế thay theo từng lần phát sinh cho bên có TSBĐ. Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và điểm b khoản 2, tiết b.2 điểm b khoản 3 Điều 17 Thông tư số 80/2021/TT-BTC đã quy định cụ thể các trường hợp khai thuế theo từng lần phát sinh và không quy định khai theo từng lần phát sinh khi chuyển nhượng bất động sản (trừ trường hợp người nộp thuế thực hiện khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và khai thuế TNDN theo phương pháp tỷ lệ trên doanh thu), dẫn đến hiện nay các TCTD không có cơ sở để thực hiện kê khai, nộp thuế TNDN thay cho bên có TSBĐ khi bán, chuyển nhượng TSBĐ là bất động sản.
2. Vướng mắc của Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC)
Căn cứ Nghị định số 129/2020/NĐ-CP ngày 27/10/2020 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ của DATC thì DATC được mua các khoản nợ và tài sản (bao gồm cả tài sản gắn liền với đất là tài sản bảo đảm của khoản nợ) của các tổ chức và cá nhân, DATC được kế thừa các quyền và nghĩa vụ của chủ nợ, chủ tài sản, bên nhận bảo đảm liên quan đến các khoản nợ, tài sản đã mua theo quy định của pháp luật.
Như vậy, DATC được mua các khoản nợ bao gồm cả khoản nợ có tài sản gắn liền với đất là TSBĐ của khoản nợ của các TCTD. Tuy nhiên, về đối tượng không chịu thuế GTGT khi bán TSBĐ tại Thông tư số 219/2013/TT-BTC hay các quy định về khai thay, nộp thuế TNCN, thuế TNDN thay cho bên đi vay (bên có TSBĐ) khi bán TSBĐ để thu hồi nợ trong các pháp luật thuế chỉ có quy định cho các TCTD, chưa có quy định đối với các tổ chức như DATC.
Về thủ tục, mẫu biểu khai, nộp thuế TNDN, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC hiện nay chưa có quy định về khai theo từng lần phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và thủ tục, mẫu biểu kê khai đối với trường hợp này. Do đó, DATC gặp vướng mắc tương tự như các TCTD khi thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế TNDN thay cho bên có TSBĐ khi bán, chuyển nhượng TSBĐ là bất động sản.
II. Ý kiến Cục Thuế doanh nghiệp lớn
Qua nghiên cứu các nội dung vướng mắc như đã nêu ở trên, Cục Thuế doanh nghiệp lớn thấy rằng:
1. Đối với các tổ chức tín dụng
Quy định của pháp luật về thuế TNDN có quy định các TCTD khi được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật thì các TCTD phải kê khai nộp thuế TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào NSNN. Trường hợp, TSBĐ là bất động sản chưa sang tên cho TCTD mà vẫn thuộc quyền sở hữu của bên có TSBĐ thì TCTD phải đứng ra để khai thay, nộp thay thuế TNDN cho bên có TSBĐ. Tuy nhiên, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC hiện nay chưa có quy định về khai theo từng lần phát sinh và mẫu biểu khai thuế đối với trường hợp TCTD khai thay bên có TSBĐ khi bán TSBĐ là bất động sản.
Cục Thuế DNL đề nghị Tổng cục Thuế (Vụ Chính sách) nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuế (sửa đổi Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, Thông tư số 80/2021/TT-BTC) tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD khai, nộp thuế khi bán TSBĐ là bất động sản để thu hồi nợ, phù hợp với bản chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
2. Đối với Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam
Theo quy định DATC được mua các khoản nợ và tài sản (bao gồm cả tài sản gắn liền với đất là TSBĐ của khoản nợ), khi đó DATC được kế thừa các quyền và nghĩa vụ của chủ nợ, chủ tài sản, bên nhận bảo đảm liên quan đến các khoản nợ, tài sản đã mua theo quy định của pháp luật, về bản chất, nghiệp vụ xử lý, bán TSBĐ là bất động sản do DATC mua lại từ các TCTD là tương tự như nghiệp vụ bán TSBĐ để thu hồi nợ của các TCTD.
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về thuế trong trường hợp bán TSBĐ để thu hồi nợ hiện nay chỉ quy định cụ thể cho các TCTD mà chưa có quy định đối với DATC (hoặc VAMC). Do đó, Cục Thuế DNL đề nghị Tổng cục Thuế (Vụ Chính sách) nghiên cứu báo cáo Bộ Tài chính (qua Cục QLGS Chính sách thuế, phí và lệ phí) để hoàn thiện các quy định về chính sách thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNDN theo hướng thống nhất về mặt chính sách thuế áp dụng đối với TCTD và các tổ chức khác có chức năng mua, bán, xử lý nợ theo quy định của pháp luật.
Cục Thuế doanh nghiệp lớn kính báo cáo./.
|
|
KT. CỤC TRƯỞNG |
[1] - Bán tài sản bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng hoặc do cơ quan thi hành án hoặc bên đi vay vốn tự bán tài sản bảo đảm theo ủy quyền của bên cho vay để trả nợ khoản vay có bảo đảm, cụ thể:
…
Trường hợp hết thời gian trả nợ, người có tài sản bảo đảm không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản cho tổ chức tín dụng để tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật, các bên thực hiện thủ tục bàn giao tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật thì không phải xuất hóa đơn GTGT.
Trường hợp tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tổ chức tín dụng thực hiện hạch toán tăng giá trị tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh theo quy định. Khi tổ chức tín dụng bán tài sản phục vụ hoạt động kinh doanh nếu tài sản thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì tổ chức tín dụng phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định.
[2] Các loại thuế, khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước khai theo từng lần phát sinh, bao gồm:
…
g) Thuế thu nhập cá nhân do cá nhân trực tiếp khai thuế hoặc tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;
[3] a.1) Trường hợp cá nhân có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà nhưng đem thế chấp, bảo lãnh vay vốn hoặc thanh toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đến hết thời hạn trả nợ, cá nhân không có khả năng trả nợ thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài làm thủ tục phát mại, bán bất động sản đó đồng thời thực hiện khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân thay cho cá nhân trước khi thực hiện thanh quyết toán các khoản nợ của cá nhân.
[4] Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định về khai thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN của tổ chức tín dụng hoặc bên thứ 3 được tổ chức tín dụng ủy quyền khai thác TSBĐ trong thời gian chờ xử lý thay cho người nộp thuế có TSBĐ, không có quy định về khai thuế, nộp thuế khi xử lý, bán TSBĐ.
[5] - Khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng lần phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản áp dụng đối với doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh bất động sản và doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản nếu có nhu cầu.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh