Công văn 649/TANDTC-PC năm 2026 trả lời phản ánh, kiến nghị của công dân về sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa, phiên họp do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
| Số hiệu | 649/TANDTC-PC |
| Ngày ban hành | 19/10/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 19/10/2026 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Tòa án nhân dân tối cao |
| Người ký | Nguyễn Văn Tùng |
| Lĩnh vực | Thủ tục Tố tụng |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số:
649/TANDTC-PC |
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2026 |
Kính gửi: Bà Hoàng Thị Ngọc Lợi
Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh, kiến nghị mã PAKN: 1785084923991 của bà đề nghị cho ý kiến về Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC ngày 30/12/2026. Sau khi nghiên cứu nội dung phản ánh, kiến nghị của bà, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến về các nội dung trong phản ánh, kiến nghị như sau:
Về nội dung này, theo hướng dẫn tại mục 1 và mục 3 của Công văn 529/TANDTC-PC ngày 19/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn việc thực hiện Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC ngày 30/5/2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Thẩm phán căn cứ vào các tiêu chí sau để xem xét, quyết định việc cho phép sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa, phiên họp: (1) Tính chất, nội dung của vụ án, vụ việc, quy định của pháp luật; (2) đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự, văn minh, sự tôn nghiêm của Tòa án; sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, vô tư, khách quan trong giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc; (3) yêu cầu bảo vệ quyền con người của bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác trong vụ án, vụ việc; yêu cầu giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên, giữ bí mật của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật; (4) bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của họ tại phiên tòa, phiên họp.
Về nội dung này, việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của người tiến hành tố tụng khác, người tham gia phiên tòa, phiên họp thì phải được sự đồng ý của họ và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp được quy định tại khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và được cụ thể hóa tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC. Bên cạnh đó, Công văn số 529/TANDTC-PC ngày 19/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu: Các Tòa án tạo điều kiện thuận lợi để người tiến hành tố tụng, người tham gia phiên tòa, phiên họp được sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa, phiên họp phục vụ tra cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ hoặc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp theo đúng quy định.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 236 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 166 của Luật Tố tụng hành chính, khoản 1 Điều 258 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì toàn bộ diễn biến của phiên tòa, phiên họp phải được lập thành biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án, vụ việc. Biên bản phiên tòa là văn bản có giá trị pháp lý; người tham gia tố tụng được phép xem, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa theo quy định của pháp luật.
Khoản 4 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Điều 7 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC quy định Tòa án tiến hành ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp trong trường hợp cần thiết để phục vụ nhiệm vụ chuyên môn. Đây không phải quy định buộc Tòa án ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến mọi phiên tòa, phiên họp và cung cấp bản ghi cho các bên để trích xuất.
Đối với kết quả ghi âm, ghi hình mà Tòa án đã thực hiện thì khoản 3 Điều 7 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC quy định: “Người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này quyết định việc cung cấp kết quả ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, kết quả ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp được cung cấp khi đáp ứng các điều kiện tại các điểm a, b, c và d khoản này.”. Việc sử dụng kết quả phải đáp ứng đúng yêu cầu tại khoản 4 Điều 7 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC.
Về nội dung này, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Điều 68 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC được ban hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp.
Để thống nhất thực hiện Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 529/TANDTC-PC ngày 19/8/2026. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị khác, đề nghị bà phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để tổng hợp, báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC.
Tòa án nhân dân tối cao trả lời bà để biết./.
|
Nơi nhận: |
TL. CHÁNH ÁN |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số:
649/TANDTC-PC |
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2026 |
Kính gửi: Bà Hoàng Thị Ngọc Lợi
Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh, kiến nghị mã PAKN: 1785084923991 của bà đề nghị cho ý kiến về Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC ngày 30/12/2026. Sau khi nghiên cứu nội dung phản ánh, kiến nghị của bà, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến về các nội dung trong phản ánh, kiến nghị như sau:
Về nội dung này, theo hướng dẫn tại mục 1 và mục 3 của Công văn 529/TANDTC-PC ngày 19/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn việc thực hiện Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC ngày 30/5/2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Thẩm phán căn cứ vào các tiêu chí sau để xem xét, quyết định việc cho phép sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa, phiên họp: (1) Tính chất, nội dung của vụ án, vụ việc, quy định của pháp luật; (2) đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự, văn minh, sự tôn nghiêm của Tòa án; sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, vô tư, khách quan trong giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc; (3) yêu cầu bảo vệ quyền con người của bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác trong vụ án, vụ việc; yêu cầu giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên, giữ bí mật của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật; (4) bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của họ tại phiên tòa, phiên họp.
Về nội dung này, việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của người tiến hành tố tụng khác, người tham gia phiên tòa, phiên họp thì phải được sự đồng ý của họ và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp được quy định tại khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và được cụ thể hóa tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC. Bên cạnh đó, Công văn số 529/TANDTC-PC ngày 19/8/2026 của Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu: Các Tòa án tạo điều kiện thuận lợi để người tiến hành tố tụng, người tham gia phiên tòa, phiên họp được sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa, phiên họp phục vụ tra cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ hoặc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp theo đúng quy định.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 236 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 166 của Luật Tố tụng hành chính, khoản 1 Điều 258 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì toàn bộ diễn biến của phiên tòa, phiên họp phải được lập thành biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án, vụ việc. Biên bản phiên tòa là văn bản có giá trị pháp lý; người tham gia tố tụng được phép xem, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa theo quy định của pháp luật.
Khoản 4 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Điều 7 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC quy định Tòa án tiến hành ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp trong trường hợp cần thiết để phục vụ nhiệm vụ chuyên môn. Đây không phải quy định buộc Tòa án ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến mọi phiên tòa, phiên họp và cung cấp bản ghi cho các bên để trích xuất.
Đối với kết quả ghi âm, ghi hình mà Tòa án đã thực hiện thì khoản 3 Điều 7 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC quy định: “Người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này quyết định việc cung cấp kết quả ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, kết quả ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp được cung cấp khi đáp ứng các điều kiện tại các điểm a, b, c và d khoản này.”. Việc sử dụng kết quả phải đáp ứng đúng yêu cầu tại khoản 4 Điều 7 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC.
Về nội dung này, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Điều 68 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC được ban hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp.
Để thống nhất thực hiện Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 529/TANDTC-PC ngày 19/8/2026. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị khác, đề nghị bà phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để tổng hợp, báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC.
Tòa án nhân dân tối cao trả lời bà để biết./.
|
Nơi nhận: |
TL. CHÁNH ÁN |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh