Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến vướng mắc trong công tác xét xử do Tòa án nhân dân tối cao ban hành

Số hiệu 250/TANDTC-PC
Ngày ban hành 28/04/2026
Ngày có hiệu lực 28/04/2026
Loại văn bản Công văn
Cơ quan ban hành Tòa án nhân dân tối cao
Người ký Nguyễn Văn Tiến
Lĩnh vực Thủ tục Tố tụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 250/TANDTC-PC
V/v thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử

Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2026

 

Kính gửi:

- Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;
- Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 01/4/2026, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị trực tuyến để Hội đồng Thẩm phán giải đáp một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các vụ án, vụ việc tại các Tòa án, đơn vị. Trên cơ sở các vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

I. VỀ HÌNH SỰ, TỐ TỤNG HÌNH SỰ, THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VÀ TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1. Người phạm tội bị tuyên hình phạt tử hình (trước ngày 01/7/2025) về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) với khối lượng ma túy rất lớn nhưng họ không phải là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên thì họ có được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân không?

Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) thì hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01/7/2025 đối với người phạm tội về Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) mà chưa thi hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.

Do đó, trường hợp này, nếu bản án không xác định người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy hoặc không xác định họ có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên theo hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết số 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân thì Tòa án xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người phạm tội, không phụ thuộc vào khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án.

2. Khi xử lý vật, tiền có liên quan trong vụ án hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tổng số tiền cho vay qua nhiều lần giao dịch hay chỉ căn cứ vào số tiền gốc ban đầu để tịch thu sung quỹ nhà nước?

Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì phải tịch thu sung quỹ nhà nước đối với khoản tiền, tài sản khác mà người phạm tội dùng để cho vay. Theo đó, tùy từng trường hợp xử lý như sau:

- Trường hợp cho vay nhiều lần nhưng mỗi lần giao dịch có số tiền gốc là độc lập, không liên quan đến nhau thì số tiền cho vay là tổng số tiền gốc của từng ln giao dịch.

Ví dụ: Lần 1, ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày với số tiền lãi là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày). Lần 2, ngày 05/01/2025, A lại tiếp tục cho B vay với số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày, với số tiền lãi là 7.000.000 đồng. Trường hợp này, tổng số tiền cho vay được xác định là 60.000.000 đồng.

- Trường hợp cho vay nhiều làn nhưng lần giao dịch sau có số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu cộng với tiền lãi của lần trước mà chưa trả thì số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu.

Ví dụ: Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay lần 1 với số tiền gốc là 10.000.000 đồng trong thời hạn 07 ngày với lãi suất là 1.400.000 đồng (20.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày). Đến hạn B không trả được nợ cho A nên A tiếp tục lập giấy vay nợ lần 2 với tổng số tiền là 11.400.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi lần 1) trong thời hạn 07 ngày với lãi suất 17.556.000 đồng. Trường hợp này, số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu được xác định là 10.000.000 đồng.

3. Bị cáo thực hiện hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai trước khi tham gia giao thông không uống rượu, bia. Kết quả giám định xác định nồng độ cồn trong máu của bị cáo là 0,282mg/100ml (không xác định nồng độ cồn do nguyên nhân nào). Trường hợp này có áp dụng tình tiết “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo không?

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội bị áp dụng tình tiết này phải trong tình trạng có sử dụng rượu, bia. Do đó, để áp dụng tình tiết này thì kết luận giám định phải xác định rõ nồng độ cồn trong máu là do sử dụng rượu, bia hoặc có căn cứ khác chứng minh người phạm tội đã sử dụng rượu, bia. Trường hợp không có căn cứ xác định người phạm tội đã sử dụng rượu, bia thì không áp dụng tình tiết này.

4. Nguyễn Văn A đưa bạn gái là Nguyễn Thị B (B 15 tuổi) về phòng trọ của A. Tại phòng trọ, trong một khoảng thời gian, A đã thực hiện hành vi giao cấu với B 02 lần. Trường hợp này, A có bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” không?

Theo hướng dẫn tại khoản 7 Điều 4 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự thì “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện từ 02 lần phạm tội trở lên đối với một tội phạm mà mỗi lần phạm tội đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, trường hợp này, nếu mỗi lần thực hiện hành vi giao cấu của A đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì A bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.

5. Tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này” quy định tại khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự chỉ được áp dụng cho khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự hay được áp dụng cho tất cả các khoản khác tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự?

Trường hợp nêu trên, hậu quả, quy mô của hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ được quy định là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này” quy định tại khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự không gắn với hậu quả, quy mô tội phạm để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 của Bộ luật Hình sự là độc lập, không bắt buộc phải đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự mới được áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.

6. Nguyễn Văn A đủ 18 tuổi, nhiều lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục đều có sự đồng ý của Nguyễn Thị B. Trong đó có lần quan hệ tình dục khi B chưa đủ 13 tuổi và có lần quan hệ tình dục khi B đã đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Vậy A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 của Bộ luật Hình sự hay Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội trên?

Đối với hành vi quan hệ tình dục khi B chưa đủ 13 tuổi thì cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 của Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi quan hệ tình dục khi B từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì cấu thành Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 của Bộ luật Hình sự và Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, ngoài việc căn cứ quy định tại Điều 50 của Bộ luật Hình sự, Tòa án cần cân nhắc đến hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, phong tục, tập quán và tình hình thực tiễn tại địa phương để xem xét, quyết định cho phù hợp.

7. Trường hợp người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây rối, làm mất trật tự công cộng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội là Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự và Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự?

Trường hợp người sử dụng dao có tính sát thương cao đ thực hiện hành vi gây rối, làm mất trật tự công cộng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự.

8. Về khó khăn vướng mắc đối với Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự:

- Trường hợp bị cáo không phải là người trực tiếp làm giả giấy đi đường mà nhờ hoặc thuê người khác làm giả giấy đi đường, sau đó sử dụng giấy đi đường để thực hiện hành vi trái pháp luật. Trường hợp này mặc dù đã được hướng dẫn tại Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao, tuy nhiên vẫn còn quan điểm khác nhau về xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức hay Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Về vấn đề này, Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao đã xác định bị cáo không phải là người trực tiếp làm giả giấy đi đường mà chỉ có hành vi nhờ hoặc thuê người khác làm giả giấy đi đường, sau đó sử dụng giấy đi đường để thực hiện hành vi trái pháp luật thì chỉ phạm Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, mà không xử lý trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Đề nghị các Tòa án thực hiện thống nhất như nội dung đã hướng dẫn.

- Trường hợp bị cáo trực tiếp tham gia làm giả 01 tài liệu sau đó đi công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao thì xác định bị cáo làm hoặc sử dụng bao nhiêu tài liệu giả để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự (tính theo bản gốc hay cả các bản sao). Bị cáo có hành vi làm giả giấy tờ, tài liệu, sau đó sử dụng giấy tờ tài liệu đó vào giao dịch trái pháp luật. Vậy ngoài việc xử lý bị cáo về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, có xử lý bị cáo về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức hay không. Nếu xét xử bị cáo về 02 tội danh trên thì áp dụng 01 hình phạt chung cho cả 02 tội hay áp dụng hình phạt riêng cho mỗi tội danh sau đó tổng hợp hình phạt.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...