Chỉ thị 14/CT-UBND năm 2025 tăng cường phòng ngừa vi phạm trong hoạt động đấu thầu và quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
| Số hiệu | 14/CT-UBND |
| Ngày ban hành | 22/12/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 22/12/2025 |
| Loại văn bản | Chỉ thị |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Cao Bằng |
| Người ký | Lê Hải Hòa |
| Lĩnh vực | Đầu tư |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 14/CT-UBND |
Cao Bằng, ngày 22 tháng 12 năm 2025 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG
Trong thời gian qua, các kết luận của Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan chức năng đã chỉ ra nhiều sai phạm điển hình trong hoạt động đấu thầu và quản lý dự án tại một số bộ, ngành và địa phương; trong đó có các vi phạm về thẩm quyền, thủ tục, hợp đồng, giá, tiến độ, chất lượng và công tác công khai, minh bạch hồ sơ.
Để chủ động phòng ngừa và không để phát sinh sai phạm tương tự trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị nghiêm túc triển khai các nội dung sau:
1. Tuân thủ đầy đủ pháp luật trong toàn bộ quy trình đầu tư, đấu thầu
- Thực hiện nghiêm quy định, đầy đủ các bước theo quy định của pháp luật về đầu tư công, đấu thầu, xây dựng; không làm tắt, không bỏ bước, không phê duyệt vượt thẩm quyền.
- Tất cả hồ sơ, tài liệu phải được công khai, lưu trữ đầy đủ và cập nhật lên hệ thống điện tử theo quy định; nghiêm cấm các hành vi thông đồng, móc ngoặc để hợp thức hóa, làm sai lệch hồ sơ.
2. Nhận diện kịp thời các dấu hiệu vi phạm
Các đơn vị phải thường xuyên rà soát, kiểm tra, nhận diện sớm và xử lý nghiêm theo các nhóm dấu hiệu vi phạm dưới đây:
(1) Nhóm dấu hiệu vi phạm về vốn đầu tư
- Lập kế hoạch vốn không phù hợp với năng lực, điều kiện thực tế, vượt khả năng thực hiện;
- Không thường xuyên cập nhật, dự báo về tiến độ, khả năng giải ngân; giữ vốn, không kịp thời đề xuất, tham mưu điều chuyển nguồn vốn sang dự án khác khi gặp các khó khăn, vướng mắc không thể giải ngân kịp tiến độ.
(2) Nhóm vi phạm về thẩm quyền, thủ tục, hồ sơ
- Phê duyệt hồ sơ dự án không đúng thẩm quyền; phê duyệt khi thành phần hồ sơ chuẩn bị đầu tư, hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự án chưa đủ thành phần, thiếu thẩm định hoặc thiếu ý kiến của cơ quan chuyên môn theo quy định. Hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và thẩm định thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở chưa tuân thủ tuyệt đối quy trình thẩm định quy định tại Nghị định 175/2024/NĐ-CP đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/12/2024.
- Triển khai thực hiện khi chưa có ý kiến của người quyết định đầu tư, cấp có thẩm quyền đối với các nội dung phải xin ý kiến theo quy định.
(3) Nhóm vi phạm trong lựa chọn nhà thầu
- Chia, tách dự án, chia nhỏ gói thầu không có cơ sở kỹ thuật để áp dụng hình thức chỉ định thầu.
- Lựa chọn đơn vị tư vấn lập hồ sơ mời thầu (HSMT)/hồ sơ yêu cầu (HSYC), đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT)/hồ sơ đề xuất (HSĐX) không đảm bảo yêu cầu về năng lực theo quy định pháp luật.
- Các cá nhân tham gia lập HSMT/HSYC, tham gia tổ chuyên gia đánh giá HSDT/HSĐX không đảm bảo trình độ, năng lực theo quy định, không đảm bảo đạo đức, liêm chính trong hoạt động đấu thầu, tiết lộ hoặc để lộ thông tin trước thời điểm phát hành hồ sơ, có quan hệ lợi ích với nhà thầu.
- Phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu khi chưa đảm bảo các quy định của pháp luật; đưa các tiêu chí mời thầu không phù hợp bản chất gói thầu, các điều kiện bất hợp lý, dẫn đến hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng, vi phạm các hành vi bị cấm trong đấu thầu được quy định tại Điều 16 Luật Đấu thầu 2023 được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 4 Luật sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu 2024 (có hiệu lực từ 15/01/2025) .
- Phê duyệt HSMT/HSYC kém chất lượng; sửa đổi HSMT không đảm bảo thời gian tối thiểu theo quy định pháp luật; sửa đổi các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn đánh giá, tiêu chí năng lực quan trọng, có thể gây ảnh hưởng lớn đến quá trình lập HSDT của các nhà thầu.
- Nhà thầu kê khai kinh nghiệm, hợp đồng tương tự, nhân sự chủ chốt không trung thực, trái quy định của pháp luật về đấu thầu; tư vấn đánh giá HSDT, HSĐX thiếu kiểm tra, xác thực thông tin, bỏ lọt các trường hợp văn bằng, chứng chỉ chuyên môn của nhân sự chủ chốt không phù hợp hoặc hợp lệ theo quy định; tự ý thay đổi nhân sự chủ chốt đã nêu trong HSDT/HSĐX ngay khi ký hợp đồng và trong quá trình thi công, tự ý bố trí nhân sự chủ chốt không đủ số lượng đã nêu trong HSDT/HSĐX.
- Can thiệp trái quy định vào quá trình đánh giá hoặc xác định kết quả lựa chọn nhà thầu; đánh giá HSDT/HSĐX thiếu trung thực, khách quan, công bằng, minh bạch, cố tình loại các nhà thầu đáp ứng yêu cầu, giảm tính cạnh tranh.
- Thiếu kiểm tra, đối chiếu dẫn đến chỉ định nhà thầu không phù hợp, không đủ năng lực thực hiện gói thầu, cụ thể: hồ sơ năng lực thiếu trung thực, các văn bằng, chứng chỉ liên quan không có xác nhận theo quy định; năng lực thực tế không đáp ứng yêu cầu về nhân sự, thiết bị, kinh nghiệm; giá dự thầu trong hồ sơ đề xuất bất thường, có dấu hiệu liên kết lợi ích.
- Không công khai đầy đủ thông tin, đăng tải hồ sơ về đấu thầu (kế hoạch lựa chọn nhà thầu, hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu...) đúng thời gian, đầy đủ theo quy định.
- Không kịp thời phát hiện, báo cáo, xử lý các sai phạm hoặc các dấu hiệu không đảm bảo tính minh bạch trong đấu thầu.
(4) Nhóm vi phạm trong hợp đồng, giá và quản lý chi phí
- Ký kết khi chưa rà soát kỹ lưỡng hợp đồng, thiếu các điều khoản quy định cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà thầu, các trường hợp điều chỉnh hợp đồng; thiếu chế tài xử phạt khi vi phạm hợp đồng (đặc biệt là các vi phạm về tiến độ thực hiện và chất lượng sản phẩm) hoặc chủ đầu tư không thực hiện chế tài xử phạt khi vi phạm hợp đồng, thiếu các điều khoản quản lý tiền tạm ứng hợp đồng.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 14/CT-UBND |
Cao Bằng, ngày 22 tháng 12 năm 2025 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG
Trong thời gian qua, các kết luận của Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan chức năng đã chỉ ra nhiều sai phạm điển hình trong hoạt động đấu thầu và quản lý dự án tại một số bộ, ngành và địa phương; trong đó có các vi phạm về thẩm quyền, thủ tục, hợp đồng, giá, tiến độ, chất lượng và công tác công khai, minh bạch hồ sơ.
Để chủ động phòng ngừa và không để phát sinh sai phạm tương tự trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị nghiêm túc triển khai các nội dung sau:
1. Tuân thủ đầy đủ pháp luật trong toàn bộ quy trình đầu tư, đấu thầu
- Thực hiện nghiêm quy định, đầy đủ các bước theo quy định của pháp luật về đầu tư công, đấu thầu, xây dựng; không làm tắt, không bỏ bước, không phê duyệt vượt thẩm quyền.
- Tất cả hồ sơ, tài liệu phải được công khai, lưu trữ đầy đủ và cập nhật lên hệ thống điện tử theo quy định; nghiêm cấm các hành vi thông đồng, móc ngoặc để hợp thức hóa, làm sai lệch hồ sơ.
2. Nhận diện kịp thời các dấu hiệu vi phạm
Các đơn vị phải thường xuyên rà soát, kiểm tra, nhận diện sớm và xử lý nghiêm theo các nhóm dấu hiệu vi phạm dưới đây:
(1) Nhóm dấu hiệu vi phạm về vốn đầu tư
- Lập kế hoạch vốn không phù hợp với năng lực, điều kiện thực tế, vượt khả năng thực hiện;
- Không thường xuyên cập nhật, dự báo về tiến độ, khả năng giải ngân; giữ vốn, không kịp thời đề xuất, tham mưu điều chuyển nguồn vốn sang dự án khác khi gặp các khó khăn, vướng mắc không thể giải ngân kịp tiến độ.
(2) Nhóm vi phạm về thẩm quyền, thủ tục, hồ sơ
- Phê duyệt hồ sơ dự án không đúng thẩm quyền; phê duyệt khi thành phần hồ sơ chuẩn bị đầu tư, hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự án chưa đủ thành phần, thiếu thẩm định hoặc thiếu ý kiến của cơ quan chuyên môn theo quy định. Hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và thẩm định thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở chưa tuân thủ tuyệt đối quy trình thẩm định quy định tại Nghị định 175/2024/NĐ-CP đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/12/2024.
- Triển khai thực hiện khi chưa có ý kiến của người quyết định đầu tư, cấp có thẩm quyền đối với các nội dung phải xin ý kiến theo quy định.
(3) Nhóm vi phạm trong lựa chọn nhà thầu
- Chia, tách dự án, chia nhỏ gói thầu không có cơ sở kỹ thuật để áp dụng hình thức chỉ định thầu.
- Lựa chọn đơn vị tư vấn lập hồ sơ mời thầu (HSMT)/hồ sơ yêu cầu (HSYC), đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT)/hồ sơ đề xuất (HSĐX) không đảm bảo yêu cầu về năng lực theo quy định pháp luật.
- Các cá nhân tham gia lập HSMT/HSYC, tham gia tổ chuyên gia đánh giá HSDT/HSĐX không đảm bảo trình độ, năng lực theo quy định, không đảm bảo đạo đức, liêm chính trong hoạt động đấu thầu, tiết lộ hoặc để lộ thông tin trước thời điểm phát hành hồ sơ, có quan hệ lợi ích với nhà thầu.
- Phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu khi chưa đảm bảo các quy định của pháp luật; đưa các tiêu chí mời thầu không phù hợp bản chất gói thầu, các điều kiện bất hợp lý, dẫn đến hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng, vi phạm các hành vi bị cấm trong đấu thầu được quy định tại Điều 16 Luật Đấu thầu 2023 được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 4 Luật sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu 2024 (có hiệu lực từ 15/01/2025) .
- Phê duyệt HSMT/HSYC kém chất lượng; sửa đổi HSMT không đảm bảo thời gian tối thiểu theo quy định pháp luật; sửa đổi các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn đánh giá, tiêu chí năng lực quan trọng, có thể gây ảnh hưởng lớn đến quá trình lập HSDT của các nhà thầu.
- Nhà thầu kê khai kinh nghiệm, hợp đồng tương tự, nhân sự chủ chốt không trung thực, trái quy định của pháp luật về đấu thầu; tư vấn đánh giá HSDT, HSĐX thiếu kiểm tra, xác thực thông tin, bỏ lọt các trường hợp văn bằng, chứng chỉ chuyên môn của nhân sự chủ chốt không phù hợp hoặc hợp lệ theo quy định; tự ý thay đổi nhân sự chủ chốt đã nêu trong HSDT/HSĐX ngay khi ký hợp đồng và trong quá trình thi công, tự ý bố trí nhân sự chủ chốt không đủ số lượng đã nêu trong HSDT/HSĐX.
- Can thiệp trái quy định vào quá trình đánh giá hoặc xác định kết quả lựa chọn nhà thầu; đánh giá HSDT/HSĐX thiếu trung thực, khách quan, công bằng, minh bạch, cố tình loại các nhà thầu đáp ứng yêu cầu, giảm tính cạnh tranh.
- Thiếu kiểm tra, đối chiếu dẫn đến chỉ định nhà thầu không phù hợp, không đủ năng lực thực hiện gói thầu, cụ thể: hồ sơ năng lực thiếu trung thực, các văn bằng, chứng chỉ liên quan không có xác nhận theo quy định; năng lực thực tế không đáp ứng yêu cầu về nhân sự, thiết bị, kinh nghiệm; giá dự thầu trong hồ sơ đề xuất bất thường, có dấu hiệu liên kết lợi ích.
- Không công khai đầy đủ thông tin, đăng tải hồ sơ về đấu thầu (kế hoạch lựa chọn nhà thầu, hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu...) đúng thời gian, đầy đủ theo quy định.
- Không kịp thời phát hiện, báo cáo, xử lý các sai phạm hoặc các dấu hiệu không đảm bảo tính minh bạch trong đấu thầu.
(4) Nhóm vi phạm trong hợp đồng, giá và quản lý chi phí
- Ký kết khi chưa rà soát kỹ lưỡng hợp đồng, thiếu các điều khoản quy định cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà thầu, các trường hợp điều chỉnh hợp đồng; thiếu chế tài xử phạt khi vi phạm hợp đồng (đặc biệt là các vi phạm về tiến độ thực hiện và chất lượng sản phẩm) hoặc chủ đầu tư không thực hiện chế tài xử phạt khi vi phạm hợp đồng, thiếu các điều khoản quản lý tiền tạm ứng hợp đồng.
- Thỏa thuận, thống nhất với nhà thầu điều chỉnh hợp đồng khi chưa có ý kiến của người quyết định đầu tư, cấp có thẩm quyền đối với các nội dung phải xin ý kiến hoặc chưa thực hiện thẩm định, phê duyệt điều chỉnh theo quy định; đặc biệt là các điều chỉnh về: tiến độ thực hiện, bổ sung khối lượng phát sinh, đơn giá, giá hợp đồng.
(5) Nhóm vi phạm về năng lực và trách nhiệm của đơn vị tư vấn
- Lựa chọn nhà thầu tư vấn khảo sát, thiết kế, thẩm tra, giám sát không đủ tư cách pháp nhân, không đủ năng lực chuyên môn, máy móc thiết bị, tài chính và không có kinh nghiệm phù hợp với loại, cấp công trình theo quy định; lựa chọn các đơn vị tư vấn không có tính độc lập tham gia nhiều bước (thiết kế, thẩm tra, giám sát, thí nghiệm đối chứng...) trong cùng 1 dự án, tiềm ẩn nguy cơ thiếu rõ ràng, minh bạch, vi phạm quy định pháp luật.
- Tư vấn khảo sát, thiết kế thu thập số liệu, thông tin khảo sát chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu chính xác; thiết kế không phù hợp địa hình, địa chất, nhu cầu sử dụng thực tế, dự toán xây dựng công trình sai sót, tư vấn thẩm tra đánh giá không đầy đủ, chính xác, dẫn đến điều chỉnh dự án, phát sinh khối lượng không cần thiết. Khảo sát địa hình, địa chất không đảm bảo chất lượng, có dấu hiệu cố tình làm sai số liệu, làm tăng suất vốn đầu tư hoặc phải thay đổi phương án thiết kế làm chậm tiến độ thi công.
- Tư vấn giám sát không bố trí đầy đủ nhân sự chủ chốt đã nêu trong HSDT/HSĐX hoặc tự ý thay đổi nhân sự chủ chốt hoặc nhân sự không bám sát hiện trường theo hợp đồng; thiếu giám sát, kiểm tra trong quá trình thi công xây dựng; hợp thức hóa hồ sơ quản lý chất lượng (nhật ký thi công, biên bản nghiệm thu...) khi không có mặt tại hiện trường.
(6) Nhóm vi phạm trong thi công, quản lý tiến độ và nghiệm thu
- Né tránh, thiếu quyết liệt trong công tác giải phóng mặt bằng; chậm báo cáo, chậm tham mưu đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện dẫn đến chậm tiến độ tổng thể của dự án.
- Chủ đầu tư, tư vấn giám sát thiếu kiểm tra, giám sát tiến độ thi công thực tế, không kịp thời đôn đốc nhà thầu tăng tốc thi công bù chậm tiến độ hoặc chậm xử lý các vấn đề phát sinh dẫn đến tiến độ thi công kéo dài so với tiến độ được phê duyệt; chủ đầu tư thiếu kiên quyết, không áp dụng chế tài hoặc không xử lý trách nhiệm nhà thầu chậm tiến độ; không báo cáo, đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện.
- Thi công không đúng hồ sơ thiết kế, sử dụng vật liệu không đúng chủng loại, tiêu chuẩn, xuất xứ so với thiết kế được phê duyệt; không hoặc thực hiện không đầy đủ quy định về thí nghiệm, kiểm tra, nghiệm thu vật liệu; tự ý thay đổi thiết kế, thông số kỹ thuật khi chưa tổ chức điều chỉnh, thẩm định, phê duyệt theo quy định.
- Tổ chức thi công không đúng biện pháp thi công được phê duyệt, không đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn về kỹ thuật thi công.
- Tổ chức nghiệm thu khối lượng, hạng mục, hoàn thành công trình khi chưa đảm bảo điều kiện, thành phần tham gia nghiệm thu không đúng, đầy đủ; các bên tham gia không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định, ký hợp thức hóa hồ sơ khi không có mặt tại hiện trường.
- Hồ sơ quản lý chất lượng không đầy đủ, thiếu các biên bản họp, nhật ký thi công tại hiện trường, hồ sơ nghiệm thu...; các hồ sơ thiếu logic, có dấu hiệu hoàn thiện, hợp lý hóa hồ sơ; không lập, tập hợp đầy đủ hồ sơ hoàn thành công trình hoặc đưa công trình vào sử dụng mà không có kết quả "kiểm tra công tác nghiệm thu" của cơ quan chuyên môn theo quy định.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa kiên quyết thực hiện quyền được yêu cầu Chủ đầu tư phải thí nghiệm đối chứng, kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình khi cần thiết hoặc có nghi ngờ về chất lượng, để xác minh chất lượng công trình.
(7) Nhóm dấu hiệu vi phạm trong việc áp dụng cơ chế dự án khẩn cấp
Các cơ quan, đơn vị phải đặc biệt lưu ý nhận diện và xử lý ngay các dấu hiệu vi phạm điển hình sau đây, vì đây là những biểu hiện thường thấy trong các kết luận của Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước đối với các dự án áp dụng cơ chế khẩn cấp:
- Xác định không đúng bản chất tình huống “khẩn cấp”; mở rộng phạm vi áp dụng chỉ định thầu cho những hạng mục, công việc không thuộc trường hợp được áp dụng xây dựng công trình khẩn cấp theo quy định pháp luật; trong 1 dự án áp dụng cơ chế khẩn cấp, nhưng các gói thầu, phần công việc không thuộc diện khẩn cấp (như gói thầu kiểm toán, gói thầu cung cấp thiết bị, gói thầu thi công mà theo trình tự thực hiện dự án phải diễn ra vào giai đoạn cuối nên đã không còn khẩn cấp, hoặc khối lượng thi công bổ sung ngoài phạm vi xử lý khẩn cấp) nhưng không được tổ chức lựa chọn nhà thầu theo các hình thức đấu thầu cạnh tranh theo quy định của pháp luật.
- Hồ sơ trình ban hành lệnh xây dựng công trình khẩn cấp không đầy đủ, rõ ràng, thiếu các tài liệu như:
+ Căn cứ pháp lý chứng minh tính khẩn cấp;
+ Báo cáo đánh giá tình huống ban hành lệnh xây dựng công trình khẩn cấp;
+ Sơ bộ phương án kỹ thuật, thiết kế cơ sở hoặc giải pháp thi công;
+ Ý kiến tham mưu của các cơ quan chuyên môn.
- Thiếu kiểm tra, rà soát năng lực thực tế, thực hiện chỉ định thầu cho các tổ chức, cá nhân không đủ năng lực hoặc không phù hợp, đề xuất giá hợp đồng bất thường, báo giá trùng lặp, hoặc có dấu hiệu liên kết lợi ích để thực hiện các công việc khảo sát, thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng khi có yêu cầu, thi công xây dựng và các công việc cần thiết khác phục vụ xây dựng công trình khẩn cấp.
- Chủ đầu tư tự tổ chức thực hiện cắt giảm, rút ngắn hoặc bỏ qua các bước pháp lý bắt buộc trong xây dựng công trình khẩn cấp (khảo sát, lập, phê duyệt thiết kế, dự toán, phê duyệt, công khai kết quả chỉ định thầu, lập hồ sơ hoàn thành công trình) khi chưa có ý kiến của người quyết định đầu tư.
- Công tác lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế - lập dự toán thiếu đồng bộ giữa dự toán và thiết kế, xác định vật liệu vào công trình chưa phù hợp, không đảm bảo tính kinh tế kỹ thuật; thiếu kiểm tra vật liệu, thiếu căn cứ, cơ sở để xác định khối lượng công việc hoàn thành.
- Hồ sơ hoàn thành công trình không đầy đủ theo quy định; không lưu trữ mẫu địa chất, thiếu nhật ký khảo sát, nhật ký thi công, các hình ảnh ghi nhận quá trình thi công, hồ sơ quản lý vật liệu xây dựng, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị sử dụng cho công trình xây dựng.
- Duy trì tình trạng “khẩn cấp” khi điều kiện thực tế không còn khẩn cấp mà không chuyển sang quy trình đầu tư thông thường để bảo đảm đầy đủ thủ tục theo quy định; kéo dài cơ chế chỉ định thầu để hợp thức hóa tiến độ.
3. Để phòng ngừa các vi phạm nêu trên, yêu cầu
a) Các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường, các đơn vị chủ đầu tư:
- Có trách nhiệm kiểm tra, rà soát công tác đấu thầu, quản lý dự án đầu tư xây dựng đầy đủ theo các dấu hiệu vi phạm đã nêu tại Chỉ thị này; nghiêm túc xử lý các vi phạm hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định.
- Thực hiện hoặc chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện quyết liệt các giải pháp phòng ngừa các vi phạm đã nhận diện nêu trên; trong đó tập trung thực hiện một số biện pháp trọng tâm sau:
+ Lập nhu cầu vốn phù hợp khả năng quản lý, triển khai thực hiện, giải ngân thực tế của đơn vị; kịp thời đề xuất điều chuyển nguồn vốn đối với các dự án không đạt được tiến độ giải ngân do các yếu tố khách quan.
+ Phối hợp chặt chẽ, không né tránh, đùn đẩy nhiệm vụ, trách nhiệm, quyết liệt triển khai các biện pháp đẩy mạnh, nhanh công tác giải phóng mặt bằng; kịp thời báo cáo, tham mưu đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.
+ Phê duyệt, trình phê duyệt hồ sơ chuẩn bị đầu tư, hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự án đúng thẩm quyền quy định; chỉ trình, phê duyệt khi hồ sơ đảm bảo chất lượng, thành phần; hạn chế tối đa điều chỉnh hồ sơ.
+ Tổ chức lựa chọn nhà thầu phải minh bạch, đảm bảo công bằng, cạnh tranh, nâng cao hiệu quả dự án, tránh xung đột lợi ích; kiên quyết loại các nhà thầu có năng lực yếu kém, gian dối trong đấu thầu; xử lý nghiêm các hành vi không đảm bảo minh bạch, công bằng, khách quan trong quá trình lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật; khi lựa chọn các nhà thầu (Tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, nhà thầu thi công) để thực hiện trong dự án, công trình phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính
+ Yêu cầu nhà thầu tuân thủ nghiêm các quy định của hợp đồng và pháp luật về xây dựng; chỉ thực hiện điều chỉnh hợp đồng xây dựng khi các nội dung điều chỉnh là khách quan và đảm bảo tuân thủ các điều kiện của hợp đồng, quy định pháp luật; kiên quyết xử lý các nhà thầu vi phạm hợp đồng xây dựng (đặc biệt là vi phạm về tiến độ, chất lượng sản phẩm, an toàn lao động), đồng thời báo cáo các cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với các hành vi vi phạm quy định pháp luật về xây dựng.
+ Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quá trình thi công xây dựng; đảm bảo công trình được thi công đúng hồ sơ thiết kế, đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn, sử dụng vật liệu đúng chủng loại, tiêu chuẩn, xuất xứ; kiểm soát chặt chẽ nhật ký thi công, hồ sơ nghiệm thu, thí nghiệm vật liệu, kiên quyết không để xảy ra tình trạng hợp thức hóa hồ sơ, ký nghiệm thu khi không có mặt thực tế tại hiện trường.
+ Nghiêm cấm vận dụng sai hoặc mở rộng cơ chế khẩn cấp và chỉ định thầu ngoài phạm vi pháp luật cho phép; yêu cầu hồ sơ xây dựng công trình khẩn cấp phải được lập đầy đủ, có minh chứng rõ ràng, thuyết phục.
- Lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm toàn diện trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh nếu để xảy ra vi phạm trong quá trình đề xuất, thẩm định, phê duyệt, lựa chọn nhà thầu, ký hợp đồng, thi công, nghiệm thu, hoặc thanh toán.
b) Giao Sở Tài chính
- Chủ trì nghiên cứu các nhóm vi phạm nêu trên; tham mưu UBND tỉnh ban hành giải pháp phòng ngừa cụ thể theo từng lĩnh vực.
- Hướng dẫn các chủ đầu tư quy trình kiểm soát nội bộ về hoạt động đấu thầu và quản lý dự án đầu tư xây dựng; đề xuất cơ chế điều chuyển vốn đối với dự án chậm tiến độ, vướng mặt bằng hoặc không có khả năng giải ngân.
- Chủ trì tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh kết quả khắc phục các nhóm vi phạm nêu trên định kỳ hàng năm (trước ngày 15/01 năm sau) hoặc đột xuất khi có phát sinh, yêu cầu.
c) Giao Sở Xây dựng
- Chủ động rà soát, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về quản lý chất lượng công trình xây dựng; nâng cao chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở theo thẩm quyền được giao, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với điều kiện địa chất, thủy văn, khí hậu của địa phương, hạn chế tối đa việc điều chỉnh kỹ thuật, thời gian thực hiện dự án và tổng mức đầu tư; nâng cao chất lượng công tác tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh các nội dung về điều chỉnh Hợp đồng xây dựng đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động tư vấn xây dựng; định kỳ hằng năm chủ trì rà soát, báo cáo năng lực, các vi phạm về hoạt động xây dựng của các tổ chức, cá nhân, các nhà thầu xây dựng trên địa bàn tỉnh, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở để các đơn vị tham khảo, lựa chọn đơn vị tư vấn xây dựng phù hợp theo yêu cầu.
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tăng cường kiểm tra định kỳ và đột xuất các hoạt động tư vấn khảo sát, thiết kế, thẩm tra, giám sát và thi công xây dựng trên địa bàn tỉnh, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định.
- Tập trung kiểm tra, rà soát công tác đấu thầu, quản lý dự án đầu tư xây dựng trên cơ sở các dấu hiệu vi phạm đã nêu tại mục 2 thuộc lĩnh vực xây dựng, xử lý nghiêm các vi phạm theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định.
- Tăng cường kiểm tra thường xuyên công tác quản lý chất lượng của Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát, Nhà thầu thi công theo quy định; tổ chức các đoàn kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất việc tuân thủ quy định pháp luật về xây dựng tại các dự án;
- Tổ chức kiểm định độc lập về chất lượng khảo sát, thiết kế và thi công trong quá trình thực hiện dự án (nếu xét thấy cần thiết) theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại Công văn số 2442/UBND-KT ngày 06/8/2025 và khi tổ chức kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 4 Điều 52 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP; chủ động lựa chọn đơn vị kiểm định độc lập, có đủ năng lực theo quy định, để thực hiện kiểm tra, đánh giá chất lượng công trình, hạng mục công trình tại các giai đoạn trọng yếu.
- Hướng dẫn các chủ đầu tư thực hiện các biện pháp trọng tâm Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo tại điểm a mục 3 nêu trên, tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật; kịp thời tham mưu UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh xử lý các tình huống phát sinh thuộc thẩm quyền.
d) Giao Thanh tra tỉnh
- Theo dõi, tổng hợp kịp thời các nhóm vi phạm phổ biến từ kết quả thanh tra và kiểm toán; kiến nghị xử lý trách nhiệm cá nhân, tập thể để xảy ra vi phạm.
- Tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh (qua Sở Tài chính) định kỳ hàng năm (trước ngày 05/01 năm sau) hoặc đột xuất khi có phát sinh, yêu cầu để kịp thời chỉ đạo phòng ngừa, xử lý.
- Tăng cường tổ chức thanh tra chuyên đề, thanh tra đột xuất đối với lĩnh vực, dự án, đơn vị có nguy cơ cao.
đ) Giao Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Rà soát các quy định của pháp luật về đất đai, môi trường, khoáng sản liên quan đến dự án đầu tư xây dựng; tham mưu UBND tỉnh sửa đổi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định không còn phù hợp với thực tế địa phương.
- Đẩy nhanh, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục về đất đai, môi trường, khoáng sản liên quan đến dự án đầu tư xây dựng; hướng dẫn các địa phương, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc khi triển khai thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, các thủ tục về môi trường, vật liệu đào, đắp; tham mưu UBND tỉnh phương án xử lý các trường hợp cụ thể thuộc thẩm quyền.
e) Giao UBND các xã, phường
- Chủ động, phối hợp với các đơn vị chủ đầu tư triển khai thực hiện giải phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn đảm bảo theo tiến độ thực hiện.
- Tăng cường tổ chức kiểm tra việc thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ngành xây dựng trên địa bàn cấp xã quản lý, thực hiện xử phạt hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền; phối hợp với cấp trên khi kiểm tra thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ngành xây dựng trên địa bàn cấp xã quản lý.
Căn cứ ý kiến trên, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị nghiêm túc triển khai thực hiện./.
|
|
CHỦ TỊCH |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh