Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Chỉ thị 13/CT-UBND năm 2026 về tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, siết chặt công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Số hiệu 13/CT-UBND
Ngày ban hành 27/08/2026
Ngày có hiệu lực 27/08/2026
Loại văn bản Chỉ thị
Cơ quan ban hành Tỉnh Thanh Hóa
Người ký Tô Anh Dũng
Lĩnh vực Tài nguyên - Môi trường

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 13/CT-UBND

Thanh Hóa, ngày 27 tháng 8 năm 2026

 

CHỈ THỊ

VỀ TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, SIẾT CHẶT CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

Thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh đã được các cấp, các ngành và các địa phương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh; qua đó, nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân từng bước được nâng lên; công tác phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm có nhiều chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh, công tác bảo vệ môi trường vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Tình trạng ô nhiễm môi trường, khiếu kiện, tập trung đông người liên quan đến môi trường vẫn xảy ra tại một số địa phương; hạ tầng thu gom, xử lý chất thải tại một số khu vực chưa đáp ứng yêu cầu; vẫn còn các điểm tồn đọng chất thải, các khu vực có nguy cơ ô nhiễm môi trường; một số nguồn thải, cơ sở có nguy cơ cao chưa được nhận diện đầy đủ, theo dõi, giám sát thường xuyên và kiểm soát từ sớm, từ xa, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ô nhiễm, sự cố môi trường. Nguyên nhân chủ yếu là do một số cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu, trách nhiệm đối với công tác bảo vệ môi trường; việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp có nơi, có lúc còn thiếu đồng bộ, thiếu quyết liệt, chưa bảo đảm “6 rõ, 1 xuyên suốt”, hiệu quả chưa cao; công tác quản lý, kiểm tra, giám sát ở một số địa phương chưa thường xuyên, sâu sát, việc phát hiện và xử lý vi phạm có lúc còn chậm; chế tài xử lý đối với một số hành vi vi phạm chưa đủ sức răn đe. Bên cạnh đó, việc tiếp nhận, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa chính quyền địa phương, Sở Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan có liên quan có thời điểm chưa kịp thời, thông suốt, làm phát sinh khoảng trống trách nhiệm, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường.

Bảo vệ môi trường phải được thực hiện từ sớm, từ xa và ngay từ cơ sở; lấy phòng ngừa là chính, chủ động nhận diện, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý ngay từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành vấn đề lớn, không để ô nhiễm kéo dài trở thành điểm nóng. Để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tạo chuyển biến rõ nét, thực chất trong công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Giám đốc các sở, Trưởng các ban, ngành, đơn vị cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các tổ chức, cá nhân có liên quan tập trung thực hiện nghiêm các nội dung sau:

1. Nâng cao trách nhiệm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác bảo vệ môi trường

Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đơn vị cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường phải xác định bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, liên tục, gắn chặt với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sức khỏe, chất lượng cuộc sống của Nhân dân và sự phát triển bền vững của tỉnh; không coi bảo vệ môi trường là nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên môn về môi trường. Người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động nắm chắc tình hình thuộc địa bàn, lĩnh vực được giao; xác định rõ nguồn thải lớn, khu vực có nguy cơ cao, vấn đề môi trường trọng tâm để có biện pháp quản lý phù hợp.

Chuyển mạnh từ tư duy xử lý sự việc sau khi đã xảy ra sang chủ động phòng ngừa, phát hiện từ sớm, xử lý từ khi mới phát sinh; không chờ có đơn thư, phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội. Mỗi vụ việc phải xác định “6 rõ”: Rõ cơ quan chủ trì xử lý, rõ nội dung xử lý, rõ thời gian hoàn thành, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả; chấm dứt tình trạng cùng biết nhưng không đơn vị nào chủ trì, nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng trách nhiệm không rõ hoặc chỉ chuyển thông tin từ nơi này sang nơi khác mà không theo dõi đến cùng.

Hiệu quả bảo vệ môi trường phải được đánh giá bằng chuyển biến thực tế: Nguồn gây ô nhiễm được kiểm soát, vi phạm được xử lý, hậu quả được khắc phục, phản ánh của Nhân dân được trả lời và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được làm rõ. Kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương và người đứng đầu.

2. Cơ chế thông tin, phối hợp và xử lý vụ việc bảo đảm thông suốt, kịp thời, không chồng chéo

Thực hiện thống nhất nguyên tắc “thông tin cùng biết, xử lý đúng cấp, một đầu mối chủ trì, trách nhiệm theo đến cùng”. Mọi phản ánh, thông tin về ô nhiễm, sự cố môi trường hoặc dấu hiệu xả thải, hiện tượng môi trường bất thường, địa phương phải là lực lượng kiểm tra, xử lý, phản ứng đầu tiên; Sở Nông nghiệp và Môi trường là đơn vị nắm bắt tình hình, theo dõi thông tin toàn diện trên địa bàn tỉnh.

Vụ việc xảy ra và phạm vi ảnh hưởng chủ yếu trong một xã, phường thì UBND xã, phường chủ trì kiểm tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền; đồng thời, thông tin đến Sở Nông nghiệp và Môi trường để theo dõi. Vụ việc có phạm vi ảnh hưởng từ hai xã, phường trở lên hoặc vụ việc có tính chất phức tạp, nghiêm trọng, nguy cơ ô nhiễm môi trường cao thì Sở Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối kiểm tra, tổng hợp, đánh giá đầy đủ tình hình, đề xuất cụ thể phương án xử lý và báo cáo UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo.

Việc huy động lực lượng kiểm tra, xử lý phải phù hợp với tính chất, phạm vi, mức độ và thẩm quyền của từng vụ việc; mỗi vụ việc phải xác định một cơ quan chủ trì, tránh tình trạng nhiều sở, ngành, địa phương và lãnh đạo các cấp cùng xuống hiện trường nhưng không rõ đầu mối chịu trách nhiệm. Bảo đảm lãnh đạo tỉnh, cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương đều được thông tin kịp thời, nhưng tổ chức xử lý phải gọn, đúng cấp, đúng thẩm quyền, hiệu quả và theo đến kết quả cuối cùng.

3. Sở Nông nghiệp và Môi trường phát huy đầy đủ vai trò là cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đầu mối theo dõi, tổng hợp tình hình, tiếp nhận thông tin và điều phối xử lý các vấn đề môi trường trên toàn tỉnh

a) Tổ chức điều tra, thống kê, rà soát, cập nhật đầy đủ các nguồn thải, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm hoặc xảy ra sự cố môi trường; trong đó phải quản lý chặt chẽ đối với các trang trại chăn nuôi quy mô lớn, cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Phân loại theo mức độ rủi ro để áp dụng chế độ quản lý, kiểm tra, giám sát phù hợp; đối với nguồn thải lớn, cơ sở từng vi phạm, bị phản ánh nhiều lần hoặc có nguy cơ cao phải được theo dõi trọng điểm, xác định rõ cơ quan theo dõi. Hằng năm, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát đối với các trang trại chăn nuôi lớn và cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm theo nguyên tắc “6 rõ”, bảo đảm thực chất, kịp thời phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn và xử lý vi phạm.

b) Tiếp tục xây dựng, chuẩn hóa và cập nhật cơ sở dữ liệu môi trường của tỉnh, tích hợp, đồng bộ vào Trung tâm dữ liệu quốc gia; chia sẻ dữ liệu với Công an tỉnh, Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp, UBND các xã, phường để phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý vi phạm về môi trường.

c) Kiểm soát chặt chẽ quy trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, tham mưu cấp giấy phép môi trường cho các dự án đầu tư, cơ sở trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; kiểm soát việc hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường, bảo đảm dự án, cơ sở chỉ vận hành khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định.

d) Tăng cường hậu kiểm sau khi dự án đi vào hoạt động, siết chặt kiểm soát các nguồn thải, kết hợp kiểm tra theo kế hoạch với kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu bất thường; lựa chọn thời điểm kiểm tra phù hợp với đặc điểm hoạt động của cơ sở, kể cả ngoài giờ hành chính, ban đêm, ngày nghỉ, thời điểm mưa lớn khi có dấu hiệu hoặc nguy cơ xảy ra hành vi xả thải trái quy định . Kiên quyết xử lý hoặc kiến nghị xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; yêu cầu khắc phục triệt để, không chấp nhận việc nộp phạt nhưng tiếp tục gây ô nhiễm.

đ) Rà soát, yêu cầu các cơ sở thuộc đối tượng phải thực hiện quan trắc môi trường tự động, liên tục; kiểm soát việc lắp đặt, kết nối, truyền và lưu trữ dữ liệu, bảo đảm dữ liệu chính xác, liên tục; kịp thời xác minh, kiểm tra khi phát hiện dữ liệu bất thường. Đồng thời, rà soát các trang trại chăn nuôi lớn, các khu vực nhạy cảm về nguồn nước, không khí xung quanh trang trại để bổ sung vào chương trình quan trắc, giám sát phù hợp; tăng cường khai thác dữ liệu, camera và các công cụ cảnh báo nhằm phát hiện sớm nguy cơ ô nhiễm, hỗ trợ chính quyền địa phương chủ động kiểm tra, xử lý.

e) Chủ trì tham mưu giải pháp tổng thể về quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng giảm phát sinh chất thải nhựa, phân loại tại nguồn, tái sử dụng, tái chế và xử lý bằng công nghệ phù hợp, không để chất thải tồn đọng kéo dài.

g) Rà soát, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của các cơ sở xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh, nhất là các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ chôn lấp, công nghệ hỗn hợp hoặc các cơ sở thường xuyên có phản ánh, kiến nghị của Nhân dân. Yêu cầu các cơ sở vận hành đúng quy trình, công nghệ đã được phê duyệt, cấp phép; kiểm soát chặt mùi, nước rỉ rác, nước thải, bụi, khí thải, côn trùng và các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm, không để ảnh hưởng đến khu dân cư và môi trường xung quanh.

Đối với các cơ sở có hoạt động đào, xúc, đảo, phân loại lại chất thải đã lưu chứa hoặc chôn lấp, phải kiểm soát chặt quá trình thực hiện, có biện pháp thu gom, xử lý mùi và chất thải phát sinh; không để việc vận hành, cải tạo, phân loại hoặc xử lý chất thải làm phát tán mùi hôi, nước rỉ rác và các chất ô nhiễm ra môi trường. Khi phát sinh phản ánh kéo dài của Nhân dân hoặc có dấu hiệu bất thường, phải tổ chức kiểm tra, xác định rõ nguyên nhân, yêu cầu khắc phục ngay và theo dõi đến khi xử lý dứt điểm.

h) Hướng dẫn UBND cấp xã thực hiện kiểm tra chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, nhất là quy trình kiểm tra hiện trường, lập hồ sơ, ghi nhận chứng cứ, lấy mẫu và xử lý vi phạm đối với các trang trại chăn nuôi, cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm. Trường hợp qua kiểm tra phát hiện dấu hiệu vi phạm, thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước như thiếu chủ động, chậm xử lý, chậm báo cáo, đùn đẩy trách nhiệm hoặc để lãnh đạo tỉnh phải trực tiếp chỉ đạo những công việc thuộc trách nhiệm thường xuyên của cơ sở, phải xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.

i) Chủ trì, phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh, Công an tỉnh, Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp và các đơn vị liên quan tham mưu thiết lập kênh thông tin nhanh về bảo vệ môi trường của tỉnh trên nền tảng Zalo hoặc nền tảng số phù hợp; xác định rõ thành phần, đầu mối, nguyên tắc tiếp nhận, xác nhận thông tin, phân công xử lý và cập nhật kết quả (không thay thế chế độ báo cáo chính thức, hồ sơ xử lý vụ việc và các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước); bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật nhà nước.

k) Chủ trì hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và định kỳ đánh giá hiệu quả hoạt động của Tổ tự quản bảo vệ môi trường tại các xã, phường; kịp thời tổng hợp những khó khăn, bất cập, đề xuất điều chỉnh để mô hình hoạt động thực chất, hiệu quả, phù hợp với điều kiện từng địa bàn.

4. UBND các xã, phường chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn quản lý

a) Chủ tịch UBND xã, phường phải trực tiếp chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường; phân công rõ lãnh đạo phụ trách, công chức đầu mối và trách nhiệm của các lực lượng có liên quan. Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường được pháp luật quy định, phân cấp, phân quyền; chủ động rà soát, nắm chắc các nguồn thải, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu vực có nguy cơ gây ô nhiễm trên địa bàn, nhất là các cơ sở có nguồn thải lớn, cơ sở có nguy cơ cao, đã từng vi phạm hoặc bị phản ánh nhiều lần để có biện pháp theo dõi, quản lý, giám sát phù hợp.

b) Thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và hoạt động xả thải của các tổ chức, cá nhân, cơ sở trên địa bàn; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi xả nước thải, khí thải, chất thải không đúng quy định, phát sinh bụi, mùi, tiếng ồn và các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Tăng cường kiểm tra tại các thời điểm, khu vực có nguy cơ xảy ra vi phạm, nhất là ban đêm, ngày nghỉ, trước, trong và sau thời điểm mưa lớn; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm hành vi lợi dụng mưa lớn, dòng chảy hoặc thời điểm khó kiểm soát để xả trộm nước thải, chất thải chưa được xử lý hoặc không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...