Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Báo cáo 4307/BC-VPCP năm 2026 tổng kết việc thi hành Nghị định 39/2022/NĐ-CP về quy chế làm việc của Chính phủ do Văn phòng Chính phủ ban hành

Số hiệu 4307/BC-VPCP
Ngày ban hành 12/05/2026
Ngày có hiệu lực 12/05/2026
Loại văn bản Báo cáo
Cơ quan ban hành Văn phòng Chính phủ
Người ký Đặng Xuân Phong
Lĩnh vực Bộ máy hành chính

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 4307/BC-VPCP

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2026

 

BÁO CÁO

TỔNG KẾT VIỆC THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 39/2022/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM 2022 CỦA CHÍNH PHỦ BAN HÀNH QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA CHÍNH PHỦ

Kính gửi: Chính phủ

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và nhiệm vụ được giao, trên cơ sở theo dõi, tổng hợp báo cáo của các bộ, cơ quan, địa phương, Văn phòng Chính phủ xây dựng báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ về Quy chế làm việc của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quy chế) và đề xuất, kiến nghị một số nội dung chủ yếu sửa đổi Quy chế như sau:

I. BỐI CẢNH THỰC HIỆN TỔNG KẾT

1. Bối cảnh trong nước

Quy chế hiện hành được ban hành trên cơ sở cụ thể hóa nhiệm vụ của Chính phủ được giao tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 43) và những chủ trương, quan điểm của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XIII.

Nghị quyết Đại hội XIV đã xác lập rõ tầm nhìn, mục tiêu, động lực và Chương trình hành động cho giai đoạn phát triển mới, cùng với hệ thống các Nghị quyết đột phá, chiến lược của Bộ Chính trị, Kết luận của Ban Bí thư[1] tiếp tục mở ra những vận hội, yêu cầu mới của đất nước bứt phá vươn lên, nâng tầm vị thế, phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân. Các Nghị quyết của Quốc hội đặt ra yêu cầu phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”.

Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 đã bổ sung nhiều quy định mới về: nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ, phân quyền, phân cấp, ủy quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng, Thành viên Chính phủ… so với các quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) cũng có tư duy tiếp cận mới, chỉ quy định một số nguyên tắc chung đối với cách thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ…; đẩy mạnh phân cấp gắn với tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định và các cơ quan liên quan trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật…

Với những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và việc Quốc hội thông qua các luật với nhiều quy định mới liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quy chế hiện hành là cần thiết, đáp ứng yêu cầu thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, hoàn thiện khung khổ pháp lý trong hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước[2].

Cùng với đó, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, xuất hiện những vấn đề mới, chưa từng có tiền lệ và khó dự báo; thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn; đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và yêu cầu rất cao về phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số… các vấn đề trên đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao về khả năng thích ứng, sự đột phá về tư duy, tầm nhìn và năng lực, phương thức quản trị, chỉ đạo, điều hành, hành động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu phải tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ; tiếp tục xây dựng Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân; đoàn kết, phối hợp và đồng hành; liêm chính, kỷ luật, bản lĩnh và trách nhiệm; quyết tâm, nỗ lực cao nhất điều hành nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, vận hành hiệu quả tổ chức bộ máy theo mô hình mới; tiếp tục thực hiện đầy đủ vị trí, chức năng của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

2. Quá trình thực hiện tổng kết

Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao[3], Văn phòng Chính phủ có văn bản gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để đề nghị tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 trong nhiệm kỳ vừa qua[4]. Trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan, địa phương, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, xây dựng Báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Công tác chỉ đạo, triển khai và tổ chức thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ

Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ được xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc từ Quy chế của các nhiệm kỳ trước đây. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Thủ tướng Chính phủ, quá trình soạn thảo Quy chế được triển khai bài bản, công phu theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật. Văn phòng Chính phủ đã rà soát kỹ, lấy ý kiến các bộ, cơ quan, địa phương; các thành viên Chính phủ đã 2 lần cho ý kiến và đạt sự thống nhất cao. Quy chế có nhiều điểm mới, tiến bộ và bảo đảm đầy đủ các nguyên tắc theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Ngay sau khi được ban hành, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản hướng dẫn những điểm mới của Quy chế gửi đến các bộ, cơ quan, địa phương; các bộ, cơ quan, địa phương đã quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, trong đó, nhiều bộ, cơ quan, địa phương đã tiếp thu các nguyên tắc, quy định của Quy chế để cụ thể hóa trong các quy chế làm việc của bộ, cơ quan, địa phương mình.

Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ đã tham mưu ban hành và chủ động ban hành theo thẩm quyền 19 văn bản triển khai, hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện Quy chế như: xử lý đối với vấn đề còn ý kiến khác nhau, việc lấy ý kiến các bộ, cơ quan, địa phương, đơn vị, việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng tháng, quy trình xử lý công việc tại Văn phòng Chính phủ, về nâng cao chất lượng các cuộc họp Thường trực Chính phủ[5]… Tại nhiều hội nghị, phiên họp của Chính phủ, Thường trực Chính phủ và thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ đã có báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Quy chế, trong đó nêu rõ những vấn đề tồn tại, hạn chế, trường hợp chưa chấp hành đúng quy định của Quy chế để các bộ, cơ quan, địa phương rút ra bài học kinh nghiệm, thực hiện nghiêm Quy chế.

2. Kết quả thi hành

a) Về thực hiện nguyên tắc làm việc của Chính phủ; trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của Chính phủ, Thành viên Chính phủ

Quy chế làm việc của Chính phủ kèm theo Nghị định số 39/2022/NĐ-CP được xây dựng, ban hành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc từ Quy chế của các nhiệm kỳ trước đây và bám sát phương châm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ được xác định xuyên suốt từ đầu nhiệm kỳ 2021 - 2026 là xây dựng Chính phủ “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, hành động, phục vụ nhân dân. Quy chế đã quy định cụ thể nguyên tắc làm việc, chế độ trách nhiệm, quan hệ công tác, cách thức, quy trình giải quyết công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với nhiều điểm mới so với Quy chế trước đây.

Quá trình thực hiện Quy chế cho thấy các nguyên tắc làm việc của Chính phủ được quy định tại Quy chế là phù hợp với hệ thống pháp luật và thực tiễn công tác chỉ đạo, điều hành, được các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm túc. Các Thành viên Chính phủ đã chủ động, tích cực tham gia hiệu quả giải quyết các công việc chung của tập thể Chính phủ; cùng tập thể Chính phủ quyết định và chịu trách nhiệm đối với các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ. Việc thực hiện nghiêm túc Quy chế đã giúp cải tiến lề lối, phương thức làm việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; phát huy trách nhiệm, quyền hạn của tập thể Chính phủ gắn với đề cao trách nhiệm, quyền hạn cá nhân, tính chủ động, sáng tạo của từng thành viên Chính phủ, đặc biệt là của Thủ tướng, người đứng đầu Chính phủ. Mọi hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đều bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ quy định của Hiến pháp, pháp luật, chấp hành nghiêm sự giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của Nhân dân; nền hành chính vận hành thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, hiện đại, liêm chính, công khai, minh bạch, phục vụ nhân dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân. Chính phủ tích cực, chủ động, đổi mới, sáng tạo, linh hoạt, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; phát huy vai trò, trí tuệ tập thể gắn với đề cao trách nhiệm cá nhân từng thành viên Chính phủ, nhất là vai trò của Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện và điều hành công tác của Chính phủ, các Thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.

Công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ có nhiều đổi mới, cải cách mạnh mẽ, trong đó, ưu tiên cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; ứng phó hiệu quả với những tình huống cấp bách, đột xuất phát sinh, đặc biệt là đại dịch Covid-19 (năm 2021 - 2022), những bất ổn, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ về địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột quân sự xảy ra ở nhiều nơi (Nga - Ucraina, dải Gaza và khu vực Trung Đông…), sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo, các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, biến đổi khí hậu, sự thay đổi mang tính căn bản của các chính sách thương mại, thuế quan, các hoạt động kinh tế - xã hội, quan hệ hợp tác trên phạm vi toàn cầu (giai đoạn 2022 - 2026)… Chính phủ đã thảo luận, quyết định theo đa số trên cơ sở thống nhất để tổ chức triển khai nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng, mang tính lịch sử, có ý nghĩa chiến lược, mở ra bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của đất nước như: việc thực hiện “cuộc cách mạng” về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (tinh gọn bộ máy ở Trung ương, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, kết thúc sứ mệnh lịch sử của cấp huyện và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp); phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại; việc tháo gỡ các “điểm nghẽn”, “nút thắt” pháp luật, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài; hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ[6]

Cách thức giải quyết công việc của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về cơ bản thực hiện đúng quy định của Quy chế, nâng cao tính chủ động, linh hoạt trong áp dụng các cách thức giải quyết công việc trên cơ sở lĩnh vực công tác được phân công theo dõi, chỉ đạo để bảo đảm xử lý nhanh, hiệu quả nhất. Sự phối hợp giữa các Phó Thủ tướng Chính phủ bảo đảm chặt chẽ, thông suốt, phát huy tính chủ động, trực tiếp phối hợp để xử lý những vấn đề liên quan theo đúng phạm vi công việc được giao. Các thành viên Chính phủ tham gia có trách nhiệm trong giải quyết các công việc chung của tập thể Chính phủ; chủ động đề xuất nội dung làm việc với Thủ tướng cũng như các thành viên Chính phủ khác trong xử lý công việc. Đã phát huy tốt vai trò điều phối của Văn phòng Chính phủ trong xử lý các vấn đề có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhất là đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, giúp đẩy nhanh tiến độ, tạo thuận lợi cho các Thành viên Chính phủ giải quyết công việc của Chính phủ nhanh chóng và hiệu quả hơn. Các tổ chức phối hợp liên ngành đã được rà soát, đánh giá và chấn chỉnh tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ để nâng cao hiệu quả trong giúp việc, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ.

Chính phủ thể hiện đúng vị trí, chức năng của cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và mối liên hệ, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trong hệ thống chính trị. Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quy định tại Quy chế phối hợp công tác và các quy định có liên quan. Chính phủ đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai tốt các chương trình giám sát giai đoạn 2021 - 2026. Định kỳ hàng năm tổ chức đánh giá công tác phối hợp giữa Chính phủ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Chính phủ tăng cường phối hợp với cơ quan tư pháp, thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp xử lý, nhất là các vụ án kinh tế, tham nhũng nghiêm trọng, được dư luận xã hội quan tâm, việc thực hiện các chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm, phòng, chống mua bán người, phòng chống rửa tiền, tệ nạn ma túy, mại dâm; tham gia đàm phán, đóng góp ý kiến đối với các văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp…tổ chức lấy ý kiến Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao về các vấn đề liên quan theo đúng quy định.

Chính phủ thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy định của Quy chế trong phối hợp công tác chuẩn bị nội dung, xây dựng và thực hiện chương trình các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định; chủ động báo cáo, giải trình về những vấn đề mà Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội quan tâm. Tại các Kỳ họp Quốc hội khóa XV, các thành viên Chính phủ đã trả lời 1.252 câu hỏi chất vấn trực tiếp và 373 phiếu chất vấn của đại biểu Quốc hội; trả lời, giải quyết 1.899 kiến nghị của cử tri với tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc, cầu thị, thẳng thắn, cam kết giải quyết khắc phục hạn chế, bất cập. Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội và Chính phủ ngày càng được tăng cường; đại diện cơ quan liên quan của Quốc hội được mời dự phiên họp thường kỳ hằng tháng, hội nghị của Chính phủ, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý, điều hành của Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ đã chỉ đạo tổ chức phục vụ tốt các hoạt động giám sát hằng năm, giám sát chuyên đề của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Chính phủ, các bộ, ngành nghiêm túc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và một số Nghị quyết trong nhiệm kỳ khoá XIV đối với các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, công thương, nông nghiệp và môi trường, văn hóa, thể thao và du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, dân tộc và tôn giáo, nội vụ, tư pháp, thanh tra, an ninh, trật tự, an toàn xã hội[7]… Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chấp hành nghiêm chế độ báo cáo, trình Chủ tịch nước các văn bản theo quy định và quyết định về các vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, quốc tịch, đặc xá, thi đua khen thưởng nhà nước, ký kết các điều ước quốc tế, phong, thăng, giáng, tước quân hàm, cấp, danh hiệu theo quy định của pháp luật[8].

Các thành viên Chính phủ thực hiện nghiêm các nguyên tắc, trách nhiệm, phạm vi, quy trình giải quyết công việc; chủ động nắm bắt thực tiễn, đổi mới cách thức tổ chức thực hiện, làm việc không kể ngày nghỉ, ngày lễ, tết…; linh hoạt, sáng tạo và có nhiều giải pháp phù hợp, xử lý kịp thời những vấn đề quan trọng phát sinh, đột xuất; chủ động phối hợp, cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn, báo chí để kịp thời truyền thông về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực quản lý, các vấn đề dư luận xã hội quan tâm.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...