Báo cáo 4307/BC-VPCP năm 2026 tổng kết việc thi hành Nghị định 39/2022/NĐ-CP về quy chế làm việc của Chính phủ do Văn phòng Chính phủ ban hành
| Số hiệu | 4307/BC-VPCP |
| Ngày ban hành | 12/05/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 12/05/2026 |
| Loại văn bản | Báo cáo |
| Cơ quan ban hành | Văn phòng Chính phủ |
| Người ký | Đặng Xuân Phong |
| Lĩnh vực | Bộ máy hành chính |
|
VĂN PHÒNG
CHÍNH PHỦ |
CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 4307/BC-VPCP |
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2026 |
Kính gửi: Chính phủ
Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và nhiệm vụ được giao, trên cơ sở theo dõi, tổng hợp báo cáo của các bộ, cơ quan, địa phương, Văn phòng Chính phủ xây dựng báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ về Quy chế làm việc của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quy chế) và đề xuất, kiến nghị một số nội dung chủ yếu sửa đổi Quy chế như sau:
I. BỐI CẢNH THỰC HIỆN TỔNG KẾT
Quy chế hiện hành được ban hành trên cơ sở cụ thể hóa nhiệm vụ của Chính phủ được giao tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 43) và những chủ trương, quan điểm của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XIII.
Nghị quyết Đại hội XIV đã xác lập rõ tầm nhìn, mục tiêu, động lực và Chương trình hành động cho giai đoạn phát triển mới, cùng với hệ thống các Nghị quyết đột phá, chiến lược của Bộ Chính trị, Kết luận của Ban Bí thư[1] tiếp tục mở ra những vận hội, yêu cầu mới của đất nước bứt phá vươn lên, nâng tầm vị thế, phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân. Các Nghị quyết của Quốc hội đặt ra yêu cầu phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”.
Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 đã bổ sung nhiều quy định mới về: nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ, phân quyền, phân cấp, ủy quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng, Thành viên Chính phủ… so với các quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) cũng có tư duy tiếp cận mới, chỉ quy định một số nguyên tắc chung đối với cách thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ…; đẩy mạnh phân cấp gắn với tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định và các cơ quan liên quan trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật…
Với những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và việc Quốc hội thông qua các luật với nhiều quy định mới liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quy chế hiện hành là cần thiết, đáp ứng yêu cầu thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, hoàn thiện khung khổ pháp lý trong hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước[2].
Cùng với đó, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, xuất hiện những vấn đề mới, chưa từng có tiền lệ và khó dự báo; thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn; đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và yêu cầu rất cao về phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số… các vấn đề trên đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao về khả năng thích ứng, sự đột phá về tư duy, tầm nhìn và năng lực, phương thức quản trị, chỉ đạo, điều hành, hành động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu phải tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ; tiếp tục xây dựng Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân; đoàn kết, phối hợp và đồng hành; liêm chính, kỷ luật, bản lĩnh và trách nhiệm; quyết tâm, nỗ lực cao nhất điều hành nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, vận hành hiệu quả tổ chức bộ máy theo mô hình mới; tiếp tục thực hiện đầy đủ vị trí, chức năng của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
2. Quá trình thực hiện tổng kết
Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao[3], Văn phòng Chính phủ có văn bản gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để đề nghị tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 trong nhiệm kỳ vừa qua[4]. Trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan, địa phương, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, xây dựng Báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP.
Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ được xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc từ Quy chế của các nhiệm kỳ trước đây. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Thủ tướng Chính phủ, quá trình soạn thảo Quy chế được triển khai bài bản, công phu theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật. Văn phòng Chính phủ đã rà soát kỹ, lấy ý kiến các bộ, cơ quan, địa phương; các thành viên Chính phủ đã 2 lần cho ý kiến và đạt sự thống nhất cao. Quy chế có nhiều điểm mới, tiến bộ và bảo đảm đầy đủ các nguyên tắc theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Ngay sau khi được ban hành, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản hướng dẫn những điểm mới của Quy chế gửi đến các bộ, cơ quan, địa phương; các bộ, cơ quan, địa phương đã quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, trong đó, nhiều bộ, cơ quan, địa phương đã tiếp thu các nguyên tắc, quy định của Quy chế để cụ thể hóa trong các quy chế làm việc của bộ, cơ quan, địa phương mình.
Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ đã tham mưu ban hành và chủ động ban hành theo thẩm quyền 19 văn bản triển khai, hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện Quy chế như: xử lý đối với vấn đề còn ý kiến khác nhau, việc lấy ý kiến các bộ, cơ quan, địa phương, đơn vị, việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng tháng, quy trình xử lý công việc tại Văn phòng Chính phủ, về nâng cao chất lượng các cuộc họp Thường trực Chính phủ[5]… Tại nhiều hội nghị, phiên họp của Chính phủ, Thường trực Chính phủ và thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ đã có báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Quy chế, trong đó nêu rõ những vấn đề tồn tại, hạn chế, trường hợp chưa chấp hành đúng quy định của Quy chế để các bộ, cơ quan, địa phương rút ra bài học kinh nghiệm, thực hiện nghiêm Quy chế.
a) Về thực hiện nguyên tắc làm việc của Chính phủ; trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của Chính phủ, Thành viên Chính phủ
Quy chế làm việc của Chính phủ kèm theo Nghị định số 39/2022/NĐ-CP được xây dựng, ban hành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc từ Quy chế của các nhiệm kỳ trước đây và bám sát phương châm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ được xác định xuyên suốt từ đầu nhiệm kỳ 2021 - 2026 là xây dựng Chính phủ “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, hành động, phục vụ nhân dân. Quy chế đã quy định cụ thể nguyên tắc làm việc, chế độ trách nhiệm, quan hệ công tác, cách thức, quy trình giải quyết công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với nhiều điểm mới so với Quy chế trước đây.
Quá trình thực hiện Quy chế cho thấy các nguyên tắc làm việc của Chính phủ được quy định tại Quy chế là phù hợp với hệ thống pháp luật và thực tiễn công tác chỉ đạo, điều hành, được các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm túc. Các Thành viên Chính phủ đã chủ động, tích cực tham gia hiệu quả giải quyết các công việc chung của tập thể Chính phủ; cùng tập thể Chính phủ quyết định và chịu trách nhiệm đối với các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ. Việc thực hiện nghiêm túc Quy chế đã giúp cải tiến lề lối, phương thức làm việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; phát huy trách nhiệm, quyền hạn của tập thể Chính phủ gắn với đề cao trách nhiệm, quyền hạn cá nhân, tính chủ động, sáng tạo của từng thành viên Chính phủ, đặc biệt là của Thủ tướng, người đứng đầu Chính phủ. Mọi hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đều bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ quy định của Hiến pháp, pháp luật, chấp hành nghiêm sự giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của Nhân dân; nền hành chính vận hành thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, hiện đại, liêm chính, công khai, minh bạch, phục vụ nhân dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân. Chính phủ tích cực, chủ động, đổi mới, sáng tạo, linh hoạt, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; phát huy vai trò, trí tuệ tập thể gắn với đề cao trách nhiệm cá nhân từng thành viên Chính phủ, nhất là vai trò của Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện và điều hành công tác của Chính phủ, các Thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.
Công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ có nhiều đổi mới, cải cách mạnh mẽ, trong đó, ưu tiên cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; ứng phó hiệu quả với những tình huống cấp bách, đột xuất phát sinh, đặc biệt là đại dịch Covid-19 (năm 2021 - 2022), những bất ổn, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ về địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột quân sự xảy ra ở nhiều nơi (Nga - Ucraina, dải Gaza và khu vực Trung Đông…), sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo, các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, biến đổi khí hậu, sự thay đổi mang tính căn bản của các chính sách thương mại, thuế quan, các hoạt động kinh tế - xã hội, quan hệ hợp tác trên phạm vi toàn cầu (giai đoạn 2022 - 2026)… Chính phủ đã thảo luận, quyết định theo đa số trên cơ sở thống nhất để tổ chức triển khai nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng, mang tính lịch sử, có ý nghĩa chiến lược, mở ra bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của đất nước như: việc thực hiện “cuộc cách mạng” về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (tinh gọn bộ máy ở Trung ương, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, kết thúc sứ mệnh lịch sử của cấp huyện và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp); phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại; việc tháo gỡ các “điểm nghẽn”, “nút thắt” pháp luật, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài; hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ[6]…
Cách thức giải quyết công việc của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về cơ bản thực hiện đúng quy định của Quy chế, nâng cao tính chủ động, linh hoạt trong áp dụng các cách thức giải quyết công việc trên cơ sở lĩnh vực công tác được phân công theo dõi, chỉ đạo để bảo đảm xử lý nhanh, hiệu quả nhất. Sự phối hợp giữa các Phó Thủ tướng Chính phủ bảo đảm chặt chẽ, thông suốt, phát huy tính chủ động, trực tiếp phối hợp để xử lý những vấn đề liên quan theo đúng phạm vi công việc được giao. Các thành viên Chính phủ tham gia có trách nhiệm trong giải quyết các công việc chung của tập thể Chính phủ; chủ động đề xuất nội dung làm việc với Thủ tướng cũng như các thành viên Chính phủ khác trong xử lý công việc. Đã phát huy tốt vai trò điều phối của Văn phòng Chính phủ trong xử lý các vấn đề có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhất là đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, giúp đẩy nhanh tiến độ, tạo thuận lợi cho các Thành viên Chính phủ giải quyết công việc của Chính phủ nhanh chóng và hiệu quả hơn. Các tổ chức phối hợp liên ngành đã được rà soát, đánh giá và chấn chỉnh tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ để nâng cao hiệu quả trong giúp việc, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ.
Chính phủ thể hiện đúng vị trí, chức năng của cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và mối liên hệ, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trong hệ thống chính trị. Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quy định tại Quy chế phối hợp công tác và các quy định có liên quan. Chính phủ đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai tốt các chương trình giám sát giai đoạn 2021 - 2026. Định kỳ hàng năm tổ chức đánh giá công tác phối hợp giữa Chính phủ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Chính phủ tăng cường phối hợp với cơ quan tư pháp, thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp xử lý, nhất là các vụ án kinh tế, tham nhũng nghiêm trọng, được dư luận xã hội quan tâm, việc thực hiện các chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm, phòng, chống mua bán người, phòng chống rửa tiền, tệ nạn ma túy, mại dâm; tham gia đàm phán, đóng góp ý kiến đối với các văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp…tổ chức lấy ý kiến Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao về các vấn đề liên quan theo đúng quy định.
Chính phủ thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy định của Quy chế trong phối hợp công tác chuẩn bị nội dung, xây dựng và thực hiện chương trình các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định; chủ động báo cáo, giải trình về những vấn đề mà Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội quan tâm. Tại các Kỳ họp Quốc hội khóa XV, các thành viên Chính phủ đã trả lời 1.252 câu hỏi chất vấn trực tiếp và 373 phiếu chất vấn của đại biểu Quốc hội; trả lời, giải quyết 1.899 kiến nghị của cử tri với tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc, cầu thị, thẳng thắn, cam kết giải quyết khắc phục hạn chế, bất cập. Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội và Chính phủ ngày càng được tăng cường; đại diện cơ quan liên quan của Quốc hội được mời dự phiên họp thường kỳ hằng tháng, hội nghị của Chính phủ, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý, điều hành của Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ đã chỉ đạo tổ chức phục vụ tốt các hoạt động giám sát hằng năm, giám sát chuyên đề của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Chính phủ, các bộ, ngành nghiêm túc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và một số Nghị quyết trong nhiệm kỳ khoá XIV đối với các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, công thương, nông nghiệp và môi trường, văn hóa, thể thao và du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, dân tộc và tôn giáo, nội vụ, tư pháp, thanh tra, an ninh, trật tự, an toàn xã hội[7]… Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chấp hành nghiêm chế độ báo cáo, trình Chủ tịch nước các văn bản theo quy định và quyết định về các vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, quốc tịch, đặc xá, thi đua khen thưởng nhà nước, ký kết các điều ước quốc tế, phong, thăng, giáng, tước quân hàm, cấp, danh hiệu theo quy định của pháp luật[8].
Các thành viên Chính phủ thực hiện nghiêm các nguyên tắc, trách nhiệm, phạm vi, quy trình giải quyết công việc; chủ động nắm bắt thực tiễn, đổi mới cách thức tổ chức thực hiện, làm việc không kể ngày nghỉ, ngày lễ, tết…; linh hoạt, sáng tạo và có nhiều giải pháp phù hợp, xử lý kịp thời những vấn đề quan trọng phát sinh, đột xuất; chủ động phối hợp, cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn, báo chí để kịp thời truyền thông về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực quản lý, các vấn đề dư luận xã hội quan tâm.
|
VĂN PHÒNG
CHÍNH PHỦ |
CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 4307/BC-VPCP |
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2026 |
Kính gửi: Chính phủ
Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và nhiệm vụ được giao, trên cơ sở theo dõi, tổng hợp báo cáo của các bộ, cơ quan, địa phương, Văn phòng Chính phủ xây dựng báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ về Quy chế làm việc của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quy chế) và đề xuất, kiến nghị một số nội dung chủ yếu sửa đổi Quy chế như sau:
I. BỐI CẢNH THỰC HIỆN TỔNG KẾT
Quy chế hiện hành được ban hành trên cơ sở cụ thể hóa nhiệm vụ của Chính phủ được giao tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 43) và những chủ trương, quan điểm của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XIII.
Nghị quyết Đại hội XIV đã xác lập rõ tầm nhìn, mục tiêu, động lực và Chương trình hành động cho giai đoạn phát triển mới, cùng với hệ thống các Nghị quyết đột phá, chiến lược của Bộ Chính trị, Kết luận của Ban Bí thư[1] tiếp tục mở ra những vận hội, yêu cầu mới của đất nước bứt phá vươn lên, nâng tầm vị thế, phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân. Các Nghị quyết của Quốc hội đặt ra yêu cầu phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”.
Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 đã bổ sung nhiều quy định mới về: nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ, phân quyền, phân cấp, ủy quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng, Thành viên Chính phủ… so với các quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) cũng có tư duy tiếp cận mới, chỉ quy định một số nguyên tắc chung đối với cách thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ…; đẩy mạnh phân cấp gắn với tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định và các cơ quan liên quan trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật…
Với những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và việc Quốc hội thông qua các luật với nhiều quy định mới liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quy chế hiện hành là cần thiết, đáp ứng yêu cầu thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, hoàn thiện khung khổ pháp lý trong hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước[2].
Cùng với đó, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, xuất hiện những vấn đề mới, chưa từng có tiền lệ và khó dự báo; thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn; đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và yêu cầu rất cao về phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số… các vấn đề trên đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao về khả năng thích ứng, sự đột phá về tư duy, tầm nhìn và năng lực, phương thức quản trị, chỉ đạo, điều hành, hành động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu phải tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ; tiếp tục xây dựng Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân; đoàn kết, phối hợp và đồng hành; liêm chính, kỷ luật, bản lĩnh và trách nhiệm; quyết tâm, nỗ lực cao nhất điều hành nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, vận hành hiệu quả tổ chức bộ máy theo mô hình mới; tiếp tục thực hiện đầy đủ vị trí, chức năng của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
2. Quá trình thực hiện tổng kết
Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao[3], Văn phòng Chính phủ có văn bản gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để đề nghị tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 trong nhiệm kỳ vừa qua[4]. Trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan, địa phương, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, xây dựng Báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP.
Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ được xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc từ Quy chế của các nhiệm kỳ trước đây. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Thủ tướng Chính phủ, quá trình soạn thảo Quy chế được triển khai bài bản, công phu theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật. Văn phòng Chính phủ đã rà soát kỹ, lấy ý kiến các bộ, cơ quan, địa phương; các thành viên Chính phủ đã 2 lần cho ý kiến và đạt sự thống nhất cao. Quy chế có nhiều điểm mới, tiến bộ và bảo đảm đầy đủ các nguyên tắc theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Ngay sau khi được ban hành, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản hướng dẫn những điểm mới của Quy chế gửi đến các bộ, cơ quan, địa phương; các bộ, cơ quan, địa phương đã quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, trong đó, nhiều bộ, cơ quan, địa phương đã tiếp thu các nguyên tắc, quy định của Quy chế để cụ thể hóa trong các quy chế làm việc của bộ, cơ quan, địa phương mình.
Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ đã tham mưu ban hành và chủ động ban hành theo thẩm quyền 19 văn bản triển khai, hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện Quy chế như: xử lý đối với vấn đề còn ý kiến khác nhau, việc lấy ý kiến các bộ, cơ quan, địa phương, đơn vị, việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng tháng, quy trình xử lý công việc tại Văn phòng Chính phủ, về nâng cao chất lượng các cuộc họp Thường trực Chính phủ[5]… Tại nhiều hội nghị, phiên họp của Chính phủ, Thường trực Chính phủ và thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ đã có báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Quy chế, trong đó nêu rõ những vấn đề tồn tại, hạn chế, trường hợp chưa chấp hành đúng quy định của Quy chế để các bộ, cơ quan, địa phương rút ra bài học kinh nghiệm, thực hiện nghiêm Quy chế.
a) Về thực hiện nguyên tắc làm việc của Chính phủ; trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của Chính phủ, Thành viên Chính phủ
Quy chế làm việc của Chính phủ kèm theo Nghị định số 39/2022/NĐ-CP được xây dựng, ban hành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc từ Quy chế của các nhiệm kỳ trước đây và bám sát phương châm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ được xác định xuyên suốt từ đầu nhiệm kỳ 2021 - 2026 là xây dựng Chính phủ “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, hành động, phục vụ nhân dân. Quy chế đã quy định cụ thể nguyên tắc làm việc, chế độ trách nhiệm, quan hệ công tác, cách thức, quy trình giải quyết công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với nhiều điểm mới so với Quy chế trước đây.
Quá trình thực hiện Quy chế cho thấy các nguyên tắc làm việc của Chính phủ được quy định tại Quy chế là phù hợp với hệ thống pháp luật và thực tiễn công tác chỉ đạo, điều hành, được các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm túc. Các Thành viên Chính phủ đã chủ động, tích cực tham gia hiệu quả giải quyết các công việc chung của tập thể Chính phủ; cùng tập thể Chính phủ quyết định và chịu trách nhiệm đối với các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ. Việc thực hiện nghiêm túc Quy chế đã giúp cải tiến lề lối, phương thức làm việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; phát huy trách nhiệm, quyền hạn của tập thể Chính phủ gắn với đề cao trách nhiệm, quyền hạn cá nhân, tính chủ động, sáng tạo của từng thành viên Chính phủ, đặc biệt là của Thủ tướng, người đứng đầu Chính phủ. Mọi hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đều bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ quy định của Hiến pháp, pháp luật, chấp hành nghiêm sự giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của Nhân dân; nền hành chính vận hành thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, hiện đại, liêm chính, công khai, minh bạch, phục vụ nhân dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân. Chính phủ tích cực, chủ động, đổi mới, sáng tạo, linh hoạt, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; phát huy vai trò, trí tuệ tập thể gắn với đề cao trách nhiệm cá nhân từng thành viên Chính phủ, nhất là vai trò của Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện và điều hành công tác của Chính phủ, các Thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.
Công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ có nhiều đổi mới, cải cách mạnh mẽ, trong đó, ưu tiên cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; ứng phó hiệu quả với những tình huống cấp bách, đột xuất phát sinh, đặc biệt là đại dịch Covid-19 (năm 2021 - 2022), những bất ổn, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ về địa chính trị, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột quân sự xảy ra ở nhiều nơi (Nga - Ucraina, dải Gaza và khu vực Trung Đông…), sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo, các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, biến đổi khí hậu, sự thay đổi mang tính căn bản của các chính sách thương mại, thuế quan, các hoạt động kinh tế - xã hội, quan hệ hợp tác trên phạm vi toàn cầu (giai đoạn 2022 - 2026)… Chính phủ đã thảo luận, quyết định theo đa số trên cơ sở thống nhất để tổ chức triển khai nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng, mang tính lịch sử, có ý nghĩa chiến lược, mở ra bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của đất nước như: việc thực hiện “cuộc cách mạng” về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (tinh gọn bộ máy ở Trung ương, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, kết thúc sứ mệnh lịch sử của cấp huyện và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp); phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại; việc tháo gỡ các “điểm nghẽn”, “nút thắt” pháp luật, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài; hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ[6]…
Cách thức giải quyết công việc của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về cơ bản thực hiện đúng quy định của Quy chế, nâng cao tính chủ động, linh hoạt trong áp dụng các cách thức giải quyết công việc trên cơ sở lĩnh vực công tác được phân công theo dõi, chỉ đạo để bảo đảm xử lý nhanh, hiệu quả nhất. Sự phối hợp giữa các Phó Thủ tướng Chính phủ bảo đảm chặt chẽ, thông suốt, phát huy tính chủ động, trực tiếp phối hợp để xử lý những vấn đề liên quan theo đúng phạm vi công việc được giao. Các thành viên Chính phủ tham gia có trách nhiệm trong giải quyết các công việc chung của tập thể Chính phủ; chủ động đề xuất nội dung làm việc với Thủ tướng cũng như các thành viên Chính phủ khác trong xử lý công việc. Đã phát huy tốt vai trò điều phối của Văn phòng Chính phủ trong xử lý các vấn đề có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhất là đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, giúp đẩy nhanh tiến độ, tạo thuận lợi cho các Thành viên Chính phủ giải quyết công việc của Chính phủ nhanh chóng và hiệu quả hơn. Các tổ chức phối hợp liên ngành đã được rà soát, đánh giá và chấn chỉnh tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ để nâng cao hiệu quả trong giúp việc, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ.
Chính phủ thể hiện đúng vị trí, chức năng của cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và mối liên hệ, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trong hệ thống chính trị. Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quy định tại Quy chế phối hợp công tác và các quy định có liên quan. Chính phủ đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai tốt các chương trình giám sát giai đoạn 2021 - 2026. Định kỳ hàng năm tổ chức đánh giá công tác phối hợp giữa Chính phủ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Chính phủ tăng cường phối hợp với cơ quan tư pháp, thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp xử lý, nhất là các vụ án kinh tế, tham nhũng nghiêm trọng, được dư luận xã hội quan tâm, việc thực hiện các chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm, phòng, chống mua bán người, phòng chống rửa tiền, tệ nạn ma túy, mại dâm; tham gia đàm phán, đóng góp ý kiến đối với các văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp…tổ chức lấy ý kiến Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao về các vấn đề liên quan theo đúng quy định.
Chính phủ thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy định của Quy chế trong phối hợp công tác chuẩn bị nội dung, xây dựng và thực hiện chương trình các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định; chủ động báo cáo, giải trình về những vấn đề mà Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội quan tâm. Tại các Kỳ họp Quốc hội khóa XV, các thành viên Chính phủ đã trả lời 1.252 câu hỏi chất vấn trực tiếp và 373 phiếu chất vấn của đại biểu Quốc hội; trả lời, giải quyết 1.899 kiến nghị của cử tri với tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc, cầu thị, thẳng thắn, cam kết giải quyết khắc phục hạn chế, bất cập. Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội và Chính phủ ngày càng được tăng cường; đại diện cơ quan liên quan của Quốc hội được mời dự phiên họp thường kỳ hằng tháng, hội nghị của Chính phủ, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý, điều hành của Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ đã chỉ đạo tổ chức phục vụ tốt các hoạt động giám sát hằng năm, giám sát chuyên đề của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Chính phủ, các bộ, ngành nghiêm túc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và một số Nghị quyết trong nhiệm kỳ khoá XIV đối với các lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, công thương, nông nghiệp và môi trường, văn hóa, thể thao và du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, dân tộc và tôn giáo, nội vụ, tư pháp, thanh tra, an ninh, trật tự, an toàn xã hội[7]… Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chấp hành nghiêm chế độ báo cáo, trình Chủ tịch nước các văn bản theo quy định và quyết định về các vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, quốc tịch, đặc xá, thi đua khen thưởng nhà nước, ký kết các điều ước quốc tế, phong, thăng, giáng, tước quân hàm, cấp, danh hiệu theo quy định của pháp luật[8].
Các thành viên Chính phủ thực hiện nghiêm các nguyên tắc, trách nhiệm, phạm vi, quy trình giải quyết công việc; chủ động nắm bắt thực tiễn, đổi mới cách thức tổ chức thực hiện, làm việc không kể ngày nghỉ, ngày lễ, tết…; linh hoạt, sáng tạo và có nhiều giải pháp phù hợp, xử lý kịp thời những vấn đề quan trọng phát sinh, đột xuất; chủ động phối hợp, cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn, báo chí để kịp thời truyền thông về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực quản lý, các vấn đề dư luận xã hội quan tâm.
b) Về thực hiện quy trình giải quyết công việc
Trên cơ sở quy định của Luật Tổ chức Chính phủ và Quy chế, quy trình xử lý công việc của Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả hơn, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật và đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong bối cảnh luôn phải ứng phó, xử lý những công việc cấp bách, cần thiết, quan trọng của đất nước. Thực hiện đúng Quy chế, Thủ tướng Chính phủ không xử lý những công việc đã phân công, ủy quyền cho Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; trừ một số trường hợp hãn hữu khi xét thấy thật sự cần thiết do tính chất cấp bách, phức tạp, nhạy cảm của công việc. Phó Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm giải quyết và quyết định công việc đã được phân công, ủy quyền; nếu có vấn đề liên quan đến lĩnh vực của Phó Thủ tướng Chính phủ khác thì trực tiếp trao đổi, thống nhất với các Phó Thủ tướng Chính phủ đó để giải quyết. Trường hợp có ý kiến khác nhau thì Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì xem xét, quyết định hoặc trực tiếp báo cáo Thủ tướng Chính phủ khi cần thiết.
Các bộ, cơ quan, địa phương cơ bản chấp hành đúng quy định, tuân thủ trình tự, thủ tục, công việc, hồ sơ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ[9]; chủ động đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhiều cơ chế, chính sách quan trọng. Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện chức năng, nhiệm vụ thẩm định, thẩm tra đã tích cực thực hiện việc thẩm định, thẩm tra và phối hợp chặt chẽ cơ quan chủ trì tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định kịp thời nhiều chính sách, pháp luật, giải pháp chỉ đạo, điều hành phù hợp, hiệu quả. Để chuẩn hóa hồ sơ trình, Chính phủ yêu cầu thống nhất các mẫu tờ trình, báo cáo, nêu rõ căn cứ chính trị, căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn, quá trình xử lý, ý kiến các cơ quan liên quan và nội dung trình, vấn đề xin ý kiến. Đối với đề án, văn bản quy phạm pháp luật trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện nghiêm quy định lấy ý kiến các cơ quan của Đảng, Quốc hội, tổ chức chính trị - xã hội, các địa phương có liên quan và tiếp thu, giải trình đầy đủ trước khi trình Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ thực hiện tiếp nhận, xử lý, lập danh mục theo dõi quá trình xử lý và lưu trữ theo đúng quy định, đặc biệt đã ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, đôn đốc quá trình việc xử lý công việc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, làm rõ đầu mối thụ lý hồ sơ và tiến độ xử lý tại từng khâu, nâng cao hiệu quả quản lý và góp phần bảo đảm thực hiện nghiêm thời hạn xử lý công việc theo quy định. Trường hợp những vấn đề có ý kiến khác nhau của các Thành viên Chính phủ, Văn phòng Chính phủ kịp thời báo cáo Lãnh đạo Chính phủ phụ trách tổ chức họp với cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp và bộ, cơ quan còn ý kiến khác nhau để trao đổi, thống nhất trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Việc phát hành và công khai văn bản sau khi được Thủ tướng Chính phủ ban hành được thực hiện kịp thời, nghiêm túc theo quy định. Đối với các công việc cụ thể, cần xử lý gấp hoặc những công việc Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo, Văn phòng Chính phủ luôn nỗ lực thực hiện trong thời gian nhanh nhất, không để chậm trễ. Khi phát hiện những vấn đề đột xuất, phát sinh cần có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ nhưng bộ, cơ quan, địa phương chưa có báo cáo đề xuất, Văn phòng Chính phủ chủ động nắm tình hình, tham mưu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ xem xét, có ý kiến chỉ đạo hoặc đề xuất giao các bộ, cơ quan xây dựng đề án báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Quy trình cho ý kiến thông qua các dự án, dự thảo luật, pháp lệnh được quy định chặt chẽ hơn; theo đó, đồng thời với việc tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các bộ, cơ quan chủ trì đã tối ưu hóa trong xử lý vấn đề còn ý kiến khác về những nội dung chủ yếu của dự thảo, đi đến sự thống nhất cao trong giải quyết công việc của Chính phủ, hạn chế tối đa việc trình khi còn nhiều ý kiến khác nhau. Trường hợp vẫn không thống nhất được thì Văn phòng Chính phủ tổng hợp đầy đủ ý kiến còn khác nhau, trình Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách xem xét, quyết định. Lãnh đạo Chính phủ, Thường trực Chính phủ tăng cường làm việc với các bộ, cơ quan để cho ý kiến, chỉ đạo về những vấn đề lớn, phức tạp, còn ý kiến khác nhau trong từng dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết; chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật tiếp tục được nâng lên, giúp ngăn ngừa tình trạng tham nhũng chính sách, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ…
Trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo điều hành để thực hiện mục tiêu chuyển đổi số. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo điều hành để ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số nhằm cải tiến cách thức, lề lối làm việc, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý đã được ban hành… Bên cạnh đó, một số nền tảng của Chính phủ điện tử đã được xây dựng, vận hành và phát huy hiệu quả: việc gửi, nhận văn bản trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đã được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia (trừ văn bản mật); Hệ thống e-Cabinet được đưa vào vận hành đã giúp quản lý đồng bộ, đầy đủ, khoa học thông tin, tài liệu điện tử (thay thế tài liệu giấy, trừ tài liệu mật) và hỗ trợ điều hành, biểu quyết điện tử các hội nghị, phiên họp của Chính phủ; thực hiện việc lấy ý kiến các thành viên Chính phủ trên môi trường điện tử (thay thế Phiếu lấy ý kiến giấy) nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm thời gian hơn; theo đó, Hệ thống đã phục vụ 116 Phiên họp Chính phủ, triển khai 3.465 Phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ, thay thế việc phát hành 1.074.638 hồ sơ, tài liệu giấy. Đồng thời, hệ thống đã được tích hợp, kết nối với các hệ thống khác để phục vụ Thành viên Chính phủ theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và tra cứu các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Các Bộ, cơ quan, địa phương quan tâm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin gắn với cải cách thủ tục hành chính, tổ chức triển khai thực hiện việc kết nối liên thông phần mềm quản lý giữa các cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm nội dung thông tin của công văn, tài liệu được chuyển tải kịp thời, đầy đủ đến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đến các bộ, cơ quan, địa phương.
c) Việc xây dựng và thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
Việc xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (CTCT) luôn được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xác định là một nhiệm vụ quan trọng; thường xuyên tổ chức kiểm điểm, đánh giá và đôn đốc thực hiện. Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ dành nhiều thời gian thường xuyên, trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc việc chuẩn bị các đề án, dự án, nhất là các đề án báo cáo trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thời thường xuyên chỉ đạo đôn đốc, đánh giá việc thực hiện CTCT theo lĩnh vực phụ trách; qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục được các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế chính sách, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Công tác xây dựng, theo dõi và quản lý CTCT của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có nhiều tiến bộ, về cơ bản được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả đảm bảo theo đúng Quy chế. Hằng năm, Chính phủ ban hành CTCT trên cơ sở bám sát các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội, Chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, chỉ đạo của lãnh đạo chủ chốt, chương trình làm việc của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chương trình hành động của cả nhiệm kỳ và yêu cầu quản lý, điều hành trên các lĩnh vực, phù hợp với tình hình thực tiễn. CTCT của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được cụ thể hóa bằng các đề án, nhiệm vụ cụ thể; trong đó, xác định cụ thể bộ, cơ quan chủ trì đề án và tiến độ thực hiện đến từng tháng, từng quý.
Các bộ, cơ quan đã chủ động và tích cực hơn trong việc xây dựng, trình các đề án trong CTCT của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; xác định việc tổ chức thực hiện CTCT là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng cần tập trung nguồn lực để thực hiện; chất lượng CTCT ngày càng được nâng cao, việc điều chỉnh tiến độ trình, việc xin lùi, xin rút năm sau giảm so với năm trước. Trong giai đoạn 2021 - 2025, các bộ, cơ quan đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 2.410/2.458 đề án trong CTCT, đạt tỷ lệ 98%; còn 48 đề án chưa trình (chiếm 2%); Chính phủ đã ban hành 814 nghị định, tăng 5,6% so với nhiệm kỳ 2016 - 2021[10].
Việc thực hiện CTCT từng bước được nâng cao, có nhiều đổi mới trong quá trình thực hiện, cơ bản chặt chẽ, hiệu quả bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, chất lượng chuẩn bị, trình các đề án thuộc CTCT ngày càng được nâng cao, việc điều chỉnh tiến độ trình, việc xin lùi, xin rút năm sau giảm so với năm trước. Các bộ, cơ quan, địa phương đã chú trọng, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện CTCT trong phạm vi lĩnh vực, địa bàn phụ trách. Quá trình xây dựng CTCT, Văn phòng Chính phủ đã kịp thời, tham mưu, đề xuất bổ sung nội dung đưa vào phiên họp Chính phủ thường kỳ, chuyên đề những vấn đề trọng tâm, quan trọng, cấp bách để chỉ đạo xử lý và đôn đốc đẩy nhanh tiến độ công việc.
d) Về thực hiện chế độ họp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
Công tác tổ chức phiên họp, hội nghị của Chính phủ, cuộc họp của Thủ tướng, các Phó Thủ tướng cơ bản được thực hiện đúng quy trình, thành phần mời dự họp phù hợp. Trong năm đầu nhiệm kỳ, Thường trực Chính phủ tổ chức giao ban hàng tuần để đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành trong tuần, đề ra kế hoạch tuần tiếp theo và thời gian tới; khi tổ chức hoạt động đã vào nề nếp, Thường trực Chính phủ duy trì chế độ họp định kỳ hằng tuần để xem xét, cho ý kiến về những nội dung trước khi báo cáo Phiên họp Chính phủ và những vấn đề quan trọng, cấp bách, cần thiết khác, tạo sự đồng thuận, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành. Chính phủ, Thường trực Chính phủ thảo luận và cho ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật tại các Phiên họp thường kỳ và Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật; tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến mạnh mẽ công tác này.
Các cách thức tổ chức và chương trình, nội dung họp Chính phủ được bố trí khoa học, hợp lý. Việc chuẩn bị giấy mời họp, tài liệu, bố trí phòng họp, tổng hợp, kiểm soát thành phần tham dự họp và ghi biên bản các cuộc họp, làm việc có nhiều tiến bộ so với giai đoạn trước; thực hiện nghiêm túc các quy định về ghi chép, ký và nộp lưu trữ các biên bản họp, hội nghị; bảo quản tốt các tài liệu mật và các thông tin mật đang trong quá trình xử lý. Các hoạt động của lãnh đạo Chính phủ tại địa phương đã được đưa tin kịp thời trên các phương tiện đại chúng và trên Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ.
Hình thức tổ chức các Phiên họp, hội nghị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, trong đó nhiều cuộc họp, hội nghị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được tổ chức trực tuyến đến cơ sở (cấp xã); sử dụng phần mềm gỡ băng tại phiên họp Chính phủ thường kỳ, các cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ trong vòng 24 giờ sau khi kết thúc để có dự thảo kết luận của Thủ tướng Chính phủ, kịp thời ban hành Nghị quyết phiên họp Chính phủ và các văn bản thông báo kết luận chỉ đạo của Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, tạo thuận lợi cho công tác triển khai thực hiện.
Các bộ, cơ quan, địa phương, đơn vị cơ bản thực hiện đúng quy định chế độ họp như: dự họp đúng thành phần được mời, trường hợp không tham dự hoặc vắng mặt một số thời gian hoặc cử người dự thay đều có văn bản báo cáo Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì, giúp nâng cao chất lượng các cuộc họp, giúp người chủ trì có những kết luận, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả.
đ) Về công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao
Trên cơ sở Quy chế, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan, địa phương và các tổ chức, cá nhân liên quan đã đẩy mạnh công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, coi đây là công việc được tiến hành thường xuyên, có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình triển khai. Nội dung theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tập trung vào việc tổ chức, triển khai và tiến độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, việc xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội.
Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao được kết nối liên thông từ Văn phòng Chính phủ đến các bộ, cơ quan, địa phương, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục được vận hành, nâng cấp và phát huy vai trò là công cụ hiệu quả trong theo dõi các nhiệm vụ và tiến độ thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao. Qua công tác đôn đốc, kiểm tra, đã xác định rõ trách nhiệm của bộ, cơ quan, địa phương và người có thẩm quyền trong việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật và các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; giúp nâng cao ý thức trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính của các bộ, cơ quan, địa phương; tạo ra những thay đổi căn bản trong việc thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; hạn chế tình trạng sót việc, đùn đẩy trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp.
e) Về thực hiện chế độ thông tin, báo cáo
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện kịp thời, nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo trước Nhân dân, trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ động thông tin kịp thời đến các tầng lớp nhân dân các chính sách và giải pháp chỉ đạo, điều hành quan trọng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thông qua nhiều hình thức như: các báo cáo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, trả lời chất vấn Đại biểu Quốc hội và kiến nghị của cử tri; các báo cáo gửi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước đã được Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng thường xuyên quan tâm, chỉ đạo sát sao, bảo đảm thực hiện đúng tiến độ, chất lượng theo quy định. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm thực hiện có trách nhiệm việc cung cấp thông tin cho Nhân dân và báo chí khi ban hành chính sách quan trọng, giải đáp những vấn đề dư luận xã hội quan tâm thuộc ngành, lĩnh vực, địa phương quản lý.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thực hiện hiệu quả vai trò người phát ngôn của Chính phủ; chủ trì họp báo Chính phủ thường kỳ hàng tháng ngay sau phiên họp Chính phủ thường kỳ để cung cấp thông tin về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hoạt động quản lý của các bộ, cơ quan, địa phương trong việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã kịp thời cung cấp thông tin, đáp ứng yêu cầu của Nhân dân thông qua Cổng thông tin điện tử Chính phủ và các phương tiện thông tin đại chúng. Thủ tướng và các thành viên Chính phủ quan tâm chỉ đạo kiểm tra, giải quyết và công khai kết quả xử lý đối với nhiều vấn đề, nội dung báo chí phản ánh.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện cơ bản đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo chuyên đề, đột xuất phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Quy chế và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Chế độ báo cáo nhanh hằng ngày liên quan đến tình hình an ninh, quốc phòng, đối ngoại và trật tự an toàn xã hội được duy trì, kể cả trong những đợt nghỉ Lễ, Tết, bảo đảm cung cấp thông tin liên tục, phục vụ kịp thời hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, thực hiện nghiêm việc trả lời báo chí theo quy định; tăng cường ứng dụng công nghệ, đa dạng hình thức đối thoại, thông tin, giải thích chính sách hoặc giải đáp những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm.
g) Về đi công tác địa phương, cơ sở
Việc chuẩn bị các chuyến công tác địa phương của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ được thực hiện đúng Quy chế làm việc của Chính phủ, công tác tổ chức bảo đảm đúng quy trình. Qua 5 năm thực hiện, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hơn 400 chuyến công tác, làm việc với địa phương, cơ sở, trực tiếp kiểm tra, đôn đốc, giải quyết hàng nghìn kiến nghị, tháo gỡ khó khăn cho địa phương, người dân và doanh nghiệp. Văn phòng Chính phủ đã chuẩn bị chu đáo nội dung làm việc, tài liệu, đổi mới cách thức chuẩn bị báo cáo thông qua việc chủ động tổng hợp ý kiến các bộ, ngành về đề xuất, kiến nghị của địa phương; qua đó tiết kiệm thời gian họp, hội nghị, làm việc, góp phần nâng cao chất lượng tham mưu, tổng hợp của Văn phòng Chính phủ.
Chương trình, kế hoạch làm việc tại địa phương đã được triển khai nhịp nhàng, chặt chẽ hơn và kịp thời tham mưu, xử lý những vấn đề phát sinh. Ngay sau khi nhận được thông tin, chỉ đạo về kế hoạch của lãnh đạo Chính phủ làm việc với địa phương, Văn phòng Chính phủ đã chủ động liên hệ với các đơn vị, cơ quan chức năng để xây dựng chương trình, thời gian hoạt động, thành phần tham gia đoàn công tác, đơn vị chủ trì, phối hợp triển khai các nội dung cụ thể để trình lãnh đạo Chính phủ phê duyệt. Kế hoạch chi tiết về chuyến công tác được gửi trước cho lãnh đạo cơ sở nơi đến và các cơ quan phục vụ bằng văn bản mật, điện mật để chuẩn bị theo đúng quy định. Nhiều chuyến công tác đột xuất của lãnh đạo Chính phủ về chỉ đạo phòng chống lụt, bão, thiên tai hoặc cứu hộ, cứu nạn ở địa phương đã được tổ chức và phục vụ chu đáo, đảm bảo an toàn tuyệt đối.
Văn phòng Chính phủ cũng đã chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu để thống kê, theo dõi số chuyến công tác và nội dung làm việc của lãnh đạo Chính phủ đối với từng địa phương cụ thể từ đầu nhiệm kỳ đến nay; trên cơ sở đó, tham mưu đề xuất lãnh đạo Chính phủ bố trí kế hoạch công tác phù hợp, cân đối hài hòa giữa các địa phương; bảo đảm thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả. Nội dung tham mưu xử lý các kiến nghị của địa phương đã được kịp thời gửi lấy ý kiến phối hợp của các Bộ, ngành liên quan, bảo đảm đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và quy định pháp luật.
Đánh giá chung: Sau hơn 4 năm thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ, các quy định đề ra trong Quy chế đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, các bộ, cơ quan và địa phương, các tổ chức, cá nhân liên quan nghiêm túc thực hiện. Thông qua việc thực hiện Quy chế, các thành viên Chính phủ đã có sự đổi mới về phương thức chỉ đạo, điều hành, trách nhiệm cá nhân được nâng lên, bám sát công việc, phân công rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm trong từng khâu, từng công đoạn của quy trình giải quyết công việc; tăng cường kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh; kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống hành chính Nhà nước được nâng cao; hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin được đẩy mạnh; cải cách thủ tục hành chính có bước chuyển biến mạnh mẽ, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước.
III. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA CHÍNH PHỦ VÀ NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU
Mặc dù đạt được những kết quả quan trọng nhưng trong quá trình thực hiện Quy chế vẫn còn những tồn tại, hạn chế cũng như vướng mắc, bất cập cần tiếp tục điều chỉnh, cụ thể như sau:
a) Việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương có lúc, có cơ quan chưa nghiêm, kể cả thực hiện nhiệm vụ và việc xử lý trách nhiệm; còn tình trạng chưa thực hiện đúng quyết định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong trao đổi trực tiếp để thống nhất hoặc làm rõ vấn đề có ý kiến khác nhau trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
Thực tiễn cho thấy còn những trường hợp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chưa thực hiện nghiêm quyết định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ. Mặc dù Quy chế đã có quy định đối với trường hợp không thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quyết định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan tùy theo tính chất mức độ, hậu quả sẽ kiểm điểm làm rõ trách nhiệm trước tập thể Chính phủ, trước Thủ tướng Chính phủ và xử lý theo quy định của Đảng và Nhà nước (khoản 2 Điều 8), tuy nhiên chưa có chế tài cụ thể để xử lý được; do vậy, để tăng cường kỷ cương hành chính, cần thiết phải bổ sung chế tài phù hợp đối với trường hợp này. Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, bộ, cơ quan cử và tham dự họp không đúng thành phần, thậm chí có những cuộc họp có nội dung quan trọng nhưng chỉ cử cấp Vụ dự họp, dẫn đến lãnh đạo Chính phủ chủ trì phải hoãn họp. Quy chế cần bổ sung các quy định nghiêm khắc hơn để bảo đảm việc tuân thủ quy định họp, giúp nâng cao hiệu quả công tác điều hành và giải quyết công việc.
b) Công tác phối hợp giữa các cơ quan có trường hợp còn chưa chặt chẽ; còn việc lấy ý kiến phối hợp của quá nhiều cơ quan không cần thiết dẫn đến kéo dài thời gian xử lý công việc
- Theo Quy chế, trong quá trình xây dựng văn bản, đề án hoặc xử lý công việc thì hồ sơ trình Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan; như vậy, bộ, cơ quan, địa phương chủ trì phải xác định rõ cơ quan liên quan cần lấy ý kiến. Tuy nhiên, tình trạng cơ quan chủ trì lấy ý kiến phối hợp quá rộng, gồm cả các cơ quan không liên quan dẫn đến kéo dài thời gian xử lý công việc. Để chấn chỉnh việc này, tại các Công điện số: 280/CĐ-TTg ngày 19/4/2023, 968/CĐ-TTg ngày 16/10/2023, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan “chỉ lấy ý kiến các cơ quan liên quan trực tiếp đến đề án, dự án…”; “không lấy ý kiến phối hợp của cơ quan không liên quan hoặc không cần thiết”. Do vậy, việc thể chế hóa chỉ đạo nêu trên trong Quy chế là cần thiết để nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu bộ, cơ quan, đẩy nhanh quá trình soạn thảo văn bản và tiến độ xử lý công việc.
- Qua theo dõi của Văn phòng Chính phủ, nhiều bộ, cơ quan tham gia ý kiến phối hợp rất chậm, không đúng hạn, ảnh hưởng đến tiến độ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tương tự, nhiều trường hợp Thành viên Chính phủ chậm trả lời khi được lấy ý kiến bằng Phiếu, phải đôn đốc nhiều lần, kéo dài quá trình xử lý. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo trong trường hợp quá thời hạn quy định mà bộ, cơ quan được lấy ý kiến không trả lời hoặc chậm trả lời thì được xác định là đồng ý với ý kiến và đề xuất của cơ quan lấy ý kiến. Do đó, cần quy định rõ trường hợp các bộ, cơ quan không trả lời hoặc chậm trả lời khi được lấy ý kiến thì được xác định là đồng ý và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
c) Về trách nhiệm của các bộ, cơ quan trong giải quyết công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có nội dung còn chưa rõ, chưa đầy đủ
- Tại Điều 14 của Quy chế đã quy định về trách nhiệm của các bộ, cơ quan trong giải quyết công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó các bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo, trình ban hành văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì phải chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung, tiến độ và ký tắt các dự thảo văn bản trình. Quy chế chưa quy định rõ các cơ quan này chịu trách nhiệm về các kiến nghị trong các báo cáo, văn bản đề xuất, dẫn đến một số trường hợp khó xác định về trách nhiệm khi có vấn đề phát sinh. Đồng thời, thực tiễn theo dõi hằng tháng của Văn phòng Chính phủ về việc thực hiện Quy chế cho thấy, có nhiều văn bản trình không đúng tiến độ, nội dung chưa đầy đủ, còn sai sót về kỹ thuật trình bày (thiếu ký tắt, không đúng thể thức văn bản…). Do vậy, cần quy định rõ bộ, cơ quan trình phải chịu trách nhiệm về tiến độ, nội dung, số liệu, kiến nghị, đề xuất trong các tờ trình, đề án, báo cáo, văn bản đề xuất; xác định rõ trách nhiệm của bộ, cơ quan chủ trì khi có phát sinh vấn đề cần xem xét về trách nhiệm.
- Với vai trò là cơ quan có chức năng tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, Văn phòng Chính phủ tham gia vào quá trình xử lý hồ sơ, công việc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, phạm vi trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ chưa được quy định tại Điều này dẫn đến nhiều trường hợp khi phải xác định trách nhiệm đối với vấn đề, công việc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì không có căn cứ rõ ràng về phạm vi trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ. Trường hợp xác định Văn phòng Chính phủ phải chịu trách nhiệm về toàn bộ, nội dung của đề án, dự thảo văn bản trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì vừa chồng chéo với trách nhiệm của các bộ, cơ quan chủ trì, phối hợp, thẩm định, vừa không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ thẩm tra của Văn phòng Chính phủ.
Do vậy, cần quy định đầy đủ hơn về trách nhiệm của các bộ, cơ quan chủ trì trình văn bản, đề án và của Văn phòng Chính phủ để bảo đảm không chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và phân định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, cơ quan thẩm định và thực tiễn triển khai công tác tham mưu tổng hợp của Văn phòng Chính phủ phục vụ chỉ đạo, xử lý hồ sơ, công việc của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ.
d) Quy định quy trình xử lý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các đề án, tài liệu, báo cáo, văn bản đề xuất khác trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có khâu chưa thực sự chặt chẽ, hợp lý, còn vướng mắc và chưa thống nhất cách hiểu; quy định về yêu cầu đối với hồ sơ trình chưa rõ, gây khó khăn trong triển khai thực hiện.
- Về hồ sơ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Tại khoản 1 Điều 13 quy định hồ sơ trình Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phải đề xuất, kiến nghị rõ phương án, biện pháp giải quyết; trách nhiệm kiến nghị rõ phương án, biện pháp giải quyết thuộc về cơ quan chủ trì. Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp cơ quan chủ trì không kiến nghị rõ nội dung cũng như hình thức văn bản nên khó khăn cho việc xác định thẩm quyền xử lý.
- Đối với trường hợp các bộ, cơ quan không thống nhất được ý kiến về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các đề án, tài liệu, báo cáo, văn bản đề xuất khác trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Qua theo dõi thực tế, có những hồ sơ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vẫn còn ý kiến khác nhau về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự thảo mặc dù các bộ, cơ quan đã trao đổi, phối hợp. Trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 3 Điều 15, Văn phòng Chính phủ chủ trì họp để thảo luận, làm rõ, thống nhất trước khi trình Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, nhưng cách thức xử lý này trên thực tế không thực sự hiệu quả, vẫn còn nhiều trường hợp không thống nhất được, nhất là khi đại biểu dự cuộc họp do Văn phòng Chính phủ chủ trì không phải là người đứng đầu bộ, cơ quan, không có thẩm quyền quyết định, từ đó dẫn đến cuộc họp không hiệu quả, không đạt được sự thống nhất. Đối với quy trình xử lý các đề án, tài liệu, báo cáo, văn bản đề xuất khác quy định tại Điều 16 Quy chế, hiện chưa có quy định về cách thức xử lý khi đề án, tài liệu, báo cáo, văn bản đề xuất khác trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ còn có ý kiến khác nhau về vấn đề lớn trong đề án, báo cáo.
Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo đối với trường hợp này cần báo cáo ngay với Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách để kịp thời xem xét, chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ công việc. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được thể hiện rõ trong Quy chế nên cần được xem xét, sửa đổi, bổ sung.
- Hiện nay, một số văn bản pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể về thời hạn để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết đối với một số công việc (ví dụ, theo pháp luật về thanh tra, dự thảo kết luận thanh tra và kết luận thanh tra chính thức của Thanh tra Chính phủ trình thì Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành văn bản tổ chức thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra…). Do vậy, cần quy định rõ thêm vấn đề này trong Quy chế để bảo đảm phù hợp với quy định có liên quan về thời hạn xử lý công việc đã được quy định trong pháp luật chuyên ngành.
đ) Việc quản lý, thực hiện CTCT của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ còn bất cập, bị động
- Việc tuân thủ thời hạn trình các đề án trong CTCT (trước ngày 20 của tháng, trừ trường hợp có ý chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ) vẫn chưa nghiêm; hằng năm vẫn còn tình trạng nợ đọng văn bản, chưa bảo đảm mục tiêu đặt ra; mặc dù có xu hướng giảm dần nhưng vẫn chưa khắc phục được tình trạng xin lùi, xin rút, điều chỉnh đề án sang năm sau[11]. Việc ban hành CTCT tuần còn nhiều trường hợp chậm so với thời hạn quy định (thường chiều Chủ nhật mới ban hành được CTCT tuần sau), nhiều trường hợp bị điều chỉnh trong tuần, cá biệt có tuần điều chỉnh nhiều lần đối với một nội dung, dẫn đến bị động, khó khăn trong công tác chuẩn bị, tổ chức thực hiện, nhất là những cuộc họp, hội nghị đột xuất.
Công tác phối hợp giữa các bộ, cơ quan với Văn phòng Chính phủ trong theo dõi, điều chỉnh CTCT chưa được thường xuyên, kịp thời. Còn nhiều trường hợp chậm trễ trong phối hợp, trả lời, tham gia ý kiến đối với các đề án trong CTCT, kể cả đối với việc lấy ý kiến thành viên Chính phủ để xem xét, cho ý kiến, thông qua các đề án thuộc thẩm quyền của Chính phủ, cá biệt có trường hợp không trả lời ý kiến phối hợp, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các đề án trong CTCT. Có nhiều đề án, nhất là các đề án do địa phương chủ trì xây dựng bị chậm trễ trong khâu thẩm định của bộ, cơ quan chuyên ngành Trung ương dẫn đến không trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đúng thời hạn, phải xin lùi thời hạn hoặc rút khỏi CTCT, ảnh hưởng đến tính ổn định của CTCT và hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng như việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước. Do vậy, tại Quy chế này, Chính phủ tiếp tục giao Thủ tướng Chính phủ quy định về việc xây dựng và quản lý, thực hiện CTCT của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là cần thiết và phù hợp.
e) Việc thực hiện chế độ báo cáo hằng ngày chưa đáp ứng yêu cầu của công tác chỉ đạo, điều hành, cần tiếp tục đơn giản hóa
Theo quy định tại khoản 3 Điều 41 Quy chế, các Bộ, cơ quan: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Xây dựng (Giao thông vận tải cũ), Thông tấn xã Việt Nam hằng ngày (kể cả dịp nghỉ Lễ, Tết) báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình biên giới, biển đảo, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, đối ngoại đáng chú ý. Trên cơ sở báo cáo đó, Văn phòng Chính phủ tổng hợp, xây dựng báo cáo nhanh hằng ngày gửi Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ và các Văn phòng Trung ương. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo đối với các báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, cần có các kiến nghị, đề xuất để xử lý thông tin. Tuy nhiên, Quy chế chưa có quy định rõ về vấn đề này nên cần thiết bổ sung trách nhiệm của các bộ, cơ quan khi gửi báo cáo, có kiến nghị, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ để chỉ đạo, xử lý các thông tin, vấn đề nêu trong báo cáo. Đồng thời, quy định Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hằng ngày cũng có báo cáo tương tự để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ (bên cạnh tổng hợp thông tin báo chí hằng ngày), dẫn đến trùng lắp thông tin. Do vậy, cần thiết phải quy định lại chế độ báo cáo hằng ngày để bảo đảm hiệu quả, thiết thực.
Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập nêu trên có cả khách quan và chủ quan nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Việc quán triệt, thực hiện Quy chế tại một số bộ, cơ quan, địa phương chưa đầy đủ, chưa thực hiện nghiêm các quy định dù đã được đôn đốc, nhắc nhở; người đứng đầu một số bộ, cơ quan, địa phương chưa chỉ đạo sát sao việc thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Quy chế; công chức chưa làm hết trách nhiệm, chưa kịp thời đổi mới, vẫn duy trì cách làm từ kinh nghiệm, thói quen cũ.
Bên cạnh đó, trong Quy chế còn một số nội dung đã có quy định nhưng chưa được thể hiện rõ để thống nhất thực hiện; một số quy định chưa có trong Quy chế cần được nghiên cứu, bổ sung thêm, trong đó có những nội dung cần bổ sung để thể chế hóa những vấn đề đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo nhằm tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả Quy chế làm việc của Chính phủ, nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng như hoạt động của Chính phủ và các bộ, cơ quan, địa phương.
IV. QUAN ĐIỂM SỬA ĐỔI VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NỘI DUNG SỬA ĐỔI TRONG QUY CHẾ
1. Về quan điểm sửa đổi Quy chế
a) Bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các định hướng của Tổng Bí thư Tô Lâm, 5 định hướng lớn trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật liên quan.
Việc ban hành Quy chế mới phải cụ thể hóa phương thức quản trị, chỉ đạo, điều hành, hành động quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, kết hợp hài hòa giữa quản lý hành chính và quản trị điều hành dựa trên hiệu quả công việc, bảo đảm tuân thủ pháp luật và quy định của Đảng; bám sát chủ trương, chính sách, định hướng của Đảng nêu tại Nghị quyết Đại hội XIV, trong đó có nội dung về xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tổ chức và hoạt động của Chính phủ gắn với xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; tiếp tục xây dựng Chính phủ đổi mới, kỷ cương, hành động, hiệu quả, vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả. Thực hiện đầy đủ vị trí, chức năng của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội, tuân thủ quy định của Hiến pháp và pháp luật. Phát huy vai trò, sự tham gia của các chủ thể ngoài khu vực nhà nước trong tham vấn, phản biện, giám sát, thúc đẩy thực thi chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
b) Cải tiến mạnh mẽ, cắt giảm, đơn giản hóa quy trình, thủ tục, cách thức, phương thức chỉ đạo, xử lý, giải quyết công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đồng thời với việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính
- Chính phủ tập trung quản lý vĩ mô, xây dựng, ban hành thể chế, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trên cơ sở đề cao sự thống nhất và bảo đảm tính khả thi. Mọi công việc thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đều được xử lý, giải quyết triệt để, kịp thời theo hướng Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng trực tiếp cho ý kiến chỉ đạo giải quyết công việc trên hồ sơ trình của bộ, cơ quan, địa phương kết hợp với thực hiện phương thức chỉ đạo trên cơ sở tham mưu tổng hợp, đề xuất của cơ quan tham mưu tổng hợp.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, hồ sơ điện tử, tài khoản trên các hệ thống thông tin, dữ liệu của Chính phủ, chữ ký số, ký tắt điện tử, hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi việc thực hiện nhiệm vụ được kết nối, liên thông từ Văn phòng Chính phủ đến các bộ, cơ quan, địa phương; cắt giảm các bước, thủ tục giải quyết công việc để đáp ứng yêu cầu quản lý theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Văn phòng Chính phủ không tiếp nhận, trình xử lý những vấn đề không thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung quy định tăng cường kỷ luật, kỷ cương các cuộc họp, phiên họp, hội nghị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
- Tiếp tục giữ nguyên các quy định phủ hợp về bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính nhằm khắc phục cho được sự chậm trễ, thiếu trách nhiệm, né tránh trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, thực thi công vụ. Cấp dưới phải phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành quyết định của cấp trên. Đồng thời, củng cố, duy trì các quy định nhằm nâng cao chất lượng công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao đến kết quả cuối cùng, bảo đảm mọi nhiệm vụ giao phải được thực hiện, không bị bỏ sót hoặc chỉ thực hiện mang tính đối phó. Quy định chặt chẽ hơn về việc xây dựng, quản lý, thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm tăng tính chủ động, kịp thời xây dựng và ban hành Chương trình công tác, bảo đảm khả thi, ổn định của Chương trình công tác cũng như chất lượng của các đề án trong chương trình công tác.
c) Nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các bộ, cơ quan, địa phương trong quá trình giải quyết công việc; quy định rõ hơn vai trò của Văn phòng Chính phủ thực hiện chức năng tham mưu tổng hợp giúp Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ trong giải quyết công việc, thể hiện rõ quan điểm, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về quan điểm của mình
- Cá thể hóa trách nhiệm cá nhân của Thành viên Chính phủ, phát huy tính chủ động, đổi mới, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành; có trách nhiệm tham gia ý kiến phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ, công việc; cùng tập thể Chính phủ quyết định và chịu trách nhiệm đối với các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ. Thành viên Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan hành chính nhà nước các cấp phải làm hết trách nhiệm tham mưu, khi đề xuất phải có quan điểm, phương án xử lý rõ ràng, không né tránh.
- Quy định rõ hơn về thẩm quyền, trách nhiệm của Thành viên Chính phủ, bộ, cơ quan, địa phương; mối quan hệ giữa Chính phủ với các bộ, cơ quan và giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương. Quy định về nguyên tắc phân cấp, phân công, ủy quyền; thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, cơ quan thẩm định, thẩm tra; đề cao sự thống nhất trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của Chính phủ, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả.
- Tiếp tục khẳng định vai trò, trách nhiệm của bộ máy giúp việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ có ý kiến tham mưu, đề xuất cuối cùng trước khi Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ được chủ động thực hiện các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo đảm hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thông suốt, hiệu lực, hiệu quả.
2. Đề xuất nội dung sửa đổi Quy chế
a) Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các quy định mới tại Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025
Văn phòng Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc, những vấn đề Chính phủ thảo luận và quyết nghị, trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, quan hệ công tác của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ với các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương để phù hợp với các quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025. Gồm: các điều từ Điều 1 đến Điều 15, Điều 23, Điều 41, 42, 44 (mới).
b) Bổ sung quy định, chế tài tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính
- Văn phòng Chính phủ đề xuất bổ sung 01 điều - Điều 46 về xử lý các trường hợp không thực hiện đúng Quy chế trên cơ sở biên tập khoản 2 Điều 8 và các kết luận, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và quy định liên quan khác.
- Siết chặt kỷ luật, kỷ cương các cuộc họp: quy định bổ sung về trách nhiệm của thành viên Chính phủ, của bộ, cơ quan trong việc tham dự họp và cử người dự họp (điểm d khoản 2 Điều 7, khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 33); quy định chế tài đối với việc tuân thủ không đúng yêu cầu: gửi báo cáo không đúng hạn thì Văn phòng Chính phủ báo cáo đưa ra khỏi chương trình họp, đại biểu đi họp không đúng thành phần mà không được người chủ trì đồng ý thì không được dự họp, người chủ trì phê bình công khai tại cuộc họp về việc dự họp không đúng thành phần (điểm b khoản 3 Điều 24, khoản 1 Điều 25, khoản 4 Điều 29, khoản 3 Điều 30, khoản 4 Điều 31, các khoản 1, 2 Điều 33); bổ sung quy định về thực hiện chương trình công tác bảo đảm đúng thẩm quyền, hiệu quả, khả thi, hạn chế tối đa việc điều chỉnh (khoản 3 Điều 21, khoản 3 Điều 22).
- Để có cơ sở xác định ý kiến đồng ý của bộ, cơ quan khi trả lời không đúng hạn hoặc không có ý kiến trả lời và tăng cường trách nhiệm của bộ, cơ quan phối hợp; tiếp thu chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 280/CĐ-TTg, Văn phòng Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 7 Trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của thành viên Chính phủ là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, theo đó, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm tham gia ý kiến đầy đủ, đúng thời hạn đối với các nội dung lấy ý kiến thành viên Chính phủ; trường hợp không trả lời đúng thời hạn hoặc không có ý kiến trả lời thì được xác định là đồng ý với ý kiến và đề xuất của cơ quan chủ trì được thể hiện trong phiếu lấy ý kiến hoặc dự thảo văn bản và phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trước pháp luật.
- Để đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, VPCP kiến nghị bổ sung quy định Thủ tướng Chính phủ không quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đối với ngành, lĩnh vực theo phân công và các nhiệm vụ đã phân công, phân cấp, ủy quyền cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, trừ trường hợp cần thiết; trong trường hợp thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân hoặc khi phát sinh tình huống cấp bách, đột xuất có ảnh hưởng lớn đến ổn định kinh tế - xã hội, đời sống Nhân dân, Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng các biện pháp cấp bách khác quy định pháp luật hiện hành sau khi báo cáo cấp có thẩm quyền; báo cáo cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Quốc hội trong thời gian gần nhất; trong trường hợp cấp bách và cần thiết phải quyết định, chỉ đạo ngay để đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành hoặc của cấp có thẩm quyền, Thủ tướng Chính phủ quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ mà không phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định và tại các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thành lập tổ công tác để giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý và thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (khoản 2 Điều 5); trường hợp cần thiết, giao Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì họp, làm việc với các bộ, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan để xử lý các vấn đề chưa rõ hoặc còn có ý kiến khác nhau trước khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan phải chủ động phối hợp, lấy ý kiến, làm việc để thống nhất (khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 7, khoản 2 Điều 8, khoản 3 Điều 14, khoản 3, 5, 6, Điều 15).
- Để tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hằng tháng Văn phòng Chính phủ đã có báo cáo tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ về tình hình thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ, trong đó tổng hợp các trường hợp chưa thực hiện đúng (như: việc chưa thực hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ, Lãnh đạo Chính phủ, việc chậm trình, chưa tuân thủ về hồ sơ trình, việc dự họp không đúng thành phần…). Văn phòng Chính phủ đề xuất bổ sung khoản 3 vào Điều 46 nội dung “Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo và đề xuất kiến nghị xử lý các trường hợp không thực hiện đúng quy định tại Quy chế này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định và công khai trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan” và vào Điều 11 nội dung “Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm chủ động đôn đốc, kiểm tra tiến độ, báo cáo, đề xuất, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ về việc chấp hành Quy chế này, kỷ luật, kỷ cương hành chính và tình hình thực hiện nhiệm vụ của các bộ, cơ quan, địa phương”.
- Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 25 như sau: “Thành viên Chính phủ có trách nhiệm tham dự đầy đủ các phiên họp của Chính phủ; xác nhận tham dự phiên họp trên Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ; không được vắng mặt hoặc vắng mặt một phần thời gian của phiên họp khi chưa có sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp không tham dự phiên họp, thành viên Chính phủ phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo với Văn phòng Chính phủ để tổng hợp chung; việc báo cáo bằng văn bản hoặc hình thức khác, bảo đảm kịp thời. Thành viên Chính phủ được cử cấp phó dự thay sau khi Thủ tướng Chính phủ cho phép.”.
- Quy định rõ vai trò tham vấn, phản biện, giám sát và tham gia thực thi của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước (Điều 10).
c) Bổ sung các quy định về trách nhiệm của Thành viên Chính phủ, bộ, cơ quan, địa phương nhằm đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các bộ, cơ quan trong giải quyết công việc
- Kết cấu lại các quy định tại Điều 7, 8 vào khoản 6 Điều 3 nhằm làm rõ hơn trách nhiệm của Thành viên Chính phủ trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đề cao tính thống nhất trong giải quyết công việc, tăng cường trao đổi, làm rõ đối với những vấn đề còn ý kiến khác nhau trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Sửa đổi, bổ sung quy định về cách thức giải quyết công việc của Thành viên Chính phủ là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan và cách thức giải quyết công việc của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan (Điều 7, Điều 8).
- Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 7 về việc Thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân và cùng tập thể Chính phủ chịu trách nhiệm về các quyết định của Chính phủ; không trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những vấn đề thuộc thẩm quyền hoặc đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phân công, ủy quyền; phải có trách nhiệm tham gia ý kiến đầy đủ, đúng thời hạn, không được chậm trễ đối với các nội dung được lấy ý kiến, có trách nhiệm triển khai quy trình nội bộ để xử lý công việc phù hợp để thực hiện; trường hợp không trả lời đúng thời hạn hoặc không có ý kiến trả lời thì phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương có liên quan để giải quyết công việc thuộc phạm vi quản lý; chủ động phối hợp, lấy ý kiến, làm việc để thống nhất với các bộ, cơ quan liên quan; trường hợp còn ý kiến khác nhau thì thành viên Chính phủ là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được giao chủ trì quyết định hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền.
- Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 8 về việc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về kết quả, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực; về các quyết định và việc tổ chức thực hiện các quyết định thuộc thẩm quyền; quyết định kịp thời, dứt điểm các vấn đề thuộc thẩm quyền; không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; không chuyển công việc thuộc thẩm quyền sang cơ quan khác.
- Bổ sung quy định nguyên tắc về mối quan hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Đảng ủy Chính phủ vào Điều 9, trong đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, kết luận, quy định của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Đảng uỷ Chính phủ theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ tham mưu cho Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ, thể chế hoá, cụ thể hoá, tổ chức thực hiện kịp thời các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng theo chức năng, nhiệm vụ và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ; định kỳ hằng tháng, quý hoặc khi cần thiết, Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ họp với Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, tập thể Thường trực Đảng ủy Chính phủ để thống nhất về các chủ trương, định hướng lớn, các đề án, nội dung quan trọng theo quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ; đồng thời bổ sung nội dung Chính phủ hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của Hội đồng nhân dân.
- Để khắc phục tình trạng lấy ý kiến quá nhiều các cơ quan, Văn phòng Chính phủ đề xuất bổ sung vào khoản 2 Điều 11 quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ trì có trách nhiệm xác định rõ đối tượng lấy ý kiến, nội dung cần lấy ý kiến, thời hạn trả lời; chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng hồ sơ, nội dung trình. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan được lấy ý kiến phải trả lời bằng văn bản đúng thời hạn, nêu rõ quan điểm, chính kiến và chịu trách nhiệm về nội dung thuộc phạm vi quản lý; trường hợp quá thời hạn mà không trả lời hoặc chậm trả lời thì chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và pháp luật.
- Quy định làm rõ trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương trong phối hợp; bổ sung cơ chế ràng buộc về thời hạn, trách nhiệm giải quyết và trả lời kiến nghị; bảo đảm đúng thẩm quyền, không lặp luật, đồng thời tăng tính chủ động, hiệu quả trong phối hợp và giải quyết công việc giữa trung ương và địa phương (Điều 12).
- Sửa đổi, bổ sung quy định về việc xử lý đối với hồ sơ theo hướng bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của cơ quan thẩm định, cơ quan phối hợp; trường hợp bảo lưu ý kiến hoặc còn ý kiến khác nhau, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì phải trực tiếp trao đổi, làm việc với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thẩm định, cơ quan phối hợp theo quy định để thống nhất trình cấp có thẩm quyền, trong đó cơ quan chủ trì có trách nhiệm đề xuất, kiến nghị rõ phương án xử lý đối với vấn đề còn ý kiến khác nhau, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trước pháp luật về các đề xuất, kiến nghị và kết quả thực hiện sau này (khoản 3 Điều 14).
- Đơn giản hóa quy trình lấy ý kiến đối với dự thảo Thông báo kết luận của Thường trực Chính phủ theo hướng chỉ gửi lấy ý kiến Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt để Văn phòng Chính phủ ban hành; trừ trường hợp có ý kiến chỉ đạo khác của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ (khoản 7 Điều 30); đối với dự thảo Thông báo kết luận các cuộc họp, làm việc của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày họp, Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì họp xem xét, phê duyệt để Văn phòng Chính phủ ban hành thông báo kết luận cuộc họp, trừ trường hợp có ý kiến chỉ đạo khác của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ (khoản 3 Điều 31) .
- Lược bớt những nội dung phù hợp để đưa ra họp và thành phần dự họp hội nghị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hàng quý (Điều 29), Thường trực Chính phủ (Điều 30), trong đó, cuộc họp Thường trực Chính phủ được tiến hành khi cần thiết theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; vấn đề, công việc họp Thường trực Chính phủ gồm: nội dung, vấn đề quan trọng, cấp bách, ảnh hưởng lớn đến các ngành, lĩnh vực, việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các dự án, đề án, báo cáo cấp có thẩm quyền theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; thành phần dự họp gồm Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì dự án, đề án, báo cáo; trường hợp cần thiết, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ thì mới mời thêm đại biểu khác dự họp.
d) Sửa đổi, bổ sung các quy định về trách nhiệm của bộ, cơ quan chủ trì và Văn phòng Chính phủ trong giải quyết công việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
Để phát huy đầy đủ trách nhiệm của các bộ, cơ quan và Văn phòng Chính phủ đối với các báo cáo, đề xuất trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, xử lý, Văn phòng Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định sau:
- Bổ sung các quy định tại Điều 8, đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì phải chủ động phối hợp, lấy ý kiến, làm việc để thống nhất với các cơ quan liên quan; chịu trách nhiệm về nội dung chưa thống nhất khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
- Bổ sung một khoản tại Điều 11 về trách nhiệm của Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ điều hòa, phối hợp hoạt động giữa các bộ, cơ quan, địa phương, các cơ quan trong hệ thống chính trị; chủ động đôn đốc, kiểm tra tiến độ, báo cáo, đề xuất, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ về việc chấp hành Quy chế này, kỷ luật, kỷ cương hành chính và tình hình thực hiện nhiệm vụ của các bộ, cơ quan, địa phương; tổng hợp các vấn đề còn ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; trường hợp cần thiết, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP chủ trì họp với các bộ, cơ quan liên quan về các vấn đề còn có ý kiến khác nhau trước khi trình cấp có thẩm quyền theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ; chủ động thực hiện các biện pháp cần thiết theo quy định pháp luật để bảo đảm hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ thông suốt, hiệu lực, hiệu quả; đề nghị các bộ, cơ quan, địa phương cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin quan trọng, cấp bách, nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm, trường hợp cần thiết chủ động triệu tập họp để nắm bắt, tổng hợp thông tin, kịp thời báo cáo phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng thời bổ sung quy định tại Điều 11 về việc nguyên tắc phối hợp của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với các bộ, cơ quan là không từ chối, né tránh hoặc chậm trễ trong việc phối hợp.
- Kết cấu lại và bổ sung quy định tại Điều 14 nhằm tăng cường trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trong chỉ đạo, điều hành và giải quyết hiệu quả công việc của Chính phủ: chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, nội dung, số liệu, kiến nghị, đề xuất trong các tờ trình, đề án, báo cáo, văn bản và ký tắt (gồm cả ký tắt điện tử) các dự thảo văn bản trình thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của cơ quan thẩm định, cơ quan phối hợp; trường hợp bảo lưu ý kiến hoặc còn ý kiến khác nhau, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì phải trực tiếp trao đổi, làm việc với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thẩm định, cơ quan phối hợp theo quy định để thống nhất trình cấp có thẩm quyền, trong đó cơ quan chủ trì có trách nhiệm đề xuất, kiến nghị rõ phương án xử lý đối với vấn đề còn ý kiến khác nhau và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trước pháp luật về các đề xuất, kiến nghị đó và kết quả thực hiện.
- Bổ sung khoản 6 vào Điều 14 quy định trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ về việc rà soát, có ý kiến về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, nội dung chủ yếu của hồ sơ trình theo quy định; tổng hợp ý kiến khác nhau của các bộ, cơ quan liên quan; tham mưu tổng hợp, có ý kiến độc lập đối với các hồ sơ, văn bản do các bộ, cơ quan, địa phương trình.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 10 Điều 15 về trách nhiệm của các cơ quan liên quan: Cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng, tiến độ hồ sơ; trình hồ sơ khi Bộ Tư pháp khẳng định đủ điều kiện trình Chính phủ; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm về nội dung thẩm định theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phải có ý kiến rõ đủ hay chưa đủ điều kiện trình Chính phủ. Văn phòng Chính phủ chịu trách nhiệm kiểm tra thủ tục, tổng hợp, đôn đốc và tham mưu trình theo quy định; các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm về nội dung ý kiến góp ý.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 15 và khoản 1 Điều 16: đối với đề xuất lập pháp, văn bản quy phạm pháp luật, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa đúng quy trình, thủ tục hoặc Bộ Tư pháp có ý kiến thẩm định chưa đủ điều kiện trình hoặc cơ quan chủ trì chưa chủ động làm việc việc với cơ quan có ý kiến khác, trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận, Văn phòng Chính phủ trả lại cơ quan chủ trì soạn thảo để hoàn thiện theo quy định. Đối với đề án, tài liệu, báo cáo, văn bản đề xuất trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa đúng quy trình, thủ tục, không đúng thẩm quyền hoặc chưa thực hiện đầy đủ quy định có liên quan, Văn phòng Chính phủ trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do hoặc chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, đồng thời thông báo cho cơ quan trình để biết, phối hợp.
đ) Sửa đổi, bổ sung quy định về yêu cầu đối với hồ sơ trình; quy trình xử lý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các đề án, tài liệu, báo cáo, văn bản đề xuất khác trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
- Văn phòng Chính phủ kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 13 về hồ sơ trình theo hướng quy định rõ yêu cầu về hồ sơ, trong đó, cơ quan chủ trì trình phải đề xuất, kiến nghị rõ phương án, biện pháp giải quyết, cả về nội dung và hình thức văn bản. Cụ thể như sau: “Hồ sơ trình Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phải đúng thẩm quyền giải quyết và theo yêu cầu của Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ; nêu rõ nội dung vấn đề trình, căn cứ quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết, cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, ý kiến của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan, đề xuất, kiến nghị rõ phương án, biện pháp giải quyết trên cơ sở phân tích, đánh giá, sử dụng cơ sở dữ liệu, thông tin, bằng chứng thực tiễn và quy định pháp luật; xác định rõ nội dung, hình thức văn bản dự kiến ban hành; phải được người có đủ thẩm quyền ký, đóng dấu (đối với văn bản giấy) hoặc ký số (đối với văn bản điện tử) theo quy định, bảo đảm đầy đủ đúng quy trình, chất lượng và tiến độ theo quy định pháp luật”. Đồng thời, yêu cầu đối với hồ sơ trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thì phải thực hiện theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thì phải thực hiện.
Quy định cụ thể hơn tại khoản 3 Điều 13 về thành phần hồ sơ gồm: tờ trình, báo cáo; đề án, dự thảo văn bản kèm theo, trong đó có dự thảo nghị quyết, quyết định, kết luận, thông báo kết luận và các văn bản chỉ đạo khác; ý kiến bằng văn bản của các cơ quan liên quan và tổng hợp tiếp thu, giải trình; biên bản làm việc; văn bản thẩm định của của cơ quan chuyên môn theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các tài liệu cần thiết khác (nếu có). Các dự thảo kèm theo thuộc thẩm quyền và chỉ đạo của Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, rút ngắn độ dài của tờ trình tóm tắt không quá 06 trang A4; bỏ quy định lấy ý kiến các cơ quan của Đảng, Quốc hội, tổ chức chính trị - xã hội, địa phương và tiếp thu, giải trình đầy đủ trước khi trình Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
- Bổ sung quy định việc ký tắt đối với Tờ trình Chủ tịch nước và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về nội dung khen thưởng nhà nước thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp sửa đổi về thể thức, kỹ thuật trình bày, cơ quan chủ trì phối hợp với Văn phòng Chính phủ hoàn thiện dự thảo văn bản có ký tắt, trình ban hành theo quy định. Trường hợp sửa đổi về nội dung theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ có văn bản đề nghị bộ, cơ quan chủ trì hoàn thiện dự thảo văn bản có ký tắt để trình ban hành theo quy định (Điều 14).
- Kết cấu lại Điều 15, 16, 17 để cụ thể hóa quy trình xử lý đối với đề xuất lập pháp, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các đề án, tài liệu, báo cáo, văn bản đề xuất khác trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trong đó nêu rõ các bước tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, xử lý hồ sơ, lấy ý kiến và xử lý kết quả lấy ý kiến thành viên Chính phủ… Đồng thời, yêu cầu việc xử lý đề xuất lập pháp, văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế; bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, tiến độ, rõ ràng, hợp lý, hiệu quả (khoản 2 Điều 15).
- Về cách thức xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật: Sửa đổi Điều 15 bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Nghị định số 178/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2024 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 16 Quy chế, đối với hồ sơ trình đã đúng quy trình, thủ tục, đúng thẩm quyền nhưng Văn phòng Chính phủ thấy cần lấy thêm ý kiến cơ quan liên quan, Văn phòng Chính phủ gửi văn bản lấy ý kiến cơ quan liên quan hoặc tổ chức họp. Tuy nhiên, cả hai cách thức trên đều chưa phát huy hết hiệu quả; việc lấy thêm ý kiến hay họp cũng sẽ làm kéo dài thời gian xử lý hồ sơ, công việc. Vì vậy, để bảo đảm chặt chẽ về quy trình và đúng chức năng, nhiệm vụ, Văn phòng Chính phủ đề nghị bỏ quy định Văn phòng Chính phủ lấy thêm ý kiến của cơ quan liên quan và tổ chức họp.
Đối với hồ sơ, tài liệu, báo cáo, văn bản trình chưa đầy đủ, chưa đúng quy trình, thủ tục, không đúng thẩm quyền giải quyết của Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc chưa thực hiện quy định tại điểm d khoản 2 Điều 8 Quy chế thì Văn phòng Chính phủ trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do hoặc chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, đồng thời gửi cơ quan trình để biết, phối hợp.
- Để bảo đảm phù hợp về thời hạn xử lý đối với một số hồ sơ, công việc mà đã có quy định về thời hạn xử lý trong pháp luật chuyên ngành, Văn phòng Chính phủ kiến nghị sửa khoản 6 và bổ sung khoản 7 vào Điều 16 Quy chế để bao quát đầy đủ các tình huống phát sinh trên thực tế như sau: Đối với các hồ sơ, đề án, báo cáo, văn bản đã được xử lý theo trình tự, thủ tục của pháp luật chuyên ngành thì thời gian giải quyết không vượt quá thời hạn do pháp luật chuyên ngành quy định. Đối với kiến nghị, đề xuất của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân: Trường hợp kiến nghị, đề xuất thuộc thẩm quyền của bộ, cơ quan, địa phương, Văn phòng Chính phủ chuyển đến cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu, xử lý theo quy định; Trường hợp thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ tham mưu phương án xử lý khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ hoặc chuyển đến bộ, cơ quan có liên quan để nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định khi không có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.
e) Về đơn giản hóa quy trình, thành phần dự họp, Hội nghị của Chính phủ, trình tự phiên họp liên quan đến đề xuất chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện công tác báo cáo
- Bổ sung Thành phần đại biểu địa phương mời dự hội nghị hằng quý gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và sở, ban, ngành liên quan, Chủ tịch Hội đồng thành viên một số doanh nghiệp nhà nước; mời dự hội nghị 06 tháng và cả năm gồm Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và sở, ban, ngành liên quan. Việc mời các đại biểu khác thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (khoản 1 Điều 29).
- Quy định rõ hơn về trình tự các phiên họp Chính phủ (thường kỳ và chuyên đề), trong đó, đối với đề xuất chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, để phù hợp với quy định về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 27 theo hướng dẫn chiếu đến các quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 17, khoản 4 Điều 20, Điều 30 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ.
- Đơn giản hóa quy trình họp để bảo đảm minh bạch, quy định rõ thành phần đại biểu dự họp, hội nghị, làm việc để tránh có quá nhiều đại biểu không liên quan dự họp, làm lãng phí thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc (khoản 2 Điều 25, khoản 1 Điều 29, khoản 4 Điều 30).
- Để tiếp tục đơn giản hóa công tác báo cáo và nâng cao trách nhiệm của VPCP trong tham mưu về các báo cáo của bộ, cơ quan; Văn phòng Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định sau:
- Sửa đổi Điều 42 nhằm bảo đảm đơn giản hóa chế độ báo cáo, theo đó, lược bớt nội dung báo cáo nhanh hằng ngày do Văn phòng Chính phủ chủ trì vì các Bộ: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ thường xuyên, đột xuất về tình hình chuyên ngành; quy định rõ trách nhiệm báo cáo của các Bộ: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao như sau: “Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình biên giới, biển đảo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thông tin đối ngoại đáng chú ý; thực hiện thường xuyên, kể cả trong thời gian nghỉ Lễ, Tết hoặc khi có vấn đề phát sinh”. Bổ sung quy định việc thực hiện chế độ báo cáo bảo đảm ngắn gọn, hiệu quả, hạn chế trùng lặp, không yêu cầu báo cáo lại những thông tin đã có trên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ; gắn với khai thác dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin và phục vụ kịp thời việc ra quyết định.
- Bổ sung trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ chủ trì tổng hợp, xây dựng báo cáo tóm tắt hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và những thông tin quan trọng, nổi bật hằng ngày; báo cáo tổng hợp công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và tình hình kinh tế - xã hội theo tháng, quý, 06 tháng, năm và các báo cáo khác theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ; bảo đảm ngắn gọn, kịp thời, có phân tích, so sánh và đề xuất rõ ràng (khoản 4 Điều 42).
g) Bổ sung, thể chế hóa một số chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ bảo đảm phù hợp thực tiễn công tác: quy định về nguyên tắc quan hệ công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó có trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ về tham mưu cho Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ, thể chế hoá, cụ thể hoá, tổ chức thực hiện kịp thời các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và thực hiện chế độ báo cáo theo chức năng, nhiệm vụ và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ (Điều 9); nâng cao trách nhiệm chủ động phối hợp của các bộ, cơ quan, địa phương (khoản 2 Điều 11, 3 Điều 12); đối với hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Chính phủ để trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngoài các tài liệu theo quy định pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phải có báo cáo về các nội dung dự kiến giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ quy định chi tiết và dự thảo văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (khoản 2 Điều 13); bổ sung cách thức xử lý các báo cáo, văn bản kiến nghị, đề xuất của địa phương, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân gửi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (khoản 7 Điều 16); bổ sung cách thức xử lý đối với công việc mà các bộ, cơ quan, địa phương không có hồ sơ trình nhưng Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo trực tiếp (khoản 1 Điều 17); Văn phòng Chính phủ chủ động xây dựng, đề xuất dự kiến chương trình công tác hàng tuần của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ đối với các hoạt động, công việc, nhiệm vụ liên quan trong thời gian tối thiểu một (01) tuần trước khi diễn ra hoạt động (Điều 18); cắt giảm thành phần đại biểu mời tham dự họp (khoản 2 Điều 25, 1 Điều 29, khoản 4 Điều 30); chủ động dự thảo phát biểu khai mạc, định hướng kết luận và thông báo kết luận cuộc họp; rút ngắn thời gian ban hành thông báo kết luận cuộc họp (khoản 7 Điều 30, khoản 2 Điều 31).
Trên đây là báo cáo của Văn phòng Chính phủ về tổng kết việc thi hành Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ về Quy chế làm việc của Chính phủ và đề xuất, kiến nghị. Kính trình Chính phủ xem xét, quyết định./.
|
|
BỘ TRƯỞNG, CHỦ
NHIỆM |
[1] Gồm các Nghị quyết số: 57-NQ/TW ngày 22/12/2025, 59-NQ/TW ngày 24/01/2025, 66-NQ/TW ngày 30/4/2025, 68-NQ/TW ngày 04/5/2025, 70-NQ/TW ngày 15/10/2025, 71-NQ/TW ngày 22/8/2025, 72- NQ/TW ngày 09/9/2025, 79-NQ/TW ngày 06/01/2026, 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị; Kết luận số 266-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
[2] Quyết định số 534/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Kết luận số 266-KL/TW của Ban Bí thư
[3] Nghị quyết số 89/NQ-CP ngày 05/4/2026 của Chính phủ, Thông báo số 182/TB-VPCP ngày 10/4/2026 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thường trực Chính phủ về sửa đổi Quy chế làm việc của Chính phủ
[4] Công văn số 3156/VPCP-TH ngày 09/4/2026
[5] Gồm:
- Các Công điện số: 280/CĐ-TTg ngày 19/4/2023, 365/CĐ-TTg ngày 04/5/2023 của TTg
- Các Công văn của VPCP số: 5431/VPCP-TH ngày 22/8/2022 về việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng quý, hằng tháng; 7351/VPCP-TH ngày 01/11/2022 về việc thực hiện nghiêm việc tham gia ý kiến phối hợp trong giải quyết công việc giữa các bộ, cơ quan; 8111/VPCP-TH ngày 02/12/2022 về thực hiện một số quy trình xử lý công việc tại VPCP; 1071/VPCP-TH ngày 22/02/2023 về gửi hồ sơ trình giải quyết công việc; 2506/VPCP-TH ngày 13/4/2023 về xử lý công việc theo phân công, ủy quyền; 3513/VPCP-TH ngày 17/5/2023 về việc thực hiện báo cáo về tình hình của địa phương; 5794/VPCP- TH ngày 31/7/2023 về thực hiện chế độ báo cáo nhanh hằng ngày; 6814/VPCP-TH ngày 24/9/2024 về nâng cao chất lượng các cuộc họp Thường trực Chính phủ…
[6] Trong nhiệm kỳ, thiên tai, bão lũ bất thường xảy ra, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Năm 2023, thiên tai làm 158 người chết và mất tích, 130 người bị thương; 98,3 nghìn gia súc, gia cầm bị chết; 108,1 nghìn ha lúa và 43,4 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 30,4 nghìn ngôi nhà bị sập, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính gần 5.101,5 tỷ đồng. Năm 2024, bão số 3 (Yagi) làm 344 người chết và mất tích; thiệt hại tài sản trên 81 nghìn tỷ đồng. Năm 2025, bão số 10, 11, 12, 13 liên tiếp xảy ra, thời gian lưu bão dài, mưa lớn, gây thiệt hại nặng nề tại nhiều địa phương…
[7] Từ 01/01/2021 - 31/12/2025, Chính phủ đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội 63 Báo cáo về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội khóa XIV, khóa XV về giám sát chuyên đề và chất vấn trong các lĩnh vực
[8] Từ 01/01/2021 - 31/12/2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã trình Chủ tịch nước: 20 Tờ trình về việc cử mới, cử lực lượng luân phiên, thay thế các năm và kéo dài thời gian công tác của sĩ quan tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc, 758 Tờ trình đề nghị cho thôi, nhập quốc tịch Việt Nam, 3.743 Tờ trình tặng Huân chương Nhà nước các hạng…
[9] Về thành phần hồ sơ trình phải có dự thảo văn bản là các sản phẩm dự kiến ban hành (như: dự thảo nghị quyết, kết luận, thông báo kết luận và văn bản chỉ đạo khác của cơ quan có thẩm quyền). Về dung lượng, tờ trình của báo cáo, đề án trình có độ dài trên 10 trang A4 thì phải có tờ trình tóm tắt dưới 08 trang A4 để giảm thời gian trình bày, nghiên cứu…
[10] Chính phủ đã ban hành theo thẩm quyền 771 nghị định.
[11] Năm 2021, có 23/466 đề án nợ đọng, chiếm tỷ lệ 4,9%; năm 2022, có 41/499 đề án nợ đọng chiếm tỷ lệ 8,2%; năm 2023, có 45/447 đề án nợ đọng, chiếm tỷ lệ 9,1%; năm 2024, có 66/605 đề án nợ đọng, chiếm tỷ lệ 10,9%; năm 2025, có 45/648 đề án nợ đọng, chiếm tỷ lệ 6,5%; tính riêng từ đầu năm 2026 đến nay, vẫn còn 30/120 đề án quá hạn chưa trình, chiếm 25%.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh