Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Thông báo 329/TB-VPCP năm 2026 về kết luận phiên họp chuyên đề của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo do Văn phòng Chính phủ ban hành

Số hiệu 329/TB-VPCP
Ngày ban hành 24/06/2026
Ngày có hiệu lực 24/06/2026
Loại văn bản Thông báo
Cơ quan ban hành Văn phòng Chính phủ
Người ký Đặng Xuân Phong
Lĩnh vực Công nghệ thông tin

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 329/TB-VPCP

Hà Nội, ngày 24 tháng 6 năm 2026

 

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN PHIÊN HỌP CHUYÊN ĐỀ CỦA BAN CHỈ ĐẠO CỦA CHÍNH PHỦ VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ ĐỀ ÁN 06 VỀ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo) chủ trì Phiên họp chuyên đề của Ban Chỉ đạo (sau đây gọi tắt là Phiên họp), cùng tham dự có Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, Phó Thủ tướng Thường trực Ban Chỉ đạo; Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Phó Thủ tướng Thường trực Ban Chỉ đạo; các thành viên Ban Chỉ đạo, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, đại học, viện nghiên cứu, tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, ngân hàng thương mại.

Tại các trụ sở Tỉnh ủy, Thành ủy các tỉnh, thành phố, có các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy chủ trì; các đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, thành viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và lãnh đạo các sở, ban, ngành liên quan tham dự Phiên họp.

Sau khi nghe báo cáo của Bộ Công an - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo của Chính phủ và ý kiến phát biểu của các đại biểu dự họp, Ban Chỉ đạo của Chính phủ thống nhất kết luận như sau:

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ SAU PHIÊN HỌP LẦN THỨ BA

1. Các bộ, ngành, địa phương đã tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao theo Kết luận Phiên họp lần thứ ba năm 2026[1]; bước đầu tạo chuyển biến rõ hơn về nhận thức, trách nhiệm và tổ chức thực hiện trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06. Các bộ, ngành, địa phương đã bước đầu rà soát, cụ thể hóa nhiệm vụ, xác định danh mục sản phẩm, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá gắn với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp; một số địa phương đã chủ động đề xuất các sản phẩm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo có khả năng tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội. Có 4/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu đáp ứng đầy đủ 19/19 tiêu chí. Về kinh phí, thực hiện chủ trương ưu tiên bố trí 3% tổng chi ngân sách nhà nước, Quốc hội phê duyệt chi ngân sách nhà nước năm 2026 cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số khoảng 95 nghìn tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 70 nghìn tỷ đồng, ngân sách địa phương 25 nghìn tỷ đồng.

2. Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ còn những tồn tại, hạn chế. Một số bộ, cơ quan, địa phương giao việc còn chung chung, chưa rõ sản phẩm cuối cùng, mức độ đóng góp cho tăng trưởng hai con số, cho quản lý nhà nước của bộ, ngành và cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng, liên vùng, và mốc thời gian hoàn thành. Công tác phối hợp liên ngành, giữa các bộ, ngành, địa phương còn bị động, năng tính thủ tục hành chính; kỷ cương, kỷ luật, chế độ thông tin, báo cáo chưa nghiêm; còn tình trạng sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh việc khó. Hạ tầng số, hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, thiết bị còn chưa hiện đại, phân tán, chưa hiệu quả; chưa hình thành được hạ tầng nghiên cứu quy mô lớn phục vụ phát triển công nghệ chiến lược; còn thiếu kiến trúc tổng thể để định hướng triển khai các nhiệm vụ lớn, quan trọng. Việc xây dựng, khai thác, quản trị, kết nối, chia sẻ các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành còn ách tắc ở nhiều khâu; dữ liệu chưa được thu thập, làm sạch, chuẩn hóa, đối soát, thay thế thành phần hồ sơ và chia sẻ thống nhất, đồng bộ nên chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý và phát triển. Công tác phân bổ, sử dụng nguồn lực tại một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn phân tán, thiếu tập trung cho các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá; cơ cấu chi cho đầu tư phát triển còn thấp, chi cho chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo ở một số nơi vẫn chủ yếu là chi thường xuyên cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Tỷ lệ giải ngân kinh phí khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn thấp[2]

3. Những tồn tại, hạn chế nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Trong đó, một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn tình trạng “nóng trên, lạnh dưới”, người đứng đầu chưa trực tiếp chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành, lĩnh vực, địa phương mình; cách thức, phương pháp và vai trò phối hợp của các bộ, ngành với nhau và với địa phương chưa cụ thể, chưa chặt chẽ, còn lúng túng trong quá trình triển khai. Việc bố trí nguồn lực còn dàn trải, thiếu tầm nhìn chiến lược để tập trung cho các nhiệm vụ cốt lõi, nền tảng; chưa có cơ chế thực sự khả thi, rõ ràng để mời, lựa chọn và phối hợp với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học tham gia ngay từ khâu đầu của nhiệm vụ, bài toán, sản phẩm chiến lược.

II. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

1. Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Nhận thức và hành động của các bộ, ngành, địa phương có chuyển biến tích cực; thể chế, cơ chế, chính sách được tập trung hoàn thiện; định hướng phát triển công nghệ chiến lược, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hợp tác công - tư và mô hình liên kết “3 Nhà” từng bước được hình thành. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, giao 10 bộ, ngành, cơ quan triển khai nhiệm vụ theo 20 bài toán lớn. Đến nay, 29/34 địa phương báo cáo đang nghiên cứu, phát triển, sản xuất 124 sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó có 33 sản phẩm được định hướng thuộc nhóm công nghệ chiến lược, chiếm 26,6%.

2. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện còn những hạn chế, bất cập, điểm nghẽn cần tập trung xử lý. Trong đó, kết quả thực hiện chưa tạo được đột phá thực chất; mức độ hoàn thiện danh mục sản phẩm còn thấp[3]. Vai trò “tư lệnh ngành” của nhiều bộ, cơ quan chưa rõ; các bộ, cơ quan chưa làm rõ sản phẩm đặc thù của ngành, lĩnh vực; các địa phương chưa xác định rõ sản phẩm theo tiềm năng, lợi thế và nhu cầu thực tiễn. Mô hình hợp tác “3 Nhà” chưa đi vào chiều sâu; cơ chế để viện, trường, doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu chưa rõ ràng, thiếu cụ thể; chưa xác định rõ doanh nghiệp nào tham gia khâu nào, lĩnh vực nào và tiêu chí lựa chọn. Hạ tầng nghiên cứu, nhân lực chất lượng cao và năng lực tự chủ công nghệ còn là điểm nghẽn; nguồn nhân lực chất lượng cao cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn hạn hẹp, cơ chế thu hút còn bất cập...

III. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM THÁNG 6, TRONG QUÝ III VÀ ĐẾN CUỐI NĂM 2026

1. Quan điểm chỉ đạo:

(1) Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, là động lực thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ quốc gia; không làm theo phong trào, không chạy theo số lượng nhiệm vụ. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, quyết liệt tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thường Ban Chỉ đạo Trung ương; gắn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW với đổi mới mô hình phát triển của đất nước trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

(2) Chuyển mạnh sang tư duy “tạo thị trường, tạo sản phẩm, tạo giá trị”; lấy sản phẩm đầu ra, hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa, mức độ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và hiệu quả phục vụ công tác quản lý nhà nước làm thước đo chủ yếu; đồng thời lượng hóa được đóng góp đối với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng, liên vùng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thực hiện các nhiệm vụ phát triển đất nước.

(3) Phân tầng, phân vai rõ ràng: cấp quốc gia tập trung công nghệ chiến lược và bài toán lớn; cấp vùng, chuyên ngành hình thành chuỗi giá trị liên vùng; cấp địa phương tập trung sản phẩm đặc trưng, có khả năng tạo giá trị ngay. Bộ, ngành làm đúng vai “tư lệnh”; địa phương chuyển từ đăng ký sang tổ chức triển khai, ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.

(4) Nhà nước đặt hàng, kiến tạo thể chế, xây dựng tiêu chuẩn, tạo môi trường thử nghiệm và chia sẻ rủi ro có kiểm soát nhưng không làm thay doanh nghiệp; nhà trường cung cấp tri thức, công nghệ; doanh nghiệp tổ chức sản xuất, thương mại hóa và phát triển thị trường; Nhà nước tham gia tạo thị trường ban đầu, mua sắm sản phẩm đầu tiên để phục vụ công tác quản lý nhà nước của bộ, ngành, cơ quan chức năng khi đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định.

(5) Tập trung nguồn lực cho một số bài toán lớn, công nghệ lõi, sản phẩm chiến lược có khả năng dẫn dắt; gắn nhiệm vụ quốc gia với thế mạnh vùng, địa phương và chuỗi giá trị toàn cầu; kiên quyết khắc phục đầu tư dàn trải, trùng lắp, kém hiệu quả.

(6) Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, hiệu quả; kết quả thực hiện phải được lượng hóa và sử dụng trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đánh giá trực tiếp trách nhiệm Bộ trưởng, Trưởng ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW thuộc ngành, lĩnh vực, địa phương mình.

2. Định hướng thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo:

(1) Lựa chọn đúng bài toán: bộ, cơ quan xác định bài toán lớn, có tính dẫn dắt; địa phương lựa chọn sản phẩm từ nhu cầu thực tiễn, lợi thế so sánh và khả năng tạo giá trị; không đăng ký tràn lan, vượt quá năng lực.

(2) Tổ chức thực hiện theo chuỗi giá trị: bộ quản lý ngành định hướng công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn và thị trường; tổ chức thực hiện không để rò rỉ rạc, trùng lắp hoặc không có đầu ra.

(3) Doanh nghiệp là trung tâm: doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định bài toán, lựa chọn công nghệ, đầu tư, thử nghiệm và phát triển thị trường; viện, trường gắn nghiên cứu với nhu cầu đặt hàng; Nhà nước kiến tạo thể chế, tiêu chuẩn, môi trường thử nghiệm và thị trường ban đầu phù hợp.

(4) Cơ chế tài chính thông thoáng: tập trung khắc phục các vướng mắc về đặt hàng, khoản chi, mua sắm sản phẩm đầu tiên, định giá tài sản trí tuệ và chấp nhận rủi ro có kiểm soát; nghiên cứu cơ chế giao trực tiếp trách nhiệm, thẩm quyền quyết định nhiệm vụ, cơ chế đặt hàng và sử dụng ngân sách được phân bổ cho Bộ trưởng, Trưởng ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố theo cơ chế hậu kiểm, gắn với trách nhiệm cá nhân và kết quả đầu ra.

(5) Tập trung nguồn lực: ưu tiên công nghệ lõi, sản phẩm có khả năng thương mại hóa và bài toán có tác động lan tỏa; phát huy hiệu quả phòng thí nghiệm, hạ tầng nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia; khắc phục đầu tư dàn trải, thiết bị không được khai thác và nhiệm vụ không có chủ thể tiếp nhận.

3. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:

(1) Về xử lý nhiệm vụ chậm, muộn:

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...