Thông báo 244/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 do Văn phòng Chính phủ ban hành
| Số hiệu | 244/TB-VPCP |
| Ngày ban hành | 12/05/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 12/05/2026 |
| Loại văn bản | Thông báo |
| Cơ quan ban hành | Văn phòng Chính phủ |
| Người ký | Phạm Mạnh Cường |
| Lĩnh vực | Xuất nhập khẩu |
|
VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 244/TB-VPCP |
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2026 |
THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ HỒ QUỐC DŨNG TẠI HỘI NGHỊ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU NÔNG LÂM THỦY SẢN ĐẢM BẢO MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU NĂM 2026
Ngày 08 tháng 5 năm 2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã chủ trì Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 (Hội nghị). Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Lãnh đạo, đại diện các Bộ, cơ quan: Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Công Thương, Ngoại giao, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn phòng Chính phủ; Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Ủy ban nhân dân, cơ quan chuyên môn các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Cà Mau; đại diện các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu nông lâm thủy sản.
Sau khi nghe báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ý kiến của các đại biểu tham dự Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng kết luận như sau:
1. Đánh giá cao những nỗ lực và kết quả đạt được của toàn ngành nông nghiệp trong thời gian qua đã đóng góp quan trọng vào thành tựu chung phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế gắn với bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống cho người dân khu vực nông thôn. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp hiện đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Bối cảnh quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, giá phân bón, vật tư đầu vào, chi phí logistics tăng, nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng; xu hướng bảo hộ thương mại và các rào cản kỹ thuật, áp lực từ tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc ngày càng cao; một số mặt hàng tăng sản lượng xuất khẩu nhưng giảm giá trị; một số thị trường truyền thống có dấu hiệu giảm cầu; hạ tầng phục vụ sản xuất, vùng nguyên liệu, chuỗi liên kết chưa đáp ứng được yêu cầu; thiên tai, biến đổi khí hậu bất thường; một số cơ chế, chính sách còn bất cập, ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu nông lâm thủy sản.
2. Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo: Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với mục tiêu tăng trưởng GDP đạt “2 con số”, trong đó ngành nông nghiệp phấn đấu tăng trưởng 3,7 - 4%, xuất khẩu năm 2026 đạt trên 74 tỷ USD; ngành nông nghiệp cần xây dựng nền tảng cho các mục tiêu dài hạn, sớm khắc phục tình trạng xuất khẩu thô, giá trị gia tăng thấp, “được mùa, mất giá”; ổn định sản xuất, xuất khẩu, thu nhập, đời sống cho người dân.
3. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
a) Các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền cần tập trung chỉ đạo:
- Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu nông sản: rà soát, xác định những vấn đề cần giải quyết trước mắt và lâu dài để kịp thời có lộ trình sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, thuế, tín dụng, logistics, vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó xác định những thủ tục cần giải quyết ngay để tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp xuất khẩu năm 2026. Tập hợp, giải quyết ngay các kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến thủ tục hành chính.
- Cơ cấu lại sản xuất gắn với nhu cầu thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế; tập trung phát triển các vùng nguyên liệu lớn, ổn định, đạt chuẩn gắn với quy hoạch cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất, nhằm bảo đảm nguồn cung bền vững phục vụ chế biến và xuất khẩu; thúc đẩy liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ theo chuỗi giá trị; nâng cao năng lực chế biến sâu; kiểm soát, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng thị trường; giữ vững các thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng sang các thị trường mới, tiềm năng.
- Rà soát, xây dựng quy hoạch, từng bước phát triển đồng bộ hạ tầng về giao thông, thủy lợi, hạ tầng số phục vụ sản xuất quy mô lớn, truy xuất nguồn gốc, tiêu thụ nông sản (nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long).
- Tập trung nâng cao chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu, trong đó có các quy định về chống phá rừng của EU (EUDR), IUU, tiêu chuẩn phát thải, môi trường, truy xuất nguồn gốc; đây không chỉ là những yêu cầu bắt buộc mà còn là cơ hội để nâng cấp chuỗi sản xuất và nâng cao uy tín, thương hiệu nông sản Việt Nam. Thúc đẩy phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.
- Tăng cường dự báo, hỗ trợ doanh nghiệp theo dõi thông tin thị trường và chính sách thương mại quốc tế; xây dựng cơ chế cảnh báo sớm; chủ động hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về tín dụng, lưu kho, bảo quản, thanh toán và vận chuyển hàng hóa trong bối cảnh rủi ro địa chính trị gia tăng.
b) Bộ Nông nghiệp và Môi trường
- Chủ trì tổng hợp đầy đủ các ý kiến đề xuất, kiến nghị của các đại biểu, các hiệp hội ngành hàng tham dự Hội nghị; chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xử lý theo thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ được giao; đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ các vấn đề vượt thẩm quyền của bộ, ngành, địa phương.
- Khẩn trương phối hợp với các cơ quan liên quan báo cáo cấp có thẩm quyền việc tổ chức mua tạm trữ thóc, gạo nhằm hỗ trợ tiêu thụ thóc, gạo cho nông dân theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại văn bản số 3462/VPCP- KTTH ngày 20 tháng 4 năm 2026.
- Tập trung chỉ đạo tái cơ cấu ngành nông nghiệp; phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn; khẩn trương hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, chuỗi giá trị và chế biến sâu, phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
- Theo dõi sát tình hình sản xuất, thị trường và xuất khẩu; kịp thời tham mưu các giải pháp điều hành linh hoạt, hiệu quả. Xây dựng các kịch bản điều hành sản xuất theo tháng, quý đối với các ngành hàng chủ lực để tránh tình trạng dư thừa cục bộ hoặc đứt gãy nguồn cung; chủ động chỉ đạo ứng phó thiên tai, hạn chế ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp.
- Rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp và địa phương triển khai, đáp ứng các quy định mới của các thị trường nhập khẩu (quy định về chống phá rừng của EU, IUU, các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn phát thải, tiêu chuẩn lao động và trách nhiệm xã hội…).
- Chủ động phối hợp với các bộ, ngành tăng cường đàm phán, mở cửa thị trường cho các sản phẩm nông sản chủ lực, tiềm năng, còn nhiều dư địa gia tăng xuất khẩu.
- Tăng cường đối thoại với các hiệp hội, doanh nghiệp để nắm bắt thông tin, kịp thời giải quyết thấu đáo vướng mắc, khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện cho sản xuất và xuất khẩu.
c) Bộ Công Thương
Tăng cường xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các FTA; chỉ đạo hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả, chính sách thương mại quốc tế; đổi mới công tác xúc tiến thương mại, bảo đảm chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển hệ thống phân phối, thương mại điện tử và kết nối chuỗi cung ứng, phân phối quốc tế.
d) Bộ Tài chính
Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát, hoàn thiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, lưu ý cần có ý kiến tham gia rộng rãi của các doanh nghiệp, đảm bảo tính khả thi trong thi hành, đồng thời nghiên cứu quy định việc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được ban hành chính sách khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn phù hợp với thực tế của địa phương để bảo đảm thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu nông sản.
đ) Bộ Ngoại giao
- Tiếp tục phát huy vai trò của ngoại giao kinh tế trong thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản; chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tăng cường thu thập, phân tích và cung cấp thông tin về nhu cầu thị trường, xu hướng tiêu dùng, chính sách nhập khẩu và các tiêu chuẩn mới của nước sở tại; hỗ trợ quảng bá hình ảnh, thương hiệu nông sản Việt Nam gắn với hoạt động ngoại giao.
|
VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 244/TB-VPCP |
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2026 |
THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ HỒ QUỐC DŨNG TẠI HỘI NGHỊ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU NÔNG LÂM THỦY SẢN ĐẢM BẢO MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU NĂM 2026
Ngày 08 tháng 5 năm 2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã chủ trì Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 (Hội nghị). Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Lãnh đạo, đại diện các Bộ, cơ quan: Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Công Thương, Ngoại giao, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn phòng Chính phủ; Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Ủy ban nhân dân, cơ quan chuyên môn các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Cà Mau; đại diện các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu nông lâm thủy sản.
Sau khi nghe báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ý kiến của các đại biểu tham dự Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng kết luận như sau:
1. Đánh giá cao những nỗ lực và kết quả đạt được của toàn ngành nông nghiệp trong thời gian qua đã đóng góp quan trọng vào thành tựu chung phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế gắn với bảo đảm sinh kế, ổn định đời sống cho người dân khu vực nông thôn. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp hiện đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Bối cảnh quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, giá phân bón, vật tư đầu vào, chi phí logistics tăng, nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng; xu hướng bảo hộ thương mại và các rào cản kỹ thuật, áp lực từ tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc ngày càng cao; một số mặt hàng tăng sản lượng xuất khẩu nhưng giảm giá trị; một số thị trường truyền thống có dấu hiệu giảm cầu; hạ tầng phục vụ sản xuất, vùng nguyên liệu, chuỗi liên kết chưa đáp ứng được yêu cầu; thiên tai, biến đổi khí hậu bất thường; một số cơ chế, chính sách còn bất cập, ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu nông lâm thủy sản.
2. Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo: Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với mục tiêu tăng trưởng GDP đạt “2 con số”, trong đó ngành nông nghiệp phấn đấu tăng trưởng 3,7 - 4%, xuất khẩu năm 2026 đạt trên 74 tỷ USD; ngành nông nghiệp cần xây dựng nền tảng cho các mục tiêu dài hạn, sớm khắc phục tình trạng xuất khẩu thô, giá trị gia tăng thấp, “được mùa, mất giá”; ổn định sản xuất, xuất khẩu, thu nhập, đời sống cho người dân.
3. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
a) Các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền cần tập trung chỉ đạo:
- Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu nông sản: rà soát, xác định những vấn đề cần giải quyết trước mắt và lâu dài để kịp thời có lộ trình sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, thuế, tín dụng, logistics, vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó xác định những thủ tục cần giải quyết ngay để tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp xuất khẩu năm 2026. Tập hợp, giải quyết ngay các kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến thủ tục hành chính.
- Cơ cấu lại sản xuất gắn với nhu cầu thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế; tập trung phát triển các vùng nguyên liệu lớn, ổn định, đạt chuẩn gắn với quy hoạch cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất, nhằm bảo đảm nguồn cung bền vững phục vụ chế biến và xuất khẩu; thúc đẩy liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ theo chuỗi giá trị; nâng cao năng lực chế biến sâu; kiểm soát, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng thị trường; giữ vững các thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng sang các thị trường mới, tiềm năng.
- Rà soát, xây dựng quy hoạch, từng bước phát triển đồng bộ hạ tầng về giao thông, thủy lợi, hạ tầng số phục vụ sản xuất quy mô lớn, truy xuất nguồn gốc, tiêu thụ nông sản (nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long).
- Tập trung nâng cao chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu, trong đó có các quy định về chống phá rừng của EU (EUDR), IUU, tiêu chuẩn phát thải, môi trường, truy xuất nguồn gốc; đây không chỉ là những yêu cầu bắt buộc mà còn là cơ hội để nâng cấp chuỗi sản xuất và nâng cao uy tín, thương hiệu nông sản Việt Nam. Thúc đẩy phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.
- Tăng cường dự báo, hỗ trợ doanh nghiệp theo dõi thông tin thị trường và chính sách thương mại quốc tế; xây dựng cơ chế cảnh báo sớm; chủ động hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về tín dụng, lưu kho, bảo quản, thanh toán và vận chuyển hàng hóa trong bối cảnh rủi ro địa chính trị gia tăng.
b) Bộ Nông nghiệp và Môi trường
- Chủ trì tổng hợp đầy đủ các ý kiến đề xuất, kiến nghị của các đại biểu, các hiệp hội ngành hàng tham dự Hội nghị; chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xử lý theo thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ được giao; đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ các vấn đề vượt thẩm quyền của bộ, ngành, địa phương.
- Khẩn trương phối hợp với các cơ quan liên quan báo cáo cấp có thẩm quyền việc tổ chức mua tạm trữ thóc, gạo nhằm hỗ trợ tiêu thụ thóc, gạo cho nông dân theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại văn bản số 3462/VPCP- KTTH ngày 20 tháng 4 năm 2026.
- Tập trung chỉ đạo tái cơ cấu ngành nông nghiệp; phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn; khẩn trương hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu, chuỗi giá trị và chế biến sâu, phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
- Theo dõi sát tình hình sản xuất, thị trường và xuất khẩu; kịp thời tham mưu các giải pháp điều hành linh hoạt, hiệu quả. Xây dựng các kịch bản điều hành sản xuất theo tháng, quý đối với các ngành hàng chủ lực để tránh tình trạng dư thừa cục bộ hoặc đứt gãy nguồn cung; chủ động chỉ đạo ứng phó thiên tai, hạn chế ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp.
- Rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp và địa phương triển khai, đáp ứng các quy định mới của các thị trường nhập khẩu (quy định về chống phá rừng của EU, IUU, các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn phát thải, tiêu chuẩn lao động và trách nhiệm xã hội…).
- Chủ động phối hợp với các bộ, ngành tăng cường đàm phán, mở cửa thị trường cho các sản phẩm nông sản chủ lực, tiềm năng, còn nhiều dư địa gia tăng xuất khẩu.
- Tăng cường đối thoại với các hiệp hội, doanh nghiệp để nắm bắt thông tin, kịp thời giải quyết thấu đáo vướng mắc, khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện cho sản xuất và xuất khẩu.
c) Bộ Công Thương
Tăng cường xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các FTA; chỉ đạo hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả, chính sách thương mại quốc tế; đổi mới công tác xúc tiến thương mại, bảo đảm chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển hệ thống phân phối, thương mại điện tử và kết nối chuỗi cung ứng, phân phối quốc tế.
d) Bộ Tài chính
Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát, hoàn thiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, lưu ý cần có ý kiến tham gia rộng rãi của các doanh nghiệp, đảm bảo tính khả thi trong thi hành, đồng thời nghiên cứu quy định việc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được ban hành chính sách khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn phù hợp với thực tế của địa phương để bảo đảm thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu nông sản.
đ) Bộ Ngoại giao
- Tiếp tục phát huy vai trò của ngoại giao kinh tế trong thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản; chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tăng cường thu thập, phân tích và cung cấp thông tin về nhu cầu thị trường, xu hướng tiêu dùng, chính sách nhập khẩu và các tiêu chuẩn mới của nước sở tại; hỗ trợ quảng bá hình ảnh, thương hiệu nông sản Việt Nam gắn với hoạt động ngoại giao.
- Đẩy mạnh vận động, đàm phán song phương và đa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu nông sản Việt Nam; hỗ trợ doanh nghiệp xử lý tranh chấp thương mại và bảo vệ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài.
- Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Quyết định số 06/2020/QĐ-TTg ngày 21 tháng 02 năm 2020 về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại hàng hóa của Việt Nam; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5 năm 2026.
e) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Rà soát, nghiên cứu đề xuất, triển khai các chính sách tín dụng, lãi suất phù hợp hỗ trợ thu mua, chế biến, bảo quản và xuất khẩu nông sản, mua tạm trữ lúa gạo cho người dân; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 5 năm 2026.
g) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
- Chủ động xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản phù hợp với lợi thế của địa phương; tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, quy mô lớn, hiện đại, gắn với thị trường.
- Đẩy nhanh tiến độ giải quyết các thủ tục, không để ách tắc, đồng thời quản lý chặt chẽ mã số vùng trồng, vùng nuôi; tăng cường kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
- Chủ động phối hợp với doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng trong công tác thu mua, bảo quản, sơ chế, chế biến và tiêu thụ nông sản; không để xảy ra tình trạng ùn ứ, ép giá hoặc đứt gãy chuỗi cung ứng trong mùa vụ cao điểm.
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; triển khai quyết liệt các quy định mới về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thị trường; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, gây ách tắc, gian lận thương mại, giả mạo xuất xứ, cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm; đồng thời, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
h) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội ngành hàng
- Nâng cao vai trò là cầu nối hiệu quả giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người sản xuất; chủ động cập nhật thông tin thị trường, cảnh báo rủi ro, nắm bắt khó khăn, vướng mắc; tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương trong công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, phát triển thương hiệu ngành hàng và xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, xuất khẩu.
- Chủ động đề xuất các giải pháp chính sách với Chính phủ và các bộ, ngành để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và phát triển bền vững từng ngành hàng.
i) Cộng đồng các doanh nghiệp: Chủ động đổi mới tư duy sản xuất, kinh doanh; nâng cao năng lực quản trị, dự báo thị trường và khả năng thích ứng với biến động toàn cầu.
k) Văn phòng Chính phủ
Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp các đề xuất, kiến nghị để báo cáo Thủ tướng Chính phủ các nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ thông báo để các Bộ, cơ quan, tổ chức liên quan và các địa phương biết, thực hiện./.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh