Quyết định 266/QĐ-UBND năm 2026 phê duyệt Đề án “Phát triển quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030”
| Số hiệu | 266/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 26/01/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 26/01/2026 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Quảng Trị |
| Người ký | Lê Văn Bảo |
| Lĩnh vực | Lao động - Tiền lương |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 266/QĐ-UBND |
Quảng Trị, ngày 26 tháng 01 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI, GIAI ĐOẠN 2026 - 2030”
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 20/11/2019; Luật Công đoàn ngày 27/11/2024;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày 27/6/2025;
Căn cứ Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động;
Căn cứ Quyết định số 416/QĐ-TTg ngày 25/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03 tháng 9 năm 2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nội vụ tại Tờ trình số 35/TTr-SNV ngày 14/01/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Phát triển quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030”.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc các Sở: Nội vụ, Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Khoa học và Công nghệ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chánh Thanh tra tỉnh; Giám đốc Công an tỉnh; Trưởng Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh; Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh, Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh; Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
ĐỀ ÁN
PHÁT
TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI, GIAI
ĐOẠN 2026 - 2030
(Kèm theo Quyết định số 266/QĐ-UBND ngày 26 tháng 01 năm 2026 của Ủy ban
nhân dân tỉnh Quảng Trị)
Phần I
PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ là nền tảng quan trọng bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững. Thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới (Chỉ thị số 37-CT/TW). Ngày 27/7/2020, Tỉnh ủy Quảng Trị (cũ) ban hành Chương trình hành động số 177-CTHĐ/TU và Tỉnh ủy Quảng Bình (cũ) ban hành Kế hoạch số 146-KH/TU ngày 21/4/2020 về thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW. Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành xây dựng và triển khai kế hoạch với nhiều giải pháp nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, đặc biệt là quan hệ lao động tại các doanh nghiệp và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
Tuy nhiên, tình hình quan hệ lao động nói chung và doanh nghiệp nói riêng của tỉnh còn tiềm ẩn các vấn đề phức tạp, khó nhận diện phát hiện, vẫn còn tình trạng quyền lợi của người lao động chưa đảm bảo theo đúng quy định pháp luật, vai trò bảo vệ của tổ chức công đoàn cơ sở bị hạn chế, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở chưa cao và hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng yêu cầu hoặc chưa thật sự hiệu quả… Do đó, thực hiện các giải pháp về xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ được coi là nhiệm vụ không những trước mắt mà còn lâu dài và có ý nghĩa quan trọng trong tình hình mới, không chỉ ở doanh nghiệp mà còn lan tỏa trong toàn xã hội.
Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tỉnh Quảng Trị mới, được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị, đồng thời chính thức triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc hợp nhất đơn vị hành chính và tổ chức lại bộ máy chính quyền theo mô hình hai cấp đã tạo lập không gian phát triển rộng lớn, đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Đối với tổ chức công đoàn, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp dẫn đến những thay đổi căn bản trong hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động. Theo đó, không còn tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện chức năng quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động đối với công đoàn cơ sở, đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ lao động. Sau khi hợp nhất hai tỉnh, phạm vi quản lý được mở rộng, địa bàn hoạt động trải dài, toàn bộ công đoàn cơ sở chịu sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của Liên đoàn Lao động tỉnh. Trong bối cảnh đó, cùng với sự gia tăng nhanh về số lượng lao động trong các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguy cơ tiềm ẩn về mất an toàn, vệ sinh lao động và những diễn biến phức tạp trong quan hệ lao động ngày càng gia tăng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với tổ chức công đoàn trong việc nâng cao năng lực quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ công đoàn cơ sở, kịp thời phòng ngừa và hạn chế tranh chấp lao động tập thể, đình công, qua đó góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, phát triển bền vững của doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Việc ban hành Đề án “Phát triển quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030” là cần thiết nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quan hệ lao động; phát huy vai trò của các chủ thể trong quan hệ lao động; phòng ngừa, hạn chế tranh chấp lao động, đình công; góp phần bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
II. CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ ÁN
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 266/QĐ-UBND |
Quảng Trị, ngày 26 tháng 01 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI, GIAI ĐOẠN 2026 - 2030”
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 20/11/2019; Luật Công đoàn ngày 27/11/2024;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày 27/6/2025;
Căn cứ Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động;
Căn cứ Quyết định số 416/QĐ-TTg ngày 25/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03 tháng 9 năm 2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nội vụ tại Tờ trình số 35/TTr-SNV ngày 14/01/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Phát triển quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030”.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc các Sở: Nội vụ, Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Khoa học và Công nghệ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chánh Thanh tra tỉnh; Giám đốc Công an tỉnh; Trưởng Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh; Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh, Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh; Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
ĐỀ ÁN
PHÁT
TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI, GIAI
ĐOẠN 2026 - 2030
(Kèm theo Quyết định số 266/QĐ-UBND ngày 26 tháng 01 năm 2026 của Ủy ban
nhân dân tỉnh Quảng Trị)
Phần I
PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ là nền tảng quan trọng bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững. Thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới (Chỉ thị số 37-CT/TW). Ngày 27/7/2020, Tỉnh ủy Quảng Trị (cũ) ban hành Chương trình hành động số 177-CTHĐ/TU và Tỉnh ủy Quảng Bình (cũ) ban hành Kế hoạch số 146-KH/TU ngày 21/4/2020 về thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW. Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành xây dựng và triển khai kế hoạch với nhiều giải pháp nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, đặc biệt là quan hệ lao động tại các doanh nghiệp và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
Tuy nhiên, tình hình quan hệ lao động nói chung và doanh nghiệp nói riêng của tỉnh còn tiềm ẩn các vấn đề phức tạp, khó nhận diện phát hiện, vẫn còn tình trạng quyền lợi của người lao động chưa đảm bảo theo đúng quy định pháp luật, vai trò bảo vệ của tổ chức công đoàn cơ sở bị hạn chế, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở chưa cao và hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng yêu cầu hoặc chưa thật sự hiệu quả… Do đó, thực hiện các giải pháp về xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ được coi là nhiệm vụ không những trước mắt mà còn lâu dài và có ý nghĩa quan trọng trong tình hình mới, không chỉ ở doanh nghiệp mà còn lan tỏa trong toàn xã hội.
Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tỉnh Quảng Trị mới, được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị, đồng thời chính thức triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc hợp nhất đơn vị hành chính và tổ chức lại bộ máy chính quyền theo mô hình hai cấp đã tạo lập không gian phát triển rộng lớn, đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Đối với tổ chức công đoàn, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp dẫn đến những thay đổi căn bản trong hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động. Theo đó, không còn tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện chức năng quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động đối với công đoàn cơ sở, đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ lao động. Sau khi hợp nhất hai tỉnh, phạm vi quản lý được mở rộng, địa bàn hoạt động trải dài, toàn bộ công đoàn cơ sở chịu sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của Liên đoàn Lao động tỉnh. Trong bối cảnh đó, cùng với sự gia tăng nhanh về số lượng lao động trong các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguy cơ tiềm ẩn về mất an toàn, vệ sinh lao động và những diễn biến phức tạp trong quan hệ lao động ngày càng gia tăng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với tổ chức công đoàn trong việc nâng cao năng lực quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ công đoàn cơ sở, kịp thời phòng ngừa và hạn chế tranh chấp lao động tập thể, đình công, qua đó góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, phát triển bền vững của doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Việc ban hành Đề án “Phát triển quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030” là cần thiết nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quan hệ lao động; phát huy vai trò của các chủ thể trong quan hệ lao động; phòng ngừa, hạn chế tranh chấp lao động, đình công; góp phần bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
II. CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ ÁN
Đề án được xây dựng trên cơ sở các văn bản pháp lý chủ yếu sau đây:
Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Bộ luật Lao động ngày 20 tháng 11 năm 2019;
Luật Công đoàn ngày 27 tháng 11 năm 2024;
Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày 10 tháng 11 năm 2022;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày 27 tháng 6 năm 2025;
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03 tháng 9 năm 2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới;
Nghị quyết số 80/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội về gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể;
Quyết định số 416/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03 tháng 9 năm 2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong tình hình mới;
Công văn số 41/TTg-QHĐP ngày 10/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết tại Kỳ họp thứ 6, QH khóa XV;
III. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG VÀ PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA ĐỀ ÁN
1. Mục đích
Cụ thể hóa các quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Chỉ thị số 37-CT/TW nhằm đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể mang tính đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế trong tình hình mới của tỉnh, phát huy tối đa năng lực và sự phối hợp giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền và cơ quan, tổ chức tại địa phương trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ của tỉnh Quảng Trị đến năm 2030;
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quan hệ lao động; thúc đẩy đối thoại, thương lượng tập thể; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động;
Phòng ngừa, hạn chế tranh chấp lao động, đình công; góp phần ổn định sản xuất, kinh doanh và trật tự xã hội.
2. Yêu cầu
Nội dung của Đề án phải sát thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm tính khả thi;
Xác định rõ được trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương trong tổ chức thực hiện Đề án;
Phát huy cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương và các chủ thể trong quan hệ lao động.
3. Đối tượng áp dụng
Người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động;
Các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh.
4. Phạm vi điều chỉnh
Quản lý, hỗ trợ và giải quyết các vấn đề về quan hệ lao động tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.
Thời gian áp dụng: Giai đoạn năm 2026 - 2030.
Phần II
THỰC TRẠNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Tình hình phát triển kinh tế
Năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, có ý nghĩa quyết định trong việc hoàn thành các mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; đồng thời là năm ghi dấu mốc lịch sử khi tỉnh Quảng Trị được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Việc hợp nhất và tổ chức lại bộ máy chính quyền đã mở rộng không gian phát triển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành, tạo thêm dư địa và động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo. Nhờ triển khai quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm, tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực: Nông nghiệp ổn định; công nghiệp giữ đà tăng trưởng; thương mại, dịch vụ và du lịch khởi sắc; môi trường đầu tư được cải thiện; đời sống Nhân dân được quan tâm; quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2025:
Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,00%; trong đó: Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,89%; công nghiệp - xây dựng tăng 10,75% (riêng công nghiệp tăng 8,27%); dịch vụ tăng 8,35%;
Cơ cấu GRDP: Nông, lâm nghiệp và thủy sản 18,12%; công nghiệp - xây dựng 29,49%; dịch vụ 48,57%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 3,82%;
Thu ngân sách trên địa bàn đạt 13.201 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 70,1 nghìn tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt 79,1 triệu đồng;
Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 56,5% (39/69 xã);
Số lao động có việc làm đạt 754,8 nghìn người; lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 2,68%; tỷ lệ nghèo đa chiều 7,14%;
Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 66,7%; số bác sỹ đạt 11,4 bác sỹ/1 vạn dân; số giường bệnh đạt 38,3 giường/1 vạn dân; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế 95,2%;
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 73,6%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 32,6%.
2. Tình hình đầu tư và phát triển doanh nghiệp
Quảng Trị xác định đầu tư và phát triển doanh nghiệp là chính sách kinh tế quan trọng, nguồn lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận không thể tách rời. Hiện nay, toàn tỉnh có trên 10.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Nhìn chung, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp từng bước phục hồi, lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước. Bên cạnh các doanh nghiệp thành lập mới, vẫn còn một số doanh nghiệp giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động do khó khăn về thị trường và đứt gãy chuỗi cung ứng. Những biến động này có tác động nhất định đến tình hình thực hiện pháp luật về lao động, tiền lương, BHXH và các chế độ, chính sách tại doanh nghiệp.
3. Tình hình lao động, việc làm
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2025: 773.499 người, tăng 0,10% so với năm trước; trong đó nam: chiếm 52,27%, nữ: chiếm 47,73%. Lao động tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với 78,61%, khu vực thành thị chiếm 21,39%. Sự thay đổi cơ cấu lao động giữa hai khu vực chủ yếu do điều chỉnh phân loại đơn vị hành chính sau sáp nhập, không làm biến động lớn quy mô lao động toàn tỉnh. Số lao động có việc làm năm 2025: 754.780 người, chiếm 97,58% lực lượng lao động. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,70%; công nghiệp - xây dựng 24,53%; dịch vụ 40,77%. Tỷ trọng lao động tăng ở khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm ở khu vực nông nghiệp, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế của tỉnh sau hợp nhất.
Tỷ lệ thất nghiệp chung năm 2025 là 2,42%; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 2,68%, giảm nhẹ so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,58%, khu vực nông thôn là 2,72%. Mặc dù có biến động cục bộ trong năm do di chuyển trung tâm hành chính và thay đổi cơ cấu tiêu dùng, song nhìn chung thị trường lao động vẫn ổn định.
Bên cạnh kết quả đạt được, biến động của doanh nghiệp vẫn tác động đến việc làm của người lao động. Do đó, việc tiếp tục củng cố quan hệ lao động, chủ động phòng ngừa tranh chấp lao động, đình công là nhiệm vụ thường xuyên, nhằm giữ vững ổn định thị trường lao động trong những năm tiếp theo.
II. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, THIẾT CHẾ QUAN HỆ LAO ĐỘNG
1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động
Thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình (cũ) ban hành Kế hoạch số 146-KH/TU ngày 21/4/2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị (cũ) ban hành Chương trình hành động số 177-CTHĐ/TU ngày 27/7/2020. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai nhiều giải pháp nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trên địa bàn tỉnh.
Các cấp ủy, chính quyền đã quan tâm chỉ đạo, bước đầu hình thành cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động.
2. Công tác quản lý nhà nước về lao động
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động được chú trọng. Hoạt động tuyên truyền được các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai sâu rộng, tập trung phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lao động và quan hệ lao động đến chính quyền cơ sở, người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh.
Nội dung tuyên truyền tập trung vào tiêu chuẩn lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động, trách nhiệm của tổ chức công đoàn và công đoàn viên, cũng như công tác quản lý nhà nước về lao động.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra từng bước được tăng cường. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật lao động, chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội vẫn còn xảy ra. Nguồn lực cho công tác quản lý nhà nước về quan hệ lao động còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
3. Tổ chức Công đoàn
Công đoàn các cấp từng bước phát huy vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; hoạt động tuyên truyền, phổ biến và tư vấn pháp luật được triển khai với nhiều hình thức. Công tác phát triển đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở (CĐCS) trong doanh nghiệp được quan tâm thực hiện. Đến nay, toàn tỉnh có 697 CĐCS trong các doanh nghiệp, với trên 44.000 đoàn viên.
Liên đoàn Lao động tỉnh đã nghiêm túc triển khai Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới” và các chương trình, kế hoạch liên quan; đồng thời ban hành các kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đồng thời, tham gia tích cực các đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành và chủ trì giám sát việc thi hành pháp luật về lao động, BHXH, an toàn, vệ sinh lao động, góp phần đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ tại các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp có CĐCS chưa tương xứng với số lượng doanh nghiệp đang hoạt động; năng lực của một bộ phận CĐCS, nhất là khu vực ngoài nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu. Vai trò của các tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong đối thoại, thương lượng tập thể và cơ chế ba bên còn hạn chế.
4. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động
Theo Bộ luật Lao động năm 2019, Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị chưa có doanh nghiệp nào thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
UBND tỉnh luôn tạo điều kiện và khuyến khích thành lập, hoạt động của công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, các tổ chức như Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, Hội Doanh nhân trẻ đã phát huy vai trò tập hợp, liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã trong xúc tiến thương mại, cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thông qua hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ pháp lý, CĐCS tại các doanh nghiệp đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật lao động, thúc đẩy ký kết thỏa ước lao động tập thể, qua đó góp phần duy trì ổn định quan hệ lao động. Tuy nhiên, thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh vai trò gắn kết giữa người sử dụng lao động và người lao động nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.
5. Đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể
Hoạt động đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và ký kết thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) đã được triển khai tại nhiều doanh nghiệp, góp phần ổn định quan hệ lao động. Việc đối thoại được tổ chức nghiêm túc, nội dung bám sát yêu cầu thực tiễn, kết quả đối thoại được tiếp thu, khắc phục, chấn chỉnh, đưa nội dung được đối thoại vào thực hiện thương lượng tập thể và ký kết TƯLĐTT theo quy định pháp luật, qua đó nâng cao nhận thức pháp luật cho cả người lao động và người sử dụng lao động.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 697 doanh nghiệp có CĐCS, trong đó trên 81% đã ký kết TƯLĐTT. Nội dung TƯLĐTT cơ bản phù hợp với Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP; một số doanh nghiệp đã ký kết các điều khoản có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể và ký kết TƯLĐTT tại doanh nghiệp dân doanh vẫn còn hạn chế, cần tiếp tục được quan tâm theo dõi, hướng dẫn thực hiện trong thời gian tới.
6. Giải quyết tranh chấp lao động và đình công
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh không xảy ra tranh chấp lao động và đình công, góp phần giữ vững ổn định quan hệ lao động. Để chủ động phòng ngừa và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh, UBND tỉnh đã thành lập, kiện toàn đội ngũ hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao động và ban hành các quy chế quản lý, hoạt động theo quy định.
7. Cơ chế phối hợp ba bên trong quan hệ lao động
Cơ chế phối hợp ba bên từng bước được thiết lập và triển khai. Các bên gồm: cơ quan quản lý nhà nước về lao động, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động đã phối hợp trong việc tham gia góp ý chính sách, tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, công đoàn và các văn bản pháp luật liên quan; tham gia chứng kiến ký kết thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp.
Thông qua cơ chế phối hợp ba bên, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người lao động và người sử dụng lao động từng bước được nâng lên, góp phần hạn chế vi phạm pháp luật, giữ vững ổn định quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Ưu điểm
Nhận thức của các cấp, các ngành, cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp và tổ chức sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh về quan hệ lao động ngày càng được nâng cao; người sử dụng lao động cơ bản có ý thức chấp hành pháp luật lao động, quan tâm thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.
Công đoàn các cấp từng bước phát huy vai trò, trách nhiệm trong việc phối hợp tuyên truyền, hỗ trợ thực hiện pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động và pháp luật Công đoàn; đặc biệt, CĐCS quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên, người lao động, qua đó tạo sự gắn kết, thu hút người lao động tham gia tổ chức Công đoàn, góp phần ổn định quan hệ lao động tại tổ chức, doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động chú trọng xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ thông qua thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tổ chức đối thoại định kỳ, thương lượng tập thể và ký kết thỏa ước lao động tập thể bảo đảm cả về số lượng và chất lượng; góp phần duy trì ổn định quan hệ lao động, không để xảy ra tranh chấp lao động, đình công trên địa bàn tỉnh.
2. Tồn tại, hạn chế
Tỷ lệ doanh nghiệp vi phạm pháp luật lao động qua thanh tra, kiểm tra còn ở mức cao, tập trung ở các nội dung như: quản lý và sử dụng lao động; giao kết hợp đồng lao động; đăng ký nội quy lao động; gửi thỏa ước lao động tập thể; công tác an toàn, vệ sinh lao động...
Một số doanh nghiệp còn tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tỷ lệ doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn còn thấp; số đoàn viên công đoàn chưa tương xứng với tổng số lao động đang làm việc tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Một bộ phận CĐCS, nhất là trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, chưa phát huy đầy đủ vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; kỹ năng, phương thức hoạt động còn lúng túng, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Số doanh nghiệp thực hiện đăng ký nội quy lao động, tổ chức thương lượng tập thể, ký kết và gửi thỏa ước lao động tập thể cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động còn hạn chế. Đội ngũ hòa giải viên lao động tuy đã được kiện toàn, bổ nhiệm nhưng do chưa phát sinh vụ việc tranh chấp lao động, đình công nên còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng nghiệp vụ, cần tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu.
3. Nguyên nhân
Mặc dù hệ thống chính sách, pháp luật về lao động từng bước được hoàn thiện, song công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động, thống kê thông tin lao động và thị trường lao động tại doanh nghiệp chưa được duy trì thường xuyên, chủ yếu do kinh phí hạn chế. Việc triển khai các mục tiêu xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ chưa đạt yêu cầu đề ra.
Cơ chế phối hợp ba bên tuy đã được hình thành nhưng chưa phát huy hiệu quả do số lượng CĐCS trong doanh nghiệp còn ít; việc triển khai các hoạt động về quan hệ lao động tại doanh nghiệp chưa đồng bộ, còn mang tính hình thức, chưa tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật.
Chưa kiện toàn, phân công rõ trách nhiệm cho lực lượng tham mưu chuyên trách hoặc bán chuyên trách về quan hệ lao động theo cơ chế ba bên; công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ cho đội ngũ này chưa được tổ chức thường xuyên, dẫn đến hiệu quả tham mưu, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ và thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp còn hạn chế.
Công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra pháp luật lao động và các pháp luật liên quan tại doanh nghiệp hàng năm chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng; nguyên nhân chủ yếu do lực lượng cán bộ mỏng, kinh phí bảo đảm cho hoạt động còn hạn chế. Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ CĐCS tại một số tổ chức, doanh nghiệp chưa được phát huy đầy đủ; còn tâm lý e ngại, chưa kịp thời phản ánh, kiến nghị khi phát hiện các vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến quan hệ lao động theo quy định của pháp luật.
Phần III
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ LAO ĐỘNG
I. DỰ BÁO, QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Dự báo:
Trên cơ sở đánh giá giai đoạn 2021 - 2025 và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị, có thể dự báo tình hình lao động và quan hệ lao động giai đoạn 2026 - 2030 như sau:
Thứ nhất, quy mô và số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được mở rộng, thu hút đầu tư tăng, nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại, du lịch và dịch vụ; số lượng lao động tăng lên, lao động dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp diễn ra mạnh hơn. Tuy vậy, chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu, phần lớn lao động làm việc trong các lĩnh vực thâm dụng lao động, trình độ, tay nghề còn hạn chế, kéo theo yêu cầu nâng cao kỹ năng, kỷ luật lao động và ý thức tuân thủ pháp luật lao động.
Thứ hai, quan hệ lao động ngày càng mở rộng về phạm vi và phức tạp về tính chất. Quan hệ lao động không chỉ tập trung tại các khu, cụm công nghiệp mà lan rộng sang khu vực dịch vụ, du lịch, xây dựng, logistics và các doanh nghiệp nhỏ, vừa phân bố tại nhiều địa bàn nông thôn sau điều chỉnh đơn vị hành chính. Các vấn đề dễ phát sinh trong quan hệ lao động tập trung vào tiền lương, thời giờ làm việc, hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội và điều kiện làm việc.
Thứ ba, nguy cơ phát sinh tranh chấp lao động có xu hướng gia tăng về số lượng, chủ yếu là tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp tập thể quy mô nhỏ, mang tính cục bộ, nếu công tác đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và vai trò của CĐCS không được củng cố kịp thời. Tuy nhiên, khả năng xảy ra đình công lớn, kéo dài là không cao nếu các thiết chế quan hệ lao động được vận hành hiệu quả.
Thứ tư, yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước về quan hệ lao động ngày càng cao trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Công tác tuyên truyền pháp luật lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; nâng cao năng lực cho hòa giải viên lao động, công đoàn cơ sở; tăng cường đối thoại, thương lượng tập thể sẽ là những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2026 - 2030.
Thứ năm, việc thực hiện quyền thành lập tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là bước tiến quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do hiệp hội và nâng cao vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tuy nhiên, trong điều kiện tại một số doanh nghiệp cùng tồn tại nhiều tổ chức đại diện người lao động, nếu thiếu cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin và thống nhất hành động, có thể phát sinh những khác biệt về quan điểm, phương thức hoạt động, tiềm ẩn nguy cơ tác động đến tính ổn định của quan hệ lao động. Bên cạnh đó, việc chấp hành pháp luật lao động của một bộ phận người sử dụng lao động chưa nghiêm, vẫn còn xảy ra vi phạm các quy định về lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động và bảo đảm quyền của người lao động. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cần tăng cường công tác hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các tổ chức đại diện người lao động, đồng thời nâng cao trách nhiệm tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động, nhằm xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp.
2. Quan điểm
Phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên của cả hệ thống chính trị.
Phát huy vai trò của Nhà nước, công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích các bên. Gắn xây dựng quan hệ lao động với ổn định xã hội, cải thiện môi trường đầu tư và hội nhập quốc tế.
3. Mục tiêu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo tại Chỉ thị số 37-CT/TW, đề ra những nhiệm vụ, giải pháp mang tính đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế trong tình hình mới, phát huy tối đa năng lực và sự phối kết hợp giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan, tổ chức trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lao động, thúc đẩy các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giảm đến mức thấp nhất việc xảy ra tranh chấp lao động, đình công không đúng trình tự quy định của pháp luật. Đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ lao động, đảm bảo môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp phát triển, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
3.2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
- Các đơn vị quản lý nhà nước về quan hệ lao động ở các cấp đều được củng cố, kiện toàn về tổ chức và hoạt động; trong đó, Sở Nội vụ, Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh phấn đấu bố trí được ít nhất 01 cán bộ chuyên trách về quan hệ lao động tại mỗi cơ quan; 100% cán bộ quản lý nhà nước về quan hệ lao động được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý và hỗ trợ quan hệ lao động phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới.
- 80% các doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định đều thành lập CĐCS. Mỗi năm kết nạp mới từ 2.800 đến 3.000 đoàn viên công đoàn tại các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Các doanh nghiệp có CĐCS tổ chức đối thoại định kỳ ít nhất 01 năm/lần và tổ chức chức hội nghị người lao động hàng năm.
- 80% cán bộ Ban chấp hành, Ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được tham gia tập huấn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng về quan hệ lao động khi được bầu vào Ban chấp hành, Ban lãnh đạo.
- 90% doanh nghiệp có tổ chức đại diện người lao động đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật tiến hành thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động tập thể.
- 80% doanh nghiệp sử dụng từ 10 lao động trở lên đăng ký Nội quy lao động tại Sở Nội vụ.
- Củng cố, kiện toàn đội ngũ hòa giải viên lao động; 100% hòa giải viên lao động được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hỗ trợ quan hệ lao động và hòa giải tranh chấp lao động.
- Hoàn thành việc kiện toàn hội đồng trọng tài lao động, đảm bảo 100% trọng tài viên lao động được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về quan hệ lao động, giải quyết tranh chấp lao động; phân công và tổ chức thực hiện chức năng đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động, đảm bảo các cơ chế tiếp nhận, phân công và hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động diễn ra kịp thời, hiệu quả.
- 80% các hoạt động về quan hệ lao động hài hòa được ứng dụng chuyển đổi số.
II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ
Các sở, ban, ngành cấp tỉnh; UBND cấp xã phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng, cấp ủy, Liên đoàn Lao động và Công đoàn các cấp tiếp tục quán triệt, triển khai hiệu quả Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 03/9/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong tình hình mới.
Nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa gắn với ổn định chính trị - xã hội, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển kinh tế và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tiếp tục xác định rõ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, người sử dụng lao động, người lao động và toàn xã hội. Trên cơ sở đó, bố trí nhân lực, kinh phí phù hợp để tổ chức thực hiện hiệu quả trong thời gian tới.
* Đơn vị chủ trì: Các sở, ban, ngành cấp tỉnh; UBND cấp xã.
* Đơn vị phối hợp: Liên đoàn lao động tỉnh.
2. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và hỗ trợ phát triển quan hệ lao động
Củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về quan hệ lao động các cấp; bố trí cán bộ chuyên trách theo phân cấp; xây dựng và triển khai kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước; tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh.
Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động, công đoàn cho người lao động và người sử dụng lao động, nhất là tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, tăng cường truyền thông trên nền tảng số, mạng xã hội nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.
Tăng cường quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; bảo đảm các tổ chức này hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và phát triển quan hệ lao động ổn định, tiến bộ.
Ứng dụng, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động phục vụ công tác quản lý nhà nước và hỗ trợ đối thoại, thương lượng tập thể; tăng cường phối hợp, tham vấn ba bên trong hoạch định chính sách và giải quyết các vấn đề về lao động tại địa phương.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật lao động; đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, giảm thiểu tranh chấp lao động.
* Đơn vị chủ trì: Sở Nội vụ.
* Đơn vị phối hợp: Công an tỉnh; Sở Tư pháp; Sở Tài chính; Liên đoàn Lao động tỉnh; Liên minh HTX; Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh; UBND cấp xã.
3. Thúc đẩy đối thoại, thương lượng tập thể và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Hỗ trợ nâng cao năng lực, kỹ năng đối thoại, thương lượng tập thể cho các chủ thể quan hệ lao động, đặc biệt là tổ chức đại diện người lao động và người sử dụng lao động trong doanh nghiệp; bảo đảm hoạt động đối thoại, thương lượng tuân thủ quy định của Bộ luật Lao động hiện hành.
Khuyến khích, hỗ trợ thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành; từng bước nhân rộng mô hình, hình thành tiếng nói chung nhằm nâng cao chất lượng quan hệ lao động trong các nhóm, ngành doanh nghiệp.
Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các bên trong quan hệ lao động; bảo đảm tranh chấp lao động được hòa giải, giải quyết kịp thời, đúng trình tự pháp luật; hạn chế tối đa đình công, không để xảy ra đình công trái pháp luật trên địa bàn tỉnh.
* Đơn vị chủ trì: Liên đoàn Lao động tỉnh.
* Đơn vị phối hợp: Sở Nội vụ; Sở Tư pháp; Bảo hiểm xã hội; Liên minh HTX; Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh; UBND cấp xã.
4. Nâng cao năng lực và hiệu quả các thiết chế hòa giải, giải quyết tranh chấp lao động
Thường xuyên rà soát, kiện toàn đội ngũ hòa giải viên, trọng tài viên lao động bảo đảm đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng và chuyên môn.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của hòa giải viên, trọng tài viên lao động thông qua việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động tập thể, hỗ trợ xử lý đình công không đúng trình tự, đồng thời phòng ngừa tranh chấp phát sinh.
Thiết lập đầu mối tiếp nhận, phân công rõ trách nhiệm trong giải quyết tranh chấp lao động; bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, thông suốt giữa các thiết chế theo quy định của pháp luật, hạn chế can thiệp hành chính không cần thiết.
Chủ động phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động; kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng, kích động, gây rối.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông số trong tuyên truyền pháp luật lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên, góp phần ổn định quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh.
* Đơn vị chủ trì: Sở Nội vụ.
* Đơn vị phối hợp: Liên đoàn Lao động tỉnh; Bảo hiểm xã hội; Liên minh HTX; Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh; UBND cấp xã.
5. Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động
Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và nâng cao vai trò của công đoàn trong đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên và người lao động.
Xây dựng, triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn theo vị trí việc làm, chú trọng kỹ năng đối thoại, thương lượng, xử lý tình huống phát sinh trong thực tiễn; xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn có bản lĩnh, trình độ và trách nhiệm.
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, tư vấn pháp luật lao động cho đoàn viên, người lao động, nhất là tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS tại doanh nghiệp đủ điều kiện; nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn tại cơ sở.
Tăng cường giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động theo quy định; tiếp tục chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên, người lao động, nhất là người lao động có hoàn cảnh khó khăn.
* Đơn vị chủ trì: Liên đoàn Lao động tỉnh.
* Đơn vị phối hợp: Sở Nội vụ; Bảo hiểm xã hội; Liên minh HTX; Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh; UBND cấp xã.
6. Ứng dụng chuyển đổi số trong quan hệ lao động
Hoàn thiện cơ sở dữ liệu dùng chung về cung - cầu lao động, tiến tới quản lý số hóa hợp đồng lao động và dữ liệu bảo hiểm xã hội bảo đảm minh bạch, thuận lợi cho người lao động và cơ quan quản lý.
Triển khai các nền tảng tương tác trực tuyến giữa cơ quan quản lý, tổ chức công đoàn, người sử dụng lao động và người lao động để tiếp nhận, xử lý kịp thời kiến nghị, tranh chấp ngay từ cơ sở.
Khuyến khích sử dụng hợp đồng lao động điện tử; xây dựng sàn giao dịch việc làm trực tuyến gắn với phân tích dữ liệu nhằm dự báo nhu cầu thị trường lao động, phục vụ công tác giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm.
* Đơn vị chủ trì: Sở Nội vụ; Liên đoàn Lao động tỉnh.
* Đơn vị phối hợp: Sở Tài chính; Sở Khoa học và Công nghệ; Liên minh HTX; Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh; UBND cấp xã.
7. Triển khai các chính sách phúc lợi cho người lao động
Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển nhà ở, công trình phúc lợi xã hội, thiết chế công đoàn và các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, qua đó góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trên địa bàn tỉnh.
* Đơn vị chủ trì: Liên đoàn Lao động tỉnh.
* Đơn vị phối hợp: Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Nội vụ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh; UBND cấp xã.
Phần IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. KINH PHÍ THỰC HIỆN
Kinh phí thực hiện Đề án được bảo đảm từ ngân sách nhà nước và các nguồn huy động hợp pháp khác, bao gồm:
Ngân sách nhà nước theo khả năng cân đối và phân cấp ngân sách hiện hành.
Nguồn kinh phí từ các Chương trình mục tiêu quốc gia (nếu có), các chương trình, kế hoạch, dự án có liên quan.
Nguồn tài trợ, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
II. PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
1. Sở Nội vụ
Là cơ quan thường trực tham mưu UBND tỉnh chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành, UBND cấp xã và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức thực hiện Đề án; định kỳ hằng năm tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh và Bộ Nội vụ theo quy định.
Chủ trì tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật An toàn, vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành; bồi dưỡng kỹ năng đối thoại, thương lượng tập thể cho người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động.
Phối hợp tổ chức các hội nghị đối thoại với doanh nghiệp nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực thi pháp luật lao động và các quy định có liên quan đến quan hệ lao động.
Chủ trì thẩm định hồ sơ thành lập, giải thể tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp; tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động đúng quy định pháp luật.
Ứng dụng, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động phục vụ quản lý nhà nước và hỗ trợ đối thoại, thương lượng tập thể.
Tham mưu UBND tỉnh thành lập, kiện toàn Hội đồng trọng tài lao động; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hòa giải viên, trọng tài viên lao động và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý quan hệ lao động; tham mưu giải quyết tranh chấp lao động, đình công trên địa bàn tỉnh.
Tăng cường kiểm tra, phối hợp thanh tra việc chấp hành pháp luật lao động; kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm và giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động.
2. Sở Tài chính
Sở Tài chính thẩm định dự toán, căn cứ khả năng cân đối của ngân sách tỉnh để tham mưu UBND tỉnh cấp kinh phí cho các đơn vị theo quy định.
Tham mưu UBND tỉnh tổ chức đối thoại giữa chính quyền với doanh nghiệp; tập trung vào các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Phối hợp cung cấp thông tin, số liệu về doanh nghiệp phục vụ công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm và báo cáo tình hình sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh.
3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chỉ đạo các cơ quan thông tin, báo chí đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và của tỉnh về quan hệ lao động. Phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, nâng cao đời sống tinh thần cho công nhân lao động, góp phần xây dựng doanh nghiệp phát triển bền vững.
4. Sở Khoa học và Công nghệ
Phối hợp với Sở Nội vụ hướng dẫn kết nối, chia sẻ dữ liệu về người lao động, thị trường lao động với các cơ quan, đơn vị liên quan theo hướng dẫn của Trung ương. Hướng dẫn, tập huấn triển khai các nền tảng tương tác trực tuyến giữa cơ quan quản lý, tổ chức công đoàn, người sử dụng lao động và người lao động để tiếp nhận, xử lý kịp thời kiến nghị, tranh chấp ngay từ cơ sở.
5. Sở Xây dựng
Triển khai thực hiện Đề án phát triển nhà ở xã hội cho công nhân, người thu nhập thấp theo Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 03/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ.
Tham mưu đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ nhà ở cho công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
6. Thanh tra tỉnh
Tăng cường công tác thanh tra việc chấp hành pháp luật lao động; kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm phát sinh trong quan hệ lao động.
7. Công an tỉnh
Bảo đảm an ninh, trật tự tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, doanh nghiệp khi xảy ra tranh chấp lao động, đình công.
Chủ động nắm tình hình, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng, kích động gây mất an ninh trật tự. Phối hợp quản lý việc thành lập, hoạt động của tổ chức đại diện người lao động theo đúng quy định pháp luật; cung cấp thông tin lao động theo dữ liệu dân cư.
8. Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh
Chủ trì triển khai các nhiệm vụ của Đề án trong các khu kinh tế, khu công nghiệp. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động; chủ động nắm tình hình, kịp thời giải quyết các mâu thuẫn phát sinh, không để tranh chấp kéo dài.
Phối hợp phát triển tổ chức công đoàn cơ sở; tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội.
Chủ động phối hợp xử lý đình công theo đúng quy định pháp luật.
9. Các sở, ban, ngành cấp tỉnh và các đơn vị liên quan
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ để triển khai thực hiện Đề án; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện gửi Sở Nội vụ tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh và Bộ Nội vụ.
10. UBND cấp xã
Xây dựng Kế hoạch để tổ chức triển khai thực hiện Đề án tại địa phương; bảo đảm nguồn lực thực hiện có hiệu quả Đề án.
Đẩy mạnh tuyên truyền về pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, công đoàn.
Tăng cường kiểm tra, theo dõi, kịp thời hòa giải, giải quyết tranh chấp lao động; phối hợp bảo đảm an ninh trật tự.
Giới thiệu nhân sự đủ điều kiện tham gia làm hòa giải viên lao động theo quy định.
11. Bảo hiểm xã hội tỉnh
Thực hiện các giải pháp giảm tình trạng chậm đóng, trốn đóng, nợ đọng bảo hiểm xã hội.
Tăng cường kiểm tra, phối hợp thanh tra xử lý vi phạm theo quy định.
Đẩy mạnh tuyên truyền, đối thoại chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
12. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức đoàn thể
Tuyên truyền, giám sát, phản biện việc thực hiện chính sách, pháp luật về lao động.
Liên đoàn Lao động tỉnh phát huy vai trò, trách nhiệm và nâng cao chất lượng trong tham gia xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến người lao động; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, chính quyền các cấp chỉ đạo triển khai Luật thực hiện Dân chủ ở cơ sở; tuyên truyền, giám sát, phản biện việc thực hiện chính sách, pháp luật về lao động. Phối hợp nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn; thúc đẩy đối thoại, thương lượng tập thể; chăm lo đời sống người lao động.
Phối hợp thanh tra, kiểm tra, giám sát và chủ trì giám sát việc thực thi Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật BHXH, Luật ATVSLĐ và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động; đồng thời hỗ trợ tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng đàm phán, thương lượng, ký kết TƯLĐTT cho cán bộ công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp.
13. Hội doanh nghiệp tỉnh, Liên minh HTX tỉnh, tổ chức đại diện người sử dụng lao động
Phối hợp triển khai Đề án có hiệu quả; tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp chấp hành pháp luật lao động; tham gia đối thoại, thương lượng tập thể.
14. Các doanh nghiệp, tổ chức có sử dụng lao động
Chấp hành nghiêm pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Phối hợp thành lập tổ chức công đoàn cơ sở và tổ chức đại diện người lao động theo quy định; tạo điều kiện cho đối thoại, thương lượng tập thể.
III. CHẾ ĐỘ THÔNG TIN, BÁO CÁO
Các cơ quan, đơn vị, địa phương và các tổ chức có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện "Đề án phát triển quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong tình hình mới, giai đoạn 2026 - 2030"; hằng năm báo cáo tình hình triển khai thực hiện gửi Sở Nội vụ trước ngày 05/11 để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Nội vụ./.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh