Quyết định 118/QĐ-UBND năm 2026 phê duyệt Đề án "Nâng cao năng lực hệ thống y tế thành phố Hải Phòng triển khai Nghị quyết 72-NQ/TW về giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân"
| Số hiệu | 118/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 12/01/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 12/01/2026 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Hải Phòng |
| Người ký | Vũ Tiến Phụng |
| Lĩnh vực | Thể thao - Y tế |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 118/QĐ-UBND |
Hải Phòng, ngày 12 tháng 01 năm 2026 |
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 09 tháng 01 năm 2023;
Căn cứ Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Luật Phòng bệnh ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật Dân số ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số 261/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân;
Căn cứ Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
Căn cứ Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Ban Bí thư về tiếp tục củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị quyết số 282/NQ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
Căn cứ Nghị quyết số 09-NQ/ĐH ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030;
Căn cứ Chương trình hành động số 03-CTr/TU ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
Căn cứ Kế hoạch số 346/KH-UBND ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp đột phá, tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế tại Tờ trình số 347/TTr-SYT ngày 30 tháng 12 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế thành phố Hải Phòng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân”.
Điều 2. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký ban hành, thay thế Quyết định số 4668/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế công lập thành phố Hải Phòng đến năm 2030” và Quyết định số 3315/QĐ-UBND ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương phê duyệt Đề án Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tuyến tỉnh, giai đoạn 2025-2030”.
Điều 3. Giao Sở Y tế phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án; bảo đảm công bằng, tiết kiệm, hiệu quả, theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 4. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố; Giám đốc các Sở: Y tế, Tài chính và các sở, ban, ngành, đoàn thể thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu; Giám đốc/Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Sở Y tế và các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
NÂNG CAO NĂNG LỰC HỆ THỐNG Y TẾ THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 72-NQ/TW, NGÀY 09/9/2025 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ, TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN
(Kèm
theo Quyết định số 118/QĐ-UBND ngày 12/01/2026 của Ủy ban nhân dân thành phố
Hải Phòng)
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 118/QĐ-UBND |
Hải Phòng, ngày 12 tháng 01 năm 2026 |
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 09 tháng 01 năm 2023;
Căn cứ Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Luật Phòng bệnh ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật Dân số ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số 261/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân;
Căn cứ Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
Căn cứ Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Ban Bí thư về tiếp tục củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị quyết số 282/NQ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
Căn cứ Nghị quyết số 09-NQ/ĐH ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030;
Căn cứ Chương trình hành động số 03-CTr/TU ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
Căn cứ Kế hoạch số 346/KH-UBND ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp đột phá, tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế tại Tờ trình số 347/TTr-SYT ngày 30 tháng 12 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế thành phố Hải Phòng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân”.
Điều 2. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký ban hành, thay thế Quyết định số 4668/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế công lập thành phố Hải Phòng đến năm 2030” và Quyết định số 3315/QĐ-UBND ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương phê duyệt Đề án Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tuyến tỉnh, giai đoạn 2025-2030”.
Điều 3. Giao Sở Y tế phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung của Đề án; bảo đảm công bằng, tiết kiệm, hiệu quả, theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 4. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố; Giám đốc các Sở: Y tế, Tài chính và các sở, ban, ngành, đoàn thể thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu; Giám đốc/Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Sở Y tế và các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
NÂNG CAO NĂNG LỰC HỆ THỐNG Y TẾ THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 72-NQ/TW, NGÀY 09/9/2025 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ, TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN
(Kèm
theo Quyết định số 118/QĐ-UBND ngày 12/01/2026 của Ủy ban nhân dân thành phố
Hải Phòng)
I. CĂN CỨ VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1. Cơ sở chính trị
- Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập;
- Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
- Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
- Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 25/10/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở trong tình hình mới;
- Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
- Thông báo số 176-TB/VPTW, ngày 25/4/2025 của Văn phòng Trung ương Đảng về thông báo Kết luận của Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với đại diện Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về đánh giá kết quả thực hiện các nghị quyết của trung ương về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và định hướng công tác thời gian tới;
- Thông báo số 397-TB/VPTW, ngày 29/10/2025 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của Đồng chí Thường trực Ban Bí thư tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế và các ban, bộ, ngành Trung ương về triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị.
- Nghị quyết 07-NQ/TU, ngày 02/8/2018 của Ban Thường vụ Thành ủy về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trở thành Trung tâm Y tế Vùng duyên hải Bắc Bộ;
- Chương trình hành động số 03-CTr/TU, ngày 30/10/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
- Thông báo số 09-TB/VPTU, ngày 13/11/2025 của Văn phòng Thành ủy thông báo ý kiến của Đồng chí Bí thư Thành ủy về việc xây dựng Đề án Nâng cao năng lực hệ thống y tế thành phố Hải Phòng;
- Thông báo số 205-TB/TU, ngày 26/12/2025 thông báo ý kiến của Thường trực Thành ủy và Thông báo số 213-TB/TU ngày 29/12/2025 thông báo ý kiến của Ban Thường vụ Thành ủy về Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế thành phố Hải Phòng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân”.
1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 09/01/2023;
- Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm ngày 21/11/2007;
- Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh;
- Nghị quyết số 226/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội khóa XV về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng;
- Nghị quyết số 261/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân;
- Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
- Nghị quyết số 282/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
- Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 111/2025/NĐ-CP ngày 22/5/2025 của Chính phủ;
- Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Thông tư số 03/2023/TT-BYT ngày 17/02/2023 của Bộ Y tế hướng dẫn vị trí việc làm, định mức số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập;
- Thông báo số 48/TB-HĐND ngày 05/9/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng thông báo kết luận của Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố tại Hội nghị làm việc với Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp;
- Quyết định số 4668/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế công lập thành phố Hải Phòng đến năm 2030”;
- Kế hoạch số 346/KH-UBND ngày 26/12/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp đột phá, tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Hải Phòng là thành phố cảng lâu đời, là đô thị loại I trực thuộc Trung ương, giữ vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và an ninh quốc phòng then chốt của khu vực Duyên hải Bắc Bộ. Nằm tại vị trí chiến lược, đây là đầu mối giao thông quan trọng và là cửa ngõ ra biển chính của các tỉnh phía Bắc Việt Nam cũng như khu vực Tây Nam Trung Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương, kết nối liên vùng và quốc tế.
Cùng với Hà Nội và Quảng Ninh, Hải Phòng tạo thành "tam giác phát triển" - ba cực tăng trưởng chính của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Thành phố đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển kinh tế biển, đảo quốc gia với mô hình phát triển toàn diện trên nhiều lĩnh vực: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, nông và ngư nghiệp.
Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, Hải Phòng hiện có diện tích 3.194,72 km² với quy mô dân số 4.664.124 người. Về tổ chức hành chính, thành phố gồm 114 đơn vị cấp xã (45 phường, 67 xã và 2 đặc khu), tiếp tục khẳng định vị thế của một đô thị hiện đại, năng động và là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng của cả nước. Đồng thời, có điều kiện thu hút nhiều lao động, nhất là lao động có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu cho nhiều ngành, nghề, lĩnh vực, trong đó có y tế để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, phát triển an sinh xã hội.
Quy mô kinh tế thành phố Hải Phòng không ngừng được mở rộng, tốc độ tăng trưởng cao. Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) giai đoạn 2021- 2025 ước tăng bình quân 11,39%/năm; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Hải Phòng tăng trưởng liên tục 04 năm liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng, giai đoạn 2021 - 2025 đạt 543.600,86 tỷ đồng, bình quân tăng 7,06%/năm; thu nội địa tăng 9,27%/năm. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2021 - 2025 đạt 125.994 tỷ đồng, bình quân tăng 13,3%/năm thu nội địa tăng 13,9%/năm. Với vị trí và vai trò của mình, Hải Phòng đủ điều kiện ban hành các cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để phát triển y tế xứng tầm với vị trí thứ 3 toàn quốc về kinh tế.
Thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương đã thực hiện sáp nhập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025.
Trước sáp nhập, Ủy ban nhân dân thành phố đã triển khai xây dựng và phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế công lập đến năm 2030” tại Quyết định số 4668/QĐ-UBND ngày 29/12/2023; Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã triển khai xây dựng và phê duyệt Đề án “Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tuyến tỉnh, giai đoạn 2025-2030” tại Quyết định số 3315/QĐ-UBND ngày 16/12/2024. Sau gần 02 năm triển khai thực hiện các Đề án, ngành y tế thành phố Hải Phòng bước đầu đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận[1], góp phần quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Hải Phòng thành Trung tâm y tế Vùng duyên hải Bắc Bộ.
Tại Nghị quyết số 09-NQ/ĐH ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đã đặt ra mục tiêu đưa Hải Phòng trở thành ”Thành phố chăm sóc sức khỏe toàn dân, toàn diện”.
Tại Hội nghị Thành ủy lần thứ 2, nhiệm kỳ 2025–2030, theo Kết luận số 07-KL/TU ngày 13/7/2025, Thành ủy Hải Phòng đã giao Đảng ủy Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo việc rà soát, đề xuất điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nội dung Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế công lập thành phố Hải Phòng đến năm 2030”. Trong quá trình tham mưu xây dựng Đề án, Sở Y tế đã rà soát, tổng hợp nhu cầu thực tiễn của ngành y tế, đồng thời nghiên cứu, bổ sung các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực y tế, đặc biệt là Nghị quyết số 261/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị và thực tiễn của thành phố để xây dựng Đề án.
Việc xây dựng và hoàn thiện Đề án là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn hiện nay, nhằm bảo đảm sự phát triển đồng bộ, toàn diện của ngành y tế thành phố. Đề án hướng tới mục tiêu phát triển mạnh mẽ cả y tế chuyên sâu và y tế cơ sở; nâng cao năng lực y tế công lập, đồng thời thúc đẩy sự phối hợp hài hòa với khu vực y tế ngoài công lập, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân trên toàn địa bàn thành phố.
3. Sự cần thiết xây dựng Đề án
Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể của thành phố đã quán triệt sâu sắc, bám sát quan điểm, mục tiêu và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết quan trọng của Trung ương và của thành phố, nổi bật là các Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 02/8/2018 của Ban Thường vụ Thành ủy về xây dựng và phát triển Hải Phòng trở thành Trung tâm y tế vùng Duyên hải Bắc Bộ, cùng các mục tiêu, nhiệm vụ được xác định tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030. Việc triển khai các nghị quyết này đã tạo nền tảng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trên địa bàn thành phố.
Tại Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị, ngoài việc khẳng định những thành tựu nổi bật của Việt Nam về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, đồng thời đã chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế và thách thức mang tính toàn diện, từ bảo vệ môi trường sống, rèn luyện sức khỏe, bảo đảm an toàn thực phẩm, dinh dưỡng đến y tế dự phòng, y tế cơ sở; sự chênh lệch trong khả năng tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng, miền; hạn chế trong chăm sóc sức khỏe các nhóm yếu thế; những bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực y tế; việc phát huy y học cổ truyền, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số y tế và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển y tế tư nhân còn nhiều khó khăn; ... Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có các giải pháp đột phá, đồng bộ và mang tính chiến lược.
Đối với thành phố Hải Phòng, mục tiêu xây dựng “Thành phố chăm sóc sức khỏe toàn dân, toàn diện” và phát triển trở thành Trung tâm y tế của vùng Duyên hải Bắc Bộ đòi hỏi hệ thống y tế phải được nâng cao năng lực một cách toàn diện và bền vững. Thực tiễn cho thấy, nếu không có sự đầu tư tập trung, có trọng tâm, trọng điểm và lộ trình rõ ràng, thành phố sẽ khó đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của Nhân dân, dẫn đến tình trạng chuyển tuyến điều trị lên Trung ương hoặc các nước có nền y học tiên tiến, hiện đại; đồng thời chưa phát huy đầy đủ vai trò của y tế trong bảo đảm an sinh xã hội, giảm bất bình đẳng và hỗ trợ các nhóm yếu thế dựa vào cộng đồng.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một Đề án tổng thể, nhằm định hướng và tổ chức triển khai đồng bộ các giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng và thiết bị y tế ; đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; ứng dụng các kỹ thuật y học hiện đại, chuyên sâu; đẩy mạnh chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả hệ thống bảo trợ và dịch vụ an sinh xã hội là yêu cầu khách quan và cấp bách. Đề án không chỉ là công cụ cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Trung ương và của thành phố, mà còn là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực hệ thống y tế, từng bước thực hiện tự chủ tài chính đối với các đơn vị y tế công lập giai đoạn 2026–2030, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025–2030 đã đề ra.
Vì vậy, việc thành phố Hải Phòng xây dựng Đề án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế thành phố Hải Phòng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa chiến lược và lâu dài, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong giai đoạn mới.
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NGÀNH Y TẾ
I. HỆ THỐNG NGÀNH Y TẾ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1. Các cơ quan, đơn vị thuộc lĩnh vực y tế
1.1. Các cơ sở y tế công lập
Cơ sở y tế công lập trực thuộc Sở Y tế có 65 đơn vị, gồm: 02 Chi cục; 19 bệnh viện tuyến thành phố (trong đó, gồm có 03 bệnh viện đa khoa, 16 bệnh viện chuyên khoa); 07 Trung tâm chuyên khoa; 05 Trung tâm bảo trợ xã hội; 05 Bệnh viện đa khoa khu vực; 27 Trung tâm y tế khu vực. Tổng quy mô giường bệnh của các cơ sở có giường bệnh điều trị nội trú là 13.081 giường bệnh (8.079 giường bệnh tại tuyến thành phố và 5.002 giường bệnh tại tuyến cơ sở).
Từ 01/01/2026, toàn thành phố có 114 Trạm Y tế cấp xã và các điểm trạm là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu.
Bên cạnh đó, trên địa bàn thành phố có 07 bệnh viện trực thuộc các Bộ, ngành Trung ương, với tổng quy mô 1.660 giường bệnh, góp phần quan trọng trong công tác khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân.
1.2. Các cơ sở y tế ngoài công lập
Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 13 bệnh viện tư nhân với tổng quy mô 2.174 giường bệnh; cùng với đó là 89 phòng khám đa khoa, 1.503 phòng khám chuyên khoa, 269 phòng chẩn trị y học cổ truyền, 151 cơ sở dịch vụ y tế và 5 cơ sở vận chuyển cấp cứu.
1.3. Các cơ sở bảo trợ xã hội
Sau khi thực hiện sắp xếp, tinh gọn, thành phố Hải Phòng hiện có 05 cơ sở bảo trợ xã hội công lập và có 17 cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập[2]. Trong những năm qua, Trung ương và thành phố đã quan tâm bố trí kinh phí để sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất cho các cơ sở bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, hiện nay nhiều cơ sở vẫn còn gặp khó khăn về điều kiện hạ tầng, trang thiết bị và nguồn lực vận hành; do đó, cần tiếp tục được đầu tư, nâng cấp để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao trong công tác chăm sóc và hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội.
Nhân lực y tế của thành phố hiện có 25.271 người (Bác sĩ: 5.661 người; dược sĩ đại học trở lên: 1.089 người; dược sĩ cao đẳng, trung cấp: 2.522 người; y sĩ: 1.310 người; điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên: 11.584 người). Trong đó, tổng số công chức, viên chức và người lao động hiện có trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế là 17.781 người. Cụ thể:
2.1. Số lượng nhân lực
- Tổng số người làm việc theo định mức tối thiểu tại các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn thành phố hiện là 21.626 chỉ tiêu. Trong đó, 13 đơn vị sự nghiệp tự chủ nhóm 1 và nhóm 2 có 8.555 chỉ tiêu; 50 đơn vị sự nghiệp tự chủ nhóm 3 và nhóm 4 có 13.071 chỉ tiêu.
- Về biên chế và số lượng người làm việc được giao năm 2025: Biên chế hành chính được giao sau khi hợp nhất là 127 biên chế. Đối với 50 đơn vị sự nghiệp tự chủ nhóm 3 và nhóm 4, tổng số người làm việc được giao là 12.248 chỉ tiêu. Riêng 13 đơn vị sự nghiệp tự chủ nhóm 1 và nhóm 2, được quyền tự quyết định số lượng người làm việc theo định mức do Bộ Y tế hướng dẫn.
- Số nhân lực hiện có 17.781 người, gồm: 126 công chức hành chính và 17.656 viên chức, lao động hợp đồng chuyên môn trong định mức, số người làm việc được giao (đơn vị tự chủ nhóm 1, 2 là 7.238 người; đơn vị tự chủ nhóm 3, 4 là 10.418 người)[3]. Nhân lực chuyên môn y tế có 3.682 bác sĩ; 403 dược sĩ đại học; 585 dược sĩ cao đẳng, trung cấp; 883 y sĩ; 9.313 điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên. Số nhân lực hiện có tại các đơn vị sự nghiệp đạt 81,6% so định mức tối thiểu quy định, thiếu 3.845 người[4].
2.2. Chất lượng, cơ cấu, phân bổ nhân lực tại các đơn vị sự nghiệp
Tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân của thành phố hiện đạt 14,46 bác sĩ/vạn dân; tỷ lệ dược sĩ đại học đạt 4,1 dược sĩ/vạn dân. Trong các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế, tổng số nhân lực có trình độ đại học trở lên là 10.304 người, chiếm 58,67% tổng nhân lực. Tỷ lệ bác sĩ có trình độ sau đại học chiếm 45,24% (1.653/3.654); tỷ lệ dược sĩ có trình độ sau đại học chiếm 39,81% (387/972).
Về phân bổ nhân lực theo tuyến: tuyến thành phố chiếm 51,65%, tuyến khu vực chiếm 31,91%, tuyến xã chiếm 16,44%. Tỷ lệ bác sĩ tại tuyến thành phố là 55,96%, tuyến khu vực là 34,51%, tuyến xã là 9,53%. Hiện có 298/375 trạm y tế (69,5%) có bác sĩ.
Theo quy định tại Thông tư số 03/2023/TT-BYT của Bộ Y tế, dự kiến đến năm 2030, hệ thống y tế công lập trên địa bàn thành phố cần bổ sung thêm: 844 bác sĩ, 120 dược sĩ đại học, 806 điều dưỡng, 169 hộ sinh và 284 kỹ thuật viên y.
Ngoài ra để đáp ứng mục tiêu, để đáp ứng mục tiêu đến năm 2027 mỗi trạm y tế có ít nhất từ 4-5 bác sĩ và đến năm 2030 ngành y tế đạt 19 bác sĩ/vạn dân và 33 điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên y/vạn dân, cần bổ sung thêm 2.889 bác sĩ và 3.302 điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên y. Riêng các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế cần bổ sung 2.455 bác sĩ và 2.807 điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên y để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành trong giai đoạn tới.
2.3. Tuyển dụng, đào tạo nhân viên y tế tại cơ sở y tế
Công tác đào tạo và tuyển dụng nhân lực luôn được Sở Y tế chú trọng. Trong năm 2023, có 405 viên chức được đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ chuyên môn; con số này tăng lên 466 viên chức trong năm 2024[5]. Năm 2024, Sở Y tế đã tuyển dụng tổng cộng 807 viên chức, bao gồm: 336 bác sĩ, 405 điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y và 66 dược sĩ. Trong 7 tháng đầu năm 2025, tiếp tục tuyển dụng thêm 244 viên chức, gồm: 112 bác sĩ, 114 điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y và 18 dược sĩ.
2.4. Chính sách hỗ trợ đào tạo, thu hút, đãi ngộ nguồn nhân lực y tế
Trong thời gian qua, thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương (trước sáp nhập) đã ban hành nhiều chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ đào tạo, thu hút, đãi ngộ nguồn nhân lực y tế[6].
Kết quả, tại Hải Phòng năm 2024, tổng kinh phí thực hiện là 32,78 tỷ đồng, trong đó kinh phí hỗ trợ đào tạo 16,79 tỷ đồng, kinh phí hỗ trợ tăng cường chuyên môn cho tuyến dưới 0,55 tỷ đồng, kinh phí thực hiện chế độ đãi ngộ 15,93 tỷ đồng[7]. Năm 2025, kinh phí thực hiện dự kiến là 50,6 tỷ đồng (đào tạo văn bằng, chứng chỉ hơn 250 người; tăng cường chuyên môn cho 4 đơn vị với 18 bác sĩ; chuyển giao 23 kỹ thuật cho 6 đơn vị; thực hiện chế độ đãi ngộ cho 4.178 viên chức).
Tại Hải Dương, tổng kinh phí đã thực hiện là 33,55 tỷ đồng, trong đó: kinh phí hỗ trợ đào tạo 17,5 tỷ đồng, kinh phí thực hiện thu hút bác sĩ 12,0 tỷ đồng, kinh phí thực hiện chế độ đãi ngộ bác sĩ công tác tại trạm y tế tuyến xã 4,05 tỷ đồng[8].
Theo các tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực y tế, nhiều đơn vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn đều chưa đạt chỉ tiêu diện tích sàn bình quân (m2/giường bệnh): có 09/49 đơn vị đạt chỉ tiêu diện tích sàn bình quân (80m2/giường bệnh) theo tiêu chuẩn[9].
Hiện trạng cơ sở vật chất tại các cơ sở y tế công lập trên địa bàn thành phố nhìn chung đang trong tình trạng xuống cấp; công tác bảo trì, bảo dưỡng định kỳ chưa được thực hiện thường xuyên. Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhờ sự quan tâm của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố cùng với sự phối hợp, ủng hộ của các cấp, các ngành, ngành Y tế đã và đang được tập trung đầu tư mạnh mẽ, đặc biệt là về cơ sở hạ tầng, góp phần cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân.
Tuy nhiên, nếu không được đầu tư đúng hướng, dự kiến đến năm 2030, chỉ khoảng 35,8% cơ sở hạ tầng tại các cơ sở y tế đảm bảo điều kiện phục vụ hoạt động khám, chữa bệnh. Khoảng 64,2% còn lại đang trong tình trạng xuống cấp, cần được cải tạo, sửa chữa hoặc đầu tư xây mới để thay thế. Đáng lưu ý, nhiều Trạm Y tế xã, phường và đặc khu hiện đã xuống cấp nghiêm trọng, không đảm bảo an toàn cho cả người bệnh và nhân viên y tế.
- Tại tuyến thành phố, hiện có tổng cộng 468 công trình y tế, trong đó có 153 công trình còn sử dụng bình thường (chiếm 32,7%); 180 công trình đã xuống cấp, cần được cải tạo, sửa chữa (chiếm 38,5%); 76 công trình xuống cấp nghiêm trọng, không còn khả năng sử dụng, cần xây mới thay thế (chiếm 16,2%); và 59 công trình còn thiếu, chưa được xây dựng, cần đầu tư xây mới bổ sung (chiếm 12,6%).
- Đối với các bệnh viện, Trung tâm Y tế khu vực và Trạm Y tế xã, phường, đặc khu, tổng số công trình hiện có là 1.077, trong đó có 400 công trình vẫn có thể tiếp tục sử dụng bình thường (chiếm 37,1%); 444 công trình đã xuống cấp, cần được cải tạo, sửa chữa (chiếm 41,2%); 175 công trình xuống cấp nghiêm trọng, cần xây mới thay thế (chiếm 16,3%); và 58 công trình hiện còn thiếu, cần được xây dựng bổ sung mới (chiếm 5,4%)
Như vậy, phần lớn cơ sở hạ tầng tại các cơ sở y tế công lập đã bị xuống cấp nghiêm trọng, không còn đảm bảo điều kiện hoạt động an toàn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho cả nhân viên y tế và người bệnh.
4. Thiết bị y tế (khối công lập)
Danh mục các loại trang thiết bị cơ bản tại các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố theo tiêu chuẩn định mức cần có tổng số thiết bị là 49.855, tuy nhiên hiện nay các cơ sở mới chỉ có 16.767 thiết bị, đạt khoảng 33,6% so với tiêu chuẩn, còn thiếu tới 33.098 thiết bị (chiếm 66,4%). Cụ thể theo từng tuyến:
- Tuyến thành phố: Tiêu chuẩn định mức là 34.046 thiết bị. Hiện có 12.442 thiết bị, đạt khoảng 36,5% so với tiêu chuẩn, còn thiếu 21.829 thiết bị (chiếm 63,5%).
- Bệnh viện, Trung tâm y tế khu vực và Trạm y tế xã, phường, đặc khu: Tiêu chuẩn định mức là 15.809 thiết bị. Hiện có 4.325 thiết bị, đạt khoảng 27,4% so với tiêu chuẩn. Còn thiếu 11.269 thiết bị (chiếm 72,6%).
Trong thời gian qua, ngành y tế thành phố đã nhận được sự quan tâm và đầu tư thiết bị y tế từ nguồn ngân sách và từ nguồn thu của đơn vị. Tuy nhiên, so với tiêu chuẩn, định mức quy định, trang thiết bị hiện vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng về tiêu chuẩn, định mức theo quy định. Do đó, trong thời gian tới, việc tiếp tục nhận được sự quan tâm và đầu tư mạnh mẽ từ các cấp, ngành và địa phương là hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng trang thiết bị, đáp ứng tốt hơn yêu cầu khám chữa bệnh của Nhân dân.
5. Cơ chế tự chủ tài chính và nguồn ngân sách hỗ trợ
Ngành y tế Hải Phòng là đơn vị tiên phong trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Sau 10 năm triển khai, đã có 04 đơn vị tự đảm bảo cả chi thường xuyên và chi đầu tư, cùng 09 đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên. Việc tự chủ góp phần chuyển ngân sách cấp trực tiếp cho bệnh viện sang hỗ trợ người tham gia BHYT, tạo sự cạnh tranh công bằng giữa khu vực công và tư trong cung ứng dịch vụ y tế, đồng thời khuyến khích đầu tư từ các thành phần kinh tế và thúc đẩy hợp tác theo hình thức đối tác công tư. Cơ chế này cũng giúp thay đổi tư duy, nâng cao thái độ phục vụ của viên chức y tế và tăng thu từ giá dịch vụ y tế, đồng thời cải thiện thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên tại các đơn vị tự chủ tài chính qua các năm.
Thực hiện Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ, ngành y tế Hải Phòng (sau sáp nhập) có 63 đơn vị thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính; trong đó:
- Tự chủ nhóm 1 (tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư): 04 đơn vị.
- Tự chủ nhóm 2 (tự đảm bảo chi thường xuyên): 09 đơn vị.
- Tự chủ nhóm 3 (tự đảm bảo một phần chi thường xuyên): 38 đơn vị.
- Tự chủ nhóm 4 (nhà nước đảm bảo chi thường xuyên): 12 đơn vị.
Về nguồn lực, ngân sách y tế được quan tâm, bố trí, với tỷ lệ phân bổ năm sau cao hơn năm trước, đảm bảo tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi ngân sách chung. Năm 2025, tổng dự toán chi sự nghiệp y tế - dân số của thành phố là trên 2.320 tỷ đồng, chiếm 19,03% tổng chi thường xuyên và 3,25% tổng chi ngân sách địa phương.
Kinh phí ngân sách bố trí cho lĩnh vực y tế giai đoạn 2021-2025
|
TT |
Nội dung |
Kinh phí (triệu đồng) |
Tỷ lệ (%) |
||
|
Hải
Phòng |
Hải
Dương |
Tổng |
|||
|
I |
Chi thường xuyên |
3.026.749 |
3.552.526 |
6.579.275 |
61,2 |
|
1 |
Năm 2021 |
493.563 |
687.582 |
1.181.145 |
|
|
2 |
Năm 2022 |
484.103 |
560.229 |
1.044.332 |
|
|
3 |
Năm 2023 |
492.905 |
677.495 |
1.170.400 |
|
|
4 |
Năm 2024 |
616.544 |
799.801 |
1.416.345 |
|
|
5 |
Năm 2025 |
939.634 |
827.419 |
1.767.053 |
|
|
II |
Chi đầu tư công |
945.070 |
3.232.674 |
4.177.744 |
38,8 |
|
TỔNG CỘNG (I+II) |
3.971.819 |
6.785.200 |
10.757.019 |
100,0 |
|
6. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số
6.1. Triển khai ứng dụng CNTT tại các cơ sở khám chữa bệnh
So với nhiều ngành, lĩnh vực khác, các đơn vị sự nghiệp y tế là những cơ quan ứng dụng công nghệ thông tin sớm và sử dụng thường xuyên trong hoạt động chuyên môn.
Hiện nay, phần lớn các cơ sở y tế đã được trang bị tương đối đồng bộ, như: hệ thống máy vi tính, kết nối mạng nội bộ (LAN) và đường truyền Internet tốc độ cao (FTTH) đáp ứng yêu cầu trong việc đăng ký, tra cứu thông tin cho người bệnh. Đa số các cơ sở khám, chữa bệnh đã có hệ thống máy chủ riêng, được đầu tư phù hợp với quy mô và chức năng của từng bệnh viện, trung tâm y tế. Đến nay, 100% bệnh viện và trung tâm y tế trên địa bàn thành phố đã triển khai phần mềm quản lý, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành và chuyên môn.
Bên cạnh đó, các đơn vị y tế đều đã xây dựng lộ trình và kế hoạch triển khai hồ sơ Bệnh án điện tử, bảo đảm thực hiện đúng tiến độ theo yêu cầu của Chính phủ và Bộ Y tế, với mục tiêu hoàn thành trong tháng 9 năm 2025.
6.2. Triển khai ứng dụng CNTT trong lĩnh vực y tế dự phòng
Trong giai đoạn 2020–2021, trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, thành phố đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác phòng, chống dịch. Nhiều giải pháp quan trọng được triển khai như: tờ khai y tế; hệ thống PC-COVID phục vụ truy vết; cơ sở dữ liệu tiêm chủng vắc xin; phần mềm bản đồ dịch; phần mềm theo dõi, điều trị F0 tại nhà. Thực hiện Đề án 06, các cơ sở tiêm chủng đã làm sạch dữ liệu, ký số trên nền tảng quản lý tiêm chủng quốc gia, bảo đảm việc cấp "Hộ chiếu vắc xin" cho người dân.
Hiện nay, các đơn vị y tế dự phòng trên địa bàn thành phố đang triển khai một số phần mềm quản lý chuyên môn cơ bản, bao gồm: Hệ thống tiêm chủng quốc gia; phần mềm báo cáo dịch bệnh truyền nhiễm; phần mềm quản lý báo cáo bệnh không lây nhiễm và phần mềm quản lý nhân sự, tài chính. Tuy nhiên, các hệ thống này chưa được tích hợp và liên thông dữ liệu giữa Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) và các cơ sở khám, chữa bệnh, gây khó khăn trong việc tổng hợp, phân tích và khai thác thông tin phục vụ công tác chuyên môn.
Tại tuyến cơ sở, các Trạm Y tế và Trung tâm Y tế khu vực đã được triển khai và đang duy trì các phần mềm như: Quản lý y tế cơ sở, Quản lý an toàn thực phẩm, góp phần phục vụ công tác theo dõi sức khỏe và quản lý hành chính.
7. Kết quả hợp tác trong và ngoài nước
Ngành Y tế thành phố đã tích cực tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Hoạt động hợp tác được đẩy mạnh trên nhiều phương diện như: chuyên môn, kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ và phát triển y tế chuyên sâu. Đồng thời, thành phố cũng khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài triển khai các hoạt động nhân đạo vì sức khỏe cộng đồng. Nhờ đó, Hải Phòng đã thu hút được người bệnh từ các địa phương lân cận và cả bệnh nhân nước ngoài đến khám và điều trị. Những năm gần đây, hằng năm có trên 4.500 lượt người nước ngoài tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế của thành phố khám bệnh và khoảng 400 lượt điều trị nội trú.
Bên cạnh đó, các bệnh viện tuyến thành phố đã chủ động tiếp nhận và triển khai chuyển giao kỹ thuật từ các bệnh viện tuyến Trung ương theo Đề án 1816 và Đề án Bệnh viện vệ tinh từ Bạch Mai, Việt Đức, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương,… Trong năm 2024, thành phố đã tiếp nhận 43 kỹ thuật chuyên môn từ tuyến trên cho 11 đơn vị khám, chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm tải cho các bệnh viện Trung ương.
II. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
1. Công tác khám bệnh, chữa bệnh
1.1. Các cơ sở y tế công lập
a) Thực hiện danh mục kỹ thuật và chuyển tuyến
- Các bệnh viện tuyến thành phố đang triển khai được 60-70% danh mục kỹ thuật do Bộ Y tế và Sở Y tế phê duyệt, một vài bệnh viện tuyến thành phố thực hiện được 80-85% kỹ thuật, trong đó có 10-15% kỹ thuật loại đặc biệt; các bệnh viện và trung tâm y tế khu vực chỉ thực hiện 20-50% danh mục, thậm chí có một số đơn vị chỉ thực hiện được dưới 20% danh mục kỹ thuật được phê duyệt[10].
- Số lượt chuyển khám bệnh (chuyển tuyến) trên địa bàn thành phố có xu hướng gia tăng ở cả tuyến thành phố, các bệnh viện, trung tâm y tế khu vực và khối bệnh viện tư nhân. Năm 2024, tổng số lượt chuyển tuyến toàn thành phố đạt 102.181 lượt, tăng 11,1% so với năm 2023 (92.091 lượt). Số ca phẫu thuật thực hiện tại các bệnh viện lại có xu hướng giảm. Cụ thể, tại các bệnh viện tuyến thành phố giảm 4,63%; tại các bệnh viện và trung tâm y tế khu vực giảm 1,33% so với cùng kỳ năm 2023.
b) Công suất sử dụng giường bệnh
Công suất sử dụng giường bệnh tại các tuyến và khối bệnh viện tư nhân có xu hướng giảm. Năm 2024, công suất sử dụng giường bệnh bình quân toàn thành phố đạt 83,24%. Trong đó, tuyến thành phố đạt 90,47%; các bệnh viện và trung tâm y tế khu vực đạt 74,04%; khối bệnh viện tư nhân và thuộc bộ, ngành đạt 73,8%.
1.2. Các cơ sở y tế ngoài công lập
Trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện có 13 bệnh viện ngoài công lập, gồm 09 bệnh viện đa khoa và 04 bệnh viện chuyên khoa, chiếm 3,2% tổng số bệnh viện tư nhân trong cả nước (400 bệnh viện). Với tổng quy mô 2.174 giường bệnh, hệ thống khám, chữa bệnh ngoài công lập chiếm 12,8% tổng số giường bệnh toàn thành phố. Số lượng bệnh viện ngoài công lập trên địa bàn thành phố tăng dần đều qua các thời kỳ[11]. Tuy nhiên, hệ thống bệnh viện tư nhân tại khu vực Tây Hải Phòng còn hạn chế, chưa phát triển (khu vực phía Đông thành phố có 11 bệnh viện, khu vực phía Tây thành phố chỉ có 02 bệnh viện).
Hệ thống phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa cùng các loại hình dịch vụ y tế ngoài công lập được phân bổ đồng đều trên toàn địa bàn thành phố. Y tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh tích cực, thúc đẩy các cơ sở y tế công lập cải tiến và phát triển. Tuy nhiên, người dân khi sử dụng dịch vụ y tế tư nhân thường phải chi trả một khoản chi phí khá lớn. Do đó, đề án phát triển y tế công nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính cho người dân, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân với chi phí hợp lý hơn và đảm bảo nâng cao chất lượng công tác an sinh xã hội.
2. Công tác quản lý, sử dụng thuốc, dược liệu
2.1. Công tác, cung ứng sản xuất thuốc
Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 05 doanh nghiệp có chức năng sản xuất thuốc; trong đó, trên địa bàn phía Đông thành phố 03 doanh nghiệp, phía Tây thành phố có 02 doanh nghiệp[12].
2.2. Công tác nuôi trồng, thu hái, sản xuất dược liệu
- Khu vực Đông Hải Phòng: 100% trạm y tế xã đã triển khai trồng thuốc Nam, xây dựng vườn thuốc mẫu tại trạm với số lượng từ 40 đến 60 loại cây theo quy định của Bộ Y tế. Các loại dược liệu chủ yếu được trồng và thu hái gồm: kim ngân, bồ công anh, cây gai, mạch môn, đinh lăng, trinh nữ hoàng cung, ích mẫu, hồng hoa, xạ đen.
- Khu vực Tây Hải Phòng: là địa phương có truyền thống về y học cổ truyền và là quê hương của Đại Danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh, có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây dược liệu. Nhiều loại dược liệu như đinh lăng, gấc, ích mẫu, bồ công anh, cà gai leo, cỏ ngọt, diệp hạ châu, kim ngân đã được trồng trên địa bàn thành phố.
Các loại dược liệu như kim tiền thảo, diệp hạ châu và diệp hạ châu đắng do Công ty Cổ phần Dược Vật tư Y tế Hải Dương trồng tại các huyện Chí Linh, Tứ Kỳ, Ninh Giang; dược liệu kim ngân do Công ty TNHH Dược liệu Hà Nội trồng tại Chí Linh đã được Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. Ngoài ra, trên địa bàn còn có một số mô hình trồng dược liệu theo hướng GACP-WHO như thiên môn đông, ké đầu ngựa, kim tiền thảo, cà gai leo, dong riềng đỏ, góp phần nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất.
2.3. Công tác kinh doanh, phân phối thuốc
Trên địa bàn thành phố hiện có 86 doanh nghiệp kinh doanh thuốc và 03 cơ sở bán buôn vắc xin, tất cả đều được cấp Giấy chứng nhận Thực hành tốt phân phối thuốc (GDP). Về cơ sở bán lẻ thuốc, có 1.173 nhà thuốc và 1.646 quầy thuốc đã được Sở Y tế cấp Giấy chứng nhận Thực hành tốt bán lẻ thuốc (GPP). Ngoài ra, mạng lưới cơ sở bán lẻ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu hiện có 15 cơ sở.
Mạng lưới cơ sở phân phối và bán lẻ thuốc trên địa bàn cơ bản đã bao phủ toàn thành phố, đảm bảo người dân tiếp cận thuốc kịp thời và đầy đủ.
2.4. Công tác giám sát, kiểm tra, kiểm nghiệm thuốc
Hoạt động này hiện được giao cho Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm, là đơn vị đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt phòng Kiểm nghiệm thuốc (GLP) và được cấp chứng nhận ISO/IEC 17025:2017. Trung tâm hiện thực hiện tổng cộng 148 phép thử, gồm 65 phép thử trong lĩnh vực dược, 57 phép thử trong lĩnh vực hóa học và 26 phép thử trong lĩnh vực sinh học.
2.5. Công tác dược lâm sàng, cảnh giác dược và bảo quản thuốc
- 100% các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sử dụng thuốc trên địa bàn thành phố đã tổ chức và triển khai các hoạt động dược lâm sàng.
- Tổng số nhân lực làm công tác dược lâm sàng tại các cơ sở là 240 người, trong đó có 59 dược sĩ chuyên trách, chiếm 24,58%. Chỉ tiêu dược sĩ làm công tác dược lâm sàng đạt 0,57 người trên 10.000 dân.
- Kho thuốc tại các đơn vị cơ bản đã đáp ứng các điều kiện bảo quản theo nguyên tắc tiêu chuẩn Thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP), với đầy đủ trang bị gồm máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh và thiết bị theo dõi nhiệt độ, độ ẩm.
3.1. Công tác phòng, chống dịch bệnh và y tế dự phòng
Mạng lưới y tế dự phòng thành phố, bao gồm các đơn vị y tế tuyến thành phố (gồm Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố và Trung tâm Kiểm dịch Y tế quốc tế); các Trung tâm y tế khu vực, gồm 27 Trung tâm y tế đa chức năng, vừa làm công tác y tế dự phòng vừa làm công tác khám bệnh, chữa bệnh và 114 trạm y tế xã, phường, đặc khu với các điểm trạm do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.
Trong những năm qua, hệ thống y tế dự phòng thành phố Hải Phòng từ tuyến thành phố đến cơ sở đã từng bước được củng cố, kiện toàn và phát huy hiệu quả trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Các đơn vị y tế dự phòng luôn chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch phòng, chống dịch bệnh; đồng thời linh hoạt thực hiện nhiều hình thức tuyên truyền và kịp thời ứng phó với các tình huống khẩn cấp.
3.2. Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi
Công tác Dân số và Trẻ em trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân thành phố. Mức sinh thay thế được duy trì ổn định, quy mô dân số ổn định, với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ở mức dưới 1%. Các chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi đều đạt kế hoạch đề ra, góp phần nâng cao chất lượng dân số[13]. Thành phố Hải Phòng hiện có tỷ lệ người cao tuổi (NCT) chiếm khoảng 18% tổng dân số, với tuổi thọ trung bình năm 2024 đạt 75,6 tuổi. Quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, đặt ra những thách thức lớn đối với hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là hệ thống chăm sóc sức khỏe dành cho người cao tuổi. Xu hướng gia tăng các bệnh mãn tính, không lây nhiễm ở người cao tuổi đòi hỏi cần phải phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe chuyên biệt và dịch vụ chăm sóc dài hạn phù hợp.
Hệ thống chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em và người cao tuổi trên địa bàn thành phố được triển khai đồng bộ từ tuyến thành phố đến cấp xã. Một số bệnh viện đã bố trí khoa điều trị riêng cho người cao tuổi[14].
Hàng năm, các Trung tâm Y tế và bệnh viện đa khoa khu vực tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi. Tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ tăng dần qua các năm. Năm 2024, tỷ lệ này tại khu vực Hải Phòng (cũ) đạt 74,0%, khu vực Hải Dương (cũ) đạt 90,2%.
Chi cục Dân số và Trẻ em chủ động tổ chức hội nghị tập huấn, nói chuyện chuyên đề cho hội viên người cao tuổi; tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước liên quan đến Luật Người cao tuổi và chính sách dân số và phát triển. Bên cạnh đó, các trạm y tế xã, phường, đặc khu phối hợp với Hội người cao tuổi cùng cấp tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức về rèn luyện thân thể, tăng cường sức khỏe và phòng chống các bệnh thường gặp ở người cao tuổi qua hệ thống loa phát thanh của xã và lồng ghép trong các buổi sinh hoạt người cao tuổi.
3.3. Công tác an toàn thực phẩm
Tổng số cơ sở thực phẩm do ngành Y tế quản lý trên địa bàn thành phố là 15.107 cơ sở, bao gồm: 639 cơ sở sản xuất thực phẩm, 366 cơ sở kinh doanh thực phẩm, 4.752 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và 9.350 cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố.
Trong những năm qua, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm luôn được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như: số lượng cơ sở quản lý lớn, phần lớn là các cơ sở nhỏ lẻ, hộ gia đình; nguy cơ ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể vẫn ở mức cao mặc dù đã có nhiều biện pháp kiểm soát; nguồn lực đầu tư cho công tác đảm bảo an toàn thực phẩm còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
1. Về tổ chức và mạng lưới y tế
Chất lượng nguồn nhân lực y tế tiếp tục được nâng cao, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ y tế có nhiều chuyển biến tích cực, hướng tới nâng cao sự hài lòng của người bệnh.
Các đơn vị đã chủ động tuyển dụng, nhất là thu hút nhân lực chất lượng cao; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nhằm bảo đảm chất lượng y tế phổ cập và chuyên sâu. Việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức y tế được đảm bảo đầy đủ, đúng quy định. Thành phố ban hành một số cơ chế hỗ trợ đặc thù nhằm bổ sung nhân lực cho các khu vực đặc thù.
Công tác đầu tư, cải tạo và nâng cấp cơ sở hạ tầng y tế được chú trọng. Giai đoạn 2021–2025, ngành Y tế được bố trí hơn 4.177 tỷ đồng để triển khai các dự án xây dựng, cải tạo và mua sắm trang thiết bị. Nhiều tồn đọng trước đây đã được xử lý, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiệm thu, quyết toán và đưa công trình vào sử dụng.
Việc giao các dự án xây dựng cho Ban Quản lý dự án chuyên ngành giúp nâng cao tính chuyên nghiệp trong triển khai đầu tư, giúp các đơn vị y tế chủ động tiếp nhận tài sản sau khi hoàn thiện thủ tục pháp lý. Hệ thống y tế ngoài công lập cũng được quan tâm đầu tư, nhiều cơ sở đạt chuẩn cao, hiện đại, góp phần đa dạng hóa dịch vụ khám chữa bệnh.
Đối với cơ sở công lập: Thành phố bố trí nguồn kinh phí đầu tư; riêng năm 2025 bố trí 357 tỷ đồng cho các bệnh viện khu vực phía Tây. Các bệnh viện chủ động sử dụng nguồn thu, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và vốn vay để mua sắm, nâng cấp thiết bị; hoạt động liên doanh liên kết được mở rộng.
Đối với cơ sở ngoài công lập: Các đơn vị tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ và hỗ trợ giảm tải cho bệnh viện công.
Ngành Y tế Hải Phòng là một trong những đơn vị đi đầu trong triển khai tự chủ sự nghiệp công lập. Hiện có 4 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 9 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên. Cơ chế tự chủ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo cạnh tranh bình đẳng giữa công lập và tư nhân, đồng thời cải thiện thu nhập cho viên chức y tế. Ngân sách dành cho y tế tiếp tục được thành phố quan tâm, ưu tiên đầu tư, năm 2025 dự toán chi sự nghiệp y tế – dân số đạt hơn 2.320 tỷ đồng. Tổng kinh phí y tế giai đoạn 2021–2025 đạt hơn 10.757 tỷ đồng.
Đến tháng 8/2025, đã có 45 cơ sở khám chữa bệnh hoàn thành công bố triển khai các ứng dụng bệnh án điện tử bằng nguồn thu của đơn vị. Ngành Y tế triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, kết nối với Kho dữ liệu dùng chung và Cổng dữ liệu mở của thành phố. Một số ứng dụng, nền tảng công nghệ thông minh tiếp tục được phát triển, hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý điều hành.
Ngành Y tế tích cực tranh thủ nguồn lực hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ; đồng thời đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật theo Đề án 1816 và mô hình bệnh viện vệ tinh với các bệnh viện tuyến Trung ương. Nhờ đó nhiều kỹ thuật cao được triển khai tại địa phương, nâng cao năng lực điều trị và thu hút người bệnh trong và ngoài thành phố.
Các quy định pháp luật về khám chữa bệnh được triển khai nghiêm túc, đồng bộ. Trong thời kỳ dịch COVID-19, thành phố chỉ đạo quyết liệt, thực hiện hiệu quả mục tiêu kép: kiểm soát dịch bệnh và phát triển kinh tế – xã hội. Công tác thông tin, tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh và tham gia BHYT được tăng cường.
Nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao đã được triển khai rộng rãi tại các tuyến, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm tải cho bệnh viện. Một số kỹ thuật trước đây chỉ thực hiện tại tuyến cuối nay đã được áp dụng thành công tại địa phương như ghép thận, ghép giác mạc, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ kỹ thuật cao.
Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 93,8%. Chính sách thông tuyến tạo thuận lợi cho người bệnh lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh phù hợp. Công tác kiểm tra, thẩm định, giám sát chi phí BHYT được thực hiện thường xuyên; trong 6 tháng đầu năm 2025 toàn thành phố ghi nhận 2,84 triệu lượt khám BHYT với chi phí 2.408 tỷ đồng.
Hệ thống y tế tư nhân tiếp tục phát triển, thu hút nhiều nhà đầu tư; nhiều bệnh viện tư nhân đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần mở rộng phạm vi cung ứng dịch vụ chất lượng cao.
Việc cung ứng thuốc được thực hiện đúng quy định pháp luật. 100% cơ sở y tế thành lập Hội đồng thuốc và điều trị, đảm bảo cung ứng đầy đủ thuốc và vật tư y tế. Công tác giám sát, kiểm nghiệm, dược lâm sàng, cảnh giác dược được chú trọng. Kê đơn thuốc điện tử và liên thông dữ liệu toàn quốc được triển khai đồng bộ tại các cơ sở.
Nhân lực y tế dự phòng được củng cố; tỷ lệ tiêm chủng duy trì trên 95%; công tác giám sát, phát hiện, khoanh vùng và xử lý dịch bệnh đảm bảo kịp thời. Thành phố duy trì nhiều thành tựu quan trọng như thanh toán bệnh bại liệt, loại trừ bệnh phong và uốn ván sơ sinh. Công tác truyền thông phòng chống dịch được triển khai hiệu quả, đặc biệt trong thời kỳ dịch COVID-19.
Hệ thống chăm sóc sức khỏe được tổ chức đồng bộ từ tuyến tỉnh tới cơ sở; các chương trình dinh dưỡng, tiêm chủng, quản lý thai nghén được triển khai hiệu quả. Phong trào rèn luyện sức khỏe người cao tuổi phát triển; tỷ lệ khám sức khỏe định kỳ tăng qua từng năm.
Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm được tăng cường; số vụ ngộ độc giảm. Việc phối hợp liên ngành được thực hiện thường xuyên, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm sức khỏe cộng đồng.
Các cơ sở bảo trợ được nâng cấp, bổ sung nhân lực; hằng năm chăm sóc trên 1.500 lượt đối tượng, không để xảy ra sai sót chuyên môn. Hệ thống cơ sở bảo trợ ngoài công lập phát triển, góp phần đa dạng hóa dịch vụ chăm sóc xã hội.
IV. TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
a) Nguồn nhân lực y tế: Nguồn nhân lực còn thiếu và mất cân đối. Toàn ngành mới đạt khoảng 81% định mức tối thiểu; bác sĩ/vạn dân chỉ đạt 14,46, chưa đạt mục tiêu theo quy định. Thiếu nhân lực nghiêm trọng tại tuyến y tế cơ sở và các chuyên ngành đặc thù. Công tác tuyển dụng không đáp ứng nhu cầu thay thế cán bộ nghỉ hưu, thôi việc; một số chính sách hỗ trợ đào tạo, đãi ngộ chưa đồng bộ, thiếu hấp dẫn, nhất là khu vực phía Đông. Nguy cơ dịch chuyển nhân lực sang khu vực tư nhân ngày càng tăng do chênh lệch thu nhập và điều kiện làm việc.
b) Cơ sở vật chất: Nhiều cơ sở khám chữa bệnh, kể cả ngoài công lập, chưa đạt chuẩn diện tích theo quy định. Hạ tầng tuyến cơ sở xuống cấp, thiếu đồng bộ; một số cơ sở phía Đông chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do tồn đọng hồ sơ pháp lý. Việc thiếu quy hoạch xây dựng chi tiết dẫn đến đầu tư manh mún, không tạo thành hệ thống cơ sở vật chất hoàn chỉnh.
c) Thiết bị y tế: Tỷ lệ thiết bị cơ bản mới đạt khoảng 33,6%, thiếu nhiều thiết bị hiện đại và thiết bị tối thiểu phục vụ khám chữa bệnh, nhất là tại bệnh viện và trung tâm y tế khu vực. Hạn chế này ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ và nguồn thu của đơn vị. Hoạt động xã hội hóa, liên doanh liên kết còn yếu, chưa huy động hiệu quả các nguồn vốn hợp pháp cho đầu tư trang thiết bị.
d) Giá dịch vụ y tế và cơ chế tự chủ tài chính: Giá dịch vụ y tế chưa tính đủ các yếu tố chi phí theo quy định; chưa có hướng dẫn chi tiết về cấu thành giá, gây khó khăn cho đơn vị tự chủ trong cân đối tài chính và chi trả thu nhập cho viên chức, người lao động tại các cơ sở y tế. Cơ chế tự chủ tạo áp lực cạnh tranh giữa các đơn vị, dễ làm giảm vai trò thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội và ảnh hưởng đến y đức nếu quá tập trung vào tăng nguồn thu.
đ) Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số: Hạ tầng CNTT nghèo nàn, chưa đáp ứng triển khai bệnh án điện tử và các ứng dụng chuyên ngành; phần mềm bệnh án điện tử chưa đồng bộ, chưa khai thác, sử dụng hết công suất; hệ thống dữ liệu phân tán, thiếu kết nối, chưa bảo đảm an toàn thông tin. Một số nhiệm vụ chuyển đổi số triển khai chậm, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát chuyên môn. Chia sẻ dữ liệu giữa các ngành còn hạn chế, ảnh hưởng đến cảnh báo, dự báo dịch bệnh.
e) Hợp tác quốc tế và hợp tác tuyến Trung ương: Chưa khai thác hiệu quả các cơ hội hợp tác quốc tế và chuyển giao kỹ thuật từ tuyến Trung ương; nhiều kỹ thuật cao triển khai chậm, hạn chế năng lực chuyên môn của hệ thống y tế các tuyến.
f) Hoạt động chuyên môn
Việc rà soát, tham mưu, đề xuất của một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thường xuyên; kết quả giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm còn hạn chế. Công tác quản lý hành nghề y, dược tư nhân chưa hiệu quả; công tác tuyên truyền pháp luật về khám chữa bệnh chưa sâu, một bộ phận người dân và cơ sở khám chữa bệnh tư nhân còn vi phạm.
Năng lực khám chữa bệnh của hệ thống y tế công lập được cải thiện nhưng chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến có xu hướng tăng, gây áp lực quỹ BHYT. Chính sách thông tuyến tạo sự chênh lệch trong phân bổ bệnh nhân giữa các cơ sở. Triển khai kỹ thuật cao tại tuyến cơ sở còn hạn chế; so với nhiều địa phương, trình độ chuyên môn còn khoảng cách, nhất là so với Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh. Chưa thu hút được nhà đầu tư nước ngoài; thiếu mô hình y tế hiện đại và dịch vụ chuyên sâu như bệnh viện ung bướu tư nhân. Phân bố cơ sở tư nhân không đồng đều; khu vực phía Tây mới có 2 bệnh viện tư nhân, số giường bệnh rất thấp so với nhu cầu dân số và bình quân chung.
Công tác sản xuất, nuôi trồng dược liệu còn manh mún, chưa quy hoạch; điều tra dược liệu dưới tán rừng chưa được triển khai. Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm thành phố thiếu trang thiết bị và nhân lực. Một số quy định về dược lâm sàng tại trung tâm y tế khu vực chưa được thực hiện đầy đủ. Quản lý thuốc tại trạm y tế còn sơ hở; ứng dụng CNTT trong quản lý dược và kê đơn điện tử chưa đồng bộ.
Công tác y tế dự phòng: Nguy cơ dịch bệnh mới nổi ngày càng phức tạp; hoạt động phối hợp liên ngành, chia sẻ dữ liệu chưa chặt chẽ, ảnh hưởng đến giám sát và ứng phó dịch; chưa có bệnh viện lão khoa, viện dưỡng lão, mô hình chăm sóc người cao tuổi chuyên biệt. Dịch vụ tầm soát, chẩn đoán trước sinh và hỗ trợ sinh sản công lập còn thiếu, hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ chuyên sâu.
Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm: Thiếu nhân lực chuyên trách; năng lực xét nghiệm còn hạn chế về thiết bị và chỉ tiêu phân tích. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm còn chồng chéo, gây khó khăn trong phối hợp quản lý.
Công tác bảo trợ xã hội: Cơ sở hạ tầng xuống cấp, nhân lực thiếu và chưa được đào tạo bài bản; chưa đáp ứng yêu cầu chăm sóc tăng cao của các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội.
2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
2.1. Nguyên nhân khách quan
Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến công tác khám chữa bệnh thay đổi nhiều, thiếu tính đồng bộ và chưa kịp thời, gây khó khăn trong áp dụng thực tiễn. Một số quy định như cơ chế tự chủ và danh mục kỹ thuật dịch vụ trong thanh toán Bảo hiểm y tế chưa phù hợp với thực tế.
Tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở thiếu ổn định, đặc biệt giai đoạn 2015-2025 thường xuyên chia tách, sáp nhập làm xáo trộn và ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, sự gắn bó của cán bộ, nhân viên y tế.
Việc thực hiện tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp dẫn đến thiếu hụt nhân lực so với định mức tối thiểu, đồng thời một số đơn vị tự chủ không đủ kinh phí chi trả cho nhân lực, gây khó khăn trong hoạt động. Biên chế công chức của Sở Y tế chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Việc cấp chứng chỉ hành nghề và quy định khám chữa bệnh theo chuyên khoa giới hạn khả năng sử dụng nhân lực, khiến khi thiếu nhân lực không thể huy động bác sĩ đa khoa khám chữa bệnh vượt quá phạm vi chuyên môn. Điều này cũng ảnh hưởng đến chi trả của Bảo hiểm y tế khi vi phạm quy định.
Áp lực công việc lớn, quá tải, chế độ thu nhập thấp, thiếu chính sách thu hút, ưu đãi phù hợp cùng với điều kiện làm việc chưa thuận lợi (cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hạn chế) làm giảm động lực làm việc của nhân viên y tế. Tình trạng nhân viên y tế nghỉ việc gia tăng, đặc biệt là đội ngũ có trình độ chuyên môn cao, cán bộ lãnh đạo, nhất là sau giai đoạn dịch COVID-19, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và ổn định nhân sự[15].
Tại khu vực Tây Hải Phòng, nhà đầu tư chủ yếu tập trung vào phòng khám thay vì bệnh viện tư nhân; thiếu chính sách ưu đãi theo Luật Đất đai mới cho nhà đầu tư trong lĩnh vực y tế tư nhân, làm hạn chế sự phát triển của hệ thống y tế ngoài công lập.
2.2. Nguyên nhân chủ quan
Công tác kiểm tra, khảo sát thực trạng để kịp thời tham mưu, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn trong ngành y tế còn hạn chế, thiếu chủ động.
Năng lực chuyên môn về quy hoạch, đầu tư xây dựng của một số đơn vị yếu kém, phụ thuộc nhiều vào đơn vị tư vấn bên ngoài. Lãnh đạo chưa sâu sát, chỉ đạo chưa quyết liệt trong quản lý đầu tư xây dựng; Sở Y tế chưa chủ động lựa chọn đơn vị tư vấn có năng lực cao để lập quy hoạch.
Năng lực quản lý, quản trị của một số cơ sở y tế còn yếu; trình độ chuyên môn của một bộ phận nhân viên y tế chưa cao, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến khu vực; thái độ phục vụ của một số nhân viên y tế chưa được cải thiện.
Việc bố trí ngân sách cho lĩnh vực y tế chưa được quan tâm thỏa đáng, chưa được bố trí đầy đủ, kịp thời theo đề xuất tại Đề án 4668 và Đề án 3315 tại 02 địa phương trước sáp nhập[16]; chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn và còn thấp so với mức đầu tư cho y tế ở một số tỉnh, thành phố khác có điều kiện kinh tế, xã hội tương tự Hải Phòng. Việc quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin cho các cơ sở y tế còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Công tác thanh tra, kiểm tra chưa bao phủ toàn diện ngành y tế, dẫn đến việc chưa phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm trong khám chữa bệnh.
Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực đặc thù như bảo trợ xã hội, công nghệ thông tin, quy hoạch, xây dựng, gây khó khăn trong phát triển toàn diện ngành y tế.
Từ kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế trong tổ chức hoạt động của ngành Y tế, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu sau:
1. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành thống nhất
Công tác chỉ đạo phải kịp thời, quyết liệt, sâu sát từ thành phố đến cơ sở; bảo đảm phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, địa phương và các đơn vị thuộc ngành Y tế. Việc thực hiện nhiệm vụ cần bám sát chủ trương, pháp luật, đồng thời chủ động tham mưu linh hoạt, kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quản lý nhà nước về y tế.
2. Phát triển nguồn nhân lực theo hướng bền vững
Việc quy hoạch, đào tạo, tuyển dụng và sử dụng nhân lực phải gắn với nhu cầu thực tiễn và định hướng phát triển của ngành. Cần bảo đảm cơ cấu nhân lực hợp lý giữa các tuyến; chú trọng đào tạo chuyên sâu, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng. Chính sách thu hút, đãi ngộ phải đồng bộ, đủ mạnh để giữ chân nhân lực chất lượng cao và hạn chế dịch chuyển sang khu vực tư nhân.
3. Quy hoạch đồng bộ cơ sở vật chất và trang thiết bị
Đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị phải được thực hiện trên cơ sở quy hoạch tổng thể, tránh đầu tư manh mún, lẻ tẻ. Cần bảo đảm tiêu chuẩn thiết kế, hiện đại hóa các cơ sở y tế, đặc biệt là tuyến cơ sở. Huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư, bao gồm ngân sách, xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác.
4. Hoàn thiện cơ chế tài chính và nâng cao hiệu quả tự chủ
Thực hiện cơ chế tự chủ phải gắn với chiến lược dài hạn; có công cụ kiểm soát chất lượng và giám sát việc thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội. Cần hoàn thiện hệ thống định mức, giá dịch vụ y tế theo hướng tính đúng, tính đủ, tạo điều kiện để các đơn vị tự chủ bền vững, minh bạch và hiệu quả.
5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số
Chuyển đổi số phải được triển khai đồng bộ từ hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu, phần mềm nghiệp vụ đến bảo đảm an toàn thông tin. Cần thống nhất nền tảng, kết nối liên thông dữ liệu giữa các cơ sở y tế và với các ngành liên quan. Việc ứng dụng CNTT phải gắn với yêu cầu thực tiễn trong quản lý, khám chữa bệnh và dự phòng.
6. Mở rộng hợp tác chuyên môn và chuyển giao kỹ thuật
Cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, bệnh viện tuyến Trung ương và các cơ sở có năng lực cao nhằm tiếp nhận kỹ thuật hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn. Việc hợp tác phải đi vào thực chất, có kế hoạch, lộ trình và đánh giá kết quả cụ thể.
7. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và phát triển dịch vụ y tế
Chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định để giữ người bệnh và giảm chuyển tuyến. Cần tập trung phát triển kỹ thuật cao, cải tiến quy trình khám chữa bệnh, nâng cao y đức và thái độ phục vụ. Đồng thời, cần phát triển đồng đều giữa các tuyến, tránh chênh lệch lớn trong năng lực cung ứng dịch vụ.
8. Tăng cường quản lý dược và phát triển dược liệu
Việc quản lý thuốc và dược liệu cần được thực hiện đồng bộ từ sản xuất, lưu thông đến sử dụng; nâng cao năng lực kiểm nghiệm và dược lâm sàng. Phát triển vùng trồng dược liệu cần gắn với quy hoạch và chuỗi giá trị, tránh tự phát, nhỏ lẻ.
9. Chủ động trong công tác y tế dự phòng
Phòng bệnh phải đi trước một bước; tăng cường giám sát dịch bệnh, hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm và bảo đảm sự phối hợp liên ngành. Nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng ở tất cả các tuyến; chú trọng chăm sóc bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi và các nhóm yếu thế.
10. Hoàn thiện hệ thống an toàn thực phẩm và bảo trợ xã hội
Công tác ATTP và chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành; đầu tư nâng cấp hạ tầng, tăng cường nhân lực và nâng cao năng lực chuyên môn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng.
I. XU HƯỚNG BỆNH TẬT VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH DÂN SỐ
Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và dự kiến sẽ chuyển sang thời kỳ dân số già vào năm 2036. Đồng thời, thời kỳ dân số vàng của nước ta được dự báo sẽ kết thúc vào năm 2039. Trong những năm gần đây, mức sinh có xu hướng giảm xuống mức thấp, làm gia tăng nguy cơ suy giảm quy mô dân số, đẩy nhanh quá trình già hóa và dẫn đến thiếu hụt lực lượng lao động trong tương lai. Trước thực trạng đó, việc xây dựng và triển khai các chính sách y tế, dân số mang tính đột phá là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội bền vững của thành phố.
Đến năm 2030, mô hình bệnh tật tại Việt Nam được dự báo sẽ có sự chuyển dịch rõ nét, với sự gia tăng nhanh các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, đái tháo đường và bệnh phổi mạn tính, chủ yếu xuất phát từ quá trình già hóa dân số và các yếu tố lối sống không lành mạnh. Bên cạnh đó, một số bệnh truyền nhiễm như lao, sốt xuất huyết và các bệnh liên quan đến biến đổi khí hậu vẫn tiếp tục tồn tại, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Trong bối cảnh này, chi phí y tế có xu hướng gia tăng đáng kể; nếu thiếu các giải pháp phòng ngừa và can thiệp kịp thời, hệ thống y tế sẽ chịu áp lực ngày càng lớn về cả nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính. Do đó, cùng với việc đẩy mạnh y tế dự phòng, quản lý hiệu quả các bệnh mạn tính và nâng cao năng lực y tế tuyến cơ sở, thành phố cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế hiện đại, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả quản lý và khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe của người dân
1. Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là nền tảng quan trọng nhất cho hạnh phúc của mọi người, sự tồn vong của dân tộc và sự phát triển thịnh vượng, bền vững của đất nước. Chăm sóc sức khỏe Nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, giữ vị trí chiến lược ưu tiên trong tất cả các chiến lược, chính sách phát triển; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, toàn xã hội và mọi người dân.
2. Người dân là chủ thể, là trung tâm, là động lực và được ưu tiên cao nhất trong xây dựng, thực hiện các chính sách bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe; được tăng cường trí lực, thể lực, tầm vóc để phát triển toàn diện; được tiếp cận đầy đủ, công bằng, bình đẳng các dịch vụ y tế có chất lượng, trong đó quan tâm đặc biệt đến trẻ em, người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội và bảo đảm bình đẳng giới. Phát triển y tế gắn với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống dịch bệnh toàn cầu; vừa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân địa bàn, vừa cung ứng dịch vụ y tế chất lượng cao cho chuyên gia, du khách, người lao động quốc tế.
3. Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng, cân đối, đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và sự hài lòng của người dân; có chính sách thu hút, đãi ngộ đặc biệt trong suốt quá trình từ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, phát huy năng lực, thế mạnh của đội ngũ cán bộ y tế.
4. Chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời, chủ động phòng bệnh. Xác định đúng vị thế của y tế dự phòng, y tế cơ sở; tập trung xây dựng, hoàn thiện, nâng cao năng lực y tế dự phòng, hệ thống y tế cơ sởbảo đảm phòng bệnh từ sớm, từ xa, từ cơ sở, sẵn sàng ứng phó với các tình huống khẩn cấp về y tế công cộng; ưu tiên xây dựng, đầu tư đồng bộ về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị cho trạm y tế cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Nâng cao toàn diện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, phát triển y tế chuyên sâu và bảo đảm an ninh y tế. Tập trung nguồn lực để đầu tư một số bệnh viện tuyến thành phố đạt tiêu chuẩn quốc tế.
5. Có chính sách, cơ chế đột phá trong huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân; khắc phục được tình trạng “chính sách tốt, nhưng triển khai yếu”; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong y tế; cải cách mạnh mẽ tài chính y tế, bảo đảm hiệu quả, bền vững của chính sách bảo hiểm y tế; tiếp tục thực hiện chủ trương ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế bảo đảm chi trả cho các dịch vụ y tế ở mức cơ bản, người sử dụng chi trả cho phần vượt mức.
Phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030 trở thành trung tâm y tế hàng đầu của vùng Duyên hải Bắc Bộ, với hệ thống y tế hiện đại, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả, giữ vai trò tiên phong trong lĩnh vực y học biển. Hệ thống y tế đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân thành phố và khu vực lân cận; góp phần cải thiện toàn diện sức khỏe thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của người dân. Đồng thời, xây dựng mạng lưới y tế công bằng, phát triển hài hòa, bảo đảm y tế cơ sở rộng khắp, chất lượng cao; tập trung phát triển các bệnh viện hiện đại, đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao, cùng hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị tiên tiến phù hợp với đặc thù từng đơn vị. Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực chuyên sâu, kỹ thuật cao tại các bệnh viện tuyến thành phố, đạt trình độ tương đương các trung tâm chuyên khoa của Trung ương, từng bước trở thành vệ tinh hỗ trợ hiệu quả cho các bệnh viện đầu ngành, hướng tới hội nhập quốc tế và phục vụ hiệu quả, toàn diện nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân.
2.1. Mục tiêu đến năm 2030
- Nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc và tuổi thọ khỏe mạnh của người dân. Đến năm 2030, tăng chiều cao trung bình của trẻ em và thanh thiếu niên từ 1-18 tuổi thêm ít nhất 1,5 cm; tuổi thọ trung bình của người dân đạt trên 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỉ lệ người dân thường xuyên tham gia hoạt động thể chất tăng thêm 10%, mỗi người dân thường xuyên luyện tập ít nhất một môn thể thao phù hợp.
- Đạt 19 bác sĩ/vạn dân và 4,5–5,0 dược sĩ đại học/vạn dân (bao gồm công lập, bộ ngành và ngoài công lập), trong đó 20% dược sĩ được đào tạo về dược lâm sàng.
- Đạt 43 giường bệnh/vạn dân (không bao gồm giường trạm y tế xã).
- Tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 95%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (thể cân nặng/tuổi) dưới 6%. 100% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hỗ trợ y tế.
- Đến năm 2026, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 95% dân số, năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
- Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần, 100% dân số được quản lý sức khỏe điện tử. Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình.
- Trên 90% trạm y tế cấp xã có đủ điều kiện khám, chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, 100% trạm y tế cấp xã đạt Bộ Tiêu chí Quốc gia về y tế xã.
- 100% trạm y tế cấp xã được đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế, nhân lực theo chức năng, nhiệm vụ; đến năm 2027 có ít nhất 4-5 bác sĩ. Tỷ lệ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế cấp xã đạt trên 20%.
- 100% nhân viên y tế thôn được đào tạo theo quy định.
- Triển khai Mô hình “Thành phố chăm sóc sức khỏe toàn dân, toàn diện”.
- 100% bệnh viện tuyến thành phố và bệnh viện/trung tâm y tế khu vực thực hiện được trên 80% danh mục dịch vụ kỹ thuật theo phân tuyến.
- Trên 50% các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đội ngũ bác sĩ đạt trình độ sau đại học.
- 100% cơ sở khám chữa bệnh triển khai hoạt động dược lâm sàng, với: 02 người làm dược lâm sàng/100 giường bệnh nội trú; 03 người làm dược lâm sàng/1.000 đơn thuốc ngoại trú/ngày. 100% trạm y tế có ít nhất 01 dược sĩ trình độ cao đẳng trở lên.
- Hoàn thiện mạng lưới y học cổ truyền, đảm bảo 100% bệnh viện đa khoa có khoa y học cổ truyền. Xây dựng Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương tại vị trí mới theo quy hoạch, hiện đại, đồng bộ. Hình thành ít nhất 03 vùng trồng dược liệu tập trung đạt chuẩn GACP-WHO, gắn với chế biến sâu và xây dựng thương hiệu dược liệu Hải Phòng
- Trên 90% người bệnh hài lòng với dịch vụ y tế công lập.
- Phát triển công nghiệp dược đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, hướng tới GMP-EU.
- Ít nhất 90% người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được các cơ sở trợ giúp xã hội tư vấn, hỗ trợ và quản lý.
- Phấn đấu tỷ lệ giường bệnh tư nhân đạt ít nhất 15%; thu hút ít nhất 01 nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực y tế chất lượng cao. Tỷ lệ nhân lực y tế ngoài công lập chiếm từ 20% trở lên tổng nhân lực toàn ngành.
- Tăng tỷ trọng chi y tế từ ngân sách thành phố, phấn đấu sau năm 2030 đạt tỷ lệ từ 10% trở lên tổng chi ngân sách thành phố hàng năm.
- Hoàn thiện 02 bệnh viện tuyến thành phố đạt cấp chuyên sâu; phấn đấu thành lập 01 bệnh viện lão khoa quy mô tối thiểu 250 giường bệnh.
- Duy trì 100% đơn vị sự nghiệp y tế công lập thực hiện tự chủ tài chính, gồm: 9,5% đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 25,4% đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; 49,2% đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; và 15,9% đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.
- 100% người quản lý và trên 95% người sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng có kiến thức và thực hành đúng về an toàn thực phẩm. Giảm 20% số vụ ngộ độc thực phẩm tập thể từ 30 người trở lên (so với trung bình giai đoạn 2016–2020).
- Tăng cường kiểm soát các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe như rượu, bia, thuốc lá và từ môi trường đất, nước, không khí … Nâng cao năng lực giám sát, phát hiện sớm và kiểm soát, khống chế dịch bệnh nguy hiểm; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và giám sát dịch bệnh ứng dụng công nghệ thông tin.
- 100% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện bệnh án điện tử, thanh toán viện phí không dùng tiền mặt.
- Phát triển hệ thống chuyên khoa y học thể thao, kêu gọi đầu tư trung tâm y học thể thao đáp ứng tiêu chuẩn điều trị, phục hồi chấn thương đối với người tập thể thao, vận động viên thể thao thành tích cao trong nước và quốc tế.
2.2. Tầm nhìn đến năm 2045
Phấn đấu môi trường sống có chất lượng tốt; các chỉ số sức khỏe của người dân, chỉ số bao phủ dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu đứng đầu khu vực và ngang tầm các trung tâm y tế lớn trên toàn quốc. Người dân có tuổi thọ trung bình đạt trên 80 tuổi, trong đó số năm sống khỏe mạnh tăng lên trên 71 tuổi, tầm vóc, thể lực, chiều cao trung bình của thanh niên tương đương các quốc gia có cùng mức phát triển. Hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, bền vững, lấy phòng bệnh làm ưu tiên hàng đầu. Tiếp tục triển khai Mô hình “Thành phố chăm sóc sức khỏe toàn dân, toàn diện”. Tiếp tục đầu tư xây mới, hiện đại hóa cơ sở y tế, đầu tư thiết bị y tế hiện đại, đồng bộ, tiên tiến, phục vụ phát triển kỹ thuật cao. Tiếp tục triển khai toàn diện công tác chăm sóc sức khỏe người dân; phòng, chống dịch bệnh từ sớm, từ xa; tăng cường dinh dưỡng, thể dục thể thao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và chăm sóc người cao tuổi.
IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẾN NĂM 2030
1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện
- Rà soát, đánh giá toàn diện tình hình thực hiện quy hoạch và hệ thống mạng lưới khám, chữa bệnh từ tuyến thành phố đến tuyến cơ sở; trên cơ sở đó, điều chỉnh và hoàn thiện quy hoạch hệ thống y tế của thành phố đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển ngành, quy hoạch tổng thể của thành phố và nhu cầu thực tiễn.
- Tiếp tục tham mưu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù trong lĩnh vực y tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển bền vững ngành y tế thành phố.
- Tổ chức nghiên cứu, đề xuất lộ trình cụ thể cho cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở y tế công lập. Mục tiêu là nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả hoạt động, cải thiện điều kiện làm việc và thu nhập cho cán bộ, nhân viên y tế, đồng thời đảm bảo phù hợp với điều kiện, đặc thù của từng đơn vị. Song song với đó, cần tăng cường đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế nhất là đối với y tế chuyên sâu, hiện đại, huy động tối đa các nguồn lực đầu tư, phát triển hệ thống y tế theo hướng đa dạng hóa các mô hình hợp tác công – tư trong cung cấp dịch vụ y tế; khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư y tế tư nhân, hợp tác công tư trong lĩnh vực y tế theo quy định.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khám, chữa bệnh, đặc biệt là trong lĩnh vực hành nghề y, dược tư nhân. Cần chủ động hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra thường xuyên các cơ sở y tế trên địa bàn, và xử lý nghiêm minh đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về khám chữa bệnh.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân, cơ sở khám chữa bệnh và doanh nghiệp nâng cao nhận thức, chấp hành tốt các quy định của pháp luật trong lĩnh vực khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế.
2. Đổi mới tư duy, tạo đột phá trong tuyển dụng, đào tạo, quản lý nguồn nhân lực y tế
Bên cạnh việc tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy ngành y tế theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo chỉ đạo của Trung ương, cần củng cố, hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở trong bối cảnh mới, phù hợp với Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 25/10/2023 của Ban Bí thư, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị và hướng dẫn của Bộ Y tế. Đồng thời, phát triển nhân lực y tế bảo đảm đồng bộ về số lượng, chất lượng, cơ cấu nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới hải đảo.
Tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 54/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Quy định chính sách về hỗ trợ đào tạo, thu hút nguồn nhân lực ngành Y tế thành phố giai đoạn 2026 – 2030; đồng thời triển khai các chính sách ưu đãi tương xứng với quan điểm nghề y là nghề đặc biệt, phải được đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt do các cấp, các ngành ban hành, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ y tế. Tập trung tổ chức cử viên chức y tế đi đào tạo các hệ văn bằng, chứng chỉ chuyên môn, nghiệp vụ tại các cơ sở đào tạo công lập có uy tín, bảo đảm phù hợp với nhu cầu thực tiễn của từng tuyến, từng lĩnh vực chuyên môn. Dự kiến đào tạo khoảng 10.445 lượt người, sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước theo kế hoạch được phê duyệt, qua đó từng bước chuẩn hóa trình độ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của Nhân dân.
Thứ hai, tăng cường hỗ trợ chuyên môn cho y tế tuyến dưới, thu hẹp khoảng cách về chất lượng dịch vụ y tế giữa các tuyến. Tổ chức luân phiên, tăng cường cán bộ y tế có trình độ chuyên môn từ tuyến trên về hỗ trợ tuyến dưới trong công tác khám bệnh, chữa bệnh và quản lý chuyên môn; dự kiến thực hiện 198 lượt viên chức tăng cường chuyên môn, gắn với nhiệm vụ chuyển giao kinh nghiệm thực tiễn và nâng cao năng lực cho đội ngũ tại cơ sở. Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động đào tạo, chuyển giao kỹ thuật chuyên môn, với khoảng 533 lượt viên chức tham gia chuyển giao và 657 lượt viên chức tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật, nhằm nâng cao năng lực điều trị tại chỗ, giảm áp lực cho tuyến trên.
Thứ ba, thực hiện hiệu quả các chính sách thu hút, đãi ngộ nguồn nhân lực y tế chất lượng cao. Triển khai đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách thu hút nhân viên y tế theo quy định của Trung ương và của thành phố, tập trung vào đội ngũ bác sĩ, nhất là các chuyên khoa sâu, chuyên ngành mũi nhọn. Trong giai đoạn 2026–2030, phấn đấu thu hút khoảng 1.222 bác sĩ về công tác lâu dài tại các cơ sở y tế công lập của thành phố, góp phần bổ sung nguồn nhân lực còn thiếu, nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh và khả năng cung ứng dịch vụ y tế chuyên sâu.
Thứ tư, ưu tiên bố trí và bảo đảm nguồn kinh phí để thực hiện các giải pháp phát triển nguồn nhân lực y tế một cách bền vững. Chủ động cân đối, bố trí ngân sách thành phố để thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và thu hút nhân lực y tế trong giai đoạn 05 năm, với tổng kinh phí dự kiến là 753.108 triệu đồng. Việc bảo đảm nguồn lực tài chính là điều kiện tiên quyết để các giải pháp nêu trên được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực hệ thống y tế thành phố, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
3. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phát triển hệ thống y tế đồng bộ, hiệu quả
Hoàn thiện quy hoạch tổng thể hệ thống y tế thành phố theo hướng đồng bộ, hiện đại. Tổ chức xây dựng và phê duyệt quy hoạch tổng thể các đơn vị trong ngành y tế thành phố, bảo đảm thống nhất về tiêu chuẩn thiết kế, quy mô giường bệnh, chức năng, nhiệm vụ và định hướng phát triển của từng cơ sở y tế theo từng tuyến. Quy hoạch phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, phù hợp với quy hoạch vùng và quy hoạch ngành quốc gia, làm cơ sở pháp lý và định hướng lâu dài cho việc đầu tư xây dựng, cải tạo, mở rộng hệ thống y tế.
Tập trung đầu tư các dự án y tế trọng điểm nhằm hình thành các trung tâm chuyên sâu, kỹ thuật cao. Ưu tiên huy động và bố trí nguồn lực để triển khai 03 dự án y tế trọng điểm gồm Bệnh viện chuyên khoa Ung bướu, Bệnh viện chuyên khoa Tim mạch và Bệnh viện Lão khoa, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 6.000.000 triệu đồng. Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, ưu tiên huy động vốn vay ODA, thu hút đầu tư xã hội hóa, liên doanh, liên kết; đồng thời chủ động bố trí vốn ngân sách thành phố khi đủ điều kiện cân đối, nhằm sớm hình thành các cơ sở y tế chuyên sâu, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên và đáp ứng nhu cầu điều trị chất lượng cao của Nhân dân.
Bảo đảm tiến độ và hiệu quả các dự án đầu tư công trong lĩnh vực y tế. Tiếp tục bố trí vốn và tổ chức triển khai các dự án đầu tư công đã được phê duyệt từ các giai đoạn trước, với 26 dự án, tổng mức đầu tư khoảng 4.078 tỷ đồng, nhu cầu vốn giai đoạn 2026–2030 là 1.423 tỷ đồng, theo đúng các nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố và kế hoạch vốn đầu tư công của Ủy ban nhân dân thành phố. Đồng thời, ưu tiên thực hiện 26 dự án đầu tư công mới trong giai đoạn 2026–2030 với tổng mức đầu tư dự kiến 5.820.940 triệu đồng, được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, bảo đảm tập trung nguồn lực, tránh dàn trải, nâng cao hiệu quả đầu tư.
Đẩy mạnh cải tạo, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất hiện có bằng nguồn chi thường xuyên. Bố trí nguồn chi thường xuyên với tổng kinh phí dự kiến 1.192.209 triệu đồng, trong đó có khoảng 811.279 triệu đồng từ ngân sách thành phố để thực hiện cải tạo, sửa chữa, nâng cấp và xây mới các hạng mục trong các dự án đã được đầu tư xây dựng, trong đó ưu tiên cho các cơ sở y tế tuyến thành phố và các bệnh viện, trung tâm y tế khu vực. Việc đầu tư theo hướng này nhằm kịp thời khắc phục tình trạng xuống cấp, thiếu đồng bộ về cơ sở vật chất, bảo đảm điều kiện khám bệnh, chữa bệnh an toàn, hiệu quả.
Tăng cường thu hút đầu tư phát triển y tế ngoài công lập. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư tham gia phát triển hệ thống y tế ngoài công lập trên địa bàn thành phố, với tổng vốn dự kiến huy động khoảng 12.077.000 triệu đồng. Khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh chất lượng cao, y tế chuyên sâu, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, góp phần đa dạng hóa loại hình dịch vụ y tế, giảm áp lực cho hệ thống y tế công lập và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của Nhân dân.
Nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư và sử dụng nguồn lực. Tăng cường công tác quản lý, giám sát, đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư trong lĩnh vực y tế; bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng, đấu thầu và quản lý tài sản công. Chủ động rà soát, điều chỉnh danh mục, tiến độ và cơ cấu nguồn vốn đầu tư phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của thành phố và yêu cầu phát triển thực tiễn, qua đó sử dụng hiệu quả các nguồn lực, góp phần xây dựng hệ thống y tế thành phố Hải Phòng phát triển đồng bộ, hiện đại và bền vững. Tổng kinh phí dự kiến 34.884.023 triệu đồng.
Bảo đảm nguồn lực tài chính đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế hiện đại cho các bệnh viện tuyến thành phố và y tế cơ sở, ưu tiên các lĩnh vực chuyên sâu, kỹ thuật cao và phù hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành y tế. Chủ động cân đối, bố trí nguồn lực để đáp ứng nhu cầu bổ sung thiết bị y tế còn thiếu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, với tổng kinh phí dự kiến 7.255.974 triệu đồng trong giai đoạn 2026–2030. Trong đó, ưu tiên bố trí 2.335.754 triệu đồng từ ngân sách thành phố để thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết, bảo đảm tính chủ động, kịp thời và hiệu quả trong đầu tư thiết bị y tế.
Tập trung đầu tư, hiện đại hóa hệ thống thiết bị y tế tại các cơ sở y tế tuyến thành phố.Ưu tiên đầu tư bổ sung, thay thế và hiện đại hóa thiết bị y tế cho các bệnh viện, trung tâm chuyên khoa tuyến thành phố. Tập trung vào các thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị kỹ thuật cao, các lĩnh vực chuyên sâu, chuyên ngành mũi nhọn, nhằm nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, tăng khả năng điều trị tại chỗ, giảm tải cho tuyến trên và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của Nhân dân.
Tăng cường đầu tư thiết bị y tế cho bệnh viện và trung tâm y tế khu vực, củng cố y tế tuyến cơ sở. Việc đầu tư tập trung vào các thiết bị y tế cơ bản, thiết yếu, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, nhằm nâng cao năng lực khám bệnh, chữa bệnh, y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho Nhân dân, góp phần giảm quá tải cho tuyến trên.
Thực hiện đầu tư, mua sắm thiết bị y tế đồng bộ với phát triển nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng. Gắn việc đầu tư thiết bị y tế với khả năng khai thác, sử dụng hiệu quả của đội ngũ cán bộ y tế và điều kiện cơ sở vật chất hiện có; bảo đảm thiết bị được đầu tư phù hợp với quy mô giường bệnh, trình độ chuyên môn và định hướng phát triển của từng cơ sở y tế. Đồng thời, lồng ghép kế hoạch đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, bảo trì, bảo dưỡng thiết bị nhằm phát huy tối đa hiệu quả đầu tư.
Tăng cường quản lý, giám sát và nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị y tế. Tổ chức rà soát, đánh giá hiện trạng, nhu cầu và hiệu quả sử dụng thiết bị y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thực hiện đầu tư, mua sắm theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu, quản lý tài sản công và y tế. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm sử dụng trang thiết bị đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời khuyến khích các cơ sở y tế chủ động khai thác, liên doanh, liên kết và huy động các nguồn lực hợp pháp để bổ sung thiết bị y tế, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn thành phố.
5. Đảm bảo thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị y tế
5.1. Đối với các đơn vị y tế công lập
Sau mỗi chu kỳ ổn định 5 năm, tiến hành rà soát, đánh giá và nâng mức độ tự chủ tài chính cho các đơn vị thuộc nhóm 3 đủ điều kiện, nhằm chuyển lên nhóm 2, ngoại trừ các đơn vị sự nghiệp công cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản và thiết yếu. Đồng thời, cần phát huy tinh thần, thái độ phục vụ và chăm sóc người bệnh của nhân viên y tế để cải thiện nguồn thu từ dịch vụ.
Đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư và phát triển hệ thống y tế. Việc đa dạng hóa các hình thức hợp tác công – tư trong cung cấp dịch vụ y tế cũng được khuyến khích nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả. Ngoài ra, cải cách thủ tục hành chính cần được đẩy mạnh kết hợp với tăng cường thực hiện chuyển đổi số trong ngành y tế, qua đó tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả bệnh viện công lập và người bệnh.
5.2. Tạo đột phá trong cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển y tế tư nhân
Để thúc đẩy phát triển y tế tư nhân, thành phố cần chủ động bổ sung quy hoạch mạng lưới bệnh viện tư, đồng thời đưa các dự án y tế chất lượng cao, đặc biệt tại khu vực phía Tây thành phố vào danh mục ưu tiên kêu gọi đầu tư. Ưu tiên dành quỹ đất sạch, đất thu hồi của các dự án, cho phép chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng đất sang đất dành cho y tế, tập trung giải phóng mặt bằng, giao đất sạch cho các dự án đầu tư y tế. Ưu tiên dành trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở y tế, cho phép áp dụng hình thức cho thuê công trình thuộc sở hữu nhà nước đối với cơ sở y tế tư nhân theo quy định. Xây dựng các cơ chế khuyến khích ưu đãi phù hợp, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư trong lĩnh vực y tế tư nhân; bảo đảm tỉnh công khai, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh trong lựa chọn nhà đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.
Dự kiến, thành phố cần huy động khoảng 12.077.000 triệu đồng từ các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển hệ thống y tế tư nhân chất lượng cao, trong đó bao gồm:
(1) Các bệnh viện quy mô lớn như:
- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Dương (600 giường - 1.300 tỷ đồng).
- Bệnh viện Quốc tế Sản Nhi Hải Dương (650 giường -1.060 tỷ đồng).
- Bệnh viện Đa khoa Green (300 giường -750 tỷ đồng).
- Bệnh viện Trường Đại học Thành Đông (500 giường - 1.250 tỷ đồng).
- Bệnh viện Quốc tế Hà Nội – Hải Dương (500 giường -1.278 tỷ đồng).
- Bệnh viện Thiện Tâm (đa khoa, lão khoa) (200 giường -105 tỷ đồng).
- Bệnh viện Tư nhân Đa khoa Chí Linh (180 giường - 309 tỷ đồng).
- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thủy Nguyên (500 giường -1.250 tỷ đồng).
- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế An Lão (300 giường - 750 tỷ đồng).
- Bệnh viện Quốc tế Cát Bà (150 giường -375 tỷ đồng).
- Bệnh viện Chất lượng cao Vĩnh Bảo (250 giường - 525 tỷ đồng).
(2) Các cơ sở dưỡng lão tư nhân (Tổng mức đầu tư: 1.125 tỷ đồng):
- Viện Dưỡng lão HAKO Nursing Home
- Viện Dưỡng lão An Dương.
(3) Mô hình tổ hợp đào tạo nhân lực y tế chất lượng cao kết hợp với bệnh viện và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, quy mô khoảng 2.000 tỷ đồng.
(4) Đồng thời, thu hút ít nhất 01 nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực y tế chất lượng cao, để tăng cường hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ.
(5) Song song, các bệnh viện, phòng khám tư nhân cần chủ động huy động nguồn vốn xã hội để đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật chuyên sâu, qua đó đáp ứng xu thế phát triển và nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao.
6. Ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế
6.1. Hợp tác quốc tế, các bệnh viện Trung ương và Trung tâm Y tế chuyên sâu trong toàn quốc
- Hợp tác quốc tế: Xây dựng chính sách thu hút đầu tư vào các lĩnh vực y tế chuyên sâu như: ung thư, tim mạch, tế bào gốc, thẩm mỹ, công nghệ cao trong chẩn đoán và điều trị. Đồng thời tăng cường kêu gọi đầu tư hệ thống bệnh viện và trung tâm dưỡng lão. Ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài, đội ngũ trí thức, chuyên gia có chất lượng cao trong lĩnh vực y tế từ nước ngoài vào đầu tư, làm việc; đưa sinh viên giỏi, cán bộ y tế đi đào tạo chuyên sâu ở các nước có thế mạnh theo các chương trình học bổng.
- Hợp tác với các bệnh viện Trung ương và Trung tâm Y tế chuyên sâu trong toàn quốc: Bên cạnh công tác đào tạo và chỉ đạo tuyến theo Đề án 1816, tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách riêng nhằm thu hút các bệnh viện tuyến Trung ương hợp tác, hỗ trợ các bệnh viện công lập. Đặc biệt trong các lĩnh vực đào tạo, chuyển giao kỹ thuật mới, phương pháp mới, cũng như tăng cường công tác khám chữa bệnh và hội chẩn từ xa.
- Khám chữa bệnh cho người nước ngoài: Thành phố ưu tiên giao cho các bệnh viện tư nhân, cũng như các bệnh viện công lập tự chủ nhóm 1 và nhóm 2, tập trung nguồn lực để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người nước ngoài.
- Tăng cường hợp tác nghiên cứu, sản xuất với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản; thu hút đầu tư vào lĩnh vực dược liệu và chăm sóc sức khỏe bằng y học cổ truyền.
- Phát triển du lịch y học cổ truyền Hải Phòng, kết hợp dịch vụ nghỉ dưỡng – trị liệu – văn hóa, hướng đến khách quốc tế.
6.2. Chuyển đổi số lĩnh vực y tế
- Hoàn thiện hạ tầng số y tế: Phát triển hạ tầng mạng, xây dựng trung tâm dữ liệu ngành y tế và trang bị đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin.
- Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu y tế dùng chung: Phát triển hồ sơ sức khỏe điện tử, cơ sở dữ liệu bệnh án điện tử, liên thông dữ liệu đa ngành và hệ thống phân tích dữ liệu y tế.
- Ứng dụng dịch vụ công trực tuyến và quản lý điều hành số: Cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến trong toàn bộ quy trình lĩnh vực y tế, triển khai hệ thống quản lý văn bản và điều hành điện tử, cùng với quản trị bệnh viện số.
- Ứng dụng công nghệ, thực hiện các giải pháp đột phá trong lĩnh vực y tế: ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain và dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT).
- Bảo mật, an toàn thông tin và tuân thủ pháp luật: Xây dựng hệ thống bảo mật đa lớp, đào tạo cán bộ y tế về an toàn thông tin, thường xuyên đánh giá và kiểm tra an toàn thông tin cùng khả năng ứng phó sự cố.
- Nâng cao năng lực nhân lực và truyền thông số: Đào tạo chuyển đổi số cho cán bộ y tế, phổ cập kỹ năng số cho người dân và đẩy mạnh tuyên truyền trên các nền tảng số.
Kinh phí đề xuất thực hiện giải pháp về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế nêu trên trong 05 năm (2026-2030) cần 805.812 triệu đồng, trong đó 521.638 triệu đồng từ nguồn ngân sách (đề nghị bố trí từ nguồn kinh phí sự nghiệp công nghệ thông tin thực hiện nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin hàng năm theo kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố).
7. Tạo chuyển biến, thay đổi mạnh mẽ trong các hoạt động chuyên môn
7.1. Công tác khám bệnh, chữa bệnh
- Nâng cao chất lượng dịch vụ kỹ thuật y tế trong khám bệnh, chữa bệnh nhất là y tế chuyên sâu, y tế cơ sở, phát huy thế mạnh y học cổ truyền.
- Cần phát triển mạnh mẽ y tế cơ sở để đảm bảo khả năng thực hiện các kỹ thuật chuyên môn theo phân tuyến, từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại tuyến dưới, giảm tải cho các bệnh viện tuyến thành phố. Việc nâng cao năng lực y tế cơ sở phải gắn liền với việc đầu tư trang thiết bị, đào tạo nhân lực, cũng như chuyển giao kỹ thuật từ tuyến trên.
- Xây dựng các bệnh viện chuyên khoa tuyến thành phố thành những trung tâm hạt nhân, có đủ năng lực chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới, đồng thời tiếp nhận chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao từ các bệnh viện tuyến Trung ương và quốc tế. Điều này sẽ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn toàn diện cho hệ thống y tế thành phố. Tiếp tục đầu tư xây dựng Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp cơ sở 2 và Bệnh viện Đa khoa Hải Dương để trở thành 02 cơ sở trọng điểm phát triển kỹ thuật cao chuyên sâu.
- Thành phố cần tích cực đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đồng thời thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực y tế, đặc biệt trong các lĩnh vực chuyên sâu, công nghệ cao. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng điều trị, dịch vụ y tế hiện đại, phục vụ tốt hơn cho người dân và cộng đồng quốc tế tại Hải Phòng.
- Song song với các giải pháp chuyên môn, cần đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao y đức, kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử của cán bộ, viên chức, người lao động ngành y tế. Đây là nền tảng để củng cố niềm tin, sự hài lòng và gắn bó của người dân với hệ thống y tế công lập, đồng thời góp phần xây dựng hình ảnh đẹp của người thầy thuốc trong thời kỳ mới.
7.2. Công tác quản lý, sử dụng thuốc, dược liệu
Cần tập trung nâng cao năng lực tự chủ về dược phẩm, bao gồm cả sản xuất, kiểm nghiệm và phân phối:
- Rà soát và quy hoạch lại hệ thống cung ứng, phân phối thuốc một cách khoa học, đảm bảo hiện đại, chuyên nghiệp và hiệu quả, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo.
- Tập trung phát triển công nghiệp dược. Khuyến khích quy hoạch, đầu tư triển khai một số vùng trồng dược liệu tập trung đạt chuẩn GACP-WHO và các nhà máy sản xuất thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu theo tiêu chuẩn quốc tế. Có chính sách ưu đãi đối với các dự án chuyển giao công nghệ, sản xuất thuốc, phát triển vùng dược liệu và nghiên cứu dược phẩm tiên tiến.
- Thực hiện kết nối dữ liệu kinh doanh thuốc online trên toàn bộ chuỗi cung ứng từ sản xuất – nhập khẩu – phân phối – bán lẻ – sử dụng, để đảm bảo minh bạch về nguồn gốc, giá cả và chất lượng thuốc. Cần giám sát chặt chẽ thông tin thuốc lưu hành trên thị trường.
- Nâng cấp Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm, đảm bảo đạt chuẩn GLP, ISO… có đủ năng lực kiểm nghiệm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, sinh phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và thiết bị y tế. Cần đầu tư bổ sung trang thiết bị hiện đại để mở rộng phạm vi kiểm nghiệm theo quy chuẩn quốc gia và quốc tế.
7.3. Nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng
- Kiện toàn, nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng theo hướng hiện đại, đủ năng lực giám sát, cảnh báo sớm, khống chế kịp thời dịch bệnh và chủ động tổ chức triển khai các hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Tiếp tục bố trí ngân sách thành phố để triển khai hỗ trợ các hoạt động y tế, dân số theo đúng quy định tại Nghị quyết số 50/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Ban hành quy định nội dung chi, mức chi hỗ trợ một số hoạt động Y tế - Dân số trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2026-2030.
- Tăng cường giám sát và xét nghiệm: Tập trung nâng cao giám sát, lấy mẫu xét nghiệm định kỳ đối với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; củng cố năng lực xét nghiệm và đảm bảo vận chuyển mẫu an toàn, kịp thời; chuẩn hóa sinh phẩm, kỹ thuật xét nghiệm; tổ chức thường xuyên đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ cán bộ y tế. Đồng thời đẩy mạnh truyền thông về nguy cơ dịch bệnh và phối hợp liên ngành trong chia sẻ dữ liệu; duy trì hợp tác với các viện chuyên ngành để khẳng định kết quả xét nghiệm. Ứng dụng công nghệ thông tin trong kết nối, phân tích, dự báo và cảnh báo sớm tình hình dịch bệnh.
- Công tác dân số, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và người cao tuổi: Tích hợp các yếu tố dân số vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, củng cố hệ thống dữ liệu dân số, tăng cường truyền thông, giáo dục về sức khỏe sinh sản và bình đẳng giới, chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng học đường. Xây dựng chính sách nâng cao chất lượng dân số, đảm bảo thích ứng với già hóa dân số, gia tăng tỷ lệ sinh để đạt mức sinh thay thế bền vững. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 49/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Quy định một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ đối với tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác dân số trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2026-2030 và Nghị quyết số 55/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Quy định một số chính sách hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2026-2030.
Kinh phí dự kiến thực hiện giai đoạn 2026-2030 hỗ trợ dinh dưỡng học đường nhằm đạt mục tiêu nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc của trẻ em, thanh thiếu niên là 1.846 tỷ đồng (hơn 369 tỷ đồng/năm[17]).
- An ninh, an toàn thực phẩm: Tích cực tuyên truyền, vận động, giáo dục, cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn pháp luật về bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm nhằm nâng cao nhận thức xã hội. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc đảm bảo an ninh, an toàn thực phẩm; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định. Chủ động phòng chống tiêu cực, lợi ích nhóm trong lĩnh vực này. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm, liên thông với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành.
- Triển khai đồng bộ công tác bảo trợ xã hội: Đầu tư toàn diện cho các cơ sở bảo trợ xã hội, đặc biệt là cơ sở chăm sóc người cao tuổi; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên môn (nhân viên y tế, cán bộ tâm lý, xã hội); thu hút đầu tư phát triển cơ sở dưỡng lão dân lập chất lượng cao, đáp ứng đa dạng nhu cầu của người dân. Tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ các nhóm bảo trợ xã hội theo quy định tại Nghị quyết số 48/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố và hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế cho các nhóm đối tượng xã hội đang thường trú trên địa bàn thành phố theo quy định tại Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố Quy định chính sách hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế cho các nhóm đối tượng xã hội đang thường trú trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2026-2030.
Quán triệt mục tiêu xây dựng và phát triển thành phố theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, với mục tiêu: “Nâng cao sức khoẻ thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của Nhân dân; xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế; hướng tới bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân và bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho mọi người dân thành phố”, đồng thời phấn đấu xây dựng Hải Phòng thành “Thành phố chăm sóc sức khỏe toàn dân, toàn diện”, với các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:
8.1. Bảo hiểm y tế
Đưa chỉ tiêu tỷ lệ dân số tham gia Bảo hiểm y tế (BHYT) và tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) so với lực lượng lao động trong độ tuổi vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025-2030. Bổ sung các đối tượng được hỗ trợ kinh phí mua BHYT và tăng mức hỗ trợ kinh phí mua BHYT. Đến năm 2026, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt trên 95% dân số, năm 2030 đạt bao phủ BHYT toàn dân.
Kinh phí ngân sách cần bố trí để đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đến năm 2030: 296.678 triệu đồng[18].
8.2. Miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế sẽ chi trả 100% viện phí cho người dân ở mức cơ bản. Trong trường hợp bảo hiểm y tế chưa thực hiện chi trả 100% viện phí, ngân sách thành phố sẽ hỗ trợ để đảm bảo mục tiêu miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế.
8.3. Về quản lý và chăm sóc sức khỏe toàn dân
a) Quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu:
(1) Giai đoạn 2025-2030: Thực hiện chuyển đổi số ngành y tế để chăm sóc, quản lý sức khỏe toàn dân trên hồ sơ sức khỏe điện tử thực hiện tại Trạm Y tế cấp xã, bệnh án điện tử tại các cơ sở y tế trong toàn thành phố. Thanh toán BHYT gắn với hồ sơ sức khỏe điện tử chuẩn hóa.
- Bệnh án điện tử phải triển khai và hoàn thành tại các bệnh viện công lập trong năm 2025, việc triển khai Bệnh án điện tử được thực hiện một cách thực chất, tránh căn bệnh thành tích, hình thức (như vừa triển khai Bệnh án điện tử vừa thực hiện song song Bệnh án giấy) gây quá tải cho nhân viên y tế, phát sinh thủ tục cho người dân, lãng phí tài nguyên ...
- Đề xuất bổ sung xây dựng trong “Đề án thu hút nhân lực chất lượng cao của thành phố Hải Phòng” do Sở Nội vụ tham mưu.
- Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần.
Kinh phí cần bố trí để thực hiện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc cho người dân miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần: 4.447.734 triệu đồng (889.546 triệu đồng/năm)[19].
(2) Giai đoạn 2031-2035:
- Tiếp tục duy trì hồ sơ bệnh án điện tử tại các bệnh viện công lập trong năm 2025.
- Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế để đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh tại Trạm y tế.
- Thực hiện kiểm soát quản lý các bệnh không lây nhiễm bệnh mạn tính.
- Miễn phí tầm soát các bệnh liên quan đến sức khỏe sinh sản.
- Miễn viện phí, thanh toán viện phí từ nguồn bảo hiểm y tế và ngân sách. b) Tổ chức khám bệnh, chữa bệnh chuyên sâu:
(1) Giai đoạn 2025-2030:
- Phát triển các kỹ thuật cao, chuyên sâu ngang tầm với các trung tâm chuyên sâu, kỹ thuật cao của tuyến Trung ương và là vệ tinh của một số bệnh viện đầu ngành Trung ương.
- Trong giai đoạn 2028 - 2030 xây dựng các bệnh viện chuyên sâu về các lĩnh vực ung bướu, tim mạch, lão khoa.
(2) Giai đoạn 2031 – 2035: Tiếp tục xây dựng các bệnh viện chuyên sâu về các lĩnh vực ung bướu, tim mạch, lão khoa.
VI. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐẾN NĂM 2045
1. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
2. Tiếp tục phát triển, nâng cao năng lực hệ thống y tế, chú trọng đầu tư, phát triển y tế dự phòng và y tế cơ sở.
3. Duy trì, phát triển nhân lực y tế chất lượng, đồng bộ, nâng cao y đức, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh và hội nhập quốc tế.
4. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tài chính y tế, phát triển hiệu quả, bền vững chính sách bảo hiểm y tế.
5. Nghiên cứu, ứng dụng đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số toàn diện trong chăm sóc sức khỏe.
6. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển y tế tư nhân, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển y tế.
VII. DỰ KIẾN KINH PHÍ THỰC HIỆN
1. Tổng kinh phí dự kiến
- Kinh phí dự kiến thực hiện Đề án: 44.314.682 triệu đồng
Trong đó:
- Ngân sách địa phương: 11.144.081 triệu đồng
+ Nguồn chi thường xuyên: 3.900.141 triệu đồng;
+ Nguồn đầu tư công: 7.243.940 triệu đồng Các DA chuyển tiếp từ giai đoạn trước: 1.423.000 triệu đồng Các DA đầu tư mới giai đoạn 2026-2030: 5.820.940 triệu đồng
- Huy động vốn vay ODA: 6.000.000 triệu đồng
- Nguồn vốn hợp pháp khác: 15.093.601 triệu đồng
- Thu hút đầu tư y tế tư nhân: 12.077.000 triệu đồng.
2. Nhu cầu ngân sách địa phương theo từng nhiệm vụ, giải pháp
- Nguồn chi thường xuyên: 3.900.141 triệu đồng;
+ Hỗ trợ đào tạo, thu hút nhân lực y tế: 753.108 triệu đồng;
+ Đầu tư cơ sở vật chất: 811.279 triệu đồng;
+ Mua sắm thiết bị y tế (chi thường xuyên): 2.335.754 triệu đồng.
- Đầu tư công (đầu tư cơ sở vật chất): 7.243.940 triệu đồng. Các DA chuyển tiếp từ giai đoạn trước: 1.423.000 triệu đồng Các DA đầu tư mới giai đoạn 2026-2030: 5.820.940 triệu đồng
3. Phân kỳ ngân sách nguồn chi thường xuyên theo năm
Tổng số kinh phí từ nguồn ngân sách chi thường xuyên là 3.900 tỷ đồng, được phân theo hằng năm cụ thể như sau:
- Năm 2026: 751,6 tỷ đồng.
- Năm 2027: 774,8 tỷ đồng.
- Năm 2028: 798,2 tỷ đồng.
- Năm 2029: 790,1 tỷ đồng.
- Năm 2030: 785,3 tỷ đồng.
(Chi tiết tại các phụ lục kèm theo)
Các sở, ban, ngành, đoàn thể thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ, chủ động lồng ghép nội dung thực hiện Đề án trong quá trình triển khai các Nghị quyết mang tính đột phá của ngành, lĩnh vực mình phụ trách, có trách nhiệm phối hợp với ngành Y tế nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện các giải pháp cụ thể, phù hợp, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong Đề án, đặc biệt đối với các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu:
a) Là cơ quan thường trực, tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố tổ chức triển khai thực hiện Đề án. Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể và các xã, phường, đặc khu tham mưu, đề xuất việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại Đề án.
b) Xây dựng Kế hoạch của ngành Y tế và chỉ đạo các đơn vị y tế trực thuộc xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án đảm bảo công bằng, tiết kiệm, hiệu quả, đúng lộ trình và biện pháp thực hiện cụ thể; đề xuất phân bổ nguồn lực hàng năm để thực hiện dự án. Trong quá trình thực hiện Đề án, căn cứ nhu cầu và thực tế phát sinh, Sở Y tế chủ động rà soát, điều chỉnh, bảo đảm việc thực hiện hiệu quả, đúng quy trình, thủ tục và trong phạm vi dự toán kinh phí được giao.
c) Tiếp tục rà soát, tham mưu tổ chức hoàn thiện việc quy hoạch, sắp xếp, tinh gọn mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ sở y tế trên địa bàn toàn thành phố bảo đảm hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và đưa ngành y tế ngày càng phát triển; phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về triển khai các giải pháp đột phá, tăng cường chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
d) Phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy trong cung cấp thông tin để chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến nội dung Đề án và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
đ) Định kỳ tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố. Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Đề án của các cơ sở y tế đảm bảo hiệu quả và đạt được các mục tiêu đã đề ra.
e) Chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan triển khai, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm chính sách y tế cho các đối tượng dễ bị tổn thương (trẻ em, người già, người nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội…); phối hợp với Bảo hiểm xã hội thành phố và các sở, ngành có liên quan đề xuất xây dựng chính sách bao phủ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người dân Hải Phòng.
a) Phối hợp với Sở Y tế và các sở, ngành liên quan đưa các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm của thành phố.
b) Trên cơ sở đề xuất các cơ quan, đơn vị liên quan, tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố kiến nghị, đề xuất các Bộ, ngành Trung ương tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí các nguồn vốn ngân sách Trung ương, Quỹ phát triển khoa học công nghệ quốc gia, việc vận động các nguồn viện trợ chính thức (ODA), viện trợ không hoàn lại không chính thức (NGO) và các nguồn vốn hỗ trợ khác cho các công trình, dự án, đề án thuộc lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân của thành phố.
c) Trên cơ sở đề xuất các cơ quan, đơn vị liên quan, chủ trì tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố bố trí vốn cho các dự án lĩnh vực y tế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Đầu tư công và các quy định khác có liên quan.
d) Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và các sở, ban ngành, đơn vị liên quan tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố bố trí kinh phí ngân sách hàng năm để thực hiện Đề án; phối hợp với Sở Y tế tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố giao quyền tự chủ tài chính đối với các cơ sở y tế công lập; hướng dẫn triển khai thực hiện các cơ chế chính sách đổi mới công tác quản lý, sử dụng tài chính của Nhà nước, nhất là trong lĩnh vực y tế.
đ) Chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan bố trí và phân bổ kinh phí Trung ương cấp thực hiện các chương trình, đề án, dự án trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân của thành phố.
a) Phối hợp với Sở Y tế, các sở ngành có liên quan tham mưu, đề xuất tiếp tục thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị, các cơ sở y tế theo quy định hiện hành.
b) Phối hợp với Sở Y tế triển khai thực hiện các giải pháp phát triển, thu hút nhân lực y tế chất lượng cao, chuyên sâu.
c) Chủ trì đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện các quy định pháp luật về vệ sinh an toàn lao động, khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
4. Sở Nông nghiệp và Môi trường
a) Phối hợp với Sở Y tế và các ngành, đơn vị liên quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bố trí quỹ đất cho phát triển các cơ sở y tế và bảo trợ xã hội; thực hiện các quy định về quản lý chất thải y tế.
b) Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu từ ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu tới sức khỏe; triển khai thực hiện các chương trình, đề án xử lý chất thải; khắc phục ô nhiễm các dòng sông, các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, làng nghế.
c) Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế, Sở Công thương triển khai thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp; đảm bảo an toàn thực phẩm, thực phẩm sạch, các sản phẩm hữu cơ thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.
đ) Chủ trì, phối hợp với các ngành, địa phương triển khai thực hiện các chương trình, đề án, dự án về xây dựng nông thôn mới, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
a) Phối hợp với Sở Y tế và các ngành, đơn vị liên quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố về quy hoạch, kiến trúc xây dựng các công trình y tế.
b) Chủ trì, phối hợp với các ngành, địa phương triển khai thẩm định thiết kế các công trình xây mới cơ sở y tế trên địa bàn thành phố.
Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và các ngành liên quan mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư và huy động các nguồn viện trợ nước ngoài cho phát triển lĩnh vực y tế.
a) Phối hợp với Sở Y tế trong việc thẩm định giải pháp triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
b) Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và các đơn vị liên quan xây dựng, triển khai các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển hệ thống y tế công lập thành phố Hải Phòng theo hướng hiện đại, công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập; ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, công nghệ cao, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, dược liệu công nghệ cao trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
c) Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến, kỹ thuật cao trong y học hiện đại và y học cổ truyền; phát triển sản phẩm, thiết bị y tế trong nước; hỗ trợ thí điểm mô hình bệnh viện thông minh, trạm y tế số, y học từ xa và hệ thống cảnh báo, giám sát y tế cộng đồng dựa trên dữ liệu lớn.
d) Phối hợp với Sở Y tế triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thuộc lĩnh vực y tế theo đúng chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 57-NQ/TW.
8. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
a) Hướng dẫn các cơ quan thông tin đại chúng và chỉ đạo hệ thống thông tin cơ sở phối hợp với ngành Y tế tuyên truyền, phổ biến Đề án, Kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố và các hoạt động liên quan tới công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Phối hợp với Sở Y tế trong việc đổi mới và đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền để nâng cao nhận thức của mọi người dân về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe.
b) Chủ trì, phối hợp với các ngành, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện Đề án vận động toàn dân luyện tập thể dục thể thao bảo vệ, nâng cao sức khỏe.
c) Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng các chương trình, đề án thể dục thể thao trong trường học nhằm nâng cao tầm vóc, thể lực của người Việt Nam.
a) Chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Sở Y tế trong công tác y tế học đường, nhất là việc quản lý và chăm sóc sức khỏe học sinh (khám định kỳ, sơ cứu, theo dõi thể chất), giáo dục sức khỏe (dinh dưỡng, vệ sinh, phòng bệnh, phòng chống tác hại chất kích thích), đảm bảo vệ sinh trường học, an toàn thực phẩm; phối hợp với ngành Y tế trong xây dựng kế hoạch, đào tạo, giám sát và phòng chống dịch bệnh, nhằm hình thành thói quen lành mạnh, phát hiện sớm vấn đề sức khỏe cho học sinh; đồng thời phối hợp trong triển khai đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao theo chủ trương tại Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 28/5/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
b) Chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch triển khai thực hiện các chương trình, đề án thể dục thể thao trong trường học nhằm nâng cao tầm vóc, thể lực của học sinh, sinh viên.
c) Phối hợp với Bảo hiểm xã hội thành phố triển khai thực hiện bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên; hàng năm phấn đấu đạt tỷ lệ 100%.
a) Chủ trì, phối hợp với các ngành, các địa phương xây dựng kế hoạch, giải pháp phát triển bảo hiểm y tế hàng năm theo lộ trình để sớm thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
b) Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chế độ chính sách của Nhà nước về bảo hiểm y tế, quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế theo đúng quy định, bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.
11. Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu
a) Chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể xây dựng Kế hoạch cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở, đặc biệt là Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 25/10/2023 của Ban Bí thư và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế, thành phố.
b) Căn cứ kết quả rà soát hiện trạng cơ sở vật chất của các Trạm Y tế cấp xã và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân trên địa bàn, chủ động bố trí kinh phí từ ngân sách xã, phường, đặc khu hoặc tổng hợp, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất cho Trạm Y tế; bảo đảm điều kiện hoạt động, đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ y tế ban đầu, chăm sóc sức khỏe thường xuyên, liên tục cho người dân tại địa phương.
c) Phối hợp với Sở Y tế đánh giá nhu cầu, tổng hợp và đề xuất bổ sung trang thiết bị y tế, thuốc và vật tư y tế cần thiết, bảo đảm đáp ứng yêu cầu triển khai các hoạt động chuyên môn tại Trạm Y tế theo hướng dẫn của Bộ Y tế và quy định của pháp luật.
Việc triển khai Đề án sẽ mang lại những hiệu quả toàn diện, góp phần phát triển hệ thống y tế hiện đại, bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thành phố.
- Thứ nhất, đem lại hiệu quả về chính trị, kinh tế và xã hội sâu rộng cho thành phố. Cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị; nâng cao chất lượng sống và phát triển toàn diện con người trên địa bàn thành phố.
- Thứ hai, nâng cao năng lực và hiệu quả hệ thống y tế công lập, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ chế quản lý, tài chính, nhân lực và nghiên cứu khoa học được đổi mới, tăng sức cạnh tranh, khẳng định vai trò chủ đạo trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân.
- Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao. Công tác đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực được đẩy mạnh, bảo đảm đồng bộ từ tuyến thành phố đến cơ sở, giúp người dân tiếp cận dịch vụ y tế công bằng, hiệu quả.
- Thứ tư, mở rộng tiếp cận, giảm chi phí y tế cho người dân. Dịch vụ hiện đại được cung ứng kịp thời, giảm gánh nặng tài chính, tạo thuận lợi trong quá trình điều trị và chăm sóc sức khỏe.
- Thứ năm, phát triển kỹ thuật cao, giảm tải tuyến Trung ương. Các bệnh viện thành phố được đầu tư ngang tầm trung ương, đáp ứng nhu cầu tại chỗ, hạn chế vượt tuyến, củng cố niềm tin vào hệ thống y tế địa phương.
- Thứ sáu, giảm quá tải bệnh viện và rủi ro xã hội. Quá trình khám chữa bệnh được rút ngắn, nguy cơ tai biến giảm, tăng cường phối hợp giữa nhân viên y tế và người bệnh, hạn chế tranh chấp, căng thẳng.
- Thứ bảy, bảo đảm cung ứng thuốc và thiết bị y tế. Nguồn cung đa dạng, chất lượng thuốc được kiểm soát, phòng chống thuốc giả, thuốc kém chất lượng.
- Thứ tám, hội nhập quốc tế và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hải Phòng hướng tới chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu của người dân, các tỉnh lân cận và người nước ngoài, đồng thời tăng cường thu hút đầu tư.
- Thứ chín, phát triển Hải Phòng thành trung tâm y tế vùng Duyên hải Bắc Bộ. Thành phố xây dựng bệnh viện chuyên sâu, kỹ thuật cao, phát triển hài hòa y tế phổ cập và chuyên sâu, góp phần thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW và các mục tiêu phát triển bền vững.
Với quan điểm “Đầu tư cho y tế là đầu tư cho phát triển”, Đề án sẽ tạo nền tảng cho hệ thống y tế hiện đại, an toàn, chất lượng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững của thành phố./.
[1] Năm 2024, chi hỗ trợ đào tạo với kinh phí 16,37 tỷ đồng; chi hỗ trợ tăng cường chuyên môn tuyến dưới với kinh phí 0,55 tỷ đồng; chi thực hiện chế độ đãi ngộ với kinh phí 15,93 tỷ đồng. Dự kiến cả năm 2025, chi hỗ trợ đào tạo, chi hỗ trợ tăng cường chuyên môn và chi thực hiện chế độ đãi ngộ với tổng kinh phí 50,6 tỷ đồng. 05 đơn vị được phê duyệt chủ trương đầu tư cơ sở hạ tầng TTYT Quân dân y Bạch Long Vĩ, BVĐK Vĩnh Bảo, BVĐK Thủy Nguyên, TTYT Tiên Lãng, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp với tổng mức đầu tư 391 tỷ đồng. Năm 2024, thành phố Hải Phòng đã quan tâm, bố trí dự toán để thực hiện tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị y tế là 90,0 tỷ đồng, đã phân bổ 72/90 tỷ đồng để Sở Y tế để thực hiện mua sắm máy móc, thiết bị y tế cho các đơn vị trực thuộc.
[2] Trung tâm Công tác xã hội, Giáo dục hòa nhập và Phát triển cộng đồng Tâm Phúc, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm Hải Phòng, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm Tree, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm Hoa Mặt Trời Hải Phòng, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm Kiến An - Hải Phòng, Trung tâm Công tác xã hội và Phát triển toàn diện Hoa Nắng, Trung tâm Công tác xã hội Hoa Biển, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm Hoa Hướng Dương, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm Ngôi nhà vui vẻ Hải Phòng, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm NEW SKY, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm Minh Tuệ, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm PANDA, Trung tâm Công tác xã hội Trang Anh Vĩnh Bảo, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp sớm Cầu Vồng, Trung tâm Công tác xã hội và Can thiệp kỹ năng toàn diện Elite Kids, Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Tâm Quyến, Trung tâm dưỡng lão Diên Hồng Vũ Yên.
[3] Tổng số nhân lực trong các cơ quan hành chính: 126 công chức, 10 hợp đồng lao động phục vụ (HĐ theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP). Công chức: SYT: 84, DS: 19, ATVSTP: 22, HĐ phục vụ: SYT: 5, DS: 3, ATTP: 2; gồm 28 bác sỹ, 16 dược sỹ đại học, 82 chuyên môn khác.
[4] So định mức tối thiểu: Số nhân lực có mặt tại đơn vị tự chủ nhóm 1, 2 đạt 84.6% (thiếu 1.317 người); tại đơn vị tự chủ nhóm 3, 4 đạt 79.7% (2653 người); Số biên chế được giao năm 2025 tại đơn vị tự chủ nhóm 3, 4 đạt 95.9% (12539/13.071). Số nhân lực có mặt tại đơn vị tuyến thành phố là 81% (thiếu 2143), tuyến khu vực 85% (thiếu 992), tuyến xã 77,6% (thiếu 835).
[5] Năm 2023: 05 tiến sĩ, 33 chuyên khoa II, 169 thạc sĩ & chuyên khoa I, 58 đại học liên thông, 18 sau đại học khác; Năm 2024: 05 tiến sĩ, 39 chuyên khoa II, 210 thạc sĩ & chuyên khoa I, 62 đại học liên thông, 19 sau đại học khác).
[6] Tại Hải Phòng: Nghị quyết 23/2019/NQ-HĐND ngày 19/7/2019 của Hội đồng nhân dân thành phố quy định mức chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và người hoạt động không chuyên trách thành phố Hải Phòng; Nghị quyết số 10/2023/NQ-HĐND ngày 08/12/2023 của HĐND thành phố ban hành chính sách đặc thù về hỗ trợ đào tạo, đãi ngộ nhân lực ngành Y tế giai đoạn 2024–2030;
Tại Hải Dương: Nghị quyết số 08/2019/NQ-HĐND ngày 11/7/2019 của HĐND tỉnh Hải Dương về chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ đào tạo sau đại học, khen thưởng phong học hàm và danh hiệu đối với cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh; Nghị quyết số 07/2019/NQ-HĐND ngày 11/7/2019 của HĐND tỉnh ban hành quy định về một số mức chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 39/2024/NQ-HĐND ngày 11/12/2024 của HĐND tỉnh quy định chính sách hỗ trợ đào tạo, thu hút và đãi ngộ đối với nguồn nhân lực y tế tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của tỉnh giai đoạn 2025–2030.
[7] Hỗ trợ đào tạo cho 57 bác sĩ, 79 bác sĩ chuyên khoa I, 14 dược sĩ chuyên khoa I, 05 thạc sỹ bác sỹ, 01 thạc sĩ dược, 25 bác sĩ chuyên khoa II, 01 tiến sĩ, 08 điều dưỡng, kỹ thuật viên sau đại học; tăng cường chuyên môn tuyến dưới đối với 05 người; thực hiện chế độ đãi ngộ cho 3.685 viên chức
[8] 146 viên chức được cử đi đào tạo: 21 viên chức đi đào tạo cập nhật kiến thức y khoa, 35 y sĩ đi đào tạo bác sĩ, 90 bác sĩ đi đào tạo sau đại học; thu hút 13 bác sĩ về công tác tại Trạm y tế, Trung tâm Y tế; hỗ trợ đãi ngộ 200 bác sĩ công tác tại Trạm Y tế tuyến xã.
[9] Bệnh viện Phụ sản Hải Dương, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Hải Dương, Bệnh viện đa khoa Đôn Lương, Trung tâm Y tế: Cát Hải, Dương Kinh, Hải An, Cẩm Giàng, Chí Linh, Gia Lộc.
[10] Trung tâm y tế Hồng Bàng 15,4%; Trung tâm y tế Bình Giang 16%; Trung tâm y tế Kim Thành 18,8%
[11] Năm 2010, trên địa bàn thành phố có 03 bệnh viện tư nhân, năm 2015 có 06 bệnh viện, năm 2020 có 9 bệnh viện, năm 2025 có 13 bệnh viện, dự kiến năm 2026 dự kiến có thêm 02 bệnh viện đi vào hoạt động.
[12] Công ty Cổ phần Dược phẩm Hải Phòng; Công ty Cổ phần dược phẩm Trung ương 3; Công ty TNHH NIPRO Pharma Việt Nam (100% vốn đầu tư nước ngoài); Công ty Cổ phần Dược vật tư y tế Hải Dương; Công ty cổ phần dược phẩm công nghệ cao FDA.
[13] Năm 2024, Khu vực phía Đông thành phố: Tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh đạt 75,0% (KH giao 72,0%), Tỷ lệ trẻ em mới sinh được sàng lọc sơ sinh đạt 70,5% (KH giao 68,0%), Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn và khám sức khoẻ trước khi kết hôn đạt 71,5% (KH giao 70,0%), Tỷ lệ người cao tuổi được khám, tư vấn sức khỏe định kỳ đạt 74,0% (KH giao 73,0%). Tốc độ tăng dân số năm 2023 đạt 0,81%, năm 2024 đạt 0,93%. Khu vực phía Tây thành phố: Tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh đạt % (KH giao 70%), Tỷ lệ trẻ em mới sinh được sàng lọc sơ sinh đạt 66,5% (KH giao 60%), Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn và khám sức khoẻ trước khi kết hôn đạt 65,5% (KH giao 60%), Tỷ lệ người cao tuổi được khám, tư vấn sức khỏe định kỳ đạt 90,2% (KH giao tăng thêm 5% so cùng kỳ, hoàn thành kế hoạch). Tốc độ tăng dân số năm 2023 đạt 0,52%, năm 2024 đạt 1,09%.
[14] Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Bệnh viện Sức khỏe Tâm thần Hải Phòng, Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Phòng, Trung tâm Y tế Tiên Lãng, Bệnh viện Đa khoa Hải Dương, Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương và Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương
[15] Năm 2024, có 204 người xin thôi việc, chấm dứt hợp đồng, trong đó có 74 bác sĩ, 58 điều dưỡng, 03 hộ sinh, 09 kỹ thuật y, 20 dược, 9 chức danh nghề nghiệp chuyên ngành y tế khác (Y tế công cộng, dân số,…), 31 chức danh nghề nghiệp dùng chung và chuyên môn khác (Kế toán, chuyên viên, kĩ sư,…). Năm 2025, có 93 người xin thôi việc, chấm dứt hợp đồng lao động năm 2025, trong đó có 35 bác sỹ, 32 điều dưỡng, 04 hộ sinh, 03 kỹ thuật y, 02 dược, 07 chức danh nghề nghiệp chuyên ngành y tế khác (Y tế công cộng, dân số,…), 10 chức danh nghề nghiệp dùng chung và chuyên môn khác (Kế toán, chuyên viên, kĩ sư,…).
[16] Năm 2024, bố trí ngân sách cho Sở Y tế Hải Phòng 122,85 tỷ đồng (theo Đề án 4668 cần bố trí 442,371 tỷ đồng); năm 2025, bố trí ngân sách cho Sở Y tế Hải Phòng 91,6 tỷ đồng (theo Đề án 4668 cần bố trí 461,918 tỷ đồng). Năm 2025, bố trí ngân sách cho Sở Y tế Hải Dương 30,5 tỷ đồng (theo Đề án 3315 cần bố trí 117 tỷ đồng).
[17] Theo số liệu tại Công văn số 7040/SGDĐT-VP ngày 24/9/2025 của Sở Giáo dục và Đào tạo, dự kiến hỗ trợ cho 234.500 học sinh mầm non và 349.000 học sinh tiểu học mỗi năm.
[18] Theo số liệu tại Công văn số 711/BHXH-QLT&PTNTG ngày 24/9/2025 của Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng, dự kiến cần hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho khoảng 234.788 người (1.263.000 đồng/người). Nguồn lực dự kiến thực hiện theo các chính sách, nghị quyết của thành phố.
[19] Theo số liệu tại Công văn số 711/BHXH-QLT&PTNTG ngày 24/9/2025 của Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng, dự kiến cần hỗ trợ ngân sách để thực hiện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần cho khoảng 2.965.156 người dân chưa có thẻ bảo hiểm xã hội (300.000 đồng/người/lượt). Nguồn lực dự kiến thực hiện theo các chính sách, nghị quyết của thành phố.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh
