Nghị quyết 50/NQ-HĐND năm 2026 chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 4, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031
| Số hiệu | 50/NQ-HĐND |
| Ngày ban hành | 31/07/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 31/07/2026 |
| Loại văn bản | Nghị quyết |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Đà Nẵng |
| Người ký | Nguyễn Đức Dũng |
| Lĩnh vực | Bộ máy hành chính |
|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 50/NQ-HĐND |
Đà Nẵng, ngày 31 tháng 7 năm 2026 |
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG KHÓA XI,
NHIỆM KỲ 2026 - 2031, KỲ HỌP THỨ 4
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 114/2025/NQ-UBTVQH15 ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân;
Căn cứ kết quả phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 4, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
1. Phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 4, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XI vào ngày 31 tháng 7 năm 2026 có 09 lượt đại biểu đặt câu hỏi chất vấn, 07 lượt đại biểu truy vấn liên quan đến những vấn đề được cử tri và Nhân dân trong thành phố quan tâm trên các lĩnh vực: Tài chính, đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh; nông nghiệp, tài nguyên và môi trường; cải cách thủ tục hành chính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường và Giám đốc Sở Tài chính đã báo cáo trả lời chất vấn, giải trình cơ bản đầy đủ các câu hỏi của đại biểu.
2. Hội đồng nhân dân thành phố cơ bản thống nhất nội dung trả lời chất vấn của các thành viên Ủy ban nhân dân thành phố; ghi nhận tinh thần trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Giám đốc Sở Tài chính và các thành viên Ủy ban nhân dân thành phố trong việc chuẩn bị nội dung, tham gia trả lời chất vấn; cơ bản làm rõ các vấn đề đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố và cử tri quan tâm, xác định các nhiệm vụ, giải pháp và cam kết khắc phục trong thời gian tới.
3. Hội đồng nhân dân thành phố ghi nhận sự nỗ lực của Ủy ban nhân dân thành phố và các sở, ngành trong công tác chỉ đạo, điều hành, góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tập trung khắc phục, như: Cải cách thủ tục hành chính và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, giải phóng mặt bằng và triển khai một số dự án trọng điểm còn chậm; việc bố trí nguồn lực cho phát triển hạ tầng, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và các khu tái định cư còn bất cập; công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, xử lý khai thác khoáng sản trái phép, rà soát, xử lý các dự án chậm triển khai, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và khắc phục hậu quả sau khai thác khoáng sản ở một số địa phương chưa thật sự quyết liệt, hiệu quả. Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân từ công tác chỉ đạo, điều hành có lúc chưa quyết liệt; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa chặt chẽ; việc tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc và xử lý trách nhiệm ở một số lĩnh vực chưa kịp thời, chưa đáp ứng yêu cầu.
1. Ủy ban nhân dân thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện đầy đủ các nội dung cam kết của người trả lời chất vấn; xây dựng kế hoạch, lộ trình và giải pháp cụ thể khắc phục những tồn tại, hạn chế đã được chỉ ra tại phiên chất vấn; xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân và bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ theo đúng thời hạn đã cam kết. Định kỳ rà soát, báo cáo tiến độ thực hiện các cam kết sau chất vấn; công khai kết quả thực hiện, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu đối với những nội dung chậm tiến độ hoặc không hoàn thành.
Thành viên Ủy ban nhân dân thành phố và thủ trưởng các cơ quan liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung đã cam kết trước Hội đồng nhân dân thành phố; chủ động rà soát, xử lý kịp thời, dứt điểm những vấn đề còn chậm trễ, tồn tại, hạn chế thuộc lĩnh vực phụ trách; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, chỉ đạo quyết liệt, sâu sát, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác quản lý, điều hành và hiệu quả thực thi công vụ, góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố năm 2026.
2.1. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Tài chính phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp và đầu tư; phấn đấu đến hết năm 2026 bảo đảm 100% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được giải quyết đúng và trước hạn, không để phát sinh hồ sơ quá hạn; thực hiện rút ngắn thời gian giải quyết đối với các thủ tục hành chính theo quy định của Nghị định số 296/2026/NĐ-CP; duy trì 100% thủ tục đăng ký doanh nghiệp được tiếp nhận, giải quyết trực tuyến, ký số và trả kết quả điện tử. Đồng thời, nâng cao chất lượng tiếp nhận, xử lý kiến nghị của doanh nghiệp; bảo đảm các phản ánh, kiến nghị thuộc thẩm quyền được xử lý, trả lời kịp thời, không để tồn đọng kéo dài.
Chỉ đạo các sở, ngành liên quan tiếp tục thực hiện nghiêm cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục đầu tư; công khai kết quả giải quyết hồ sơ, tỷ lệ đúng hạn và các chỉ tiêu cải cách hành chính trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của thành phố, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp theo dõi, giám sát; góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố và thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số.
2.2. Chỉ đạo quyết liệt công tác giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện các dự án động lực, trọng điểm theo tinh thần “6 rõ”. Định kỳ rà soát tiến độ các dự án, tăng cường kiểm tra hiện trường, chủ động nắm bắt, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu xây dựng và thủ tục đầu tư để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, nâng cao chất lượng các dự án. Chủ động rà soát, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 và năm 2026, linh hoạt trong phân bổ nguồn lực đảm bảo hợp lý, hài hòa, đáp ứng việc triển khai thực hiện các dự án. Phấn đấu hoàn thành Dự án Tuyến đường Trục I Tây Bắc trong tháng 12 năm 2026 theo kế hoạch; đẩy nhanh tiến độ Dự án Liên kết vùng miền Trung và Dự án Đường vành đai phía Bắc tỉnh Quảng Nam theo các mốc tiến độ đã được Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo; định kỳ hằng quý báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố kết quả thực hiện, nguyên nhân đối với các dự án chậm tiến độ và giải pháp khắc phục.
2.3. Xây dựng kế hoạch triển khai kèm tiến độ xử lý dứt điểm các nội dung tại Kết luận thanh tra số 726/KL-TTTP của Thanh tra thành phố và các kiến nghị của Đoàn Giám sát Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố đối với các khu tái định cư Duy Hải giai đoạn 1, 2, 3, Nồi Rang, Sơn Viên. Trên cơ sở đó, chỉ đạo Sở Tài chính tham mưu bố trí nguồn lực, có kế hoạch triển khai xây dựng đồng bộ các hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, thiết chế văn hóa phục vụ người dân; chỉ đạo xác định rõ cơ quan chủ trì, phạm vi công việc, nhu cầu vốn và lộ trình thực hiện để HĐND thành phố theo dõi, giám sát. Trước mắt, cần rà soát, có giải pháp khớp nối, đảm bảo an toàn giao thông, vệ sinh môi trường tại khu vực đã có người dân sinh sống.
3.1. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Công an thành phố, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố, Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan liên quan tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản; hoàn thành việc rà soát các điểm nóng, xây dựng phương án xử lý và tổ chức xử lý dứt điểm các điểm khai thác khoáng sản trái phép phức tạp, kéo dài trong năm 2026. Tăng cường Đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân được cấp phép hoạt động khoáng sản; đồng thời, chỉ đạo các đơn vị, địa phương có liên quan triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp ngăn chặn, xử lý dứt điểm tình trạng khai thác khoáng sản trái phép; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm và trách nhiệm của người đứng đầu địa phương để tái diễn tình trạng khai thác trái phép kéo dài. Đồng thời, tăng cường theo dõi, đánh giá chất lượng nguồn nước tại các khu vực bị ảnh hưởng, kịp thời triển khai các giải pháp bảo vệ nguồn nước sinh hoạt, bảo đảm đời sống và sức khỏe của Nhân dân.
3.2. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan khẩn trương hoàn thành việc đóng cửa mỏ trong năm 2026 đối với các trường hợp đã được phê duyệt Đề án đóng cửa mỏ nhưng chưa hoàn thành công tác cải tạo, phục hồi môi trường. Yêu cầu các doanh nghiệp khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thực hiện đầy đủ việc cải tạo, phục hồi môi trường và đóng cửa mỏ đối với các trường hợp còn lại. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bảo đảm phục hồi môi trường, an toàn khu vực mỏ và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên khoáng sản. Đồng thời, nghiên cứu các giải pháp tái định hướng sử dụng đất sau khai thác khoáng sản đối với các điểm mỏ đã thực hiện đóng cửa mỏ và cải tạo phục hồi môi trường theo hướng đồng bộ và dài hạn, nhất là những khu vực có nhiều mỏ khoáng sản liền kề, nhằm xây dựng phương án sử dụng đất thống nhất, tránh manh mún, phân mảnh và chồng chéo mục đích sử dụng.
3.3. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường và các đơn vị cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường rà soát, đánh giá toàn diện năng lực thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố; hoàn thành trong quý IV năm 2026 phương án tổ chức thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm đáp ứng nhu cầu thực tế, không để xảy ra tình trạng ùn ứ rác thải kéo dài tại các khu dân cư, nhất là tại các xã khu vực phía Tây và phía Nam thành phố. Hoàn thành việc lập và phê duyệt đồ án quy hoạch xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố sau sáp nhập trong năm 2026 đảm bảo đồng bộ, hiện đại và phù hợp định hướng phát triển bền vững; kịp thời hướng dẫn các địa phương giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong việc xác định kinh phí, xây dựng dự toán đơn giá đặt hàng, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt. Khẩn trương tham mưu Hội đồng nhân dân thành phố ban hành Nghị quyết liên quan đến tiêu chí, tiêu chuẩn và điều kiện, định mức, đơn giá, giá đặt hàng liên quan đến khối lượng chất thải rắn được đặt hàng trên địa bàn thành phố theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 259/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 11 Nghị quyết số 136/2024/QH15.
Khẩn trương đầu tư, nâng cao năng lực các khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt. tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của các đơn vị cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường; kịp thời xử lý hoặc thay thế các đơn vị không bảo đảm năng lực, chất lượng dịch vụ. Đồng thời, đẩy mạnh phân loại chất thải rắn tại nguồn, ứng dụng công nghệ trong quản lý thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải, từng bước giảm tỷ lệ chôn lấp, nâng cao tỷ lệ tái chế, tái sử dụng chất thải theo định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn.
3.4. Đôn đốc các xã, phường chưa xây dựng, phê duyệt phương án ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai, khẩn trương hoàn thành công tác xây dựng, phê duyệt, công bố phương án ứng phó thiên tai theo các cấp độ rủi ro trước ngày 03/8/2026. Khẩn trương xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ, phân vùng rủi ro do thiên tai trên địa bàn thành phố và tổ chức tuyên truyền, công khai cho người dân biết, chủ động phòng tránh. Tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn, nghiệp vụ, cung cấp các bản đồ nền, cơ sở dữ liệu và giám sát, kiểm tra công tác xây dựng phương án ứng phó với thiên tai của các xã, phường đảm bảo chất lượng, có tính khả thi, chi tiết, đơn giản, thuận lợi cho việc áp dụng, triển khai, phù hợp với thực tiễn của từng địa phương. Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật tư, xây dựng kế hoạch phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng vũ trang trên địa bàn trong công tác phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Chủ động theo dõi, phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kịp thời có ý kiến góp ý để sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn thay thế Quyết định số 1865/QĐ-TTg trước mùa mưa bão năm 2026 (trong tháng 8/2026). Trong đó, cần lưu ý phối hợp chặt chẽ trong quá trình hoàn thiện, tiếp thu các ý kiến góp ý đảm bảo quy trình được phê duyệt có tính linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn của thành phố trên cơ sở tổng hợp các ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, chuyên gia.
3.5. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị và Ủy ban nhân dân xã Hòa Vang trong quý IV năm 2026 hoàn thành việc kiểm tra, đánh giá toàn diện hiện trạng khu vực mỏ đất sét Bàu Tong, thôn An Châu; đôn đốc Công ty TNHH Hiệp Đại Hưng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về cải tạo, phục hồi môi trường, đóng cửa mỏ, hỗ trợ vụ mùa và bồi thường thiệt hại cho người dân theo quy định và các cam kết đã thực hiện. Trường hợp doanh nghiệp không chấp hành hoặc chậm thực hiện, kiên quyết áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật; không xem xét hoàn trả tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm và áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương xây dựng và triển khai phương án khắc phục tình trạng sạt lở, cải tạo, phục hồi đất sản xuất tại khu vực cánh đồng Bàu Tong ngay sau khi Đề án đóng cửa mỏ được phê duyệt; ưu tiên khôi phục diện tích đất nông nghiệp đủ điều kiện sản xuất, bảo đảm an toàn, ổn định lâu dài, tránh lãng phí tài nguyên đất đai và tạo điều kiện để Nhân dân sớm khôi phục sản xuất.
3.6. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo các Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan khẩn trương rà soát, đánh giá nhu cầu và khả năng cung ứng các loại vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 - 2030; xây dựng cơ sở dữ liệu về địa chất và khoáng sản (trong đó, đảm bảo các thông tin về trữ lượng theo quy hoạch, công suất thiết kế, trữ lượng đã khai thác, trữ lượng còn lại...). Đẩy nhanh tiến độ cấp phép thăm dò và khai thác khoáng sản, nâng công suất các mỏ đang còn thời gian khai thác, trữ lượng khai thác; tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản hoặc cấp phép khai thác đối với các khu vực đã được phê duyệt theo quy định; đôn đốc các doanh nghiệp đã trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản khẩn trương thực hiện các hồ sơ, thủ tục liên quan để cấp phép, sớm đưa mỏ vào khai thác. Kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản dư thừa từ các dự án xây dựng để bổ sung nguồn cung vật liệu, đáp ứng nhu cầu các công trình, dự án trọng điểm, hạn chế tình trạng khan hiếm và phải vận chuyển vật liệu từ địa phương khác.
Chỉ đạo Sở Xây dựng tăng cường quản lý, công bố giá vật liệu xây dựng bảo đảm sát với giá thị trường; chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, giám sát việc kê khai, niêm yết giá, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi đầu cơ, găm hàng, nâng giá bất hợp lý; hoàn thành trong tháng 9 năm 2026 việc ban hành và triển khai Quy chế phối hợp khảo sát, thu thập thông tin và công bố giá vật liệu xây dựng, góp phần bình ổn thị trường và kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng.
Đồng thời, chủ động nghiên cứu, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về địa chất, khoáng sản, nhất là các quy định liên quan đến đấu giá quyền khai thác khoáng sản; kịp thời báo cáo, kiến nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc áp dụng cơ chế phù hợp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về nguồn cung vật liệu xây dựng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương tiếp tục triển khai quyết liệt Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ; hoàn thành trong quý IV năm 2026 việc rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ, thời gian giải quyết và chi phí tuân thủ đối với các thủ tục liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy theo mục tiêu đã đề ra. Khẩn trương thực hiện các phương án đơn giản hóa đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đẩy mạnh số hóa, tái sử dụng dữ liệu, bảo đảm thực hiện hiệu quả nguyên tắc “người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần”. Hoàn thành việc ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định, thủ tục không còn phù hợp. Định kỳ báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố kết quả thực hiện, trong đó làm rõ kết quả của từng sở, ngành, địa phương; đồng thời gắn kết quả cải cách thủ tục hành chính với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu, kịp thời kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân không hoàn thành hoặc chậm thực hiện các nhiệm vụ được giao.
1. Các nội dung chất vấn trực tiếp tại Kỳ họp thứ 4, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XI, đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố kết quả thực hiện chậm nhất 20 ngày trước ngày khai mạc Kỳ họp thường lệ cuối năm 2026. Báo cáo phải đánh giá cụ thể kết quả thực hiện từng nội dung đã cam kết tại phiên chất vấn; đối với những nhiệm vụ chưa hoàn thành phải nêu rõ nguyên nhân, trách nhiệm, tiến độ và thời hạn hoàn thành.
2. Đối với các nội dung chất vấn đại biểu đăng ký tại Kỳ họp này nhưng không được lựa chọn để chất vấn trực tiếp, giao Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan nghiên cứu, trả lời đầy đủ bằng văn bản theo đúng nội dung đăng ký chất vấn (theo Phụ lục đính kèm) và gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân trước 30/8/2026. Đồng thời, Ủy ban nhân dân thành phố tổng hợp, báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố kết quả thực hiện các nội dung đã trả lời bằng văn bản chậm nhất 20 ngày trước ngày khai mạc Kỳ họp thường lệ cuối năm 2026.
1. Ủy ban nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.
|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 50/NQ-HĐND |
Đà Nẵng, ngày 31 tháng 7 năm 2026 |
NGHỊ QUYẾT
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG KHÓA XI,
NHIỆM KỲ 2026 - 2031, KỲ HỌP THỨ 4
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 114/2025/NQ-UBTVQH15 ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân;
Căn cứ kết quả phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 4, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn; hạn chế, bất cập và nguyên nhân đến vấn đề chất vấn
1. Phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 4, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XI vào ngày 31 tháng 7 năm 2026 có 09 lượt đại biểu đặt câu hỏi chất vấn, 07 lượt đại biểu truy vấn liên quan đến những vấn đề được cử tri và Nhân dân trong thành phố quan tâm trên các lĩnh vực: Tài chính, đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh; nông nghiệp, tài nguyên và môi trường; cải cách thủ tục hành chính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường và Giám đốc Sở Tài chính đã báo cáo trả lời chất vấn, giải trình cơ bản đầy đủ các câu hỏi của đại biểu.
2. Hội đồng nhân dân thành phố cơ bản thống nhất nội dung trả lời chất vấn của các thành viên Ủy ban nhân dân thành phố; ghi nhận tinh thần trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Giám đốc Sở Tài chính và các thành viên Ủy ban nhân dân thành phố trong việc chuẩn bị nội dung, tham gia trả lời chất vấn; cơ bản làm rõ các vấn đề đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố và cử tri quan tâm, xác định các nhiệm vụ, giải pháp và cam kết khắc phục trong thời gian tới.
3. Hội đồng nhân dân thành phố ghi nhận sự nỗ lực của Ủy ban nhân dân thành phố và các sở, ngành trong công tác chỉ đạo, điều hành, góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tập trung khắc phục, như: Cải cách thủ tục hành chính và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, giải phóng mặt bằng và triển khai một số dự án trọng điểm còn chậm; việc bố trí nguồn lực cho phát triển hạ tầng, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và các khu tái định cư còn bất cập; công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, xử lý khai thác khoáng sản trái phép, rà soát, xử lý các dự án chậm triển khai, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và khắc phục hậu quả sau khai thác khoáng sản ở một số địa phương chưa thật sự quyết liệt, hiệu quả. Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân từ công tác chỉ đạo, điều hành có lúc chưa quyết liệt; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa chặt chẽ; việc tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc và xử lý trách nhiệm ở một số lĩnh vực chưa kịp thời, chưa đáp ứng yêu cầu.
Điều 2. Giải pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập
1. Ủy ban nhân dân thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện đầy đủ các nội dung cam kết của người trả lời chất vấn; xây dựng kế hoạch, lộ trình và giải pháp cụ thể khắc phục những tồn tại, hạn chế đã được chỉ ra tại phiên chất vấn; xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân và bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ theo đúng thời hạn đã cam kết. Định kỳ rà soát, báo cáo tiến độ thực hiện các cam kết sau chất vấn; công khai kết quả thực hiện, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu đối với những nội dung chậm tiến độ hoặc không hoàn thành.
Thành viên Ủy ban nhân dân thành phố và thủ trưởng các cơ quan liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung đã cam kết trước Hội đồng nhân dân thành phố; chủ động rà soát, xử lý kịp thời, dứt điểm những vấn đề còn chậm trễ, tồn tại, hạn chế thuộc lĩnh vực phụ trách; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, chỉ đạo quyết liệt, sâu sát, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác quản lý, điều hành và hiệu quả thực thi công vụ, góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố năm 2026.
2. Đối với lĩnh vực tài chính, đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh
2.1. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Tài chính phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp và đầu tư; phấn đấu đến hết năm 2026 bảo đảm 100% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được giải quyết đúng và trước hạn, không để phát sinh hồ sơ quá hạn; thực hiện rút ngắn thời gian giải quyết đối với các thủ tục hành chính theo quy định của Nghị định số 296/2026/NĐ-CP; duy trì 100% thủ tục đăng ký doanh nghiệp được tiếp nhận, giải quyết trực tuyến, ký số và trả kết quả điện tử. Đồng thời, nâng cao chất lượng tiếp nhận, xử lý kiến nghị của doanh nghiệp; bảo đảm các phản ánh, kiến nghị thuộc thẩm quyền được xử lý, trả lời kịp thời, không để tồn đọng kéo dài.
Chỉ đạo các sở, ngành liên quan tiếp tục thực hiện nghiêm cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục đầu tư; công khai kết quả giải quyết hồ sơ, tỷ lệ đúng hạn và các chỉ tiêu cải cách hành chính trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của thành phố, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp theo dõi, giám sát; góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố và thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số.
2.2. Chỉ đạo quyết liệt công tác giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện các dự án động lực, trọng điểm theo tinh thần “6 rõ”. Định kỳ rà soát tiến độ các dự án, tăng cường kiểm tra hiện trường, chủ động nắm bắt, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu xây dựng và thủ tục đầu tư để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, nâng cao chất lượng các dự án. Chủ động rà soát, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 và năm 2026, linh hoạt trong phân bổ nguồn lực đảm bảo hợp lý, hài hòa, đáp ứng việc triển khai thực hiện các dự án. Phấn đấu hoàn thành Dự án Tuyến đường Trục I Tây Bắc trong tháng 12 năm 2026 theo kế hoạch; đẩy nhanh tiến độ Dự án Liên kết vùng miền Trung và Dự án Đường vành đai phía Bắc tỉnh Quảng Nam theo các mốc tiến độ đã được Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo; định kỳ hằng quý báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố kết quả thực hiện, nguyên nhân đối với các dự án chậm tiến độ và giải pháp khắc phục.
2.3. Xây dựng kế hoạch triển khai kèm tiến độ xử lý dứt điểm các nội dung tại Kết luận thanh tra số 726/KL-TTTP của Thanh tra thành phố và các kiến nghị của Đoàn Giám sát Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố đối với các khu tái định cư Duy Hải giai đoạn 1, 2, 3, Nồi Rang, Sơn Viên. Trên cơ sở đó, chỉ đạo Sở Tài chính tham mưu bố trí nguồn lực, có kế hoạch triển khai xây dựng đồng bộ các hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, thiết chế văn hóa phục vụ người dân; chỉ đạo xác định rõ cơ quan chủ trì, phạm vi công việc, nhu cầu vốn và lộ trình thực hiện để HĐND thành phố theo dõi, giám sát. Trước mắt, cần rà soát, có giải pháp khớp nối, đảm bảo an toàn giao thông, vệ sinh môi trường tại khu vực đã có người dân sinh sống.
3. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên và môi trường
3.1. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Công an thành phố, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố, Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan liên quan tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản; hoàn thành việc rà soát các điểm nóng, xây dựng phương án xử lý và tổ chức xử lý dứt điểm các điểm khai thác khoáng sản trái phép phức tạp, kéo dài trong năm 2026. Tăng cường Đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân được cấp phép hoạt động khoáng sản; đồng thời, chỉ đạo các đơn vị, địa phương có liên quan triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp ngăn chặn, xử lý dứt điểm tình trạng khai thác khoáng sản trái phép; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm và trách nhiệm của người đứng đầu địa phương để tái diễn tình trạng khai thác trái phép kéo dài. Đồng thời, tăng cường theo dõi, đánh giá chất lượng nguồn nước tại các khu vực bị ảnh hưởng, kịp thời triển khai các giải pháp bảo vệ nguồn nước sinh hoạt, bảo đảm đời sống và sức khỏe của Nhân dân.
3.2. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan khẩn trương hoàn thành việc đóng cửa mỏ trong năm 2026 đối với các trường hợp đã được phê duyệt Đề án đóng cửa mỏ nhưng chưa hoàn thành công tác cải tạo, phục hồi môi trường. Yêu cầu các doanh nghiệp khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thực hiện đầy đủ việc cải tạo, phục hồi môi trường và đóng cửa mỏ đối với các trường hợp còn lại. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bảo đảm phục hồi môi trường, an toàn khu vực mỏ và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên khoáng sản. Đồng thời, nghiên cứu các giải pháp tái định hướng sử dụng đất sau khai thác khoáng sản đối với các điểm mỏ đã thực hiện đóng cửa mỏ và cải tạo phục hồi môi trường theo hướng đồng bộ và dài hạn, nhất là những khu vực có nhiều mỏ khoáng sản liền kề, nhằm xây dựng phương án sử dụng đất thống nhất, tránh manh mún, phân mảnh và chồng chéo mục đích sử dụng.
3.3. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường và các đơn vị cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường rà soát, đánh giá toàn diện năng lực thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố; hoàn thành trong quý IV năm 2026 phương án tổ chức thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm đáp ứng nhu cầu thực tế, không để xảy ra tình trạng ùn ứ rác thải kéo dài tại các khu dân cư, nhất là tại các xã khu vực phía Tây và phía Nam thành phố. Hoàn thành việc lập và phê duyệt đồ án quy hoạch xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố sau sáp nhập trong năm 2026 đảm bảo đồng bộ, hiện đại và phù hợp định hướng phát triển bền vững; kịp thời hướng dẫn các địa phương giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong việc xác định kinh phí, xây dựng dự toán đơn giá đặt hàng, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt. Khẩn trương tham mưu Hội đồng nhân dân thành phố ban hành Nghị quyết liên quan đến tiêu chí, tiêu chuẩn và điều kiện, định mức, đơn giá, giá đặt hàng liên quan đến khối lượng chất thải rắn được đặt hàng trên địa bàn thành phố theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 259/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 11 Nghị quyết số 136/2024/QH15.
Khẩn trương đầu tư, nâng cao năng lực các khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt. tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của các đơn vị cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường; kịp thời xử lý hoặc thay thế các đơn vị không bảo đảm năng lực, chất lượng dịch vụ. Đồng thời, đẩy mạnh phân loại chất thải rắn tại nguồn, ứng dụng công nghệ trong quản lý thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải, từng bước giảm tỷ lệ chôn lấp, nâng cao tỷ lệ tái chế, tái sử dụng chất thải theo định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn.
3.4. Đôn đốc các xã, phường chưa xây dựng, phê duyệt phương án ứng phó theo cấp độ rủi ro thiên tai, khẩn trương hoàn thành công tác xây dựng, phê duyệt, công bố phương án ứng phó thiên tai theo các cấp độ rủi ro trước ngày 03/8/2026. Khẩn trương xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ, phân vùng rủi ro do thiên tai trên địa bàn thành phố và tổ chức tuyên truyền, công khai cho người dân biết, chủ động phòng tránh. Tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn, nghiệp vụ, cung cấp các bản đồ nền, cơ sở dữ liệu và giám sát, kiểm tra công tác xây dựng phương án ứng phó với thiên tai của các xã, phường đảm bảo chất lượng, có tính khả thi, chi tiết, đơn giản, thuận lợi cho việc áp dụng, triển khai, phù hợp với thực tiễn của từng địa phương. Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật tư, xây dựng kế hoạch phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng vũ trang trên địa bàn trong công tác phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Chủ động theo dõi, phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kịp thời có ý kiến góp ý để sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn thay thế Quyết định số 1865/QĐ-TTg trước mùa mưa bão năm 2026 (trong tháng 8/2026). Trong đó, cần lưu ý phối hợp chặt chẽ trong quá trình hoàn thiện, tiếp thu các ý kiến góp ý đảm bảo quy trình được phê duyệt có tính linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn của thành phố trên cơ sở tổng hợp các ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, chuyên gia.
3.5. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị và Ủy ban nhân dân xã Hòa Vang trong quý IV năm 2026 hoàn thành việc kiểm tra, đánh giá toàn diện hiện trạng khu vực mỏ đất sét Bàu Tong, thôn An Châu; đôn đốc Công ty TNHH Hiệp Đại Hưng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về cải tạo, phục hồi môi trường, đóng cửa mỏ, hỗ trợ vụ mùa và bồi thường thiệt hại cho người dân theo quy định và các cam kết đã thực hiện. Trường hợp doanh nghiệp không chấp hành hoặc chậm thực hiện, kiên quyết áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật; không xem xét hoàn trả tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm và áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương xây dựng và triển khai phương án khắc phục tình trạng sạt lở, cải tạo, phục hồi đất sản xuất tại khu vực cánh đồng Bàu Tong ngay sau khi Đề án đóng cửa mỏ được phê duyệt; ưu tiên khôi phục diện tích đất nông nghiệp đủ điều kiện sản xuất, bảo đảm an toàn, ổn định lâu dài, tránh lãng phí tài nguyên đất đai và tạo điều kiện để Nhân dân sớm khôi phục sản xuất.
3.6. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo các Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan khẩn trương rà soát, đánh giá nhu cầu và khả năng cung ứng các loại vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 - 2030; xây dựng cơ sở dữ liệu về địa chất và khoáng sản (trong đó, đảm bảo các thông tin về trữ lượng theo quy hoạch, công suất thiết kế, trữ lượng đã khai thác, trữ lượng còn lại...). Đẩy nhanh tiến độ cấp phép thăm dò và khai thác khoáng sản, nâng công suất các mỏ đang còn thời gian khai thác, trữ lượng khai thác; tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản hoặc cấp phép khai thác đối với các khu vực đã được phê duyệt theo quy định; đôn đốc các doanh nghiệp đã trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản khẩn trương thực hiện các hồ sơ, thủ tục liên quan để cấp phép, sớm đưa mỏ vào khai thác. Kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản dư thừa từ các dự án xây dựng để bổ sung nguồn cung vật liệu, đáp ứng nhu cầu các công trình, dự án trọng điểm, hạn chế tình trạng khan hiếm và phải vận chuyển vật liệu từ địa phương khác.
Chỉ đạo Sở Xây dựng tăng cường quản lý, công bố giá vật liệu xây dựng bảo đảm sát với giá thị trường; chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, giám sát việc kê khai, niêm yết giá, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi đầu cơ, găm hàng, nâng giá bất hợp lý; hoàn thành trong tháng 9 năm 2026 việc ban hành và triển khai Quy chế phối hợp khảo sát, thu thập thông tin và công bố giá vật liệu xây dựng, góp phần bình ổn thị trường và kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng.
Đồng thời, chủ động nghiên cứu, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về địa chất, khoáng sản, nhất là các quy định liên quan đến đấu giá quyền khai thác khoáng sản; kịp thời báo cáo, kiến nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc áp dụng cơ chế phù hợp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về nguồn cung vật liệu xây dựng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
4. Lĩnh vực cải cách hành chính
Chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương tiếp tục triển khai quyết liệt Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ; hoàn thành trong quý IV năm 2026 việc rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ, thời gian giải quyết và chi phí tuân thủ đối với các thủ tục liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy theo mục tiêu đã đề ra. Khẩn trương thực hiện các phương án đơn giản hóa đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đẩy mạnh số hóa, tái sử dụng dữ liệu, bảo đảm thực hiện hiệu quả nguyên tắc “người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần”. Hoàn thành việc ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định, thủ tục không còn phù hợp. Định kỳ báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố kết quả thực hiện, trong đó làm rõ kết quả của từng sở, ngành, địa phương; đồng thời gắn kết quả cải cách thủ tục hành chính với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu, kịp thời kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân không hoàn thành hoặc chậm thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Điều 3. Trách nhiệm báo cáo
1. Các nội dung chất vấn trực tiếp tại Kỳ họp thứ 4, Hội đồng nhân dân thành phố khóa XI, đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố kết quả thực hiện chậm nhất 20 ngày trước ngày khai mạc Kỳ họp thường lệ cuối năm 2026. Báo cáo phải đánh giá cụ thể kết quả thực hiện từng nội dung đã cam kết tại phiên chất vấn; đối với những nhiệm vụ chưa hoàn thành phải nêu rõ nguyên nhân, trách nhiệm, tiến độ và thời hạn hoàn thành.
2. Đối với các nội dung chất vấn đại biểu đăng ký tại Kỳ họp này nhưng không được lựa chọn để chất vấn trực tiếp, giao Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan nghiên cứu, trả lời đầy đủ bằng văn bản theo đúng nội dung đăng ký chất vấn (theo Phụ lục đính kèm) và gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân trước 30/8/2026. Đồng thời, Ủy ban nhân dân thành phố tổng hợp, báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố kết quả thực hiện các nội dung đã trả lời bằng văn bản chậm nhất 20 ngày trước ngày khai mạc Kỳ họp thường lệ cuối năm 2026.
Điều 4. Tổ chức thực hiện
1. Ủy ban nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố giám sát việc thực hiện Nghị quyết; kịp thời kiến nghị các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã được Hội đồng nhân dân thành phố quyết nghị.
3. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp tuyên truyền, giám sát việc tổ chức thực hiện Nghị quyết.
4. Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa XI, Kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 31 tháng 7 năm 2026 và có hiệu lực kể từ ngày được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua./.
|
|
CHỦ TỊCH |
(Kèm theo Nghị quyết số 50/NQ-HĐND ngày 31/7/2026 của HĐND thành phố)
|
Stt |
Đại biểu/câu hỏi chất vấn |
Đơn vị/ Người được chất vấn |
|
1 |
(1) Đại biểu Nguyễn Nho Khiêm - Tổ đại biểu số 8 Đà Nẵng đã phối hợp tổ chức 4 kỳ Liên hoan phim Châu Á với nguồn lực ngân sách đáng kể. Xin UBND thành phố cho biết, ngoài hiệu ứng truyền thông trong thời gian diễn ra sự kiện, Liên hoan phim đã tạo ra những giá trị bền vững nào cho thành phố về phát triển công nghiệp điện ảnh, thu hút đầu tư, quảng bá du lịch và xây dựng thương hiệu “Đà Nẵng - Thành phố của điện ảnh châu Á”? (2) Đại biểu Nguyễn Thanh Phúc - Tổ đại biểu số 4 - Ủy viên Ban KT-NS Hiện nay, trên địa bàn thành phố còn bao nhiêu hồ sơ, bao nhiêu dự án, bao nhiêu khu đất hoặc mặt bằng sản xuất - kinh doanh đang bị tồn đọng, kéo dài do vướng quy hoạch, đất đai, thủ tục đầu tư, nghĩa vụ tài chính hoặc chồng chéo pháp lý? UBND có thể cam kết trong 6 tháng cuối năm 2026 sẽ xử lý dứt điểm được bao nhiêu trường hợp, theo danh mục nào, mốc thời gian nào và ai chịu trách nhiệm chính đối với từng nhóm vướng mắc? (3) Đại biểu Trần Thị Mẫn - Tổ đại biểu số 1 Theo phản ánh của cử tri xã Thanh Bình, Phước Thành về thủ tục hành chính về đất đai (như đăng ký, tách thừa, cấp đổi giấy chứng nhận) sau sáp nhập vẫn còn rất rườm rà, thời gian giải quyết kéo dài, khiến bà con phải đi lại xa hơn và nhiều lần. Đề nghị UBND thành phố có giải pháp đặc thù và quyết liệt nào để tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai, tách thửa cho người dân vùng núi sau sáp nhập, giảm thiểu việc đi lại xa cho bà con? (4) Đại biểu Nguyễn Đình Tuấn - Phó Trưởng Ban Đô thị HĐND thành phố - Tổ đại biểu số 11 Hiện nay, các khu tái định cư Hòa Phú, Hòa Phong xã Hòa Vang còn một số vướng mắc về thủ tục xác định giá đất để người dân thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước nên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân. Đề nghị UBND thành phố cho biết khi nào giải quyết các vướng mắc này để người dân tái định cư được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên khu đất tái định cư mà mình đã làm nhà ở nhiều năm nay (Khu tái định cư Hòa Phú). (5) Ban Đô thị HĐND thành phố Tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm trên địa bàn thành phố. (6) Đại biểu Lương Công Tuấn - Trưởng Ban Pháp chế HĐND thành phố Công tác di dời và bố trí tái định cư đối với 627 hộ đang sinh sống tại các chung cư xuống cấp ở phường Hải Châu, Thanh Khê, Hòa Cường trong thời gian qua như thế nào? Quyết tâm và giải pháp trong thời gian đến? (7) Đại biểu Trần Vũ Duy Mẫn - Phó Trưởng Ban KT-NS Về phát triển hệ thống cấp nước sạch: Trong khi Đà Nẵng (cũ) đã đạt gần 100% hộ dân dùng nước sạch, thì nhiều xã, phường Quảng Nam (cũ) còn rất thấp: Duy Xuyên khoảng 4%, Nam Phước khoảng 20%, Điện Bàn Tây khoảng 39%, Điện Bàn Đông khoảng 42%, phường Điện Bàn khoảng 55%; riêng xã Xuân Phú chưa có hệ thống cấp nước sạch. Đây là mức chênh lệch rất lớn về một dịch vụ thiết yếu, trong khi Quyết định 1929/QĐ-TTg đặt mục tiêu bao phủ nước sạch đô thị đạt 100% và nguyên tắc cấp nước không phụ thuộc địa giới hành chính. Đề nghị UBND thành phố cho biết: - Nguyên nhân vì sao đến nay các xã như Duy Xuyên, Xuân Phú vẫn “trắng” hoặc gần “trắng” nước sạch, và đã có quy hoạch cấp nước tổng thể cho toàn thành phố sau hợp nhất chưa? - Lộ trình và mốc thời gian cụ thể để các xã, phường nêu trên đạt tỷ lệ cấp nước sạch tối thiểu 90% là khi nào? Có Đề án, kế hoạch thực hiện cụ thể hay không? - Nguồn vốn thực hiện lấy từ đâu, và với địa bàn suất đầu tư cao, thành phố có cơ chế hỗ trợ hạ tầng khung để thu hút đầu tư hay không? Thành phố có dự kiến xây dựng chính sách của thành phố hỗ trợ, thu hút nhà đầu tư các dự án nước sạch tại các địa bàn còn thiếu hệ thống cung cấp nước sạch hay không? (8) Đại biểu Trần Vũ Duy Mẫn - Phó Trưởng Ban KT-NS Về chênh lệch giá nước giữa hai địa bàn: Giá nước sinh hoạt bậc 1 (10m3 đầu) đang áp dụng - với Quảng Nam (cũ) là mức năm thứ ba, tính từ kỳ thu tiền tháng 10/2024: khu vực đồng bằng (gồm cả Hội An, Tam Kỳ, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành, Phú Ninh) là 7.734 đồng/m3; khu vực miền núi (Nam Giang, Phước Sơn) là 6.187 đồng/m3. Trong khi đó, tại Đà Nẵng (cũ), giá nước sinh hoạt tại đô thị bậc 1 là: 4550 đồng/m3 hộ dân nông thôn huyện Hòa Vang chỉ 3.400 đồng/m3, riêng hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Hòa Phú, Hòa Bắc được miễn phí 15m3/tháng. Như vậy, ngay cả các xã miền núi Quảng Nam (cũ) - địa bàn khó khăn nhất - vẫn đang trả giá nước cao gần gấp đôi so với vùng nông thôn Hòa Vang, và người dân đồng bằng Quảng Nam (cũ) trả cao hơn gấp hơn hai lần, dù nay cùng là công dân một đơn vị hành chính. Đề nghị UBND thành phố cho biết: - Nguyên nhân của sự chênh lệch, và vì sao ngay cả các xã miền núi Quảng Nam (cũ) - vùng khó khăn nhất - vẫn phải trả giá nước cao gần gấp đôi so với vùng nông thôn Hòa Vang của Đà Nẵng (cũ)? - Thành phố có chủ trương thống nhất một biểu giá nước chung không, lộ trình và thời điểm áp dụng cụ thể ra sao? Việc thống nhất bảo đảm không gây "sốc giá" và giảm gánh nặng cho bên đang trả cao như thế nào? - Trong thời gian chưa thống nhất giá, có cơ chế bù giá cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn ở Quảng Nam (cũ) hay không? (9) Đại biểu Trần Lê Tuấn - Tổ đại biểu số 3 Về tiến độ giải ngân vốn đầu tư công: Theo Báo cáo số 388/BC-UBND ngày 15/7/2026 của UBND thành phố tổng giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công đến ngày 30/6/2026 mới đạt 41,5% so với kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao (16.835.464 triệu đồng) và 42,82% so với kế hoạch vốn UBND thành phố giao, trong khi giải ngân vốn đầu tư công được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm gắn với mục tiêu tăng trưởng "2 con số". Báo cáo cũng chỉ rõ nguyên nhân chủ quan là công tác sắp xếp lại các Ban quản lý dự án, bản giao hồ sơ dự án sau sắp xếp còn chậm, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa chặt chẽ. Đề nghị UBND thành phố cho biết: Mốc tiến độ giải ngân cụ thể theo từng tháng, quý còn lại của năm 2026 để đạt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn? (10) Đại biểu Trần Lê Tuấn - Tổ đại biểu số 3 Về sản xuất công nghiệp và sức khỏe doanh nghiệp: Ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 chỉ tăng 10,35%, thấp hơn kịch bản đề ra (12,0%); một số ngành sản xuất giảm sâu (sản xuất đồ uống giảm 5,0%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 7,0%). Đáng chú ý, có 1.056 doanh nghiệp và chi nhánh trực thuộc hoàn tất thủ tục giải thể, rút lui khỏi thị trường, tăng 89,9% so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế. Đề nghị UBND thành phố phân tích rõ nguyên nhân khiến số doanh nghiệp giải thể tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ, đồng thời cho biết các giải pháp hỗ trợ cụ thể (tín dụng, mặt bằng sản xuất, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ) dành cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chịu tác động nặng nề nhất, nhằm bảo đảm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng công nghiệp 6 tháng cuối năm. (11) Đại biểu Trần Lê Tuấn - Tổ đại biểu số 3 Về tác động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đối với cấp xã: Báo cáo số 388/BC-UBND ngày 15/7/2026 của UBND thành phố nêu rõ, sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, một số nhiệm vụ trước đây thuộc thẩm quyền cấp huyện (cũ), đặc biệt trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường, xây dựng, tài chính, ngân sách được chuyển giao về cấp xã, làm gia tăng khối lượng và tính chất phức tạp của công việc, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai, trong khi hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực miền núi còn nhiều khó khăn, chưa được đầu tư đồng bộ. Đề nghị UBND thành phố cho biết đã có đánh giá cụ thể nào về năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã sau khi tiếp nhận thêm nhiệm vụ và các giải pháp bổ sung nhân lực, đào tạo, tập huấn hoặc phân cấp hỗ trợ kỹ thuật để các xã, đặc biệt là các xã miền núi, không bị quá tải, chậm trễ trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. (12) Đại biểu Trần Lê Tuấn - Tổ đại biểu số 3 Về kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng (CPI), bảo đảm sức mua của người dân: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,84%, cao hơn khoảng 1,3 - 1,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Theo đánh giá của Báo cáo, mặt bằng giá tăng đã làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp, hạn chế sức mua thực tế của người dân, khiến giá trị tăng thêm của ngành dịch vụ - công nghiệp khó đạt kế hoạch đề ra. Đề nghị UBND thành phố cho biết các giải pháp cụ thể để bình ổn giá, kiểm soát CPI trong 6 tháng cuối năm 2026, đặc biệt đối với nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, nhằm bảo đảm đời sống nhân dân và không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tăng trưởng ngành thương mại - dịch vụ đã đề ra. (13) Đại biểu Trần Lê Tuấn - Tổ đại biểu số 3 Về tiến độ các Khu thương mại tự do (FTZ) và Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng: Theo Báo cáo số 388/BC-UBND, Khu FTZ số 2 đã được phê duyệt chủ trương đầu tư và chấp thuận nhà đầu tư; Khu FTZ số 3 (500ha) và Khu FTZ số 4 (599ha) hiện mới đang trong giai đoạn nhà đầu tư đề xuất, chưa được phê duyệt chính thức. Đối với Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC-DN), đến nay mới có 12 thành viên chính thức, 11 nhà đầu tư được cấp Giấy chấp thuận quan tâm và 12 nhà đầu tư đang hoàn thiện hồ sơ đăng ký thành viên. Đề nghị UBND thành phố cho biết mốc thời gian cụ thể dự kiến hoàn thành phê duyệt chủ trương đầu tư đối với Khu FTZ số 3, số 4 và các khu FTZ còn lại; đồng thời cho biết lộ trình để Trung tâm tài chính quốc tế chính thức đi vào vận hành, thu hút vốn đầu tư thực chất, so với kỳ vọng đã đặt ra. (14) Đại biểu Trần Lê Tuấn - Tổ đại biểu số 3 Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP 2 con số Theo Báo cáo số 388/BC-UBND của UBND thành phố cho thấy GRDP 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 9,52%, trong đó khu vực dịch vụ chỉ tăng 9,31%, thấp hơn kịch bản tăng trưởng đã đề ra, trong khi mục tiêu cả năm là tăng trưởng trên 10%. Đề nghị UBND thành phố cho biết: - Những động lực tăng trưởng nào sẽ tạo bứt phá trong 6 tháng cuối năm để bảo đảm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số? - UBND thành phố cam kết các chỉ tiêu cụ thể nào về giải ngân đầu tư công, thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ và công nghiệp để bảo đảm đạt mục tiêu? |
UBND thành phố |
|
2 |
(1) Đại biểu Nguyễn Nho Khiêm - Tổ đại biểu số 8 Thành phố đã đầu tư nhiều cho chuyển đổi số, vậy có bao nhiêu phần trăm hiện vật bảo tàng đã được số hóa? Bao giờ người dân có thể tham quan bảo tàng, di tích bằng công nghệ số? (2) Đại biểu Nguyễn Ngọc Bình - Tổ đại biểu số 11 Theo số liệu của Cục thống kê thành phố, 6 tháng đầu năm 2026, ngành du lịch Đà Nẵng chứng kiến bước tăng trưởng bứt phá mạnh mẽ, tiếp tục là động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế toàn thành phố. Tổng lượt khách lưu trú đạt gần 9,8 triệu lượt, đạt mức tăng trưởng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách quốc tế đạt gần 5,2 triệu lượt, tăng 28,7%, chiếm hơn 52% tổng lượng khách; khách nội địa đạt hơn 4,6 triệu lượt, tăng 16,2%. Thành phố Đà Nẵng sau sáp nhập càng có dư địa rất lớn về phát triển du lịch. Địa bàn Quảng Nam (cũ) có rất nhiều bãi biển đẹp nhưng còn hoang sơ như: Biển Tam Thanh, An Bàng, Cửa Đại, Hà My, Biển Rạng và đặc biệt ở các khu vực miền núi có nhiều tiềm năng phát triển mảng du lịch sinh thái gắn với văn hóa cộng đồng. Qua quan sát, thời gian qua, lượng khách du lịch đến Đà Nẵng chủ yếu vẫn tập trung đông đúc ở những địa chỉ quen thuộc như khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng, bãi biển Mỹ Khê, phố cổ Hội An. Với lượng khách du lịch và đã tăng trưởng nóng như thế này thì 5 - 7 năm nữa các điểm đến này sẽ quá tải, dẫn đến chất lượng dịch vụ sẽ bị ảnh hưởng, không thể đáp ứng hết được nhu cầu. Vậy với tư cách là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đồng chí sẽ tham mưu cho UBND thành phố có chiến lược, kế hoạch và giải pháp gì nhằm phát triển các khu vực nói trên thành những điểm du lịch nổi tiếng của thành phố, qua đó “kéo giãn” mật độ khách du lịch tập trung vào khu vực trung tâm, đồng thời đây cũng là hướng đi cho phát triển kinh tế du lịch bền vững. (3) Đại biểu Vũ Quang Hùng - Tổ đại biểu số 6 Đình làng Túy Loan là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, được xếp hạng từ năm 1999, là một trong những ngôi đình có tiêu biểu của thành phố. Đây không chỉ là nơi lưu giữ giá trị lịch sử, văn hóa mà còn là niềm tự hào của người dân Đà Nẵng. Tuy nhiên, điều cử tri băn khoăn là hiệu quả đầu tư ngân sách cho công tác trùng tu di tích. Cụ thể, đình đã được trùng tu năm 2002. Đến năm 2011, thành phố tiếp tục đầu tư khoảng 3 tỷ đồng, trong đó có hạng mục thay mới hệ kết cấu mái bằng gỗ lim. Nhưng chỉ hơn 10 năm sau, năm 2023 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục đề xuất trùng tu; năm 2025 được UBND thành phố phê duyệt và năm 2026 triển khai với tổng mức đầu tư lên đến 9,5 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần kinh phí của lần trùng tu trước. Theo phản ánh của báo chí, nhiều cấu kiện gỗ đã xuống cấp, hư hỏng, gây băn khoăn trong dư luận về chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng ngân sách. Đề nghị Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm rõ: - Thứ nhất, nguyên nhân vì sao một di tích vừa được đầu tư trùng tu, trong đó có hạng mục thay mới bằng gỗ lim - loại vật liệu có tuổi thọ rất cao - nhưng chỉ sau hơn một thập kỷ đã phải tiếp tục đầu tư với quy mô lớn? - Thứ hai, trách nhiệm thuộc về cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong các khâu khảo sát, thiết kế, lựa chọn vật liệu, thi công, giám sát, nghiệm thu và quản lý sau đầu tư? Sở đã tổ chức kiểm tra, đánh giá và xử lý trách nhiệm hay chưa? - Thứ ba, Sở có giải pháp gì để nâng cao chất lượng công tác bảo tồn di tích, bảo đảm các dự án tu bổ sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, tránh tình trạng một công trình phải nhiều lần đầu tư trong thời gian ngắn, gây lãng phí nguồn lực và làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với công tác bảo tồn di sản? (4) Đại biểu Nguyễn Thị Phượng - Phó Trưởng ban Pháp chế - Tổ đại biểu số 6 Dự án Công viên văn hóa - lịch sử Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ tại phường Điện Bàn có được triển khai không? Nếu có, bao giờ sẽ triển khai? (5) Nguyễn Thị Phượng - Phó Trưởng ban Pháp chế - Tổ đại biểu số 6 Di tích lịch sử Văn chỉ La Châu tại xã Hòa Tiến khi nào sẽ được tiếp tục triển khai việc bảo tồn, tu bổ, phục hồi? |
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch |
|
3 |
Đại biểu Trần Tuấn Lợi - Tổ đại biểu số 8 Tình hình tội phạm người nước ngoài trên địa bàn thành phố diễn biến phức tạp, có dấu hiệu gia tăng như: Trộm cắp, bắt giữ người trái pháp luật, vi phạm giao thông, cố ý gây thương tích, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy... Nguyên nhân từ đâu và giải pháp như thế nào để ngăn chặn tiến tới đẩy lùi nhóm tội phạm này trong thời gian đến, cũng như Lãnh đạo Công an thành phố có cam kết gì cho những tháng cuối năm và những năm tiếp theo về tình hình an ninh chính trị tự an toàn xã hội được ổn định. |
Giám đốc Công an thành phố |
|
4 |
Đại biểu Lê Văn Nghĩa - Phó Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội HĐND thành phố Qua giám sát và tiếp xúc cử tri, tôi nhận thấy mặc dù thành phố đã quan tâm đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, song thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học tại một số cơ sở giáo dục vẫn còn nhiều khó khăn. Một số trường còn thiếu phòng học, phòng bộ môn, phòng chức năng; trang thiết bị dạy học chưa được đầu tư đồng bộ, nhiều thiết bị đã xuống cấp hoặc chưa đáp ứng yêu cầu triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục. 1. Sở đánh giá như thế nào về thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học của các trường học trên địa bàn thành phố hiện nay? Những tồn tại, hạn chế lớn nhất là gì? 2. Hiện nay còn bao nhiêu trường, bao nhiêu phòng học, phòng chức năng, phòng bộ môn chưa đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo? Đặc biệt, tình hình tại các xã miền núi, vùng còn khó khăn sau khi sắp xếp đơn vị hành chính như thế nào? 3. Nguyên nhân của tình trạng thiếu hoặc chưa đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị là gì? Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan được xác định ra sao? 4. Trong thời gian tới, Sở có giải pháp gì để ưu tiên đầu tư, bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học, bảo đảm các trường có đủ điều kiện thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018, xây dựng môi trường giáo dục hiện đại, an toàn, xanh - sạch - đẹp và từng bước phát triển trường học thông minh? |
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo |
|
5 |
Ban Đô thị HĐND thành phố (1) Việc triển khai các giải pháp chống ngập trên địa bàn thành phố (2) Việc triển khai các giải pháp chống ùn tắc giao thông khu vực trung tâm thành phố. (3) Giải pháp phát triển nhà ở xã hội, quỹ nhà ở, đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân. (4) Tiến độ thực hiện các đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật đô thị lập theo Quy hoạch chung 359 chưa hoàn thành; trong khi hiện nay đang lập Quy hoạch chung mới. (5) Hiệu quả khai thác các bãi đỗ xe thông minh 255 Phan Châu Trinh, 166 Hải Phòng và kế hoạch đầu tư hoặc kêu gọi đầu tư thêm các bãi đỗ xe tại khu vực trung tâm thành phố. (6) Công tác bảo đảm nước sạch phục vụ sinh hoạt của người dân. |
Giám đốc Sở Xây dựng |
|
6 |
(1) Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND thành phố Trong 6 tháng đầu năm 2026, thu ngân sách Nhà nước tăng cao, đến hết 30/6 ước đạt 52,8 ngàn tỷ đồng, bằng 79,62%; nhiều xã, phường đã đạt trên 80%, thậm chí một số xã, phường đã đạt trên 100%. Đây là số liệu rất tích cực đối với sự phát triển chung của thành phố. Tuy nhiên, việc thu ngân sách đạt mức rất cao so với cùng kỳ, dự kiến vượt dự toán rất nhiều so với tăng trưởng kinh tế, có thể đặt ra nhiều vấn đề, tôi xin chất vấn đồng chí Giám đốc Sở Tài chính như sau: Kết quả thu ngân sách đạt rất cao so với dự toán, thậm chí có thể rất cao so với tăng trưởng kinh tế năm 2026, đến từ nguyên nhân nào: - Do chính quyền thành phố và địa phương đã triển khai thực hiện rất tốt so với các năm trước? - Do trước đây chưa làm tốt công tác thu ngân sách? - Do kế hoạch dự toán lập chưa tốt chưa sát thực tiễn? (có những khoản thu phát sinh chưa dự báo được). - Do phân bổ nguồn thu về một số xã, phường chưa hợp lý? Kính đề nghị làm rõ nguyên nhân, kết quả để có định hướng tốt hơn trong điều hành chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội quan trọng này. (2) Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND thành phố Cho biết cơ sở, phương pháp xác định cơ cấu phân bổ nguồn lực trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; trong đó, tỷ trọng vốn dành cho các dự án chuyển tiếp, các dự án thực hiện theo các nghị quyết của HĐND thành phố và các dự án khởi công mới đã bảo đảm phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn, đúng thứ tự ưu tiên theo Luật Đầu tư công hay chưa? Trong trường hợp nguồn vốn thực tế thấp hơn dự kiến thì phương án xử lý, điều chỉnh thứ tự ưu tiên sẽ được thực hiện như thế nào? |
Giám đốc Sở Tài chính |
|
7 |
(1) Đại biểu Lê Phú Nguyên - Tổ đại biểu số 6 Về việc thực hiện chính sách hỗ trợ và khôi phục sản xuất đối với các hộ dân có đất nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi các dự án trên địa bàn xã Bà Nà. Theo Báo cáo số 236/BC-UBND ngày 15/7/2026 của UBND xã Bà Nà, địa phương đã nhiều lần có văn bản báo cáo, kiến nghị, sau gần một năm kể từ những kiến nghị đầu tiên, đến nay các tồn tại cơ bản vẫn chưa được xử lý. Toàn xã có 09 dự án ảnh hưởng đến 280.563 m2 đất nông nghiệp, với tổng kinh phí hỗ trợ đã được phê duyệt là 822.771.000 đồng. Nhưng đến nay mới chỉ giải quyết được 06/09 dự án; vẫn còn 03 dự án chưa thực hiện chi trả hỗ trợ vì dự án đã quyết toán hoặc kết thúc, không còn nguồn vốn, 04 dự án mới chi trả đến năm 2024 nhưng chưa được bố trí kinh phí hỗ trợ năm 2025. (2) Đại biểu Nguyễn Thị Phượng - Phó Trưởng Ban Pháp chế - Tổ đại biểu số 6 Qua phản ánh của cử tri thôn Hòa Phú, xã Hòa Vang, Nhân dân khu vực này bức xúc việc Trại nuôi heo của Công ty Cổ phần Trung Sơn gây ô nhiễm môi trường, thải mùi hôi thối, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, sinh hoạt của Nhân dân. Được biết, năm 2025 UBND xã Hòa Vang cũng đã có văn bản đề nghị Sở chủ trì phối hợp UBND xã tiến hành các công việc liên quan chuyên môn đánh giá tác động môi trường, làm cơ sở giải quyết dứt điểm các kiến nghị của cử tri về ô nhiễm môi trường do Công ty này gây ra. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng này vẫn chưa được xử lý, cử tri tiếp tục kiến nghị đến đại biểu HĐND xã và thành phố. Đề nghị đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, bao giờ sẽ xử lý dứt điểm tình trạng này? Ban Đô thị HĐND thành phố (3) Tiến độ triển khai 2 nhà máy xử lý rác thải 1000 tấn và 650 tấn và việc đảm bảo an ninh môi trường khi các hộc rác tại bãi rác Khánh Sơn sắp hết dung lượng chứa. (4) Công tác quản lý các lô đất trống trên địa bàn thành phố. (5) Công tác bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất người dân. (6) Việc xác định các điểm tiếp nhận bùn thải gắn với tiến độ triển khai dự án nạo vét các hồ điều tiết trên địa bàn thành phố. |
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh