Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2026 về Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam do Ban Chấp hành Trung ương ban hành

Số hiệu 19-NQ/TW
Ngày ban hành 28/07/2026
Ngày có hiệu lực 28/07/2026
Loại văn bản Nghị quyết
Cơ quan ban hành Ban Chấp hành Trung ương
Người ký Tô Lâm
Lĩnh vực Bộ máy hành chính

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------

Số 19-NQ/TW

Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2026

 

NGHỊ QUYẾT

HỘI NGHỊ LẦN THỨ BA
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XIV
VỀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
-----

Sau 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; trở thành nước có thu nhập trung bình cao; đời sống của Nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm; tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế; văn hoá chưa thực sự trở thành nguồn lực và động lực nội sinh của phát triển; an sinh xã hội, an ninh con người còn một số mặt chưa vững chắc; hiệu quả quản lý môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý, sử dụng tài nguyên chưa cao; đổi mới quản trị quốc gia chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ nhưng cũng đan xen nhiều khó khăn, thách thức. Ở trong nước, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách, mục tiêu chiến lược, đột phá, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số", đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện về mô hình phát triển đất nước trong thời gian tới.

Để hiện thực hoá khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 - 2130), Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển đất nước với quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như sau:

I- QUAN ĐIỀM CHỈ ĐẠO

1. Đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường vai trò giám sát, phản biện và tạo sự đồng thuận xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

2. Đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo ra năng lực phát triển mới; chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển; nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính; lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm; lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững, bao trùm; gắn chặt xây dựng với bảo vệ Tổ quốc; kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại trong tất cả các khâu từ hoạch định chiến lược đến quy hoạch và phân bổ nguồn lực; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại đồng hành và thúc đẩy phát triển.

3. Đổi mới mô hình phát triển được vận hành đồng bộ theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hoà, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tổ chức phát triển trong không gian tích hợp, đa tầng, liên thông, tạo liên kết và lan toả. Xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là then chốt; phát triển văn hoá và con người là nền tảng, là nguồn lực và động lực nội sinh, sức mạnh mềm quốc gia; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

4. Đổi mới mô hình phát triển với tầm nhìn dài hạn và khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển. Mô hình phát triển mới khai thác, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, truyền thống, bản sắc, niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy ý chí, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến của con người Việt Nam; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực phát triển, trong đó, nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro; không ngừng bồi đắp năng lực quốc gia, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn.

5. Đổi mới mô hình phát triển được thực hiện đồng bộ, toàn diện và phù hợp với từng giai đoạn; bảo đảm gắn kết hữu cơ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất. Lấy đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển, phối hợp liên thông, dựa trên dữ liệu, phản ứng chính sách và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.

II- MỤC TIÊU, TẦM NHÌN

1. Mục tiêu đến năm 2030

Hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Tạo đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại; về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, hạ tầng năng lực tri thức quốc gia, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

2. Mục tiêu đến năm 2035

Hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành phần trên các lĩnh vực, cụ thể:

(1) Mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập. Lực lượng sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực phát triển; doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có năng lực làm chủ công nghệ, vị trí quan trọng trong các ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái phát triển hiện đại. Kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, kinh tế cácbon thấp và khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành cấu trúc quan trọng đặc trưng của nền kinh tế.

(2) Mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững; chuyển từ quản lý xã hội theo phương thức hành chính truyền thống và xử lý hậu quả phát sinh sang kết hợp hài hoà, hiệu quả với quản trị phát triển và kiến tạo xã hội chủ động, dựa trên dữ liệu, dự báo và phòng ngừa từ sớm, từ xa. Xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; an ninh con người được bảo đảm toàn diện; hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững, vận hành đồng bộ, hiệu quả; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, thích ứng với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, già hoá dân số và biến đổi cơ cấu việc làm.

(3) Mô hình phát triển văn hoá, con người toàn diện, hiện đại, sáng tạo, giàu bản sắc và nhân văn; văn hoá là nền tảng tinh thần, nguồn lực và động lực nội sinh, năng lực sáng tạo, sức mạnh mềm cho phát triển nhanh, bền vững. Con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, có bản lĩnh văn hoá, năng lực số, năng lực sáng tạo, ý thức thượng tôn pháp luật, kỷ luật và trách nhiệm; có lòng nhân ái, tinh thần dân tộc và khát vọng cống hiến, ý chí tự lực, tự cường; có khả năng thích ứng và hội nhập toàn cầu, năng lực làm chủ khoa học, công nghệ, kiến tạo cuộc sống hạnh phúc và tương lai tốt đẹp. Gìn giữ, phát huy và lan toả mạnh mẽ văn hoá Việt Nam trong đời sống xã hội và trên môi trường số, trở thành lợi thế trong hoạt động kinh tế, xã hội và đối ngoại.

(4) Mô hình phát triển môi trường sinh thái hiện đại, thông minh, bền vững, thích ứng; cải thiện chất lượng môi trường sống, kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; kinh tế - xã hội phát triển trong khả năng chịu tải của môi trường; các hệ sinh thái quan trọng được bảo vệ, phục hồi, phát triển; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng chủ động, tăng cường dự báo và cảnh báo sớm, phục hồi nhanh; quản trị tài nguyên, môi trường sinh thái dựa trên nền tảng số, dữ liệu liên thông, giám sát theo thời gian thực.

(5) Mô hình quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện, tự chủ, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, trên cả không gian truyền thống và các không gian, lĩnh vực mới; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa và môi trường hoà bình, ổn định, an toàn cho phát triển. Nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; thế trận quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân được củng cố vững chắc, hiện đại, liên hoàn từ cơ sở. Nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, phòng thủ chủ động và công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại có sự tham gia phù hợp của khu vực tư nhân trong nước.

(6) Mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển; chủ động mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực, tri thức, công nghệ tiên tiến, nâng cao vị thế, uy tín, sức mạnh tổng hợp và sức mạnh mềm quốc gia. Tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu và có vai trò tích cực hơn trong định hình các chuẩn mực, cơ chế, khuôn khổ hợp tác quốc tế mới.

(7) Mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được hoàn thiện đồng bộ, hệ thống chính trị tinh gọn, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Quản trị quốc gia chuyển từ quản lý hành chính, nặng về tiền kiểm và kiểm soát sang quản trị phát triển dựa trên pháp quyền, dữ liệu, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, kỷ luật thực thi và kiểm soát quyền lực; nâng cao năng lực hoạch định chiến lược, điều phối phát triển, quản trị rủi ro, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và giải phóng hiệu quả các nguồn lực xã hội.

3. Mục tiêu đến năm 2045

Hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững, hội nhập và các mô hình thành phần trên các lĩnh vực được vận hành đồng bộ, hài hoà, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng; làm chủ các công nghệ chiến lược quan trọng; xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; văn hoá và con người trở thành sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm và nền tảng phát triển quốc gia; môi trường sinh thái bền vững; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế chủ động, hiệu quả, nâng cao vị thế, uy tín quốc gia, đóng góp tích cực vào hoà bình, phát triển bền vững, văn minh chung của nhân loại.

4. Định hướng tầm nhìn đến năm 2130

Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hoá giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.

III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...