Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Kết luận 75-KL/TW năm 2026 về Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới do Ban Chấp hành Trung ương ban hành

Số hiệu 75-KL/TW
Ngày ban hành 28/07/2026
Ngày có hiệu lực 28/07/2026
Loại văn bản Văn bản khác
Cơ quan ban hành Ban Chấp hành Trung ương
Người ký Tô Lâm
Lĩnh vực Tài nguyên - Môi trường

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------

Số 75-KL/TW

Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2026

 

KẾT LUẬN

HỘI NGHỊ LẦN THỨ BA
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG THỜI KỲ MỚI
------

I- BỐI CẢNH, TÌNH HÌNH

Sau hơn 13 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện. Chính sách, pháp luật tiếp tục được hoàn thiện; tổ chức bộ máy được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn hơn. Ứng phó với biến đổi khí hậu dần chuyển từ bị động sang chủ động. Công tác quy hoạch, quản lý, khai thác tài nguyên từng bước hiệu quả, bền vững hơn. Bảo vệ môi trường dần trở thành nội dung trọng tâm trong chính sách phát triển. Một số vấn đề bức xúc về môi trường được quan tâm xử lý; quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học tiếp tục được đẩy mạnh; nhiều mô hình chuyển đổi theo hướng xanh, tuần hoàn được triển khai; đã hình thành thị trường tín chỉ cácbon; hợp tác và hội nhập quốc tế có nhiều điểm sáng.

Tuy nhiên, vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu tiếp tục là thách thức lớn. Ô nhiễm môi trường còn diễn biến phức tạp; chất lượng môi trường không khí tại các đô thị lớn, nhất là ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chậm được cải thiện; tình trạng ô nhiễm tại các cụm công nghiệp, làng nghề, khu vực khai thác, chế biến khoáng sản và một số lưu vực sông, vùng ven biển chưa được kiểm soát hiệu quả. Suy thoái và thu hẹp hệ sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học vẫn còn tiếp diễn. Công tác quản lý môi trường còn nhiều hạn chế; hệ thống dữ liệu môi trường còn phân tán, thiếu đồng bộ; một số vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường gây bức xúc trong dư luận. Công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai có lúc, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu; xử lý ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn còn bị động, thiếu giải pháp căn cơ; kiểm kê, giảm phát thải khí nhà kính chưa được triển khai thống nhất, đồng bộ.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do: Nhận thức, trách nhiệm của một số cấp uỷ đảng, chính quyền, người đứng đầu và ý thức của một bộ phận người dân, doanh nghiệp chưa đầy đủ. Việc thể chế hoá một số nội dung của Nghị quyết còn chậm, một số quy định chưa bảo đảm tính khả thi. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu; quản lý còn phân tán theo địa giới hành chính, thiếu liên kết vùng, liên ngành. Phương thức quản lý môi trường chậm đổi mới, còn nặng về tiền kiểm, chưa hiệu quả trong hậu kiểm. Nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; chưa huy động hiệu quả nguồn lực từ khu vực ngoài nhà nước. Hạ tầng xử lý chất thải, hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai ở nhiều địa phương còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ, chưa được đầu tư tương xứng với tốc độ tăng trưởng và quy mô nền kinh tế.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, tác động sâu rộng, đồng thời trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước, xem xét báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất khẳng định những quan điểm, mục tiêu cơ bản của Nghị quyết số 24-NQ/TW còn nguyên giá trị; đồng thời điều chỉnh, bổ sung một số quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU

1. Quan điểm

- Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển, là điều kiện, nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh, là một trong những động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Bảo đảm nguồn lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, tốc độ tăng trưởng và quy mô nền kinh tế.

- Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, vai trò kiến tạo của Nhà nước, đề cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân đối với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đặt con người và chất lượng cuộc sống của Nhân dân ở trung tâm của mọi quyết định phát triển; lấy việc bảo đảm môi trường sống an toàn, trong lành, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, sinh kế của mọi người dân làm mục tiêu cao nhất.

- Quy hoạch, định hướng phát triển trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường. Chuyển từ tư duy "đối phó thụ động" sang tư duy "ứng phó chủ động", từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và theo mức độ rủi ro, từ quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng.

- Chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung khắc phục, xử lý các vấn đề bức xúc về môi trường. Bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên. Đẩy nhanh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động phòng, chống thiên tai.

- Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là những yếu tố quan trọng, động lực chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động, tích cực và tham gia có trách nhiệm các cơ chế hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.

2. Mục tiêu

2.1. Mục tiêu đến năm 2030

Năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, sinh kế của Nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung xử lý, phục hồi; chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững đất nước.

2.2. Tầm nhìn đến năm 2045

Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hoà với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và Nhân dân

Các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cấp chính quyền phải quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về yêu cầu bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong xác lập và triển khai mô hình phát triển mới; tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; bảo đảm sự tham gia rộng rãi, thực chất, có trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng, các cơ quan báo chí, truyền thông và Nhân dân trong tham gia xây dựng, phản biện, góp ý hoàn thiện chủ trương, chính sách và giám sát thi hành pháp luật.

Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội; triển khai thực chất, hiệu quả các phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, lan toả thực hành lối sống xanh, tiêu dùng xanh, bền vững trong cộng đồng, xây dựng văn hoá môi trường. Phát hiện, khuyến khích, nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả.

2. Hoàn thiện thể chế, pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi; tăng cường kiểm tra, giám sát

Khẩn trương hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu; kết hợp chặt chẽ giữa tiền kiểm gắn với tăng cường hậu kiểm dựa trên mức độ tuân thủ; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, bao gồm cả tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật công trình có xét đến yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu; tiêu chí phân loại dự án theo mức độ rủi ro môi trường. Thiết lập cơ chế kết hợp kiểm soát từng nguồn thải với kiểm soát theo vùng, khu vực và tổng thải lượng chất ô nhiễm; hoàn thiện cơ chế điều phối liên vùng, liên ngành, liên địa phương.

Hoàn thiện và triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách để điều chỉnh hành vi và khuyến khích phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp, thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng xanh, bền vững, mua sắm xanh. Phát triển mạnh mẽ kinh tế môi trường, thương mại hoá các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã trong kiểm soát nguồn thải, bảo đảm chất lượng môi trường và giải quyết các vấn đề môi trường; thống nhất nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì. Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, đề cao trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền, nhất là người đứng đầu trong thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; siết chặt kỷ cương, nâng cao đạo đức công vụ của cán bộ, công chức trong thi hành pháp luật.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...