Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Kế hoạch 490/KH-UBND năm 2026 phát triển doanh nghiệp công nghệ số tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026-2030

Số hiệu 490/KH-UBND
Ngày ban hành 16/07/2026
Ngày có hiệu lực 16/07/2026
Loại văn bản Kế hoạch
Cơ quan ban hành Tỉnh Hà Tĩnh
Người ký Trần Báu Hà
Lĩnh vực Doanh nghiệp,Công nghệ thông tin

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 490/KH-UBND

Hà Tĩnh, ngày 16 tháng 7 năm 2026

 

KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ SỐ TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2026 - 2030

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

- Luật Công nghiệp công nghệ số ngày 14/6/2025;

- Luật Công nghệ cao ngày 10/12/2025;

- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;

- Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57- NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/01/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025;

- Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XX nhiệm kỳ 2025 - 2030; Chương trình hành động số 01-CTr/TU ngày 20/10/2025 của BCH Đảng bộ tỉnh về thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030; Chương trình hành động số 42-CTr/TU ngày 10/4/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;

- Thông báo kết luận số 76-KL/TU ngày 28/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Hội nghị lần thứ 28.

II. THỰC TRẠNG

1. Thực trạng doanh nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh

Theo số liệu thống kê, đến nay Hà Tĩnh có 47.144 hộ sản xuất kinh doanh và 14.788[1] doanh nghiệp đăng ký thành lập (số doanh nghiệp hiện đang hoạt động là 11.980), trong đó có khoảng 295 doanh nghiệp công nghệ số (chiếm khoảng 2%). Các doanh nghiệp công nghệ số của tỉnh chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin, phát triển phần mềm, giải pháp chuyển đổi số, phân phối thiết bị điện tử, công nghệ thông tin. Trong đó, nổi bật là 04 doanh nghiệp viễn thông lớn (Viettel, VNPT, Mobifone, FPT) chiếm lĩnh thị trường dịch vụ công nghệ thông tin, IoT, AI, Cloud và một số doanh nghiệp công nghệ thông tin quy mô nhỏ và vừa cung cấp, phát triển các phần mềm, giải pháp chuyển đổi số và phân phối thiết bị công nghệ thông tin. Cụ thể:

- Cơ cấu doanh nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công nghệ số, chiếm khoảng 85-90%, trong khi doanh nghiệp có khả năng sản xuất, phát triển sản phẩm công nghệ số chỉ chiếm khoảng 10-15%.

- Doanh nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chủ yếu quy mô nhỏ, thiếu tính bền vững và chưa hình thành được lực lượng doanh nghiệp nòng cốt. Chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp có năng lực phát triển phần mềm và cung cấp dịch vụ phần mềm, số còn lại chủ yếu kinh doanh bán lẻ trang thiết bị công nghệ số.

- Khoảng 30% doanh nghiệp có khả năng duy trì được đội ngũ nhân lực công nghệ tương đối ổn định, khoảng 70% doanh nghiệp còn lại gặp khó khăn trong thu hút và giữ chân nhân lực do hạn chế về thu nhập, môi trường làm việc và cơ hội phát triển. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao mới chỉ đáp ứng khoảng 30 - 40% nhu cầu thực tế, tạo ra điểm nghẽn lớn trong phát triển sản phẩm và cung cấp dịch vụ công nghệ số trên địa bàn tỉnh.

2. Thực trạng ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số trong doanh nghiệp Hà Tĩnh

- Gần 100% doanh nghiệp nội địa của tỉnh đã ứng dụng phần mềm kế toán, nhưng có tới gần 90% doanh nghiệp chưa ứng dụng các phần mềm quản lý nguồn lực, quản lý dây chuyền sản xuất, quản lý khách hàng…; có khoảng 10% doanh nghiệp đã ứng dụng công nghệ số trong quản trị và sản xuất kinh doanh, riêng lĩnh vực có điều kiện thuận lợi như du lịch, mức độ ứng dụng công nghệ số trong doanh nghiệp đã đạt khoảng 60%. Đặc biệt, số doanh nghiệp có khả năng tự quản trị, vận hành các phần mềm, nền tảng công nghệ số phục vụ hoạt động thường xuyên của mình chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng dưới 10%).

- Khoảng 40% doanh nghiệp đã phát sinh nhu cầu và từng bước tham gia thị trường công nghệ số, còn lại khoảng 60% doanh nghiệp chưa hình thành nhu cầu rõ ràng hoặc chưa sẵn sàng đầu tư do hạn chế nguồn lực, chi phí và nhận thức về vai trò công nghệ số.

3. Thuận lợi, khó khăn a. Thuận lợi

- Hạ tầng công nghiệp quy mô lớn với các khu kinh tế (KKT) - khu công nghiệp (KCN) trọng điểm như: KKT Vũng Áng, KKT Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, KCN Vũng Áng 1, KCN Gia Lách, KCN Phú Vinh, KCN Hoành Sơn, KCN Bắc Thạch Hà, KCN Gia Lách mở rộng, KCN Vinhomes mở rộng và hệ thống 26

Cụm công nghiệp trải rộng trên địa bàn toàn Hà Tĩnh tạo nền tảng cho việc triển khai các dự án công nghệ số trong sản xuất, cũng như tạo nhu cầu, dư địa về thị trường ứng dụng công nghệ số.

- Hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông khá đồng bộ, mạng lưới cáp quang, hạ tầng viễn thông băng rộng di động 4G/5G đã phủ sóng 99,8% khu vực dân cư cơ bản đáp ứng tốt mọi nhu cầu kết nối triển khai các giải pháp công nghệ số, triển khai, dịch vụ trực tuyến.

- Nguồn nhân lực trẻ, có khả năng tiếp nhận nhanh các công nghệ mới, tham gia phát triển sản phẩm số và vận hành các nền tảng số; con em người Hà Tĩnh theo học các ngành về công nghệ thông tin và đang làm việc về lĩnh vực công nghệ thông tin ở trong nước và nước ngoài khá nhiều và có khả năng thu hút về làm việc hoặc hợp tác làm việc.

- Có một số tập đoàn lớn (như Formosa, Vinfast, VSIP,...) về đầu tư tại Hà Tĩnh, tạo tiền đề hình thành hệ sinh thái thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu - phát triển và phát triển các sản phẩm chiến lược quốc gia.

b. Một số hạn chế, khó khăn

- Về hạ tầng: chưa có các trung tâm dữ liệu (Data Center) quy mô lớn; chưa có cơ sở hạ tầng chuyên dụng cho việc nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển các sản phẩm, công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), thiết bị bay không người lái có ứng dụng AI, robot,….; chưa hình thành Khu Công nghệ số tập trung, Tổ hợp công nghệ cao,… để thu hút dự án công nghệ số, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ số và triển khai cơ chế thử nghiệm "sandbox"…

- Về nguồn lực: thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng và chất lượng nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao. Số lượng nhân lực trình độ cao (tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư chất lượng cao các chuyên ngành AI, bán dẫn, Big Data, IoT, Robot, Blockchain,…) còn rất hạn chế so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp công nghệ số[2].

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...