Kế hoạch 217/KH-UBND năm 2020 thực hiện Chỉ thị 24/CT-TTg đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế trong tình hình mới do thành phố Hải Phòng ban hành
| Số hiệu | 217/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 01/09/2020 |
| Ngày có hiệu lực | 01/09/2020 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Hải Phòng |
| Người ký | Lê Khắc Nam |
| Lĩnh vực | Lao động - Tiền lương |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 217/KH-UBND |
Hải Phòng, ngày 01 tháng 9 năm 2020 |
Thực hiện Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế trong tình hình mới (sau đây được gọi là Chỉ thị số 24/CT-TTg), Ủy ban nhân dân thành phố xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố, cụ thể như sau:
1. Quán triệt đầy đủ, sâu sắc nội dung của Chỉ thị số 24/CT-TTg nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế trong tình hình mới, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Tổ chức thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Chỉ thị số 24/CT-TTg nhằm tiếp tục phát triển mạnh mẽ nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao đảm bảo gắn kết nhiệm vụ giáo dục nghề nghiệp với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong tình hình mới.
3. Triển khai thực hiện đồng bộ Kế hoạch này với tiếp tục thực hiện Kế hoạch số 2615/KH-UBND ngày 10/11/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố triển khai thực hiện Chương trình hành động số 01-Ctr/TU ngày 11/01/2016 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 6/6/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao” (Kế hoạch số 2615/KH-UBND) và Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 24/4/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố triển khai thực hiện Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” trên địa bàn thành phố (Kế hoạch số 126/KH-UBND).
II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề:
- Nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách của thành phố về giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, đào tạo nhân lực có tay nghề cao.
- Ngoài nguồn ngân sách do Trung ương hỗ trợ, hàng năm thành phố cần dành một tỷ lệ tương ứng từ ngân sách thành phố để hỗ trợ thực hiện Dự án đầu tư tập trung và đồng bộ theo nghề trọng điểm đối với các trường cao đẳng đã được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội phê duyệt theo Quyết định số 1769/QĐ-LĐTBXH ngày 25/11/2019 đối với ngành, nghề trọng điểm; trường được lựa chọn ngành, nghề trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025.
- Xây dựng cơ chế đặc thù để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn để học tập, đặc biệt học các nghề trọng điểm.
- Chủ động bố trí nguồn ngân sách thành phố, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động, các chuyên gia quốc tế và người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào hoạt động đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài mở cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao tại thành phố Hải Phòng.
2. Tăng cường chuyển đổi số và đào tạo trực tuyến, chú trọng đào tạo lại và đào tạo thường xuyên lực lượng lao động để tạo chuyển biến mạnh mẽ về quy mô, chất lượng và hiệu quả của giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm người học có kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số, kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp và ngoại ngữ... thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Phấn đấu đến năm 2025, giáo dục nghề nghiệp thành phố Hải Phòng tiếp cận trình độ quốc gia và các nước ASEAN, đến năm 2030 tiếp cận trình độ các nước ASEAN và quốc tế.
3. Nâng cao năng lực dự báo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, trình độ đào tạo, nhất là những ngành nghề, kỹ năng mới và cập nhật dữ liệu theo định kỳ; định hướng lựa chọn ngành đào tạo, nhất là những ngành mũi nhọn gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc kết nối cung - cầu để nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng lao động, bao gồm cả lao động đã đi làm việc ở nước ngoài trở về nước để phát huy các thế mạnh của họ trong lao động, sản xuất và nâng cao thu nhập gắn với việc làm bền vững.
4. Đổi mới, đa dạng hóa nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, tạo sự chuyển biến về nhận thức, đồng thuận của xã hội về phát triển giáo dục nghề nghiệp, vị trí, vai trò của nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao nhằm huy động sự tham gia và nguồn lực của toàn xã hội, nhất là sự đồng hành của doanh nghiệp đối với việc phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao phục vụ yêu cầu phát triển của thành phố trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
5. Rà soát, sắp xếp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc thành phố quản lý; đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ chế tự chủ tài chính đảm bảo tinh gọn, hiệu quả và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo đúng quy định và phù hợp với tình hình, nhu cầu thực tế của thành phố.
6. Tăng cường gắn kết chặt chẽ giữa: Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp trong các hoạt động giáo dục nghề nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp công nhận, tuyển dụng, sử dụng, trả tiền lương, tiền công cho người lao động dựa trên kỹ năng và năng lực hành nghề; tuyển dụng, sử dụng người lao động đã qua đào tạo hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo quy định của pháp luật.
7. Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế đa phương, song phương trong giáo dục nghề nghiệp như: Liên kết đào tạo; nghiên cứu khoa học; trao đổi học thuật; đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý, quản trị nhà trường.
8. Chú trọng nội dung phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề trong các kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển ngành, địa phương; ưu tiên phân bổ ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp trong tổng chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo và trong các chương trình, dự án của ngành, địa phương; chủ động thu hút và ưu tiên sử dụng vốn ODA theo quy định của pháp luật để đầu tư cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhất là các trường chất lượng cao theo quy hoạch và các ngành, nghề trọng điểm đã được phê duyệt.
9. Rà soát, đẩy mạnh triển khai, quản lý hiệu quả các chương trình, dự án, liên quan đến giáo dục nghề nghiệp. Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.
III. PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Lao động Thương binh và Xã hội:
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện sau khi được thành phố phê duyệt: “Cơ chế, chính sách hỗ trợ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học cơ sở có hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng học hệ chính quy trình độ cao đẳng, trung cấp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng thuộc danh mục nghề, khuyến khích đào tạo của thành phố”.
- Làm đầu mối giúp Ủy ban nhân dân thành phố triển khai các hoạt động hợp tác giữa lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố.
- Nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách của thành phố về giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, đào tạo nhân lực có tay nghề cao; cơ chế đặc thù để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn để học tập, đặc biệt học các nghề trọng điểm.
- Tiếp tục hoàn thiện Dự án “Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” trên cơ sở Đề án sắp xếp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc thành phố quản lý (các trường cao đẳng, trường trung cấp) để phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao trong giai đoạn mới.
- Đề xuất thí điểm và thực hiện đào tạo trình độ cao đẳng cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; tiếp tục triển khai các chương trình chuyển giao từ nước ngoài có hiệu quả để nhân rộng trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp thành phố.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 217/KH-UBND |
Hải Phòng, ngày 01 tháng 9 năm 2020 |
Thực hiện Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế trong tình hình mới (sau đây được gọi là Chỉ thị số 24/CT-TTg), Ủy ban nhân dân thành phố xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố, cụ thể như sau:
1. Quán triệt đầy đủ, sâu sắc nội dung của Chỉ thị số 24/CT-TTg nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế trong tình hình mới, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Tổ chức thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Chỉ thị số 24/CT-TTg nhằm tiếp tục phát triển mạnh mẽ nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao đảm bảo gắn kết nhiệm vụ giáo dục nghề nghiệp với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong tình hình mới.
3. Triển khai thực hiện đồng bộ Kế hoạch này với tiếp tục thực hiện Kế hoạch số 2615/KH-UBND ngày 10/11/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố triển khai thực hiện Chương trình hành động số 01-Ctr/TU ngày 11/01/2016 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 6/6/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao” (Kế hoạch số 2615/KH-UBND) và Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 24/4/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố triển khai thực hiện Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” trên địa bàn thành phố (Kế hoạch số 126/KH-UBND).
II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề:
- Nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách của thành phố về giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, đào tạo nhân lực có tay nghề cao.
- Ngoài nguồn ngân sách do Trung ương hỗ trợ, hàng năm thành phố cần dành một tỷ lệ tương ứng từ ngân sách thành phố để hỗ trợ thực hiện Dự án đầu tư tập trung và đồng bộ theo nghề trọng điểm đối với các trường cao đẳng đã được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội phê duyệt theo Quyết định số 1769/QĐ-LĐTBXH ngày 25/11/2019 đối với ngành, nghề trọng điểm; trường được lựa chọn ngành, nghề trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025.
- Xây dựng cơ chế đặc thù để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn để học tập, đặc biệt học các nghề trọng điểm.
- Chủ động bố trí nguồn ngân sách thành phố, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động, các chuyên gia quốc tế và người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào hoạt động đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài mở cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao tại thành phố Hải Phòng.
2. Tăng cường chuyển đổi số và đào tạo trực tuyến, chú trọng đào tạo lại và đào tạo thường xuyên lực lượng lao động để tạo chuyển biến mạnh mẽ về quy mô, chất lượng và hiệu quả của giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm người học có kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số, kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp và ngoại ngữ... thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Phấn đấu đến năm 2025, giáo dục nghề nghiệp thành phố Hải Phòng tiếp cận trình độ quốc gia và các nước ASEAN, đến năm 2030 tiếp cận trình độ các nước ASEAN và quốc tế.
3. Nâng cao năng lực dự báo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, trình độ đào tạo, nhất là những ngành nghề, kỹ năng mới và cập nhật dữ liệu theo định kỳ; định hướng lựa chọn ngành đào tạo, nhất là những ngành mũi nhọn gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc kết nối cung - cầu để nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng lao động, bao gồm cả lao động đã đi làm việc ở nước ngoài trở về nước để phát huy các thế mạnh của họ trong lao động, sản xuất và nâng cao thu nhập gắn với việc làm bền vững.
4. Đổi mới, đa dạng hóa nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, tạo sự chuyển biến về nhận thức, đồng thuận của xã hội về phát triển giáo dục nghề nghiệp, vị trí, vai trò của nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao nhằm huy động sự tham gia và nguồn lực của toàn xã hội, nhất là sự đồng hành của doanh nghiệp đối với việc phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao phục vụ yêu cầu phát triển của thành phố trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
5. Rà soát, sắp xếp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc thành phố quản lý; đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ chế tự chủ tài chính đảm bảo tinh gọn, hiệu quả và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo đúng quy định và phù hợp với tình hình, nhu cầu thực tế của thành phố.
6. Tăng cường gắn kết chặt chẽ giữa: Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp trong các hoạt động giáo dục nghề nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp công nhận, tuyển dụng, sử dụng, trả tiền lương, tiền công cho người lao động dựa trên kỹ năng và năng lực hành nghề; tuyển dụng, sử dụng người lao động đã qua đào tạo hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo quy định của pháp luật.
7. Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế đa phương, song phương trong giáo dục nghề nghiệp như: Liên kết đào tạo; nghiên cứu khoa học; trao đổi học thuật; đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý, quản trị nhà trường.
8. Chú trọng nội dung phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề trong các kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển ngành, địa phương; ưu tiên phân bổ ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp trong tổng chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo và trong các chương trình, dự án của ngành, địa phương; chủ động thu hút và ưu tiên sử dụng vốn ODA theo quy định của pháp luật để đầu tư cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhất là các trường chất lượng cao theo quy hoạch và các ngành, nghề trọng điểm đã được phê duyệt.
9. Rà soát, đẩy mạnh triển khai, quản lý hiệu quả các chương trình, dự án, liên quan đến giáo dục nghề nghiệp. Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.
III. PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Lao động Thương binh và Xã hội:
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện sau khi được thành phố phê duyệt: “Cơ chế, chính sách hỗ trợ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học cơ sở có hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng học hệ chính quy trình độ cao đẳng, trung cấp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng thuộc danh mục nghề, khuyến khích đào tạo của thành phố”.
- Làm đầu mối giúp Ủy ban nhân dân thành phố triển khai các hoạt động hợp tác giữa lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố.
- Nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách của thành phố về giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, đào tạo nhân lực có tay nghề cao; cơ chế đặc thù để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn để học tập, đặc biệt học các nghề trọng điểm.
- Tiếp tục hoàn thiện Dự án “Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” trên cơ sở Đề án sắp xếp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc thành phố quản lý (các trường cao đẳng, trường trung cấp) để phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao trong giai đoạn mới.
- Đề xuất thí điểm và thực hiện đào tạo trình độ cao đẳng cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; tiếp tục triển khai các chương trình chuyển giao từ nước ngoài có hiệu quả để nhân rộng trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp thành phố.
- Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện tốt công tác giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp theo Kế hoạch số 126/KH-UBND và Kế hoạch số 2615/KH-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính xây dựng dự toán hàng năm đề nghị Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính ưu tiên, cân đối, bố trí nguồn kinh phí thực hiện các chương trình, dự án trong lĩnh vực giáo dục, nghề nghiệp.
- Hướng dẫn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố thực hiện nâng cao công tác đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao.
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan triển khai Kế hoạch này; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị, địa phương thực hiện và định kỳ hàng năm tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố.
- Nâng cao năng lực dự báo nhu cầu về lao động có kỹ năng, nhất là những kỹ năng trong tương lai, những ngành, nghề mới; làm tốt công tác dự báo nhu cầu về lao động có kỹ năng nghề theo từng lĩnh vực, ngành nghề, trình độ đào tạo, nhất là những ngành nghề, kỹ năng mới.
- Chú trọng nội dung phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển kỹ năng nghề trong kế hoạch, chương trình, dự án phát triển các lĩnh vực, ngành và địa phương.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính cân đối nguồn lực cho đầu tư phát triển trên địa bàn, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bố trí kinh phí triển khai thực hiện các chương trình, đề án, dự án đầu tư phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển kỹ năng nghề được phê duyệt.
- Chủ trì tổng hợp, bố trí vốn sự nghiệp thực hiện các chương trình, dự án trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp theo quy định về phân cấp ngân sách, trình Ủy ban nhân dân thành phố.
- Phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội rà soát, tham mưu trình cấp có thẩm quyền xem xét cơ chế ưu đãi đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm đồng bộ với Luật Giáo dục nghề nghiệp, các luật chuyên ngành, góp phần khuyến khích doanh nghiệp gắn kết với hoạt động giáo dục nghề nghiệp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện tốt công tác giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp theo theo Kế hoạch số 126/KH-UBND và Kế hoạch số 2615/KH-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố và có cơ chế đánh giá, giám sát việc thực hiện các hoạt động này tại các địa phương.
- Hướng dẫn thực hiện quy định khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông và hướng dẫn việc dạy học, cấp giấy chứng nhận đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
5. Sở Thông tin và Truyền thông:
- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tấn báo chí, Cổng Thông tin điện tử thành phố, hệ thống thông tin cơ sở thực hiện tuyên truyền về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế trong tình hình mới, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội cung cấp nội dung thông tin, tài liệu tuyên truyền về tình hình triển khai, kết quả thực hiện Kế hoạch.
- Hướng dẫn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc thành phố trong việc tuyển dụng giáo viên giảng dạy các môn học văn hóa trong đơn vị.
7. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức thành viên, các tổ chức đoàn thể, Hội Khuyến học thành phố: Dành sự quan tâm, ưu tiên bố trí quỹ khen thưởng và các hoạt động khác cho những người lao động và người học có thành tích cao trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện quyền và trách nhiệm trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động, việc làm và giáo dục nghề nghiệp.
- Xây dựng chương trình phối hợp công tác theo năm hoặc theo từng giai đoạn nhằm tăng cường gắn kết giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp.
- Tích cực tham gia bộ phận gắn kết giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp để hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
9. Ủy ban nhân dân các quận, huyện:
- Chú trọng nâng cao năng lực của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trực thuộc; chỉ đạo nâng cao chất lượng đào tạo theo các chuẩn quốc gia, khu vực ASEAN, quốc tế đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực có kỹ năng nghề phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Thực hiện các chế độ hỗ trợ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp (bao gồm hỗ trợ kinh phí, học phí học văn hóa trung học phổ thông) để góp phần thực hiện tốt Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025”.
- Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn quản lý sử dụng lao động qua đào tạo nghề nghiệp và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có sự gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp.
10. Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố:
- Thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc mở lớp đào tạo tại nơi làm việc để nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ giáo dục nghề nghiệp và chương trình đào tạo khác theo quy định của pháp luật.
- Tham gia đào tạo, xây dựng danh mục ngành, nghề; tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; chuẩn đầu ra; chương trình đào tạo; định mức kinh tế - kỹ thuật trong giáo dục nghề nghiệp; tham gia hội đồng trường, hội đồng quản trị và hội đồng kỹ năng ngành hoặc nghề phù hợp.
- Tổ chức thi kỹ năng nghề cho người lao động, đánh giá và công nhận kỹ năng nghề, phát triển năng lực nghề nghiệp cho người lao động.
- Thông tin, báo cáo chính xác, kịp thời về nhu cầu đào tạo, sử dụng lao động theo ngành, nghề và nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp; chỉ sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề nghiệp hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia ở một số ngành nghề theo quy định của pháp luật.
11. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố:
- Tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao: Thực hiện rà soát, mở rộng ngành, nghề đào tạo, nhất là ngành, nghề phục vụ phát triển lĩnh vực có thế mạnh, mang tính đột phá của thành phố là các ngành dịch vụ cảng biển, sân bay, du lịch, kinh tế biển, vận tải biển, logistic, tài chính, xuất nhập khẩu...; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao; tăng cường xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, nhân lực có tay nghề cao.
- Thực hiện đạt mục tiêu Kế hoạch số 221/KH-UBND ngày 09/10/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố về đẩy mạnh hợp tác giữa lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố giai đoạn 2018-2030; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp; tăng cường mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế về đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, đào tạo nhân lực có tay nghề cao.
Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu phát sinh các khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, địa phương phản ánh về Sở Lao động Thương binh và Xã hội để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, giải quyết. Hàng năm gửi báo cáo kết quả thực hiện về Sở Lao động Thương binh và Xã hội để tổng hợp, báo cáo theo quy định./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh