Kế hoạch 112/KH-UBND năm 2026 thực hiện Chiến lược phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
| Số hiệu | 112/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 31/03/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 31/03/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Quảng Ngãi |
| Người ký | Y Ngọc |
| Lĩnh vực | Văn hóa - Xã hội |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 112/KH-UBND |
Quảng Ngãi, ngày 31 tháng 3 năm 2026 |
Thực hiện Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Theo đề nghị của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là Kế hoạch), với các nội dung cụ thể sau:
1. Mục đích: Cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đảm bảo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của tỉnh.
2. Yêu cầu: Công tác tổ chức thực hiện Kế hoạch đảm bảo thiết thực, hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, địa phương.
- Tập trung phát triển trọng tâm, trọng điểm 06 ngành công nghiệp văn hóa, hình thành kết nối, gia tăng giá trị sản phẩm, thúc đẩy khả năng khai thác và chuyển hóa các giá trị văn hóa trở thành sức mạnh mềm của tỉnh, gồm: (1) Du lịch văn hóa, (2) Nghệ thuật biểu diễn, (3) Thủ công mỹ nghệ, (4) Quảng cáo, (5) Phần mềm và các trò chơi giải trí, (6) Điện ảnh.
- Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, trong đó tập trung phát triển lĩnh vực du lịch văn hóa bền vững gắn với phát triển các loại hình dịch vụ, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là nhiệm vụ trọng tâm, định hướng chiến lược quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của một số ngành, lĩnh vực khác.
- Đến năm 2030, Quảng Ngãi trở thành một trong những điểm đến đặc sắc thu hút khách du lịch khu vực, trong nước và quốc tế. Ngành du lịch có tính chuyên nghiệp cao, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; Sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống. Đến 2030, du lịch Quảng Ngãi đón được 10 triệu lượt khách, trong đó có 550 ngàn lượt khách quốc tế; tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt 15%/năm. Ngày lưu trú bình quân của du khách đạt 03 ngày trở lên. Tổng doanh thu từ du lịch đạt khoảng 7.400 tỷ đồng. Giải quyết việc làm cho khoảng 21.000 lao động.
- Tập trung phát triển một số ngành có lợi thế, tiềm năng như: Nghệ thuật biểu diễn (trình diễn dân gian); đồ thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa, sinh thái, tâm linh gắn với việc khai thác không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nghệ thuật Bài Chòi, Nghệ thuật Cà Đáo (múa) của người Co, Hát Ta lêu, hát Ca chôi của người Hrê (Ba Tơ), công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, những di sản đã được xếp hạng, đưa vào danh mục di sản Quốc gia như: Tri thức dân gian về Sâm Ngọc Linh, Nghề gốm Mỹ Thiện, Nghề làm gốm ở Sa Huỳnh, Nghề làm muối Sa Huỳnh…; nghề dệt thủ công truyền thống của dân tộc Ba Na, H’rê, Xơ Đăng, Giẻ - Triêng; nghề đan lát, đan lưới cá, chế tác nhạc cụ dân tộc... từng bước đa dạng hóa các sản phẩm công nghiệp văn hóa giữ được truyền thống văn hóa dân tộc trong từng sản phẩm trên địa bàn tỉnh.
- Định hướng và từng bước phát triển các ngành: Điện ảnh; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo... đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Trên cơ sở đánh giá thực hiện mục tiêu đến năm 2030 để tiếp tục xác định, đưa doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách của địa phương.
- Phát triển đa dạng, đồng bộ và hiện đại tất cả các ngành công nghiệp văn hóa một cách bền vững, được ứng dụng công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, quảng bá, tiêu dùng, chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có thương hiệu uy tín trong cả nước, đạt tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và quốc tế.
a) Đẩy mạnh truyền thông và nâng cao nhận thức
- Đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các ngành, đoàn thể, địa phương và toàn xã hội về vị trí, vai trò quan trọng của các ngành công nghiệp văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp trong việc đầu tư cho văn hóa như là một phần chiến lược kinh doanh và thể hiện trách nhiệm với xã hội, cộng đồng.
- Tăng cường truyền thông về quyền sở hữu trí tuệ để nâng cao nhận thức trong quá trình khai thác và sử dụng các sản phẩm sáng tạo, các sản phẩm công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí; tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm công nghiệp văn hóa, số hóa các sản phẩm, nội dung văn hóa truyền thống để quảng bá các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng về sáng tạo và hưởng thụ văn hóa.
- Huy động sự tham gia rộng rãi, có hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng và các nền tảng số trong việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, nhằm thu hút sự quan tâm của xã hội, thu hút các nguồn lực trong, ngoài tỉnh và ngoài nước đầu tư cho các ngành công nghiệp văn hóa của tỉnh.
- Hình thành cộng đồng người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ văn hóa thông qua hoạt động quảng bá, nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa của công chúng; phát huy vai trò tuyên truyền, giáo dục của các đơn vị, tổ chức văn hóa...
b) Hoàn thiện về cơ chế, chính sách
- Triển khai kịp thời các quy định pháp luật liên quan đến việc phát triển công nghiệp văn hóa ở địa phương. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương mới (2 cấp) trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, lĩnh vực có liên quan.
- Rà soát, nghiên cứu một số đối tượng thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển công nghiệp văn hóa để xem xét bổ sung danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định của phát luật.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 112/KH-UBND |
Quảng Ngãi, ngày 31 tháng 3 năm 2026 |
Thực hiện Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Theo đề nghị của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là Kế hoạch), với các nội dung cụ thể sau:
1. Mục đích: Cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đảm bảo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của tỉnh.
2. Yêu cầu: Công tác tổ chức thực hiện Kế hoạch đảm bảo thiết thực, hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, địa phương.
- Tập trung phát triển trọng tâm, trọng điểm 06 ngành công nghiệp văn hóa, hình thành kết nối, gia tăng giá trị sản phẩm, thúc đẩy khả năng khai thác và chuyển hóa các giá trị văn hóa trở thành sức mạnh mềm của tỉnh, gồm: (1) Du lịch văn hóa, (2) Nghệ thuật biểu diễn, (3) Thủ công mỹ nghệ, (4) Quảng cáo, (5) Phần mềm và các trò chơi giải trí, (6) Điện ảnh.
- Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, trong đó tập trung phát triển lĩnh vực du lịch văn hóa bền vững gắn với phát triển các loại hình dịch vụ, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là nhiệm vụ trọng tâm, định hướng chiến lược quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của một số ngành, lĩnh vực khác.
- Đến năm 2030, Quảng Ngãi trở thành một trong những điểm đến đặc sắc thu hút khách du lịch khu vực, trong nước và quốc tế. Ngành du lịch có tính chuyên nghiệp cao, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; Sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống. Đến 2030, du lịch Quảng Ngãi đón được 10 triệu lượt khách, trong đó có 550 ngàn lượt khách quốc tế; tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt 15%/năm. Ngày lưu trú bình quân của du khách đạt 03 ngày trở lên. Tổng doanh thu từ du lịch đạt khoảng 7.400 tỷ đồng. Giải quyết việc làm cho khoảng 21.000 lao động.
- Tập trung phát triển một số ngành có lợi thế, tiềm năng như: Nghệ thuật biểu diễn (trình diễn dân gian); đồ thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa, sinh thái, tâm linh gắn với việc khai thác không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nghệ thuật Bài Chòi, Nghệ thuật Cà Đáo (múa) của người Co, Hát Ta lêu, hát Ca chôi của người Hrê (Ba Tơ), công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, những di sản đã được xếp hạng, đưa vào danh mục di sản Quốc gia như: Tri thức dân gian về Sâm Ngọc Linh, Nghề gốm Mỹ Thiện, Nghề làm gốm ở Sa Huỳnh, Nghề làm muối Sa Huỳnh…; nghề dệt thủ công truyền thống của dân tộc Ba Na, H’rê, Xơ Đăng, Giẻ - Triêng; nghề đan lát, đan lưới cá, chế tác nhạc cụ dân tộc... từng bước đa dạng hóa các sản phẩm công nghiệp văn hóa giữ được truyền thống văn hóa dân tộc trong từng sản phẩm trên địa bàn tỉnh.
- Định hướng và từng bước phát triển các ngành: Điện ảnh; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo... đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Trên cơ sở đánh giá thực hiện mục tiêu đến năm 2030 để tiếp tục xác định, đưa doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách của địa phương.
- Phát triển đa dạng, đồng bộ và hiện đại tất cả các ngành công nghiệp văn hóa một cách bền vững, được ứng dụng công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, quảng bá, tiêu dùng, chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có thương hiệu uy tín trong cả nước, đạt tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và quốc tế.
a) Đẩy mạnh truyền thông và nâng cao nhận thức
- Đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các ngành, đoàn thể, địa phương và toàn xã hội về vị trí, vai trò quan trọng của các ngành công nghiệp văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp trong việc đầu tư cho văn hóa như là một phần chiến lược kinh doanh và thể hiện trách nhiệm với xã hội, cộng đồng.
- Tăng cường truyền thông về quyền sở hữu trí tuệ để nâng cao nhận thức trong quá trình khai thác và sử dụng các sản phẩm sáng tạo, các sản phẩm công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí; tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm công nghiệp văn hóa, số hóa các sản phẩm, nội dung văn hóa truyền thống để quảng bá các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng về sáng tạo và hưởng thụ văn hóa.
- Huy động sự tham gia rộng rãi, có hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng và các nền tảng số trong việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, nhằm thu hút sự quan tâm của xã hội, thu hút các nguồn lực trong, ngoài tỉnh và ngoài nước đầu tư cho các ngành công nghiệp văn hóa của tỉnh.
- Hình thành cộng đồng người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ văn hóa thông qua hoạt động quảng bá, nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa của công chúng; phát huy vai trò tuyên truyền, giáo dục của các đơn vị, tổ chức văn hóa...
b) Hoàn thiện về cơ chế, chính sách
- Triển khai kịp thời các quy định pháp luật liên quan đến việc phát triển công nghiệp văn hóa ở địa phương. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương mới (2 cấp) trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, lĩnh vực có liên quan.
- Rà soát, nghiên cứu một số đối tượng thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển công nghiệp văn hóa để xem xét bổ sung danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định của phát luật.
- Xây dựng và ban hành chính sách đặc thù địa phương trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh trong thời kỳ mới nhằm cải thiện điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nâng cao hiệu quả việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và các quyền liên quan, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Ban hành cơ chế, chính sách quy định việc sử dụng ngân sách thuộc Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa để hỗ trợ các dự án phát triển công nghiệp văn hóa do doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, cộng đồng, nhằm triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 162/2024/QH15 Ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội về Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 trên địa bàn tỉnh.
- Tiếp tục triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, đồng thời nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển đối với những ngành chưa có chiến lược, quy hoạch (nếu cần thiết).
c) Phát triển nguồn nhân lực
- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực quản lý cho các ngành công nghiệp văn hóa ở trong tỉnh; thúc đẩy trao đổi kiến thức, nâng cao năng lực chuyên môn, nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho các ngành công nghiệp văn hóa. Có chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm chuyên môn về công nghiệp văn hóa đến làm việc tại Quảng Ngãi.
- Tăng cường liên kết, hợp tác với các cơ sở giáo dục, đào tạo, các trường nghề, các viện nghiên cứu để xây dựng và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đối với các ngành công nghiệp văn hóa của tỉnh.
d) Phát triển cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư
- Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ để thu hút đầu tư, hình thành trung tâm công nghiệp văn hóa tại các vùng kinh tế trọng điểm. Xây dựng mới, nâng cấp các thiết chế văn hóa để đáp ứng nhu cầu thưởng thức của người dân; chú trọng phát triển quỹ đất của địa phương đã được quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đầu tư cho các khu, tổ công nghiệp văn hóa, sáng tạo theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan. Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa của tỉnh, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hoá đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hoá của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả[1].
- Sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để đầu tư về hạ tầng, xúc tiến quảng bá, đào tạo nguồn nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên sử dụng nguồn ngân sách từ Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035.
- Đa dạng hóa mô hình tổ chức và sở hữu để khuyến khích các tổ chức, cá nhân khởi nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp văn hóa; khuyến khích đầu tư tư nhân, huy động hiệu quả nguồn vốn và mọi nguồn lực xã hội tham gia phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó phát triển các sản phẩm mà Quảng Ngãi có thế mạnh.
e) Ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
- Ứng dụng khoa học công nghệ và thiết bị hiện đại để tăng khả năng sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa; đầu tư cho các ngành công nghiệp phụ trợ để nâng cao chất lượng, giá trị các sản phẩm công nghiệp văn hóa, đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia; từng bước làm chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa chủ lực; tăng cường tích hợp các công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa, như: AI (trí tuệ nhân tạo), Big Data (dữ liệu lớn), Blockchain (chuỗi khối), IoT (Internet kết nối vạn vật), VR (thực tại ảo), AR (thực tại tăng cường), XR (thực tế mở rộng), Digital Twin (bản sao số)… Phấn đấu 100% đơn vị hoạt động văn hóa, nghệ thuật công lập được tin học hóa, chuyển đổi số, ứng dụng và thực hành các thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
- Triển khai các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Số hóa các di sản văn hóa, tư liệu văn hóa, nghệ thuật, hình thành cơ sở dữ liệu của tỉnh về công nghiệp văn hóa để các nghệ nhân, nghệ sĩ, người làm sáng tạo thực hiện ý tưởng sáng tạo dựa trên các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần lan tỏa sự yêu thích văn hóa Quảng Ngãi. Đến 2030: Phấn đấu hoàn thành số hóa 100% các di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026; số hóa 100% di sản văn hóa phi vật thể trong danh mục quốc gia và được UNESCO ghi danh vào di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào năm 2027; số hóa 50% di sản văn hóa trong danh mục kiểm kê vào năm 2030[2].
f) Phát triển thị trường và sản phẩm
- Gắn kết các sản phẩm công nghiệp văn hóa với hàng hóa, dịch vụ khác để gia tăng giá trị thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Khuyến khích sáng tạo, sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống và hiện đại.
- Nghiên cứu xây dựng mô hình kết nối đồng bộ các khâu từ sản xuất, quảng bá, phân phối, cung ứng sản phẩm và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ các ngành công nghiệp văn hóa. Từng bước hình thành cộng đồng người tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp văn hóa của tỉnh; kết nối các doanh nghiệp sản xuất với các kênh phân phối trực tiếp và trên nền tảng số để quảng bá và tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp văn hóa của tỉnh ra thị trường trong nước và nước ngoài.
- Tăng cường hợp tác, xúc tiến thương mại, tham gia các diễn đàn kết nối, hội chợ, triển lãm… để giới thiệu, quảng bá xây dựng thương hiệu, nâng tầm cho các sản phẩm công nghiệp văn hóa của tỉnh. Tổ chức có hiệu quả các sự kiện văn hóa thể thao và du lịch định kỳ của tỉnh, các địa phương tạo nên danh hiệu, điểm nhấn riêng như: Tuần văn hóa du lịch Măng Đen; Mùa hè biển Quảng Ngãi; ngày hội Văn hóa Thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi; Liên hoan Cồng chiêng tỉnh và khu vực thường niên….
g) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế
- Tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác, trao đổi văn hóa đối ngoại; từng bước giới thiệu, xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa; thúc đẩy giao lưu, hợp tác với các tổ chức, doanh nghiệp quốc tế để tăng cường sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa chất lượng cao, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
- Tăng cường kết nối, tổ chức các sự kiện, chương trình hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật để quảng bá, xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa của tỉnh.
- Xây dựng và triển khai các chương trình quảng bá thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa của tỉnh tại các hội chợ liên kết tại các địa phương có tiềm năng trong nước; liên hoan quốc tế; tuần văn hóa - du lịch Việt Nam tại các nước; lồng ghép các chương trình quảng bá phát triển công nghiệp văn hóa gắn với các sự kiện ngoại giao.
h) Tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và thực thi các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm tăng cường bảo hộ sáng tạo trí tuệ đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
- Tăng cường bảo hộ sáng tạo trên môi trường số để đáp ứng sự phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số của tỉnh đáp ứng xu thế chuyển đổi số của quốc gia và xu thế của thời đại.
2. Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm a) Lĩnh vực du lịch văn hóa
- Tăng cường khai thác các giá trị di sản văn hóa truyền thống trong phát triển du lịch văn hóa. Xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa 3D di sản văn hóa, ứng dụng công nghệ kỹ thuật số để tạo dựng không gian trải nghiệm du lịch văn hóa đa dạng. Hình thành các tour, tuyến du lịch văn hóa đến các vùng, miền có sản phẩm đặc trưng, tiêu biểu như: Sâm Ngọc Linh, trà, cà phê, gốm, sứ, mây, tre…, đưa ý nghĩa văn hóa, lịch sử vào sản phẩm để gia tăng giá trị cho hàng hóa, dịch vụ nhằm quảng bá thương hiệu của tỉnh Quảng Ngãi.
- Tăng cường các sản phẩm công nghiệp văn hóa tại các khu, điểm du lịch gắn với hoạt động thể thao và giải trí phù hợp với văn hóa bản địa của từng địa phương; quản lý hoạt động, dịch vụ tại các khu vui chơi, giải trí ban đêm, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn, đúng quy định.
- Tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh và sự phong phú, đa dạng di sản văn hóa nhằm quảng bá và phát triển du lịch văn hóa, tôn vinh các giá trị văn hóa của tỉnh Quảng Ngãi. Phát triển du lịch văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn với các hạt nhân tạo thành tam giác phát triển du lịch thế mạnh của tỉnh: Trung tâm du lịch biển - đảo Lý Sơn, Khu du lịch Măng Đen và Di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh.
- Nâng cao hiệu quả đào tạo của các cơ sở giáo dục, trường đào tạo nghề du lịch tại địa phương, chú trọng đào tạo về kiến thức văn hóa, kỹ năng hướng dẫn, thuyết trình về văn hóa bản địa nhằm nâng cao chất lượng hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh.
b) Lĩnh vực thủ công mỹ nghệ
- Triển khai có hiệu quả Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm (OCOP)” gắn với hoạt động truyền thông sản phẩm công nghiệp văn hóa của địa phương. Thực hiện sưu tầm, thu thập, bảo tồn bí quyết, công nghệ cổ truyền tinh xảo, độc đáo, các mẫu hoa văn truyền thống trên các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có hướng đổi mới, hiện đại, công nghệ tiên tiến phù hợp với sản xuất tại làng nghề.
- Đa dạng hóa sản phẩm có tính cạnh tranh cao, thay đổi mẫu mã, thiết kế sản phẩm, bao bì, nhãn mác có yếu tố văn hóa truyền thống để tôn vinh, quảng bá nét văn hóa Việt trong từng sản phẩm; kết hợp ý tưởng độc đáo, sáng tạo, tôn vinh các giá trị truyền thống vào thiết kế các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Phát triển các chuỗi sản phẩm quà lưu niệm nhằm phục vụ du khách trong và ngoài nước. Các địa phương có kế hoạch cụ thể để ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số nâng cao giá trị các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đặc sản của các địa phương.
- Phát triển các thương hiệu sản phẩm chủ lực gắn với văn hóa địa phương, khuyến khích sản xuất sản phẩm mang giá trị văn hóa dân tộc, bảo đảm tiêu chuẩn về chất lượng, hình thức tăng thị hiếu cho người tiêu dùng; tôn vinh các giá trị truyền thống, lồng ghép yếu tố văn hóa của địa phương vào thiết kế, sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống.
- Tăng cường giới thiệu, quảng bá, xúc tiến thương mại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ ra thị trường trong và ngoài nước, tạo cầu nối, mở rộng thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của địa phương.
- Xây dựng chính sách hỗ trợ đối với đội ngũ kế thừa, bảo tồn và phát huy nghề thủ công truyền thống; tôn vinh, duy trì và phát triển đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi để tạo nòng cốt thúc đẩy công tác đào tạo, truyền nghề; bảo tồn, phát triển kỹ năng nghề truyền thống.
c) Lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn
- Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ địa điểm, bảo đảm an ninh, an toàn… để tổ chức các chương trình và sự kiện âm nhạc quy mô lớn; chính sách thuế phù hợp với doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia tài trợ cho hoạt động sáng tác, dàn dựng, tổ chức các sự kiện âm nhạc; chính sách thuế phù hợp đối với loại hình nghệ thuật dân gian phục vụ khách du lịch trong và ngoài tỉnh. Có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật với các tổ chức, doanh nghiệp trong việc liên kết, hợp tác, kết nối và kinh doanh.
- Rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền về việc quản lý, sử dụng tài sản công để khai thác sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, phục vụ tổ chức các chương trình biểu diễn, sự kiện âm nhạc.
- Hình thành các địa điểm biểu diễn nghệ thuật tiêu biểu, loại hình biểu diễn tiêu biểu tại mỗi địa phương trong tỉnh; chủ động liên kết các khu du lịch để đưa nghệ nhân, nghệ sĩ tham gia, giới thiệu văn hóa của tỉnh Quảng Ngãi đến với bạn bè trong và ngoài nước.
- Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc, chương trình biểu diễn, tổ chức sự kiện; tăng cường hợp tác giữa các ngành, lĩnh vực liên quan với nghệ thuật biểu diễn; khuyến khích các doanh nghiệp, nhà sản xuất, tác giả, đạo diễn, nghệ sĩ tài năng tham gia sản xuất các tác phẩm, chương trình âm nhạc có chất lượng tại địa phương và đưa các nhóm nhạc tham dự các sự kiện âm nhạc có thương hiệu uy tín trong nước và khu vực.
d) Lĩnh vực quảng cáo
- Ưu tiên phát triển các sản phẩm quảng cáo trên nền tảng số, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, bảo đảm nội dung trung thực, sáng tạo, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ tiếp cận, gia tăng giá trị cho các sản phẩm được quảng cáo.
- Điều chỉnh quy hoạch quảng cáo ngoài trời và ban hành quy định về hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh theo hướng đáp ứng nhu cầu quảng cáo của xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động quảng cáo phát triển; thúc đẩy xã hội hóa các hoạt động quảng cáo ngoài trời. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, hiện đại trong quảng cáo, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật số, công nghệ di động; đa dạng hóa các hình thức quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, ngoài trời và trên sản phẩm, dịch vụ văn hóa, du lịch.
e) Lĩnh vực phần mềm và các trò chơi giải trí
- Xây dựng cơ chế hợp tác giữa các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp sản xuất, phát hành game để tư vấn chương trình đào tạo; tiếp nhận sinh viên thực tập, hỗ trợ, tư vấn cho các sinh viên có định hướng khởi nghiệp trong ngành game; tăng cường hợp tác với các tập đoàn, doanh nghiệp lớn về công nghệ để hỗ trợ đào tạo, ưu tiên hình thức đào tạo trực tuyến.
- Thúc đẩy các trò chơi giải trí gắn với các môn thể thao điện tử (e-Sports) để tăng cường tính trải nghiệm trên môi trường số và cung ứng đa dạng các loại sản phẩm giải trí cho người dân.
f) Lĩnh vực điện ảnh
- Tập trung đầu tư nguồn lực, khai thác tiềm năng, ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa, hình thành không gian sáng tạo, thu hút các nhà sản xuất phim trong nước, quốc tế thực hiện các dự án phim và phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Tăng cường quảng bá các sản phẩm điện ảnh sử dụng, khai thác các giá trị văn hóa mang chất lượng giải trí cao, chương trình thực tế đáp ứng nhu cầu giải trí của người dân.
- Hình thành, phát triển các địa điểm, khu vực được lựa chọn làm bối cảnh quay phim thành điểm đến du lịch, góp phần phát triển hệ sinh thái các ngành công nghiệp văn hóa, giải trí của địa phương.
1. Nguồn kinh phí: Ngân sách Nhà nước bố trí trong dự toán hằng năm của các sở, ngành, cơ quan, đơn vị theo phân cấp ngân sách hiện hành; nguồn tài trợ, huy động từ xã hội, cộng đồng và các nguồn hợp pháp khác. Lồng ghép có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa, con người theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá giai đoạn 2025 - 2035 trên địa bàn tỉnh, các Chương trình mục tiêu quốc gia khác.
2. Các đơn vị, địa phương: Chủ động cân đối, bố trí kinh phí thực hiện Kế hoạch trong dự toán chi thường xuyên được giao hằng năm theo phân cấp ngân sách hiện hành; kết hợp các nguồn tài chính hợp pháp khác để triển khai thực hiện Kế hoạch theo đúng mục tiêu, nhiệm vụ, cơ chế, chính sách và chế độ theo quy định của pháp luật.
1. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, đơn vị liên quan; Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện nội dung Kế hoạch này phù hợp với tình hình thực tế của ngành; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo Kế hoạch.
- Chủ trì đề xuất xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách cần thiết, phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.
- Phối hợp với các sở, ban ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan để quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa phù hợp tại địa phương.
- Chịu trách nhiệm theo dõi việc triển khai thực hiện Kế hoạch; định kỳ hàng năm báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. Tổ chức (2 - 3 năm), tổng kết (5 năm) về kết quả triển khai thực hiện; kịp thời đề xuất, kiến nghị, sửa đổi nội dung khi cần thiết.
- Phối hợp với các sở, ngành, địa phương đẩy mạnh chuyển đổi số; nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của tỉnh, triển khai hệ thống dữ liệu trực tuyến cho các ngành công nghiệp văn hóa theo hướng dẫn của Trung ương.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các sở, ngành, địa phương tham mưu UBND tỉnh phê duyệt triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.
- Phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai đăng ký bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả để tăng cường bảo vệ tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa.
3. Sở Công Thương: Phối hợp với các sở, ngành, địa phương tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai các chính sách phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm công nghiệp văn hóa gắn với việc thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; từng bước thúc đẩy phát triển lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm công nghiệp văn hoá có tiềm năng xuất khẩu.
4. Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Phối hợp với sở, ngành, địa phương đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá gắn với triển khai, thực hiện tốt các tiêu chí, nhiệm vụ về văn hoá trong xây dựng nông thôn mới, “Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, “Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030”; trong đó hỗ trợ khai thác, phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề truyền thống.
- Hướng dẫn khai thác, sử dụng hiệu quả quỹ đất, các không gian công cộng phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa; tiếp tục triển khai Chương trình Quốc gia “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) và thực hiện bảo đảm các tiêu chí về văn hóa, tăng trưởng xanh và bền vững.
5. Sở Tài chính: Trên cơ sở đề xuất của các sở, ban ngành, địa phương và khả năng cân đối của ngân sách nhà nước, Sở Tài chính tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công.
6. Thanh tra tỉnh: Phối hợp với các sở, ngành, Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát và hướng dẫn thực hiện các quy định liên quan đến phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí theo đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quy định pháp luật.
7. Trung tâm Xúc tiến, Thương mại và Du lịch tỉnh: Kêu gọi, thu hút các doanh nghiệp, tổ chức đầu tư vào các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh.
8. Văn phòng UBND tỉnh: Chỉ đạo Cổng Thông tin điện tử xây dựng tin, bài tuyên truyền, quảng bá về các ngành công nghiệp văn hoá trên địa bàn tỉnh.
9. Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ngãi: Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tin, bài tuyên truyền, quảng bá về các ngành công nghiệp văn hoá ở địa phương.
10. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh: Tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và Nhân dân nội dung Quyết định số 2486/QĐ- TTg ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại địa phương.
- Chủ động phát huy vai trò kết nối cộng đồng doanh nghiệp, thúc đẩy, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sáng tạo những tác phẩm, sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật của công chúng.
- Tích cực tổ chức, tham gia các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại nhằm tôn vinh các sản phẩm công nghiệp văn hoá của địa phương; đẩy mạnh kết nối, hợp tác phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc thúc đẩy và phát triển các ngành công nghiệp văn hoá trên địa bàn tỉnh.
12. Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu
- Chủ động cụ thể hóa, xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai phát triển các ngành công nghiệp văn hóa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn (trong đó, cụ thể các mục tiêu, nhiệm vụ thực hiện) phù hợp với điều kiện, tiềm năng, lợi thế của địa phương.
- Xây dựng kế hoạch, dự toán chi tiết hàng năm và bố trí nguồn ngân sách theo phân cấp quản lý, nguồn lực ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư, tham gia vào các hoạt động liên quan đến công nghiệp văn hóa.
- Trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất, triển khai bố trí quỹ đất phù hợp tại các vị trí thuận lợi để đầu tư không gian sáng tạo, trung tâm công nghiệp văn hóa tại địa phương.
- Huy động các nguồn lực xã hội cùng tham gia phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, xử lý các hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa trái quy định.
Yêu cầu các đơn vị, địa phương chủ động xác định nhiệm vụ theo Kế hoạch. Trong quá trình thực hiện, kịp thời báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) để xem xét, chỉ đạo./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
[1] Chương trình số 14-Ctr/Tu ngày 02 tháng 3 năm 2026, Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị “về phát triển văn hóa Việt Nam”
[2] Chương trình số 14-Ctr/Tu ngày 02 tháng 3 năm 2026, Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị “về phát triển văn hóa Việt Nam”
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh