Hiệp định nhằm tránh đánh thuế hai lần và ngăn cản việc trốn tránh nghĩa vụ tài chính đối với thuế thu nhập giữa Việt Nam - Malaysia
| Số hiệu | Khongso |
| Ngày ban hành | 07/09/1995 |
| Ngày có hiệu lực | 13/08/1996 |
| Loại văn bản | Điều ước quốc tế |
| Cơ quan ban hành | Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,Chính phủ Malaysia |
| Người ký | *** |
| Lĩnh vực | Thương mại,Thuế - Phí - Lệ Phí |
HIỆP ĐỊNH
GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ MALAYSIA VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP
Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Malaysia,
Mong muốn ký kết Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập,
Đã thỏa thuận như sau:
ĐIỀU 1
PHẠM VI CÁ NHÂN
Hiệp định này áp dụng đối với các đối tượng cư trú của một hoặc cả hai Nước ký kết.
ĐIỀU 2.
CÁC LOẠI THUẾ ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH
1. Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế thu nhập do một Nước ký kết đánh, bất kể được đánh theo hình thức nào.
2. Các loại thuế hiện hành được điều chỉnh theo Hiệp định bao gồm:
a) tại Malaysia:
(i) (i) thuế thu nhập; và
(ii) (ii) thuế thu nhập dầu khí;
(sau đây gọi là “thuế của Malaysia”);
b) tại Việt Nam:
(i) thuế thu nhập cá nhân;
(ii) thuế lợi tức; và
(iii) thuế chuyển lợi nhuận;
(sau đây gọi là “thuế của Việt Nam”);
3. Hiệp định cũng áp dụng đối với bất kỳ loại thuế nào giống hệt hoặc tương tự về cơ bản được ban hành sau ngày ký Hiệp định này, bổ sung cho hoặc thay thế các loại thuế hiện hành. Cơ quan có thẩm quyền của các Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau những thay đổi quan trọng trong luật thuế của mình.
CÁC ĐỊNH NGHĨA CHUNG
1. Trong Hiệp định này, trừ khi ngữ cảnh yêu cầu khác đi:
a. Thuật ngữ “Malaysia” có nghĩa là lãnh thổ Liên bang Malaysia, lãnh hải của Malaysia và đáy biển cùng lòng đất dưới đáy biển thuộc lãnh hải đó, và bao gồm bất kỳ khu vực nào mở rộng ra ngoài giới hạn lãnh hải của Malaysia, cùng với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của khu vực đó, đã hoặc có thể được quy định theo pháp luật Malaysia phù hợp với luật pháp quốc tế là khu vực mà Malaysia có quyền chủ quyền cho mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên, dù là sinh vật hay phi sinh vật;
b. Thuật ngữ “Việt Nam” có nghĩa là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khi được sử dụng theo nghĩa địa lý, nó bao gồm toàn bộ lãnh thổ quốc gia, kể cả lãnh hải và bất kỳ khu vực nào ngoài và tiếp giáp lãnh hải, đã được hoặc có thể được quy định theo pháp luật Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế là thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên;
c. Các thuật ngữ “một Nước ký kết” và “Nước ký kết kia” có nghĩa là Việt Nam hoặc Malaysia, tùy theo ngữ cảnh;
d. Thuật ngữ “người” bao gồm cá nhân, công ty và bất kỳ tập hợp cá nhân nào được coi là một người cho mục đích thuế;
e. Thuật ngữ “công ty” có nghĩa là bất kỳ pháp nhân nào hoặc bất kỳ thực thể nào được coi là pháp nhân cho mục đích thuế;
HIỆP ĐỊNH
GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ MALAYSIA VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP
Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Malaysia,
Mong muốn ký kết Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập,
Đã thỏa thuận như sau:
ĐIỀU 1
PHẠM VI CÁ NHÂN
Hiệp định này áp dụng đối với các đối tượng cư trú của một hoặc cả hai Nước ký kết.
ĐIỀU 2.
CÁC LOẠI THUẾ ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH
1. Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế thu nhập do một Nước ký kết đánh, bất kể được đánh theo hình thức nào.
2. Các loại thuế hiện hành được điều chỉnh theo Hiệp định bao gồm:
a) tại Malaysia:
(i) (i) thuế thu nhập; và
(ii) (ii) thuế thu nhập dầu khí;
(sau đây gọi là “thuế của Malaysia”);
b) tại Việt Nam:
(i) thuế thu nhập cá nhân;
(ii) thuế lợi tức; và
(iii) thuế chuyển lợi nhuận;
(sau đây gọi là “thuế của Việt Nam”);
3. Hiệp định cũng áp dụng đối với bất kỳ loại thuế nào giống hệt hoặc tương tự về cơ bản được ban hành sau ngày ký Hiệp định này, bổ sung cho hoặc thay thế các loại thuế hiện hành. Cơ quan có thẩm quyền của các Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau những thay đổi quan trọng trong luật thuế của mình.
CÁC ĐỊNH NGHĨA CHUNG
1. Trong Hiệp định này, trừ khi ngữ cảnh yêu cầu khác đi:
a. Thuật ngữ “Malaysia” có nghĩa là lãnh thổ Liên bang Malaysia, lãnh hải của Malaysia và đáy biển cùng lòng đất dưới đáy biển thuộc lãnh hải đó, và bao gồm bất kỳ khu vực nào mở rộng ra ngoài giới hạn lãnh hải của Malaysia, cùng với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của khu vực đó, đã hoặc có thể được quy định theo pháp luật Malaysia phù hợp với luật pháp quốc tế là khu vực mà Malaysia có quyền chủ quyền cho mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên, dù là sinh vật hay phi sinh vật;
b. Thuật ngữ “Việt Nam” có nghĩa là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khi được sử dụng theo nghĩa địa lý, nó bao gồm toàn bộ lãnh thổ quốc gia, kể cả lãnh hải và bất kỳ khu vực nào ngoài và tiếp giáp lãnh hải, đã được hoặc có thể được quy định theo pháp luật Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế là thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên;
c. Các thuật ngữ “một Nước ký kết” và “Nước ký kết kia” có nghĩa là Việt Nam hoặc Malaysia, tùy theo ngữ cảnh;
d. Thuật ngữ “người” bao gồm cá nhân, công ty và bất kỳ tập hợp cá nhân nào được coi là một người cho mục đích thuế;
e. Thuật ngữ “công ty” có nghĩa là bất kỳ pháp nhân nào hoặc bất kỳ thực thể nào được coi là pháp nhân cho mục đích thuế;
f. Các thuật ngữ “doanh nghiệp của một Nước ký kết” và “doanh nghiệp của Nước ký kết kia” có nghĩa lần lượt là một doanh nghiệp do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết tiến hành và một doanh nghiệp do một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia tiến hành;
g. Thuật ngữ “công dân” có nghĩa:
(i) bất kỳ cá nhân nào có quốc tịch hoặc quyền công dân của một Nước ký kết;
(ii) bất kỳ pháp nhân, công ty hợp danh hay tổ chức nào khác có tư cách pháp lý theo luật đang có hiệu lực của một Nước ký kết;
h. Thuật ngữ “vận tải quốc tế” có nghĩa là bất kỳ hoạt động vận tải nào bằng tàu biển hoặc máy bay do một doanh nghiệp của một Nước ký kết khai thác, trừ trường hợp tàu hoặc máy bay đó chỉ hoạt động giữa các địa điểm trong Nước ký kết kia;
i. Thuật ngữ “Cơ quan có thẩm quyền” có nghĩa:
(i) trong trường hợp Malaysia: Bộ trưởng Tài chính hoặc đại diện được ủy quyền của ông; và
(ii) trong trường hợp Việt Nam: Bộ trưởng Tài chính hoặc đại diện được ủy quyền của ông;
j. Thuật ngữ “thuế” có nghĩa là thuế của Malaysia hoặc thuế của Việt Nam, tùy theo ngữ cảnh.
2. Trong việc áp dụng Hiệp định bởi một Nước ký kết, bất kỳ thuật ngữ nào không được định nghĩa trong Hiệp định này sẽ, trừ khi ngữ cảnh yêu cầu khác đi, mang ý nghĩa mà nó có theo luật của Nước đó liên quan đến các loại thuế mà Hiệp định này điều chỉnh.
ĐỐI TƯỢNG CƯ TRÚ
1. Trong Hiệp định này, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” có nghĩa:
a. trong trường hợp Malaysia: một người cư trú tại Malaysia theo quy định của pháp luật thuế Malaysia; và
b. trong trường hợp Việt Nam: một người cư trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật thuế Việt Nam.
2. Trường hợp theo quy định tại khoản 1, một cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai Nước ký kết thì tình trạng của người đó sẽ được xác định như sau:
a. Người đó được coi là cư trú tại Nước nơi có nhà ở thường trú. Nếu người đó có nhà ở thường trú tại cả hai Nước, thì được coi là cư trú tại Nước có các mối quan hệ cá nhân và kinh tế gắn bó hơn (trung tâm lợi ích chủ yếu);
b. Nếu không xác định được trung tâm lợi ích chủ yếu, hoặc nếu người đó không có nhà ở thường trú tại bất kỳ Nước nào, thì được coi là cư trú tại Nước nơi có nơi ở thường xuyên;
c. Nếu có nơi ở thường xuyên tại cả hai Nước hoặc không có nơi nào, thì được coi là cư trú tại Nước mà người đó là công dân;
d. Nếu người đó là công dân của cả hai Nước hoặc không phải công dân của Nước nào, Cơ quan có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ giải quyết vấn đề này theo thỏa thuận chung.
3. Trường hợp theo quy định tại khoản 1, một người không phải cá nhân là cư trú của cả hai Nước ký kết, thì được coi là cư trú tại Nước nơi có trụ sở quản lý thực tế.
ĐIỀU 5.
CƠ SỞ THƯỜNG TRÚ
1. Trong Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một địa điểm kinh doanh cố định mà thông qua đó toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành.
2. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” đặc biệt bao gồm:
a. một trụ sở điều hành;
b. một chi nhánh;
c. một văn phòng;
d. một nhà máy;
e. một xưởng;
f. một mỏ, giếng dầu hoặc khí, một mỏ đá hoặc bất kỳ địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên nào khác, bao gồm gỗ hoặc sản phẩm rừng khác; và
g. một nông trại hoặc đồn điền.
3. Một công trình xây dựng, lắp đặt hoặc dự án lắp ráp cấu thành cơ sở thường trú chỉ khi kéo dài hơn 6 tháng.
4. Không phụ thuộc vào các quy định nêu trên của Điều này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” không bao gồm:
a. việc sử dụng các cơ sở chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hoặc giao hàng hóa hoặc hàng hóa thuộc sở hữu của doanh nghiệp;
b. việc duy trì kho hàng hóa hoặc hàng hóa thuộc sở hữu của doanh nghiệp chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hoặc giao hàng.
c. việc duy trì kho hàng hóa hoặc hàng hóa thuộc sở hữu của doanh nghiệp chỉ nhằm mục đích gia công bởi một doanh nghiệp khác;
d. việc duy trì một địa điểm kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích mua hàng hóa hoặc hàng hóa hoặc thu thập thông tin cho doanh nghiệp;
e. việc duy trì một địa điểm kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích tiến hành bất kỳ hoạt động nào khác có tính chất chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp;
f. việc duy trì một địa điểm kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích kết hợp bất kỳ hoạt động nào được nêu tại các điểm (a) đến (e), miễn là toàn bộ hoạt động của địa điểm kinh doanh cố định đó vẫn mang tính chất chuẩn bị hoặc phụ trợ.
5. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia nếu doanh nghiệp tiến hành hoạt động giám sát tại Nước đó trong thời gian trên 6 tháng liên quan đến một công trình xây dựng, lắp đặt hoặc dự án lắp ráp đang được thực hiện tại Nước đó.
6. Một người (không bao gồm một người môi giới, đại lý hoa hồng tổng quát hoặc bất kỳ đại lý nào có tư cách độc lập mà khoản 7 áp dụng) hoạt động tại một Nước ký kết thay mặt cho một doanh nghiệp của Nước ký kết kia sẽ được coi là cơ sở thường trú tại Nước được nêu đầu tiên nếu:
a. Người đó có và thường xuyên thực hiện tại Nước được nêu đầu tiên quyền ký kết hợp đồng nhân danh doanh nghiệp, trừ trường hợp các hoạt động của người đó chỉ giới hạn ở việc mua hàng hóa hoặc hàng hóa cho doanh nghiệp;
b. Người đó duy trì tại Nước được nêu đầu tiên một kho hàng hóa hoặc hàng hóa thuộc sở hữu của doanh nghiệp từ đó thường xuyên đáp ứng đơn đặt hàng thay mặt cho doanh nghiệp; hoặc
c. Người đó sản xuất hoặc gia công tại Nước được nêu đầu tiên hàng hóa hoặc hàng hóa thuộc sở hữu của doanh nghiệp cho doanh nghiệp.
7. Một doanh nghiệp sẽ không bị coi là có cơ sở thường trú tại một Nước ký kết chỉ vì tiến hành kinh doanh tại Nước đó thông qua một người môi giới, đại lý hoa hồng tổng quát hoặc bất kỳ đại lý nào có tư cách độc lập, nếu các cá nhân này hoạt động trong phạm vi thông thường của công việc kinh doanh của họ. Tuy nhiên, khi hoạt động của đại lý đó được dành toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ cho doanh nghiệp đó, thì người đó sẽ không được coi là đại lý có tư cách độc lập nếu các giao dịch giữa đại lý và doanh nghiệp không được thực hiện theo nguyên tắc giá thị trường.
8. Việc một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết kiểm soát hoặc bị kiểm soát bởi một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia, hoặc tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia (dù thông qua một cơ sở thường trú hay không), sẽ không tự thân làm cho công ty này trở thành cơ sở thường trú của công ty kia.
THU NHẬP TỪ BẤT ĐỘNG SẢN
1. Thu nhập do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết có được từ bất động sản nằm tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước đó.
2. Trong Hiệp định này, thuật ngữ “bất động sản” sẽ có nghĩa như được quy định theo pháp luật của Nước ký kết nơi bất động sản đó tọa lạc. Thuật ngữ này trong mọi trường hợp bao gồm tài sản phụ thuộc vào bất động sản, gia súc và thiết bị dùng trong nông nghiệp và lâm nghiệp, các quyền mà theo pháp luật chung được áp dụng đối với tài sản đất đai, quyền hưởng dụng bất động sản và các quyền nhận khoản thanh toán cố định hoặc biến đổi như là đối giá cho việc khai thác hoặc quyền khai thác các mỏ khoáng sản, giếng dầu hoặc khí, mỏ đá và các nơi khai thác tài nguyên thiên nhiên khác bao gồm gỗ hoặc sản phẩm rừng khác; tàu biển, thuyền và máy bay không được coi là bất động sản.
3. Quy định tại khoản 1 sẽ áp dụng cho thu nhập từ việc sử dụng trực tiếp, cho thuê, hoặc sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào khác của bất động sản.
4. Quy định tại các khoản 1 và 3 cũng áp dụng cho thu nhập từ bất động sản của một doanh nghiệp và thu nhập từ bất động sản được sử dụng cho việc thực hiện các dịch vụ cá nhân độc lập.
ĐIỀU 7.
LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP
1. Lợi nhuận của một doanh nghiệp của một Nước ký kết chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ khi doanh nghiệp tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú đặt tại đó. Nếu doanh nghiệp tiến hành kinh doanh như vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị đánh thuế tại Nước kia nhưng chỉ đối với phần lợi nhuận có thể phân bổ cho cơ sở thường trú đó.
2. Tùy thuộc vào quy định tại khoản 3, khi một doanh nghiệp của một Nước ký kết tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú đặt tại đó, thì tại mỗi Nước ký kết, phần lợi nhuận được phân bổ cho cơ sở thường trú sẽ là phần lợi nhuận mà cơ sở thường trú có thể được kỳ vọng đạt được nếu cơ sở thường trú là một doanh nghiệp riêng biệt và độc lập tiến hành các hoạt động tương tự trong cùng điều kiện và hoàn toàn độc lập với doanh nghiệp mà nó là cơ sở thường trú.
3. Khi xác định lợi nhuận của một cơ sở thường trú, sẽ được khấu trừ các khoản chi phí, bao gồm chi phí điều hành và chi phí quản lý chung, những khoản mà sẽ được khấu trừ nếu cơ sở thường trú là một doanh nghiệp độc lập, miễn là các chi phí đó được phân bổ hợp lý cho cơ sở thường trú, cho dù phát sinh tại Nước nơi cơ sở thường trú đặt trụ sở hay tại nơi khác.
4. Nếu thông tin mà cơ quan có thẩm quyền có được không đầy đủ để xác định lợi nhuận được phân bổ cho cơ sở thường trú của một doanh nghiệp, thì không điều gì trong Điều này làm ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật của Nước đó về xác định nghĩa vụ thuế của một người thông qua việc sử dụng quyền quyết định hoặc ước tính của cơ quan có thẩm quyền, trong phạm vi thông tin có sẵn cho cơ quan có thẩm quyền, phù hợp với nguyên tắc của Điều này.
5. Không được phân bổ lợi nhuận cho một cơ sở thường trú chỉ vì cơ sở thường trú đó chỉ thực hiện việc mua hàng hóa cho doanh nghiệp.
6. Trong các khoản trên, lợi nhuận được phân bổ cho cơ sở thường trú phải được xác định theo cùng một phương pháp qua từng năm, trừ khi có lý do chính đáng và đầy đủ để thay đổi.
7. Khi lợi nhuận bao gồm các khoản thu nhập đã được xử lý riêng biệt tại các Điều khác của Hiệp định này, thì các quy định tại các Điều đó sẽ không bị ảnh hưởng bởi các quy định tại Điều này.
ĐIỀU 8.
VẬN TẢI BIỂN VÀ HÀNG KHÔNG
1. Lợi nhuận có được bởi một doanh nghiệp của một Nước ký kết từ việc khai thác tàu thủy hoặc máy bay trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó.
2. Quy định tại khoản 1 cũng được áp dụng cho lợi nhuận từ việc tham gia vào một liên minh, liên doanh hoặc một tổ chức khai thác quốc tế.
ĐIỀU 9.
CÁC DOANH NGHIỆP LIÊN KẾT
Khi:
a. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lý, kiểm soát hoặc vốn của một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, hoặc
b. Cùng một hoặc một số người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lý, kiểm soát hoặc vốn của một doanh nghiệp của một Nước ký kết và một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, và trong cả hai trường hợp, nếu các điều kiện được thiết lập hoặc áp đặt giữa hai doanh nghiệp trong quan hệ thương mại hoặc tài chính khác với những điều kiện được áp dụng giữa các doanh nghiệp độc lập, thì bất kỳ khoản lợi nhuận nào mà lẽ ra một trong hai doanh nghiệp có thể đạt được nhưng do các điều kiện đó mà không đạt được, có thể được tính vào lợi nhuận của doanh nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng.
ĐIỀU 10.
CỔ TỨC
1. Cổ tức được trả bởi một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên, các khoản cổ tức đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi công ty trả cổ tức là đối tượng cư trú và theo pháp luật của Nước đó, nhưng nếu người nhận là chủ sở hữu hưởng lợi của cổ tức thì số thuế áp dụng sẽ không vượt quá 10% tổng số tiền gộp của cổ tức.
Khoản này không ảnh hưởng đến việc đánh thuế công ty liên quan đến lợi nhuận mà từ đó cổ tức được trả.
3. Cổ tức được trả bởi một công ty là đối tượng cư trú của Malaysia cho một đối tượng cư trú của Việt Nam là chủ sở hữu hưởng lợi của khoản cổ tức đó sẽ được miễn mọi loại thuế tại Malaysia đánh vào cổ tức, ngoài khoản thuế áp dụng đối với thu nhập của công ty. Không có gì trong khoản này ảnh hưởng đến các quy định của pháp luật Malaysia theo đó thuế liên quan đến một khoản cổ tức được trả bởi công ty là đối tượng cư trú của Malaysia mà thuế Malaysia đã được hoặc được coi là đã được khấu trừ có thể được điều chỉnh theo thuế suất phù hợp với năm tính thuế của Malaysia ngay sau năm mà cổ tức được chi trả.
4. Thuật ngữ “cổ tức” được sử dụng trong Điều này có nghĩa là thu nhập từ cổ phần, cổ phần khai thác mỏ, cổ phần sáng lập hoặc các quyền khác không phải là quyền đòi nợ nhưng tham gia vào lợi nhuận, cũng như thu nhập từ các quyền doanh nghiệp khác được pháp luật của Nước nơi công ty chi trả cổ tức là đối tượng cư trú coi như thu nhập từ cổ phần.
5. Các quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu chủ sở hữu hưởng lợi của cổ tức, là một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia, nơi công ty trả cổ tức là đối tượng cư trú, thông qua một cơ sở thường trú đặt tại đó, hoặc thực hiện các dịch vụ chuyên môn tại Nước kia và phần nắm giữ liên quan đến cổ tức đó gắn kết thực sự với cơ sở thường trú hoặc các dịch vụ đó. Trong trường hợp này, quy định tại Điều 7 hoặc Điều 15, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
6. Khi một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết có lợi nhuận hoặc thu nhập từ Nước ký kết kia, thì Nước kia không được áp dụng bất kỳ loại thuế nào đối với cổ tức được trả bởi công ty đó, trừ khi phần nắm giữ liên quan đến cổ tức đó gắn kết thực sự với một cơ sở thường trú đặt tại Nước kia, cũng như không được đánh thuế lợi nhuận chưa phân phối của công ty, ngay cả khi cổ tức được chi trả hoặc lợi nhuận chưa phân phối bao gồm toàn bộ hoặc một phần từ lợi nhuận hoặc thu nhập phát sinh tại Nước kia.
ĐIỀU 11.
LÃI
1. Lãi phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên, khoản lãi đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi phát sinh và theo pháp luật của Nước đó, nhưng nếu người nhận là chủ sở hữu hưởng lợi của lãi thì số thuế áp dụng sẽ không vượt quá 10% tổng số tiền gộp của lãi.
3. Bất chấp quy định tại các khoản 1 và 2, Chính phủ của một Nước ký kết sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết kia đối với khoản lãi phát sinh từ Nước đó.
4. Trong khoản 3, thuật ngữ “Chính phủ” có nghĩa là:
a. Trong trường hợp Malaysia, là Chính phủ Malaysia và bao gồm:
(i) chính quyền các bang;
(ii) chính quyền địa phương;
(iii) Ngân hàng Trung ương Malaysia; và
(vi) các tổ chức có vốn thuộc sở hữu toàn bộ của Chính phủ Malaysia, chính quyền bang hoặc chính quyền địa phương, theo thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền của hai Nước ký kết.
b. Trong trường hợp Việt Nam, là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bao gồm:
(i) chính quyền địa phương;
(ii) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; và
(iii) các tổ chức có vốn thuộc sở hữu toàn bộ của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc chính quyền địa phương, theo thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền của hai Nước ký kết.
5. Thuật ngữ “lãi” trong Điều này có nghĩa là thu nhập từ các quyền đòi nợ dưới mọi hình thức, có hoặc không có bảo đảm bằng thế chấp, có hoặc không kèm quyền tham gia vào lợi nhuận của con nợ, và đặc biệt bao gồm thu nhập từ chứng khoán chính phủ, trái phiếu hoặc tín phiếu.
6. Các quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu chủ sở hữu hưởng lợi của khoản lãi, là một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia, nơi phát sinh lãi, thông qua một cơ sở thường trú đặt tại đó, hoặc thực hiện các dịch vụ chuyên môn tại Nước kia và quyền đòi nợ liên quan đến khoản lãi được trả có sự gắn kết thực sự với cơ sở thường trú hoặc các dịch vụ đó. Trong trường hợp này, quy định tại Điều 7 hoặc Điều 15, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
7. Lãi được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi người trả là chính Nước đó, một đơn vị hành chính, chính quyền địa phương hoặc một đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi người trả, dù có phải là đối tượng cư trú của Nước ký kết hay không, có một cơ sở thường trú tại Nước ký kết liên quan đến khoản nợ mà từ đó phát sinh khoản lãi và khoản lãi đó do cơ sở thường trú chịu trách nhiệm, thì khoản lãi đó được coi là phát sinh tại Nước ký kết nơi cơ sở thường trú đó đặt trụ sở.
8. Khi do mối quan hệ đặc biệt giữa người trả và chủ sở hữu hưởng lợi, hoặc giữa cả hai với một người khác, khoản lãi được trả vượt quá mức có thể được thỏa thuận trong điều kiện độc lập, thì quy định tại Điều này chỉ áp dụng cho khoản tương ứng cuối cùng. Phần vượt quá sẽ vẫn bị đánh thuế theo pháp luật của từng Nước ký kết, có tính đến các quy định khác của Hiệp định này.
ĐIỀU 12.
TIỀN BẢN QUYỀN
1. Tiền bản quyền phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên, khoản tiền bản quyền đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi phát sinh và theo pháp luật của Nước đó, nhưng nếu người nhận là chủ sở hữu hưởng lợi của tiền bản quyền thì số thuế áp dụng sẽ không vượt quá 10% tổng số tiền gộp của tiền bản quyền.
3. Thuật ngữ “tiền bản quyền” trong Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào được nhận để đổi lấy việc sử dụng hoặc quyền sử dụng bất kỳ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học, bao gồm phim điện ảnh, phim hoặc băng dùng trong phát thanh hoặc truyền hình, bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, thiết kế hoặc kiểu dáng, sơ đồ, công thức hoặc quy trình bí mật, hoặc để sử dụng hoặc quyền sử dụng thiết bị công nghiệp, thương mại hoặc khoa học, hoặc để nhận thông tin liên quan đến kinh nghiệm công nghiệp, thương mại hoặc khoa học.
4. Các quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu chủ sở hữu hưởng lợi của tiền bản quyền, là một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia, nơi phát sinh tiền bản quyền, thông qua một cơ sở thường trú đặt tại đó, hoặc thực hiện các dịch vụ chuyên môn tại Nước kia và quyền hoặc tài sản liên quan đến tiền bản quyền đó gắn kết thực sự với cơ sở thường trú hoặc các dịch vụ đó. Trong trường hợp này, quy định tại Điều 7 hoặc Điều 15, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
5. Tiền bản quyền được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi người trả là chính Nước đó, một đơn vị hành chính, chính quyền địa phương hoặc một đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi người trả, dù có phải là đối tượng cư trú của Nước ký kết hay không, có một cơ sở thường trú tại Nước ký kết liên quan đến nghĩa vụ trả tiền bản quyền và tiền bản quyền đó do cơ sở thường trú chịu trách nhiệm, thì tiền bản quyền đó được coi là phát sinh tại Nước ký kết nơi cơ sở thường trú đó đặt trụ sở.
6. Khi do mối quan hệ đặc biệt giữa người trả và chủ sở hữu hưởng lợi, hoặc giữa cả hai với một người khác, khoản tiền bản quyền được trả vượt quá mức có thể được thỏa thuận trong điều kiện độc lập, thì quy định tại Điều này chỉ áp dụng cho khoản tương ứng cuối cùng. Phần vượt quá sẽ vẫn bị đánh thuế theo pháp luật của từng Nước ký kết, có tính đến các quy định khác của Hiệp định này.
ĐIỀU 13.
PHÍ DỊCH VỤ KỸ THUẬT
1. Phí dịch vụ kỹ thuật có nguồn gốc từ một Nước ký kết và được nhận bởi một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia, là chủ sở hữu hưởng lợi và chịu thuế tại Nước kia, có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết thứ nhất với mức không vượt quá 10% tổng số tiền gộp của phí dịch vụ kỹ thuật.
2. Thuật ngữ “phí dịch vụ kỹ thuật” trong Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào cho bất kỳ người nào, trừ nhân viên của người trả, để đổi lấy dịch vụ mang tính kỹ thuật, quản lý hoặc tư vấn.
3. Quy định tại khoản 1 của Điều này sẽ không áp dụng nếu chủ sở hữu hưởng lợi của phí dịch vụ kỹ thuật, là một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi phát sinh phí dịch vụ kỹ thuật thông qua một cơ sở thường trú đặt tại đó, hoặc thực hiện các dịch vụ chuyên môn tại Nước kia và phí dịch vụ kỹ thuật đó có sự gắn kết thực sự với cơ sở thường trú hoặc các dịch vụ đó. Trong trường hợp này, quy định tại Điều 7 hoặc Điều 15, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
4. Phí dịch vụ kỹ thuật được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi người trả là chính Nước đó, một đơn vị hành chính, chính quyền địa phương hoặc một đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi người trả, dù có phải là đối tượng cư trú của Nước ký kết hay không, có một cơ sở thường trú tại Nước ký kết liên quan đến nghĩa vụ trả phí dịch vụ kỹ thuật và phí đó do cơ sở thường trú chịu trách nhiệm, thì phí dịch vụ kỹ thuật đó được coi là phát sinh tại Nước ký kết nơi cơ sở thường trú đó đặt trụ sở.
5. Khi do mối quan hệ đặc biệt giữa người trả và chủ sở hữu hưởng lợi, hoặc giữa cả hai với một người khác, khoản phí dịch vụ kỹ thuật được trả vượt quá mức có thể được thỏa thuận trong điều kiện độc lập, thì quy định tại Điều này chỉ áp dụng cho khoản tương ứng cuối cùng. Phần vượt quá sẽ vẫn bị đánh thuế theo pháp luật của từng Nước ký kết, có tính đến các quy định khác của Hiệp định này.
ĐIỀU 14.
THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN
1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại Điều 6 và nằm tại một Nước ký kết do một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia nhận được có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Thu nhập từ chuyển nhượng động sản thuộc tài sản kinh doanh của một cơ sở thường trú mà một doanh nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia hoặc của động sản có sẵn cho một đối tượng cư trú của một Nước ký kết tại Nước ký kết kia để thực hiện dịch vụ chuyên môn độc lập, bao gồm cả thu nhập từ chuyển nhượng cơ sở thường trú đó (riêng lẻ hoặc cùng với toàn bộ doanh nghiệp), có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
3. Thu nhập do một doanh nghiệp của một Nước ký kết nhận được từ chuyển nhượng tàu thủy hoặc máy bay khai thác trong vận tải quốc tế, hoặc động sản liên quan đến việc khai thác các tàu thủy hoặc máy bay đó, sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó.
4. Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần của một công ty mà tài sản bao gồm toàn bộ hoặc chủ yếu là bất động sản nằm tại một Nước ký kết có thể bị đánh thuế tại Nước đó.
5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất kỳ tài sản nào khác ngoài các loại được quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 sẽ bị đánh thuế tại Nước mà người chuyển nhượng là đối tượng cư trú.
DỊCH VỤ CHUYÊN MÔN ĐỘC LẬP
1. Thu nhập do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được liên quan đến dịch vụ chuyên môn hoặc các hoạt động độc lập khác có tính chất tương tự sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó. Tuy nhiên, trong các trường hợp sau, thu nhập này có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia:
a. nếu thời gian lưu trú tại Nước kia đạt hoặc vượt quá tổng cộng 183 ngày trong năm tính thuế liên quan; hoặc
b. nếu thù lao cho dịch vụ tại Nước kia được trả bởi, hoặc do một đối tượng cư trú của Nước kia chịu, hoặc do một cơ sở thường trú mà một người không cư trú tại Nước kia có tại đó chịu, và trong cả hai trường hợp, khoản thù lao vượt quá 10.000 đô la Mỹ trong năm dương lịch liên quan, ngay cả khi thời gian lưu trú dưới 183 ngày trong năm tính thuế.
2. Thuật ngữ “dịch vụ chuyên môn” bao gồm đặc biệt các hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giảng dạy độc lập, cũng như các hoạt động độc lập của bác sĩ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư, nha sĩ và kế toán.
ĐIỀU 16.
DỊCH VỤ CÁ NHÂN PHỤ THUỘC
1. Theo quy định tại các Điều 17, 19, 20 và 21, tiền lương, tiền công và các khoản thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được liên quan đến một công việc làm công sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ khi công việc đó được thực hiện tại Nước ký kết kia. Nếu công việc được thực hiện tại Nước kia, khoản thù lao đó có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Bất chấp quy định tại khoản 1, thù lao do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được liên quan đến một công việc làm công được thực hiện tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước thứ nhất nếu:
a. người nhận có mặt tại Nước kia trong thời gian không quá 183 ngày trong năm tính thuế liên quan; và
b. thù lao được trả bởi hoặc thay mặt cho một người sử dụng lao động không phải là đối tượng cư trú của Nước kia; và
c. thù lao đó không do một đối tượng cư trú hoặc một cơ sở thường trú mà người sử dụng lao động có tại Nước kia chịu.
3. Bất chấp các quy định trước, thù lao liên quan đến công việc làm công thực hiện trên tàu thủy hoặc máy bay khai thác trong vận tải quốc tế bởi một doanh nghiệp của một Nước ký kết có thể chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
ĐIỀU 17.
THÙ LAO GIÁM ĐỐC
Thù lao giám đốc và các khoản thanh toán tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được với tư cách là thành viên Hội đồng quản trị của một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
NGHỆ SĨ VÀ VẬN ĐỘNG VIÊN
1. Bất chấp quy định tại các Điều 15 và 16, thu nhập do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được với tư cách là nghệ sĩ biểu diễn, chẳng hạn như nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, nhạc sĩ hoặc với tư cách là vận động viên, từ các hoạt động cá nhân được thực hiện tại Nước ký kết kia, có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Khi thu nhập liên quan đến các hoạt động cá nhân do một nghệ sĩ hoặc vận động viên thực hiện không do chính họ mà do một người khác nhận, thì thu nhập đó, bất chấp quy định tại các Điều 7, 15 và 16, có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi các hoạt động được thực hiện.
3. Các quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng đối với thù lao hoặc lợi nhuận từ hoạt động tại một Nước ký kết nếu chuyến thăm đến Nước đó được tài trợ toàn bộ hoặc phần lớn trực tiếp hoặc gián tiếp từ ngân sách công của Nước ký kết kia.
ĐIỀU 19.
LƯƠNG HƯU
Theo quy định tại khoản 2 Điều 20, lương hưu và các khoản thù lao tương tự khác được trả cho một đối tượng cư trú của một Nước ký kết để đổi lấy công việc làm công trong quá khứ sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
ĐIỀU 20.
DỊCH VỤ CÔNG
1.a. Các khoản thù lao, trừ lương hưu, được một Nước ký kết hoặc một đơn vị hành chính hoặc chính quyền địa phương của Nước đó trả cho một cá nhân liên quan đến dịch vụ thực hiện cho Nước đó hoặc đơn vị hành chính hoặc chính quyền địa phương đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
b. Tuy nhiên, các khoản thù lao này sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết kia nếu dịch vụ được thực hiện tại Nước đó và cá nhân này là đối tượng cư trú của Nước đó, đồng thời:
(i) là công dân của Nước đó; hoặc
(ii) không trở thành đối tượng cư trú của Nước đó chỉ nhằm mục đích thực hiện dịch vụ.
2. Bất kỳ khoản lương hưu nào được trả bởi, hoặc từ các quỹ được lập bởi, một Nước ký kết hoặc một đơn vị hành chính hoặc chính quyền địa phương của Nước đó cho một cá nhân liên quan đến dịch vụ thực hiện cho Nước đó hoặc đơn vị hành chính hoặc chính quyền địa phương đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
3. Các quy định tại Điều 16, 17 và 19 sẽ áp dụng đối với thù lao hoặc lương hưu liên quan đến dịch vụ thực hiện trong khuôn khổ một hoạt động kinh doanh do một Nước ký kết hoặc một đơn vị hành chính hoặc chính quyền địa phương của Nước đó tiến hành.
4. Các cá nhân thực hiện dịch vụ công theo Điều này bao gồm nhân sự thực hiện chức năng của Chính phủ, và cũng bao gồm những cá nhân làm việc trong các cơ quan công quyền được thành lập theo luật định, sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của các Nước ký kết thỏa thuận từng thời kỳ.
ĐIỀU 21.
SINH VIÊN VÀ THỰC TẬP SINH
Một cá nhân là đối tượng cư trú của một Nước ký kết ngay trước khi sang Nước ký kết kia và tạm trú tại Nước kia chỉ nhằm mục đích:
a. học tập tại một trường đại học, cao đẳng, học viện hoặc cơ sở giáo dục được công nhận tại Nước kia;
b. thực tập kinh doanh hoặc kỹ thuật;
c. nhận học bổng, phụ cấp hoặc giải thưởng cho mục đích chính là học tập, nghiên cứu hoặc đào tạo từ Chính phủ của một trong hai Nước hoặc từ một tổ chức khoa học, giáo dục, tôn giáo hoặc từ thiện, hoặc trong khuôn khổ một chương trình hợp tác kỹ thuật do Chính phủ của một trong hai Nước ký kết, sẽ được miễn thuế tại Nước kia đối với:
(i) tất cả các khoản chuyển từ nước ngoài để phục vụ sinh hoạt, học tập, nghiên cứu hoặc đào tạo;
(ii) số tiền của học bổng, phụ cấp hoặc giải thưởng đó; và
(iii) bất kỳ khoản thù lao nào không vượt quá 2.500 đô la Mỹ mỗi năm liên quan đến dịch vụ tại Nước kia, với điều kiện dịch vụ đó gắn với học tập, nghiên cứu hoặc đào tạo, hoặc cần thiết cho sinh hoạt.
ĐIỀU 22.
GIÁO SƯ, GIẢNG VIÊN VÀ NGHIÊN CỨU VIÊN
1. Một cá nhân là đối tượng cư trú của một Nước ký kết ngay trước khi sang Nước ký kết kia, và theo lời mời của một trường đại học, cao đẳng hoặc cơ sở giáo dục tương tự được cơ quan có thẩm quyền của Nước ký kết kia công nhận, sang Nước đó trong thời gian không quá hai năm chỉ nhằm mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu, hoặc cả hai, tại cơ sở giáo dục đó, sẽ được miễn thuế tại Nước kia đối với bất kỳ khoản thù lao nào cho công việc giảng dạy hoặc nghiên cứu đó nếu khoản này đã chịu thuế tại Nước ký kết thứ nhất.
2. Điều này chỉ áp dụng đối với thu nhập từ nghiên cứu nếu nghiên cứu đó không được thực hiện chủ yếu cho lợi ích riêng của một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân cụ thể.
ĐIỀU 23.
CÁC LOẠI THU NHẬP KHÁC
Các khoản thu nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết không được đề cập rõ trong các Điều trước của Hiệp định này sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó. Tuy nhiên, nếu khoản thu nhập đó có nguồn gốc từ Nước ký kết kia, thì khoản thu nhập đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
XÓA BỎ ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
1. Pháp luật hiện hành tại mỗi Nước ký kết vẫn tiếp tục điều chỉnh việc đánh thuế thu nhập tại từng Nước ký kết, trừ khi có quy định rõ ràng trái ngược trong Hiệp định này. Khi một khoản thu nhập chịu thuế tại cả hai Nước ký kết, việc miễn trừ đánh thuế hai lần sẽ được thực hiện theo các khoản tiếp theo của Điều này.
2. Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập theo pháp luật của Malaysia và theo quy định của Hiệp định này có thể bị đánh thuế tại Malaysia, Việt Nam sẽ cho phép khấu trừ số thuế đã nộp tại Malaysia vào số thuế thu nhập phải nộp tại Việt Nam của đối tượng đó. Tuy nhiên, khoản khấu trừ này sẽ không vượt quá phần thuế Malaysia, được tính trước khi khấu trừ, tương ứng với khoản thu nhập đó.
3. Trong khoản 2, thuật ngữ “thuế đã nộp tại Malaysia” được coi là bao gồm thuế Malaysia mà theo pháp luật của Malaysia và phù hợp với Hiệp định này, sẽ phải nộp đối với bất kỳ khoản thu nhập nào có nguồn gốc từ Malaysia, nếu khoản thu nhập đó không được áp dụng thuế suất thấp hơn hoặc miễn thuế theo:
a. Phụ lục 7A của Luật Thuế Thu nhập 1967 của Malaysia; hoặc
b. Các điều 22, 23, 29, 35 và 37 của Luật Khuyến khích Đầu tư 1986 của Malaysia, trong phạm vi còn hiệu lực tại ngày ký Hiệp định này; hoặc
c. Bất kỳ quy định nào khác được ban hành sau đó tại Malaysia nhằm sửa đổi hoặc bổ sung các luật khuyến khích đầu tư, trong phạm vi được cơ quan có thẩm quyền của các Nước ký kết thỏa thuận là có tính chất về cơ bản tương tự.
4. Trường hợp một đối tượng cư trú của Malaysia có thu nhập mà theo pháp luật của Việt Nam và theo quy định của Hiệp định này có thể bị đánh thuế tại Việt Nam, Malaysia sẽ cho phép khấu trừ số thuế đã nộp tại Việt Nam vào số thuế thu nhập phải nộp tại Malaysia của đối tượng đó. Tuy nhiên, khoản khấu trừ này sẽ không vượt quá phần thuế Malaysia, được tính trước khi khấu trừ, tương ứng với khoản thu nhập đó.
5. Trong khoản 4, thuật ngữ “thuế đã nộp tại Việt Nam” được coi là bao gồm thuế Việt Nam mà theo pháp luật của Việt Nam và phù hợp với Hiệp định này, sẽ phải nộp nếu thuế Việt Nam không được miễn hoặc giảm theo:
a. Các quy định tại Điều 26, 27, 28, 32 hoặc 33 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987) và các văn bản liên quan, có hiệu lực tại ngày ký Hiệp định này hoặc chỉ được sửa đổi nhỏ sau ngày ký Hiệp định này; hoặc
b. Bất kỳ quy định nào khác được ban hành sau đó tại Việt Nam nhằm sửa đổi hoặc bổ sung các luật hiện hành về các biện pháp ưu đãi đặc biệt để thúc đẩy phát triển kinh tế tại Việt Nam, trong phạm vi được cơ quan có thẩm quyền của các Nước ký kết thỏa thuận là có tính chất về cơ bản tương tự.
6. Cho mục đích khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này, thuế áp dụng đối với các khoản thu nhập sau đây được coi là 10% tổng số thu nhập, trong trường hợp thuế thực tế phải nộp thấp hơn 10% tổng số thu nhập theo các biện pháp ưu đãi đặc biệt để thúc đẩy phát triển kinh tế:
a. Trong trường hợp thu nhập có nguồn gốc từ Malaysia: thu nhập quy định tại Điều 11, 12 và 13.
b. Trong trường hợp thu nhập có nguồn gốc từ Việt Nam: thu nhập quy định tại Điều 10, 11, 12, 13 và lợi nhuận thuộc diện chịu Thuế chuyển lợi nhuận.
ĐIỀU 25.
KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ
1. Công dân của một Nước ký kết sẽ không phải chịu tại Nước ký kết kia bất kỳ loại thuế nào hoặc các nghĩa vụ liên quan mà khác hoặc nặng nề hơn so với các loại thuế và nghĩa vụ liên quan áp dụng cho công dân của Nước kia trong cùng hoàn cảnh.
2. Việc đánh thuế đối với một cơ sở thường trú mà một doanh nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia sẽ không kém thuận lợi hơn việc đánh thuế đối với các doanh nghiệp của Nước kia tiến hành các hoạt động tương tự. Quy định này không được hiểu là buộc một Nước ký kết phải dành cho các đối tượng cư trú của Nước kia bất kỳ khoản miễn trừ, giảm trừ hoặc ưu đãi cá nhân nào vì lý do tình trạng dân sự hoặc trách nhiệm gia đình mà Nước đó dành cho các đối tượng cư trú của mình.
3. Các doanh nghiệp của một Nước ký kết mà vốn thuộc sở hữu hoặc do một hoặc nhiều đối tượng cư trú của Nước ký kết kia trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ hoặc kiểm soát, sẽ không phải chịu tại Nước ký kết thứ nhất bất kỳ loại thuế nào hoặc nghĩa vụ liên quan mà khác hoặc nặng nề hơn so với các loại thuế và nghĩa vụ liên quan áp dụng cho các doanh nghiệp tương tự khác của Nước đó.
4. Các quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều này sẽ không áp dụng đối với thuế chuyển lợi nhuận của Việt Nam, trong mọi trường hợp không vượt quá 10% tổng số lợi nhuận được chuyển, và đối với việc đánh thuế tại Việt Nam đối với các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
5. Không có nội dung nào trong Điều này được hiểu là buộc một Nước ký kết phải dành cho các cá nhân không cư trú tại Nước đó bất kỳ khoản miễn trừ, giảm trừ hoặc ưu đãi cá nhân nào cho mục đích thuế mà Nước đó dành cho các cá nhân cư trú của mình.
6. Không có nội dung nào trong Điều này được hiểu là ngăn cản một Nước ký kết giới hạn cho công dân của mình việc hưởng các ưu đãi về thuế được thiết kế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tại Nước đó.
7. Các quy định của Điều này chỉ áp dụng đối với các loại thuế thuộc phạm vi của Hiệp định này.
THỦ TỤC THỎA THUẬN SONG PHƯƠNG
1. Trường hợp một đối tượng cư trú của một Nước ký kết cho rằng các hành động của cơ quan có thẩm quyền của một hoặc cả hai Nước ký kết dẫn đến hoặc sẽ dẫn đến việc bị đánh thuế không phù hợp với các quy định của Hiệp định này, người đó có thể, bất kể các biện pháp khắc phục theo pháp luật trong nước của các Nước đó, trình bày vụ việc với cơ quan có thẩm quyền của Nước ký kết mà người đó là cư trú. Vụ việc phải được trình bày trong vòng ba năm kể từ ngày thông báo đầu tiên về hành động dẫn đến việc đánh thuế không phù hợp với Hiệp định.
2. Nếu khiếu nại có cơ sở hợp lý và cơ quan có thẩm quyền không thể tự mình đưa ra giải pháp thích hợp, cơ quan đó sẽ cố gắng giải quyết vụ việc bằng thỏa thuận song phương với cơ quan có thẩm quyền của Nước ký kết kia nhằm tránh việc đánh thuế không phù hợp với Hiệp định.
3. Các cơ quan có thẩm quyền của các Nước ký kết sẽ cố gắng giải quyết bằng thỏa thuận song phương bất kỳ khó khăn hoặc nghi ngờ nào phát sinh liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định. Họ cũng có thể tham khảo ý kiến lẫn nhau để loại bỏ việc đánh thuế hai lần trong những trường hợp không được quy định trong Hiệp định.
4. Các cơ quan có thẩm quyền của các Nước ký kết có thể trao đổi trực tiếp với nhau nhằm đạt được thỏa thuận theo ý nghĩa của các khoản trên.
ĐIỀU 27.
TRAO ĐỔI THÔNG TIN
1. Các cơ quan có thẩm quyền của các Nước ký kết sẽ trao đổi những thông tin cần thiết để thực hiện các quy định của Hiệp định này hoặc của pháp luật trong nước của các Nước ký kết liên quan đến các loại thuế thuộc phạm vi của Hiệp định, trong chừng mực việc đánh thuế đó không trái với Hiệp định. Bất kỳ thông tin nào do một Nước ký kết nhận được sẽ được coi là bí mật giống như thông tin thu được theo pháp luật trong nước của Nước đó, và chỉ được tiết lộ cho những cá nhân hoặc cơ quan (bao gồm tòa án hoặc cơ quan xét xử) có liên quan đến việc đánh thuế, thu thuế, thực thi hoặc truy tố liên quan đến, hoặc giải quyết kháng nghị về, các loại thuế thuộc phạm vi Hiệp định.
2. Trong bất kỳ trường hợp nào, các quy định tại khoản 1 sẽ không được hiểu là buộc một Nước ký kết phải:
a. thực hiện các biện pháp hành chính trái với pháp luật hoặc thực tiễn hành chính của Nước đó hoặc của Nước ký kết kia;
b. cung cấp các thông tin mà không thể có được theo pháp luật hoặc trong quá trình hành chính thông thường của Nước đó hoặc của Nước ký kết kia;
c. cung cấp thông tin mà việc tiết lộ sẽ làm lộ bất kỳ bí mật thương mại, kinh doanh, công nghiệp, thương mại hoặc nghề nghiệp nào, hoặc quy trình thương mại, hoặc thông tin mà việc tiết lộ sẽ trái với chính sách công.
CÁC VIÊN CHỨC NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ
Không có quy định nào trong Hiệp định này ảnh hưởng đến các đặc quyền về thuế của các viên chức ngoại giao hoặc lãnh sự theo các quy tắc chung của luật pháp quốc tế hoặc theo các quy định của các hiệp định đặc biệt.
ĐIỀU 29.
HIỆU LỰC
Mỗi Nước ký kết sẽ thông báo cho Nước ký kết kia việc đã hoàn tất các thủ tục theo luật pháp của mình để Hiệp định này có hiệu lực. Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày nhận được thông báo sau cùng và sẽ được áp dụng:
a. Tại Việt Nam:
i. Đối với các loại thuế khấu trừ tại nguồn, áp dụng đối với các khoản chịu thuế được chi trả vào hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch tiếp theo năm Hiệp định này có hiệu lực;
ii. Đối với các loại thuế Việt Nam khác, áp dụng đối với thu nhập, lợi nhuận hoặc lãi phát sinh trong năm dương lịch tiếp theo năm Hiệp định này có hiệu lực.
b. Tại Malaysia:
i. Đối với thuế khấu trừ tại nguồn áp dụng cho thu nhập phát sinh đối với một người không cư trú, áp dụng đối với thu nhập phát sinh vào hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch tiếp theo năm mà nhận được thông báo sau cùng;
ii. Đối với các loại thuế Malaysia khác, áp dụng cho một năm tính thuế bắt đầu vào hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch thứ hai tiếp theo năm nhận được thông báo sau cùng.
ĐIỀU 30.
CHẤM DỨT HIỆP ĐỊNH
Hiệp định này sẽ tiếp tục có hiệu lực vô thời hạn, nhưng một trong hai Nước ký kết có thể, vào hoặc trước ngày 30 tháng 6 của bất kỳ năm dương lịch nào bắt đầu sau khi hết thời hạn năm năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, thông qua kênh ngoại giao, gửi văn bản thông báo chấm dứt cho Nước ký kết kia. Trong trường hợp đó, Hiệp định sẽ chấm dứt hiệu lực như sau:
a. Tại Việt Nam:
i. Đối với các loại thuế khấu trừ tại nguồn, áp dụng đối với các khoản chịu thuế được chi trả vào hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch tiếp theo năm có thông báo chấm dứt;
ii. Đối với các loại thuế Việt Nam khác, áp dụng đối với thu nhập, lợi nhuận hoặc lãi phát sinh trong năm dương lịch tiếp theo năm có thông báo chấm dứt và các năm dương lịch sau đó.
b. Tại Malaysia:
i. Đối với thuế khấu trừ tại nguồn áp dụng cho thu nhập phát sinh đối với một người không cư trú, áp dụng đối với thu nhập phát sinh vào hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch tiếp theo năm có thông báo chấm dứt;
ii. Đối với các loại thuế Malaysia khác, áp dụng cho một năm tính thuế bắt đầu vào hoặc sau ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch thứ hai tiếp theo năm có thông báo chấm dứt.
ĐỂ LÀM BẰNG, những người ký tên dưới đây, được Chính phủ của họ ủy quyền hợp lệ, đã ký Hiệp định này.
LÀM thành hai bản tại Kuala Lumpur vào ngày 7 tháng 9 năm 1995, mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng Bahasa Malaysia và tiếng Anh, ba văn bản đều có giá trị như nhau. Trong trường hợp có tranh chấp về việc giải thích và áp dụng Hiệp định này, văn bản tiếng Anh sẽ được ưu tiên.
|
Thay mặt Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam |
Thay mặt Chính phủ Malaysia |
Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 13 tháng 8 năm 1996.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh