Công văn 411/BCT-DKT năm 2026 báo cáo tình hình thực hiện Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Bộ Công thương ban hành
| Số hiệu | 411/BCT-DKT |
| Ngày ban hành | 19/01/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 19/01/2026 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Bộ Công thương |
| Người ký | Nguyễn Hoàng Long |
| Lĩnh vực | Tài nguyên - Môi trường |
|
BỘ CÔNG THƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 411/BCT-DKT |
Hà Nội, ngày 19 tháng 01 năm 2026 |
Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ
Ngày 07/02/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 165/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược năng lượng hydrogen). Với vai trò là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương theo dõi việc triển khai Chiến lược, Bộ Công Thương đã có các Văn bản[1] đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 07/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ và báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen.
Trên cơ sở báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen của các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan, Bộ Công Thương kính báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện Chiến lượng năng lượng hydrogen đến hết năm 2025 như sau:
I. Tình hình thực hiện các mục tiêu của Chiến lược năng lượng hydrogen
1. Về sản xuất năng lượng hydrogen
Hiện nay, hydrogen sản xuất trong nước chủ yếu vẫn từ quá trình lọc hóa dầu và sản xuất phân đạm (hydrogen xám và hydrogen nâu) để phục vụ cho chính hoạt động của các ngành công nghiệp này với tống khối lượng sản xuất đạt khoảng 500 nghìn tấn/năm. Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược năng lượng hydrogen đã có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước nghiên cứu đề xuất dự án sản xuất hydrogen xanh tại Việt Nam (hầu hết các dự án đang trong giai đoạn nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư, chưa hoàn thành xây dựng và vận hành thương mại). Một số dự án sản xuất hydrogen xanh đang triển khai như sau:
(i) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Trà Vinh
- Quy mô, công suất: 24.000 tấn hydrogen/năm, 182.500 tấn amoniac/năm và 195.000 tấn oxy/năm.
- Địa điểm: xã Đông Hải, tỉnh Vĩnh Long.
- Chủ đầu tư: Công ty cổ phần TGS Trà Vinh Green Hydrogen.
- Tiến độ: dự kiến vận hành thương mại vào năm 2027.
- Tình hình triển khai: Dự án đã được Bộ Công Thương thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng và được Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Trà Vinh cấp Giấy phép xây dựng đối với một số hạng mục: hàng rào, cổng, nhà bảo vệ, đường nội bộ, hệ thống thoát nước mưa. Hiện tại, Chủ đầu tư đang tiến hành xây dựng một số hạng mục phụ trợ theo Giấy phép xây dựng đã được cấp và hoàn thiện hồ sơ xin Giấy phép xây dựng đối với các hạng mục còn lại.
(ii) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bến Tre
- Quy mô, công suất: 24.000 tấn hydrogen/năm, 182.500 tấn amoniac/năm và 195.000 tấn oxy/năm.
- Địa điểm: xã Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long.
- Nhà đầu tư: Công ty cổ phần TGS Trà Vinh Green Hydrogen.
- Tiến độ: dự kiến vận hành thương mại vào quý II/2028.
- Tình hình triển khai: Dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
(iii) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bạc Liêu
- Công suất: 24.000 tấn hydrogen/năm, 182.500 tấn amoniac/năm; 195.000 tấn oxy/năm.
- Địa điểm: xã Gành Hào, tỉnh Cà Mau.
- Nhà đầu tư đề xuất: Công ty cổ phần Tập đoàn The Green Solution.
- Tiến độ: dự kiến vận hành thương mại giai đoạn 1 vào năm 2029, giai đoạn 2 vào năm 2032.
- Tình hình triển khai: Dự án đang trong quá trình chuẩn bị hồ sơ xin chấp thuận chủ trương đầu tư.
(iv) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Tiền Giang
- Công suất 5.294 tấn hydrogen/năm.
- Chủ đầu tư: Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo Tiền Giang.
- Tiến độ: dự kiến hoạt động vào tháng 9/2028.
|
BỘ CÔNG THƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 411/BCT-DKT |
Hà Nội, ngày 19 tháng 01 năm 2026 |
Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ
Ngày 07/02/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 165/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược năng lượng hydrogen). Với vai trò là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương theo dõi việc triển khai Chiến lược, Bộ Công Thương đã có các Văn bản[1] đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 07/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ và báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen.
Trên cơ sở báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen của các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan, Bộ Công Thương kính báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện Chiến lượng năng lượng hydrogen đến hết năm 2025 như sau:
I. Tình hình thực hiện các mục tiêu của Chiến lược năng lượng hydrogen
1. Về sản xuất năng lượng hydrogen
Hiện nay, hydrogen sản xuất trong nước chủ yếu vẫn từ quá trình lọc hóa dầu và sản xuất phân đạm (hydrogen xám và hydrogen nâu) để phục vụ cho chính hoạt động của các ngành công nghiệp này với tống khối lượng sản xuất đạt khoảng 500 nghìn tấn/năm. Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược năng lượng hydrogen đã có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước nghiên cứu đề xuất dự án sản xuất hydrogen xanh tại Việt Nam (hầu hết các dự án đang trong giai đoạn nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư, chưa hoàn thành xây dựng và vận hành thương mại). Một số dự án sản xuất hydrogen xanh đang triển khai như sau:
(i) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Trà Vinh
- Quy mô, công suất: 24.000 tấn hydrogen/năm, 182.500 tấn amoniac/năm và 195.000 tấn oxy/năm.
- Địa điểm: xã Đông Hải, tỉnh Vĩnh Long.
- Chủ đầu tư: Công ty cổ phần TGS Trà Vinh Green Hydrogen.
- Tiến độ: dự kiến vận hành thương mại vào năm 2027.
- Tình hình triển khai: Dự án đã được Bộ Công Thương thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng và được Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Trà Vinh cấp Giấy phép xây dựng đối với một số hạng mục: hàng rào, cổng, nhà bảo vệ, đường nội bộ, hệ thống thoát nước mưa. Hiện tại, Chủ đầu tư đang tiến hành xây dựng một số hạng mục phụ trợ theo Giấy phép xây dựng đã được cấp và hoàn thiện hồ sơ xin Giấy phép xây dựng đối với các hạng mục còn lại.
(ii) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bến Tre
- Quy mô, công suất: 24.000 tấn hydrogen/năm, 182.500 tấn amoniac/năm và 195.000 tấn oxy/năm.
- Địa điểm: xã Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long.
- Nhà đầu tư: Công ty cổ phần TGS Trà Vinh Green Hydrogen.
- Tiến độ: dự kiến vận hành thương mại vào quý II/2028.
- Tình hình triển khai: Dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
(iii) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bạc Liêu
- Công suất: 24.000 tấn hydrogen/năm, 182.500 tấn amoniac/năm; 195.000 tấn oxy/năm.
- Địa điểm: xã Gành Hào, tỉnh Cà Mau.
- Nhà đầu tư đề xuất: Công ty cổ phần Tập đoàn The Green Solution.
- Tiến độ: dự kiến vận hành thương mại giai đoạn 1 vào năm 2029, giai đoạn 2 vào năm 2032.
- Tình hình triển khai: Dự án đang trong quá trình chuẩn bị hồ sơ xin chấp thuận chủ trương đầu tư.
(iv) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Tiền Giang
- Công suất 5.294 tấn hydrogen/năm.
- Chủ đầu tư: Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo Tiền Giang.
- Tiến độ: dự kiến hoạt động vào tháng 9/2028.
- Tình hình triển khai: UBND tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp) đã chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư Dự án. Hiện nay, Chủ đầu tư đang triển khai thực hiện thực các bước tiếp theo của Dự án.
(v) Các dự án khác
Nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đang phối hợp với các địa phương để nghiên cứu, khảo sát, đề xuất các dự án sản xuất hydrogen trong giai đoạn 2026- 2030 tại các tỉnh: Gia Lai (2.000 tấn/năm), Lâm Đồng (15.000-30.000 tấn/năm), Tây Ninh (249 tấn/năm), Cà Mau (26.000 tấn/năm), Ninh Thuận, Quảng Bình, Quảng Trị, Sóc Trăng, thành phố Hồ Chí Minh,...; trong giai đoạn sau năm 2030 tại các tỉnh Gia Lai (27.000-160.000 tấn/năm), Lâm Đồng (20.000-40.000 tấn/năm),...
2. Về sử dụng năng lượng hydrogen
Hydrogen xanh được coi là nguồn năng lượng mới đang được một số nước phát triển trên thế giới nghiên cứu (chủ yếu ở mức thử nghiệm) nên chưa được sử dụng trên thực tế (phục vụ sản xuất điện, giao thông vận tải, thương mại, dân dụng,...) tại Việt Nam.
Hầu hết nhu cầu sử dụng hydrogen (chủ yếu là hydrogen xám) trong nước vẫn từ các nhà máy sản xuất phân đạm (khoảng 316.000 tấn/năm), nhà máy lọc dầu Dung Quất (39.000 tấn/năm) và Liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn (139.000 tấn/năm) từ nguồn sản xuất hydrogen trực tiếp của các nhà máy. Ngoài ra, có một lượng rất nhỏ hydrogen cũng được sử dụng tại các nhà máy sản xuất thép, kính nổi, điện tử và thực phẩm, chiếm khoảng 0,5% tổng nhu cầu hydrogen trong nước.
Hiện nay, các doanh nghiệp đã cơ bản nhận thức được tầm quan trọng và định hướng phát triển của năng lượng hydrogen trong thời gian tới và đã và đang từng bước điều chỉnh chiến lược phát triển của doanh nghiệp, triển khai nghiên cứu chuyển đổi nhiên liệu của các nhà máy nhiệt điện than, khí; các quá trình luyện thép; sản xuất đạm; giao thông vận tải sang sử dụng hydrogen, amoniac và các dẫn xuất của hydrogen.
3. Về tồn trữ, vận chuyển và phân phối năng lượng hydrogen
Hiện nay, hydrogen vẫn chưa có nhiều ứng dụng rộng rãi nên hệ thống tồn chứa, vận chuyển và phân phối hydrogen tại Việt Nam chưa phát triển. Hầu hết, hydrogen được sản xuất và sử dụng trực tiếp tại chỗ trong các nhà máy lọc dầu, nhà máy sản xuất phân đạm, được vận chuyển thông qua đường ống nội bộ, không qua quá trình lưu trữ; chỉ một lượng rất nhỏ nhu cầu hydrogen cho các ngành công nghiệp (thép, xi măng,...); các phòng thí nghiệm được lưu trữ dưới dạng khí nén hoặc dạng lỏng trong các bình chịu áp suất và được vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ bằng xe tải.
Để chuẩn bị sẵn sàng cho việc phát triển lĩnh vực hydrogen trong tương lai, các Bộ, ngành, doanh nghiệp cũng đang triển khai nghiên cứu một số giải pháp để phát triển việc tồn trữ, vận chuyển và phân phối năng lượng hydrogen như sau:
- Nghiên cứu các yêu cầu kỹ thuật trong ngành công nghiệp năng lượng hydrogen để đề xuất áp dụng ở Việt Nam.
- Nghiên cứu, xây dựng các quy định kỹ thuật về an toàn trong sản xuất, chiết nạp và lưu trữ hydrogen.
- Nghiên cứu xây dựng quy trình phối trộn, vận chuyển và phân phối hydrogen xanh với khí thiên nhiên trên cơ sở hạ tầng đường ống, công trình khí sẵn có.
- Nghiên cứu triển khai dự án thử nghiệm quy mô nhỏ để sản xuất, cung cấp hydrogen xanh cho các khách hàng công nghiệp.
- Nghiên cứu đầu tư thí điểm trạm tiếp nhiên liệu hydrogen.
- Nghiên cứu thực hiện dự án nhà máy sản xuất thiết bị tồn chứa, vận chuyển, lưu trữ, phân phối hydrogen và các thiết bị phụ trợ.
4. Về xuất khẩu năng lượng hydrogen
Hiện nay, Việt Nam chưa xuất khẩu năng lượng hydrogen. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp đang nghiên cứu, đề xuất các dự án phát triển điện gió ngoài khơi gắn với sản xuất hydrogen xanh với mục đích xuất khẩu và sẽ là tiền đề để phát triển việc xuất khẩu năng lượng hydrogen trong tương lai.
II. Tình hình thực hiện các nhiệm vụ được giao cho các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp
Ngay sau khi Chiến lược năng lượng hydrogen được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan đã tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao và các công việc liên quan:
- Tổ chức phổ biến đến các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp về nội dung Chiến lược năng lượng hydrogen dưới nhiều hình thức.
- Xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen.
- Chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 07/02/2024, trong đó chú trọng các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách liên quan đến việc xây dựng, ban hành các quy định, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng hydrogen.
- Chủ động cập nhật tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới; nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp nâng cao năng lực, kỹ thuật công nghệ trong lĩnh vực hydrogen.
- Tăng cường, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tận dụng, tìm kiếm sự hợp tác với các tổ chức, nhà đầu tư quốc tế trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, hydrogen...
Một số nhiệm vụ, công việc cụ thể đã và đang được các Bộ, ngành triển khai như sau:
- Tổ chức Hội nghị công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược năng lượng hydrogen với sự tham dự của đại diện Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương, địa phương (trực tuyến với 63 tỉnh/thành), Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (nay là Bộ Tài chính), các Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp lớn trong ngành năng lượng, các Hội, Hiệp hội nghề nghiệp ngành năng lượng, các Tổ chức quốc tế (USAID, GIZ,...). Triển khai xây dựng tài liệu hướng dẫn và phổ biến về việc sử dụng năng lượng có nguồn gốc hydrogen trong xu hướng chuyển dịch năng lượng toàn cầu.
- Nghiên cứu, đưa nội dung về chính sách phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới (bao gồm năng lượng hydrogen) trong Luật Điện lực số 61/2024/QH15 (đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành) nhằm tạo nền tảng pháp lý vững chắc, minh bạch, thuận lợi tạo đà cho phát triển bền vững năng lượng mới và tái tạo (miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; tín dụng đầu tư,...).
- Nghiên cứu, đưa nội dung về chính sách phát triển công nghiệp hoá chất trọng điểm (bao gồm sản xuất hydrogen) trong Luật Hoá chất số 69/2025/QH15 (đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành) nhằm thúc đẩy, hỗ trợ phát triển công nghiệp hoá chất trọng điểm, theo đó hydrogen là sản phẩm công nghiệp hoá chất trọng điểm sẽ được hưởng các hình thức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan (một số ưu đãi, hỗ trợ đầu tư có thể được hưởng như: ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn, giảm tiền thuê đất; hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án đầu tư; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ cơ sở sản xuất, kinh doanh di dời theo quyết định của cơ quan nhà nước; hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển).
- Cụ thể hoá các nội dung ưu đãi đối với phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới tại Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, năng lượng mới (các dự án điện năng lượng mới được sản xuất từ 100% hydrogen xanh hoặc 100% amoniac xanh hoặc 100% hỗn hợp của hydrogen xanh và amoniac xanh được miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển trong thời gian xây dựng cơ bản; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản; đảm bảo sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn là 70% trong thời hạn trả nợ gốc vốn vay nhưng không quá 12 năm).
- Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1415/QĐ-TTg ngày 30/6/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành điện lực Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 01/3/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đề ra các định hướng phát triển năng lượng hydrogen, amoniac trong lĩnh vực năng lượng (điện lực, giao thông, công nghiệp, chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện sang đốt kèm hoặc sử dụng hoàn toàn hydrogen, amoniac,...).
- Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 235/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành dầu khí quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó có nội dung về phát triển năng lượng mới, năng lượng hydrogen.
- Xây dựng trình Chính phủ thông qua để trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030 (bao gồm các cơ chế thúc đẩy phát triển các dự án điện gió ngoài khơi là tiền đề phát triển năng lượng hydrogen).
- Triển khai xây dựng Chiến lược phát triển ngành thép, trong đó định hướng sử dụng năng lượng hydrogen cho sản xuất thép.
- Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 12/02/2025 về Kế hoạch thực hiện tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch (thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí sang nhiên liệu amoniac, hydrogen).
- Với vai trò là Bộ quản lý chuyên ngành, Bộ Công Thương đã chủ động nghiên cứu, xây dựng Báo cáo đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển lĩnh vực năng lượng hydrogen xanh tại Việt Nam, bao gồm một số cơ chế, khuyến nghị cụ thể để hoàn thiện và bổ sung chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, phát triển công nghệ sản xuất hydrogen xanh, góp phần chuyển đổi nền kinh tế theo hướng xanh, bền vững và hiệu quả gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư[2] (nay là Bộ Tài chính) để nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển lĩnh vực năng lượng hydrogen xanh tại Việt Nam, trình cấp có thẩm quyền ban hành.
- Triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) để tìm kiếm sự hợp tác với các tổ chức, nhà đầu tư quốc tế trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, hydrogen[3],...
- Triển khai một số hoạt động nghiên cứu việc chuyển đổi nhiên liệu cho quá trình luyện thép từ than sang hydrogen; chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện than sang hydrogen hoặc amoniac; xây dựng các quy định kỹ thuật về an toàn trong sản xuất, chiết nạp và lưu trữ hydrogen; các yêu cầu kỹ thuật trong ngành công nghiệp năng lượng hydrogen; quy trình phối trộn, vận chuyển và phân phối hydrogen xanh với khí thiên nhiên trên cơ sở hạ tầng đường ống, công trình khí sẵn có....
Trên cơ sở các nhiệm vụ được giao, Bộ Xây dựng đã triển khai thực hiện một số công việc như sau:
- Lồng ghép các cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông xanh, năng lượng xanh, trong đó có nhiên liệu hydrogen đối với phương tiện, thiết bị trong quá trình tổ chức triển khai Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải (trọng tâm là đẩy mạnh việc chuyển đổi toàn bộ phương tiện, thiết bị giao thông vận tải sang sử dụng điện, năng lượng xanh nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050 trong giao thông vận tải); Quyết định số 1679/QĐ-BGTVT ngày 22/12/2023 của Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình nêu trên, trong đó quy định các nhiệm vụ cụ thể về cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn nhằm thúc đẩy chuyển đổi sang sử dụng năng lượng xanh trong giao thông vận tải.
- Rà soát, cập nhật để hoàn thiện các chính sách pháp lý, tạo hành lang để thúc đẩy chuyển đổi phương tiện sử dụng nhiên liệu hoá thạch sang các phương tiện sử dụng nhiên liệu/năng lượng xanh ít phát thải trong Luật Đường bộ số 35/2024/QH15, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu bổ sung quy định về sử dụng năng lượng xanh, ít phát thải khí nhà kính trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật hàng hải và Luật giao thông đường thủy nội địa.
3. Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã từng bước lồng ghép định hướng phát triển năng lượng hydrogen, cụ thể:
- Trong xây dựng và cập nhật các kịch bản giảm nhẹ phát thải khí nhà kính: xem xét năng lượng hydrogen như một giải pháp công nghệ tiềm năng trong trung và dài hạn, có khả năng thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch trong các lĩnh vực phát thải lớn. Tổng hợp, đánh giá các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính do các Bộ, ngành đề xuất bảo đảm lựa chọn các giải pháp có khả năng đóng góp hiệu quả vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, trong đó có các giải pháp chuyển dịch năng lượng và phát triển công nghệ sạch.
- Trong công tác kiểm kê khí nhà kính: tổ chức thu thập, quản lý và cập nhật dữ liệu phát thải khí nhà kính theo các lĩnh vực, phục vụ việc xây dựng kịch bản phát thải khí nhà kính quốc gia. Kết quả kiểm kê khí nhà kính được sử dụng làm cơ sở khoa học để đánh giá tiềm năng đóng góp của các giải pháp chuyển dịch năng lượng, trong đó có năng lượng hydrogen, đối với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong dài hạn.
- Trong quá trình thực hiện và cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC): lồng ghép phát triển năng lượng hydrogen như một biện pháp hỗ trợ thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính dài hạn, phù hợp với nhóm giải pháp chuyển dịch năng lượng và phát triển công nghệ phát thải thấp, bảo đảm tính nhất quán với định hướng tại Chiến lược năng lượng hydrogen.
- Chủ động, tích cực phối hợp với Bộ Công Thương trong quá trình triển khai các hoạt động thuộc khuôn khổ Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) và Sáng kiến Cộng đồng phát thải ròng bằng “0” châu Á (AZEC). Trọng tâm phối hợp của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là bảo đảm các chương trình, dự án chuyển dịch năng lượng, trong đó có các nội dung liên quan đến năng lượng hydrogen, phù hợp với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và các cam kết khí hậu của Việt Nam; đồng thời phối hợp, chia sẻ thông tin, dữ liệu về kiểm kê khí nhà kính, kịch bản phát thải và mục tiêu NDC, phục vụ việc xây dựng, theo dõi và đánh giá hiệu quả triển khai các chương trình, dự án chuyển dịch năng lượng.
Trên cơ sở các nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính đã triển khai thực hiện một số công việc như sau:
- Phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan lồng ghép đưa nội dung xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng hydrogen quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), đấu thầu và quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).
- Chủ động phối hợp với Bộ Công Thương và các bộ, ngành, cơ quan liên quan triển khai nhiệm vụ trên trong quá trình xây dựng Luật Điện lực số 61/2024/QH15 và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới (Nghị định số 58/2025/NĐ-CP). Theo đó, các nội dung về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án điện gió ngoài khơi, các dự án sản xuất hydrogen, amoniac sử dụng điện gió ngoài khơi, dự án xuất khẩu điện gió ngoài khơi đã được quy định tại Chương III Luật Điện lực số 61/2024/QH15 và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP.
6. UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương
UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực phổ biến tới các Sở, ban, ngành trực thuộc để thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen; xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền đến thúc đẩy phát triển năng lượng hydrogen tại địa phương; xúc tiến, kêu gọi đầu tư trong lĩnh vực hydrogen; một số địa phương có dự án đầu tư đã chủ động triển khai các nhiệm vụ theo thẩm quyền.
Các Tập đoàn, doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng và định hướng phát triển của năng lượng hydrogen trong thời gian tới; đã và đang từng bước điều chỉnh chiến lược phát triển của doanh nghiệp; chủ động triển khai các nhiệm vụ được giao; triển khai nghiên cứu việc chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy điện than, khí, các quá trình luyện thép, sản xuất đạm, giao thông vận tải sang sử dụng hydrogen, amoniac; nghiên cứu xây dựng quy trình phối trộn, vận chuyển và phân phối green hydrogen với khí thiên nhiên trên cơ sở hạ tầng đường ống, công trình khí sẵn có; nghiên cứu các công nghệ thu giữ/sử dụng các-bon (CCS/CCUS); tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao kiến thức, kinh nghiệm và tìm kiếm các nguồn hỗ trợ để triển khai dự án năng lượng hydrogen.
(Chi tiết tình hình thực hiện các nhiệm vụ được giao của các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan tại Phụ lục kèm theo).
III. Đánh giá việc thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen
1. Kết quả
Ngày 07/02/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 165/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen, đưa Việt Nam vào nhóm 50 quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen, cho thấy sự quyết tâm của Việt Nam trong phát triển nguồn năng lượng sạch đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Sau gần 02 năm triển khai thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước nghiên cứu, đề xuất, triển khai dự án phát triển hydrogen tại Việt Nam. Mặc dù, hầu hết các dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và nghiên cứu, chưa đi vào vận hành thương mại nhưng đã mang lại nhiều dấu hiệu tích cực để thực hiện hoá các mục tiêu đề ra tại Chiến lược. Cụ thể như sau:
- Hiện nay, có một số Dự án sản xuất hydrogen xanh đã được Chủ đầu tư triển khai (Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Trà Vinh, Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bến Tre, Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bạc Liêu, Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Tiền Giang) với tổng công suất khoảng 120.000 tấn hydrogen/năm. Bên cạnh đó, có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đang phối hợp với các địa phương để nghiên cứu, khảo sát, đề xuất các dự án sản xuất hydrogen như đã nêu tại phần I của Văn bản này. Như vậy, công suất sản xuất hydrogen từ quá trình sử dụng năng lượng tái tạo và các quá trình khác có thu giữ các-bon cơ bản đạt mục đề ra trong giai đoạn đến năm 2030 (đạt khoảng 100.000-500.000 tấn/năm).
- Các Tập đoàn, doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng và định hướng phát triển của năng lượng hydrogen trong thời gian tới; đã và đang từng bước điều chỉnh chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Đây là yếu tố rất quan trọng góp phần thực hiện thành công Chiến lược năng lượng hydrogen.
- Các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan đang tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng cơ chế, chính sách; khoa học công nghệ; phát triển nhân lực; hợp tác quốc tế; xúc tiến đầu tư; chuyển đổi nguyên, nhiên liệu của các quá trình sản xuất, chế biến sang sử dụng hydrogen; nâng cao ứng dụng của hydrogen;... nỗ lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra.
2. Các khó khăn vướng mắc
Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan, trong quá trình thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen đã gặp phải một số khó khăn, vướng mắc sau:
(i) Về nhu cầu sử dụng
- Hiện nay, ứng dụng của hydrogen tại Việt Nam còn tương đối hạn chế, tập trung chủ yếu trong công nghiệp lọc hoá dầu và sản xuất đạm với sản lượng nhỏ. Chưa có nhu cầu sử dụng hydrogen xanh.
- Nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu thúc đẩy phát triển hydrogen xanh, song chủ yếu vẫn ở giai đoạn thử nghiệm nên nhu cầu của các nước trên thế giới còn hạn chế do chưa cạnh tranh được với các nguồn năng lượng khác.
(ii) Về thu hút đầu tư, thu xếp, huy động vốn
- Mặc dù hydrogen được xem là nguồn năng lượng có nhiều tiềm năng trong thời gian tới, tuy nhiên giá thành sản xuất hydrogen rất cao (cao hơn nhiều so với các loại năng lượng truyền thống) nên các cơ chế, chính sách ưu đãi hiện hành chưa đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư trong lĩnh vực năng lượng (chính sách ưu đãi thuế, sử dụng đất nhập khẩu thiết bị; hỗ trợ vay vốn; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường; phát triển hạ tầng lưu trữ, vận chuyển, phân phối, sử dụng hydrogen trong các lĩnh vực,...).
- Việc đầu tư vào các dự án năng lượng hydrogen đòi hỏi chi phí ban đầu rất lớn, đặc biệt đối với các công nghệ hiện đại như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời quy mô lớn và sản xuất hydrogen xanh. Bên cạnh chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, các khoản đầu tư cho công nghệ tiên tiến, thiết bị nhập khẩu và hệ thống lưu trữ năng lượng cũng chiếm tỷ trọng lớn.
- Các doanh nghiệp còn gặp hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ tổ chức tài chính trong và ngoài nước để thực hiện các dự án năng lượng hydrogen quy mô lớn.
(iii) Về công nghệ, hạ tầng
- Hydrogen là lĩnh vực mới, công nghệ hiện đại nên cần thời gian để nghiên cứu, nâng cao năng lực, làm chủ công nghệ.
- Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, hydrogen đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đầy đủ nên còn có sự lúng túng của cơ quan chuyên môn, địa phương trong công tác thẩm định và cấp phép đầu tư.
- Hạ tầng tồn chứa, vận chuyển và phân phối hydrogen tại Việt Nam chưa phát triển.
(iv) Về quy hoạch
Việc chưa có quy hoạch chi tiết các dự án hoặc tổng công suất sản xuất hydrogen tại từng địa phương (Quy hoạch năng lượng quốc gia quy hoạch tổng công suất các dự án sản xuất hydrogen theo từng phân vùng miền Bắc, miền Trung, miền Nam) có thể gây khó khăn cho các địa phương trong việc xác định dự án, thu hút đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư.
Trên cơ sở nội dung nêu trên, để tiếp tục thúc đẩy phát triển lĩnh vực công nghiệp năng lượng hydrogen trong thời gian tới, Bộ Công Thương kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo một số nội dung như sau:
1. Các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan tiếp tục chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 07/02/2024;
2. Bộ Công Thương: (i) chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương rà soát các dự án hydrogen trên địa bàn các tỉnh (bao gồm các dự án đang đề xuất) để nghiên cứu, cập nhật trong quá trình xây dựng Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 nhằm giải quyết vướng mắc liên quan đến quy hoạch dự án hydrogen trên địa bàn các tỉnh; (ii) phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ và phát triển công nghệ, cơ sở hạ tầng cung ứng năng lượng xanh, năng lượng hydrogen; (iii) rà soát, nghiên cứu xây dựng bổ sung các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực hydrogen; (iv) tranh thủ tận dụng các gói tín dụng hỗ trợ từ các tổ chức, chương trình hợp tác quốc tế như COP, JETP, AZEC,...
3. Bộ Tài chính[4] tiếp tục chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, đơn vị liên quan khẩn trương nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách rõ ràng, đủ hấp dẫn để thu hút, hỗ trợ phát triển lĩnh vực năng lượng hydrogen xanh (ưu đãi thuế sử dụng đất, nhập khẩu thiết bị; hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ chuyển giao công nghệ; phát triển thị trường, phát triển hạ tầng lưu trữ, vận chuyển, phân phối, sử dụng hydrogen trong các lĩnh vực...) tại Việt Nam, trình cấp có thẩm quyền ban hành.
4. Bộ Xây dựng chủ trì xây dựng cơ chế chính sách, đề án, lộ trình chuyển đổi sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang nhiên liệu xanh, dự án nghiên cứu, khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông xanh, năng lượng xanh, trong đó có nhiên liệu hydrogen.
5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng các chính sách giúp các doanh nghiệp, nhà sản xuất trong nước tiếp cận với các nguồn tín dụng xanh, tín dụng khí hậu, trái phiếu xanh,...
6. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì: (i) xây dựng các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu về công nghệ sản xuất, lưu trữ, phân phối và sử dụng hydrogen; (ii) rà soát, đề xuất việc sửa đổi, xây dựng bổ sung các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia trong lĩnh vực sản xuất, sử dụng, lưu trữ, vận chuyển hydrogen và lĩnh vực thu giữ/sử dụng các-bon (CCS/CCUS) phù hợp với các quy định, tiêu chuẩn quốc tế; (iii) phối hợp cùng các Bộ, ngành liên quan, ban hành các cơ chế chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực trình độ cao trong và ngoài nước làm việc trong lĩnh vực hydrogen.
7. UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chủ động nghiên cứu, tận dụng các lợi thế để kêu gọi đầu tư dự án sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen trên địa bàn, đảm bảo phù hợp với các Quy hoạch ngành quốc gia và Quy hoạch địa phương có liên quan.
8. Các tập đoàn, doanh nghiệp tiếp tục nghiên cứu xây dựng, điều chỉnh chiến lược, định hướng phát triển phù hợp với bối cảnh chuyển dịch năng lượng quốc gia; nghiên cứu, hợp tác đầu tư phát triển các dự án năng lượng sạch nói chung và năng lượng hydrogen nói riêng.
Bộ Công Thương kính báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
TỔNG HỢP TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG
LƯỢNG HYDROGEN CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
(Phụ lục kèm theo Công văn số 411/BCT-DKT ngày 19 tháng 01 năm 2026 của Bộ
Công Thương)
|
stt |
Tên cơ quan/đơn vị |
Nhiệm vụ được giao |
Tình hình thực hiện |
Tiến độ thực hiện |
Ghi chú |
|||
|
Đang triển khai |
Hoàn thành |
|||||||
|
Đúng hạn |
Quá hạn |
Đúng hạn |
Quá hạn |
|||||
|
1 |
Bộ Công Thương |
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương có liên quan triển khai Chiến lược này |
Với vai trò là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương có liên quan triển khai Chiến lược, Bộ Công Thương thường xuyên có các Văn bản gửi các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan đôn đốc việc triển khai các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 07/02/2024 (các Văn bản số 1447/BCT-DKT ngày 07/3/2024, số 4082/BCT- DKT ngày 13/6/2024, số 10152/BCT-DKT ngày 11/12/2024, số 9109/BCT-DKT ngày 18/11/2025). Đồng thời, thường xuyên phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai các công việc có liên quan. |
|
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
Tổ chức tuyên truyền phổ biến nội dung của Chiến lược này đến các tổ chức, cá nhân để triển khai thực hiện hiệu quả Chiến lược |
- Ngay sau khi Chiến lược năng lượng hydrogen được phê duyệt, ngày 22/02/2024, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã chủ trì Hội nghị công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược năng lượng hydrogen với sự tham dự của đại diện Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương, địa phương (trực tuyến với 63 tỉnh/thành), các Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp lớn trong ngành năng lượng, các Hội, Hiệp hội nghề nghiệp ngành năng lượng, các Tổ chức quốc tế (USAID, GIZ,...). - Trong năm 2025, Bộ Công Thương cũng triển khai khảo sát, xây dựng tài liệu hướng dẫn và phổ biến về việc sử dụng năng lượng có nguồn gốc hydrogen trong xu hướng chuyển dịch năng lượng toàn cầu. |
|
|
X |
|
Tháng 02/2024 |
||
|
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan rà soát, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng có nguồn gốc hydrogen theo quy định nhằm tạo thuận lợi cho phát triển năng lượng có nguồn gốc hydrogen, khuyến khích các hộ tiêu thụ chuyển đổi công nghệ sang sử dụng năng lượng có nguồn gốc hydrogen |
Bộ Công Thương đã và đang chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan trong quá trình xây dựng, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến năng lượng hydrogen như: - Luật Điện lực số 61/2024/QH14 (bổ sung chính sách phát triển năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới trong đó có nguồn năng lượng hydrogen như: miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; tín dụng đầu tư,.. - Luật Hóa chất số 69/2025/QH15 (hydrogen là sản phẩm công nghiệp hoá chất trọng điểm sẽ được hưởng các hình thức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan (một số ưu đãi, hỗ trợ đầu tư có thể được hưởng như: ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn, giảm tiền thuê đất; hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án đầu tư; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ cơ sở sản xuất, kinh doanh di dời theo quyết định của cơ quan nhà nước; hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển). - Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, năng lượng mới (các dự án điện năng lượng mới được sản xuất từ 100% hydrogen xanh hoặc 100% amoniac xanh hoặc 100% hỗn hợp của hydrogen xanh và amoniac xanh được miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển trong thời gian xây dựng cơ bản; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản; đảm bảo sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn là 70% trong thời hạn trả nợ gốc vốn vay nhưng không quá 12 năm). - Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1415/QĐ-TTg ngày 30/6/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành điện lực Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 01/3/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó bổ sung các định hướng phát triển năng lượng hydrogen, amoniac trong lĩnh vực năng lượng (điện lực, giao thông, công nghiệp, chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện sang đốt kèm hoặc sử dụng hoàn toàn hydrogen, amoniac,...). - Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 12/02/2025 về Kế hoạch thực hiện tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch (thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí sang nhiên liệu amoniac, hydrogen). - Xây dựng Chiến lược phát triển ngành thép (bổ sung nội dung sử dụng năng lượng hydrogen cho sản xuất thép tại Chiến lược). - Xây dựng trình Chính phủ thông qua để trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030 (bao gồm các cơ chế thúc đẩy phát triển các dự án điện gió ngoài khơi là tiền đề phát triển năng lượng hydrogen). - Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 235/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành dầu khí quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (bao gồm nội dung về phát triển năng lượng mới, năng lượng hydrogen). Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ký ban hành Quyết định số 366/QĐ-BCT ngày 21/02/2024 về Kế hoạch của Bộ Công Thương thực hiện Chiến lược năng lượng hydrogen. Một số nhiệm vụ đã và đang được các đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương triển khai như sau: - Triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) để tìm kiếm sự hợp tác với các tổ chức, nhà đầu tư quốc tế trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, hydrogen,... - Nghiên cứu việc chuyển đổi nhiên liệu cho quá trình luyện thép từ than sang hydrogen, tuy nhiên thời điểm hiện tại, chi phí nhiên liệu hydrogen tương đối lớn và chưa có đủ nguồn lực để đầu tư đổi mới công nghệ. - Nghiên cứu, thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện than, khí sang nhiên liệu amoniac, hydrogen,... Tuy nhiên, việc chuyển đổi nhiên liệu này mới đang được một số nước phát triển trên thế giới nghiên cứu (ở mức thử nghiệm) và chưa được thương mại hóa. - Nghiên cứu, xây dựng các quy định kỹ thuật về an toàn trong sản xuất, chiết nạp và lưu trữ hydrogen. - Nghiên cứu các yêu cầu kỹ thuật trong ngành công nghiệp năng lượng hydrogen để đề xuất áp dụng ở Việt Nam. - Nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách phát triển ngành công nghiệp năng lượng hydrogen tại Việt Nam. - Nghiên cứu xây dựng quy trình phối trộn, vận chuyển và phân phối Green Hydrogen với khí thiên nhiên trên cơ sở hạ tầng đường ống, công trình khí sẵn có. |
X |
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các dự án năng lượng có nguồn gốc hydrogen phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Công Thương |
Theo thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Công Thương thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các dự án sản xuất hydrogen xanh tại Việt Nam (dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Trà Vinh; dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bến Tre; dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bạc Liêu,...) và các dự án điện gió ngoài khơi, điện năng lượng tái tạo..., tạo nền tảng cho phát triển năng lượng hydrogen; tham gia ý kiến hướng dẫn UBND cấp tỉnh giải quyết các vướng mắc trong quá trình đầu tư. |
|
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng hydrogen |
Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Công Thương với vai trò là Bộ quản lý chuyên ngành đã chủ động nghiên cứu, xây dựng Báo cáo đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển lĩnh vực năng lượng hydrogen xanh tại Việt Nam, bao gồm một số cơ chế, khuyến nghị cụ thể để hoàn thiện và bổ sung chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, phát triển công nghệ sản xuất hydrogen xanh, góp phần chuyển đổi nền kinh tế theo hướng xanh, bền vững và hiệu quả gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển lĩnh vực năng lượng hydrogen xanh tại Việt Nam, trình cấp có thẩm quyền ban hành (Văn bản số 9948/BCT-DKT ngày 06/12/2024). |
|
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
2 |
Bộ Xây dựng (Văn bản số 16148/BXD-KHCNMT&VLXD ngày 30/12/2025) |
Chủ trì xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông xanh, năng lượng xanh, trong đó có nhiên liệu hydrogen đối với phương tiện, thiết bị, hạ tầng giao thông xanh. |
- Bộ Xây dựng đã lồng ghép các cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông xanh, năng lượng xanh, trong đó có nhiên liệu hydrogen đối với phương tiện, thiết bị trong quá trình tổ chức triển khai Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải (trọng tâm là đẩy mạnh việc chuyển đổi toàn bộ phương tiện, thiết bị giao thông vận tải sang sử dụng điện, năng lượng xanh nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050 trong giao thông vận tải); Quyết định số 1679/QĐ-BGTVT ngày 22/12/2023 phê duyệt Kế hoạch hành động của Bộ thực hiện Chương trình này, trong đó quy định các nhiệm vụ cụ thể về cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn nhằm thúc đẩy chuyển đổi sang sử dụng năng lượng xanh trong giao thông vận tải. - Bộ Xây dựng cũng đã rà soát, cập nhật để hoàn thiện các chính sách pháp lý, tạo hành lang để thúc đẩy chuyển đổi phương tiện sử dụng nhiên liệu hoá thạch sang các phương tiện sử dụng nhiên liệu/năng lượng xanh ít phát thải trong Luật Đường bộ số 35/2024/QH15 ngày 27/6/2024, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 ngày 27/6/2024. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu bổ sung quy định về sử dụng năng lượng xanh, ít phát thải khí nhà kính trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật hàng hải và Luật giao thông đường thủy nội địa. |
X |
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
Phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao, triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược. |
Hiện nay, các cơ quan, đơn vị của Bộ Xây dựng đang chủ động thực hiện theo các nhiệm vụ được giao. |
|
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
3 |
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Văn bản số 11074/BNNMT-BĐKH ngày 30/12/2025) |
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan triển khai nhiệm vụ thuộc các chương trình chống biến đổi khí hậu; giảm phát thải khí nhà kính với sự hỗ trợ, phối hợp của các tổ chức, chương trình hợp tác quốc tế (COP, JETP, AZEC,...). |
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã từng bước lồng ghép định hướng phát triển năng lượng hydrogen, cụ thể: - Trong xây dựng và cập nhật các kịch bản giảm nhẹ phát thải khí nhà kính: xem xét năng lượng hydrogen như một giải pháp công nghệ tiềm năng trong trung và dài hạn, có khả năng thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch trong các lĩnh vực phát thải lớn. Tổng hợp, đánh giá các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính do các Bộ, ngành đề xuất bảo đảm lựa chọn các giải pháp có khả năng đóng góp hiệu quả vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, trong đó có các giải pháp chuyển dịch năng lượng và phát triển công nghệ sạch. - Trong công tác kiểm kê khí nhà kính: Tổ chức thu thập, quản lý và cập nhật dữ liệu phát thải khí nhà kính theo các lĩnh vực, phục vụ việc xây dựng kịch bản phát thải khí nhà kính quốc gia. Kết quả kiểm kê khí nhà kính được sử dụng làm cơ sở khoa học để đánh giá tiềm năng đóng góp của các giải pháp chuyển dịch năng lượng, trong đó có năng lượng hydrogen, đối với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong dài hạn. - Trong quá trình thực hiện và cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC): Lồng ghép phát triển năng lượng hydrogen như một biện pháp hỗ trợ thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính dài hạn, phù hợp với nhóm giải pháp chuyển dịch năng lượng và phát triển công nghệ phát thải thấp, bảo đảm tính nhất quán với định hướng tại Chiến lược năng lượng hydrogen. Thực hiện ý kiến kết luận Phiên họp lần thứ năm của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai COP26 tại Thông báo số 468/TB-VPCP ngày 15/10/2024 của Văn phòng Chính phủ, theo đó việc điều phối triển khai JETP và AZEC được chuyển giao cho Bộ Công Thương. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động, tích cực phối hợp với Bộ Công Thương trong quá trình xây dựng và triển khai các hoạt động thuộc các khuôn khổ nêu trên. |
|
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
Phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược. |
Trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực tham gia, đề cao vai trò dẫn dắt của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính thông qua chuyển dịch năng lượng, bao gồm phát triển năng lượng hydrogen, đồng thời tranh thủ nguồn lực hỗ trợ của quốc tế và thúc đẩy các vấn đề phù hợp với lợi ích của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế và cơ chế hợp tác song phương và đa phương nhằm thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trọng tâm phối hợp của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là bảo đảm các chương trình, dự án chuyển dịch năng lượng, trong đó có các nội dung liên quan đến năng lượng hydrogen, phù hợp với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và các cam kết khí hậu của Việt Nam; đồng thời phối hợp, chia sẻ thông tin, dữ liệu về kiểm kê khí nhà kính, kịch bản phát thải và mục tiêu NDC, phục vụ việc xây dựng, theo dõi và đánh giá hiệu quả triển khai các chương trình, dự án chuyển dịch năng lượng. |
|
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
4 |
Bộ Tài chính (Văn bản số 20445/BTC-KTN ngày 30/12/2025) |
Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng hydrogen. |
Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan lồng ghép đưa nội dung xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển công nghiệp năng lượng hydrogen quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), đấu thầu và quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). |
X |
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
Nghiên cứu đề xuất cấp thẩm quyền ban hành quy định về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án điện gió ngoài khơi, các dự án sản xuất hydrogen/amoniac sử dụng điện gió ngoài khơi, dự án xuất khẩu điện gió ngoài khơi. |
Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với Bộ Công Thương và các bộ, ngành, cơ quan liên quan triển khai nhiệm vụ trên trong quá trình xây dựng Luật Điện lực số 61/2024/QH15 và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới. Theo đó, các nội dung về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án điện gió ngoài khơi, các dự án sản xuất hydrogen, amoniac sử dụng điện gió ngoài khơi, dự án xuất khẩu điện gió ngoài khơi đã được quy định tại Chương III Luật Điện lực số 61/2024/QH15 và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP. |
|
|
X |
|
|
||
|
II. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương |
|
|
|
|
|
|||
|
1 |
Lai Châu (Văn bản số 800/BC-UBND ngày 12/12/2025) |
Tổ chức lựa chọn chủ đầu tư các dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen, bố trí quỹ đất cho phát triển các công trình sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen theo quy định của pháp luật, trong đó ưu tiên bố trí quỹ đất để thực hiện các dự án sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen theo Quy hoạch; chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các chủ đầu tư thực hiện việc giải phóng mặt bằng, bồi thường, di dân, tái định cư cho các dự án |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lai Châu chưa có dự án sản xuất năng lượng hydrogen xanh được triển khai đầu tư. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
2 |
Sơn La (Văn bản số 2 701/SCT-QLNL ngày 23/12/2024) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Sơn La chưa có các dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
3 |
Lào Cai (Văn bản số 2989/SCT-NL ngày 10/12/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lào Cai chưa có các dự án liên quan đến sản xuất hoặc sử dụng năng lượng có nguồn gốc từ hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
4 |
Tuyên Quang (Văn bản số 2059/SCT-NL ngày 04/12/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang chưa có dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
5 |
Cao Bằng (Văn bản số 4453/SCT-QLNL ngày 22/12/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng chưa có dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
6 |
Thái Nguyên (Văn bản số 4632/BC-SCT ngày 25/12/2024, số 1898/SCT-ATNL ngày 23/12/2024) |
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 01 đơn vị là Công ty TNHH Khí công nghiệp Messer Hải Phòng - Chi nhánh Yên Bình Thái Nguyên thực hiện dự án đầu tư sản xuất và kinh doanh hóa chất có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó có sản xuất khí hydrogen (nguyên liệu từ hoá chất methanol) với công suất 216,2 tấn/năm (tương đương 282m3/giờ). |
X |
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
7 |
Lạng Sơn (Văn bản số 2991/SCT-QLNL ngày 15/12/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn chưa có các dự án liên quan đến sản xuất hoặc sử dụng năng lượng có nguồn gốc từ hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
8 |
Phú Thọ (Văn bản số 1596/SCT-QLNL ngày 31/12/2024) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ chưa có các dự án liên quan đến sản xuất hoặc sử dụng năng lượng có nguồn gốc từ hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
9 |
Hà Nội (Văn bản số 08/UBND-KTN ngày 03/01/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, thành phố Hà Nội chưa, có dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
10 |
Bắc Ninh (Văn bản số 1687/SCT-QLNL ngày 11/12/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh chưa có các dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc từ hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
11 |
Hải Phòng (Văn bản số 6814/SCT-NL ngày 11/12/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn thành phố Hải Phòng chưa có nhà đầu tư đề xuất dự án phát triển năng lượng hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
12 |
Hưng Yên (Văn bản số 2084/SCT-QLNL ngày 08/12/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên chưa có các dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc từ hydrogen |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
13 |
Ninh Bình (Văn bản số 2974/SCT-NL ngày 15/12/2025) |
Đến thời điểm hiện tại, tỉnh Ninh Bình chưa tổ chức lựa chọn chủ đầu tư nào cho các dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
14 |
Thanh Hoá (Văn bản số 22542/UBND-CNXDKH ngày 18/12/2025) |
|
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá chưa có các dự án đầu tư liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc từ hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
15 |
Nghệ An (Văn bản số 13567/UBND-CN ngày 05/12/2025) |
|
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa có các dự án đầu tư liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc từ hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
16 |
Hà Tĩnh (Văn bản số 2575/SCT-QLNL ngày 19/12/2024) |
|
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chưa có các dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc từ hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
17 |
Quảng Trị (Văn bản số 2249/SCT-QLNL ngày 25/12/2024, số 2478/UBND-KT ngày 25/12/2024) |
|
- UBND tỉnh Quảng Trị và các cơ quan chuyên môn tích cực gặp gỡ, làm việc với các cơ quan đại diện, tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài; tổ chức các đoàn tham gia các sự kiện nhằm thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực, đặc biệt là kêu gọi đầu tư vào các dự án năng lượng mới và năng lượng tái tạo để sản xuất hydrogen và amoniac xanh (Đoàn Thương vụ Đại sứ quán Áo tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Hiệp hội Hữu nghị Nhật Bản - Việt Nam tỉnh Yamanashi, Nhật Bản, cùng một số doanh nghiệp của tỉnh Yamanashi và Công ty NNIO Jenbacher). - Trong năm 2024, UBND tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) đã chấp thuận chủ trương nghiên cứu, khảo sát dự án xây dựng cụm năng lượng xanh tuần hoàn tại Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) do Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư Năng lượng Sạch Việt Nam đề xuất (dự án hướng tới đầu tư các công trình năng lượng tái tạo kết hợp sản xuất khí hydrogen xanh). Hiện Nay, nhà đầu tư đang tiến hành các bước nghiên cứu và khảo sát để triển khai dự án. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
18 |
Huế (Văn bản số 679/BC-UBND ngày 19/12/2025) |
|
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Huế đã và đang có các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực: Công nghệ điện phân nước quy mô nhỏ; Trạm nạp hydrogen di động phục vụ giao thông; Ứng dụng hydrogen trong mô hình đô thị xanh và vận hành đô thị thông minh. UBND thành phố Huế sẽ tiếp tục hỗ trợ các nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, đầu tư dự án. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
19 |
Đà Nẵng (Văn bản số 3591/SCT-QLNL ngày 25/12/2024) |
|
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chưa có quy hoạch về phát triển năng lượng hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
20 |
Quảng Ngãi (Văn bản số 3174/SCT-QLNL ngày 10/12/2025) |
|
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi chưa có Nhà đầu tư nghiên cứu, đề xuất dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
21 |
Gia Lai (Văn bản số 2901/SCT-QLNL ngày 15/12/2025) |
|
- Hiện nay, có một số nhà đầu tư đang tìm hiểu để triển khai dự án sản xuất hydrogen xanh trên địa bàn tỉnh như: (i) Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Gia Lai tại Khu công nghiệp Phù Mỹ thuộc xã Phù Mỹ Đông: giai đoạn 2026-2030: 2.000 tấn hydrogen/năm; giai đoạn 2030-2035: 6.000 tấn hydrogen/năm; giai đoạn sau 2035: 20.000 tấn hydrogen/năm. (ii) Tổ hợp sản xuất Amoniac xanh và hydrogen lỏng tại Khu công nghiệp Phù Mỹ thuộc xã Phù Mỹ Đông: giai đoạn 2030-2035: 15.000 tấn hydrogen/năm; giai đoạn sau 2035: 30.000 tấn hydrogen/năm. (iii) Nhà máy sản xuất nhiên liệu xanh từ hydrogen tại Khu công nghiệp Phù Mỹ thuộc xã Phù Mỹ Đông: giai đoạn 2030-2035: 12.000 tấn hydrogen/năm; giai đoạn sau 2035: 55.000 - 110.000 tấn hydrogen/năm. Trong thời gian tới, UBND tỉnh Gia Lai sẽ phối hợp tổ chức lựa chọn nhà đầu tư dự án liên quan đến sản xuất năng lượng hydrogen theo quy định và hỗ trợ nhà đầu tư trong việc thực hiện các thủ tục để triển khai đầu tư dự án. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
22 |
Đắk Lắk (Văn bản số 289/BC-UBND ngày 10/12/2025) |
|
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chưa có dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen triển khai thực hiện cũng như không có dự án điện lực gắn với năng lượng hydrogen trong quy hoạch điện lực của tỉnh Đắk Lắk. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
23 |
Khánh Hoà (Văn bản số 260/SCT-QLCNMT ngày 05/02/2025, số 2986/SCT- NL&KTAT ngày 25/12/2024) |
|
Trong thời gian qua, UBND tỉnh Khánh Hoà đã tiếp nhận văn bản quan tâm đăng ký khảo sát, lập hồ sơ dự án sản xuất hydrogen xanh sử dụng nguồn năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) tự sản tự tiêu của 04 nhà đầu tư gồm: Tập đoàn T&T; Tập đoàn Trung Nam; Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển Trường Thành, Công ty cổ phần Thành Phúc Ấn. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chỉ có Tập đoàn T&T có văn bản đề xuất đầu tự dự án. UBND tỉnh Khánh Hoà sẽ tiếp tục hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, đầu tư dự án. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
24 |
Lâm Đồng (Văn bản số 9062/UBND- XDCT ngày 12/12/2025) |
|
UBND tỉnh Lâm Đồng đang nhận được sự quan tâm đầu tư đối với 02 dự án: (i) Dự án sản xuất hydrogen xanh/amoniac Lâm Đồng 1 tại khu vực Đông Bắc tỉnh Lâm Đồng (công suất 15.000-30.000 tấn/năm, giai đoạn 2026-2030). (ii) Dự án sản xuất hydrogen xanh/amoniac Lâm Đồng 2 tại khu vực Đông Nam tỉnh Lâm Đồng (công suất 20.000-40.000 tấn/năm, giai đoạn 2031-2035). UBND tỉnh Lâm Đồng sẽ tiếp tục hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, đầu tư dự án. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
25 |
Đồng Nai (Văn bản số 12376/UBND-KTN ngày 19/12/2025) |
|
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chưa có dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
26 |
TP. Hồ Chí Minh (Văn bản số 8932/SCT-QLNL ngày 30/12/2024) |
|
Hiện nay, tại vùng biển ngoài khơi huyện Cần Giờ đã có nhà đầu tư quan tâm để triển khai dự án điện gió ngoài khơi kết hợp nhà máy sản xuất hydrogen xanh. Tuy nhiên, qua rà soát Quy hoạch điện VIII điều chỉnh không phân bổ công suất phát triển điện gió và năng lượng hydrogen cho thành phố Hồ Chí Minh nên chưa có cơ sở pháp lý để kêu gọi đầu tư và tổ chức lựa chọn chủ đầu tư cho các dự án điện gió ngoài khơi kết hợp sản xuất năng lượng hydrogen xanh. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
27 |
Tây Ninh (Văn bản số 3813/SCT-QLNL ngày 16/12/2025) |
|
- Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hiện chưa có dự án sản xuất hydrogen đi vào vận hành. - Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 02 đơn vị đề xuất thực hiện dự án sử dụng nguồn năng lượng tái tạo (điện mặt trời) để sản xuất hydrogen: (i) Dự án mô hình sản xuất năng lượng hydrogen từ năng lượng điện mặt trời mái nhà dư thừa của Công ty cổ phần KIZUNA (gồm 8 hệ thống ĐMT mái nhà với công suất khoảng 7,6 MWp, đang bán điện cho ngành điện theo Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg) tại KCN Tân Kim, xã Tân Kim huyện Cần Giuộc tỉnh Long An (trước sáp nhập). (ii) Dự án “Nuôi trồng khai thác thủy sản lồng bè kết hợp sản xuất Green Hydrogen xanh tại xã Lương Hòa tỉnh Tây Ninh” sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu được lắp trên các mái che của lồng bè nuôi trồng thủy sản (không đấu nối vào hệ thống điện quốc gia) tại các hầm đất đã khai thác để sản xuất hydrogen xanh (công suất khoảng 1.900 tấn/năm trong giai đoạn 2026-2030). UBND tỉnh Tây Ninh sẽ tiếp tục hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, đầu tư dự án. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
38 |
Đồng Tháp (Văn bản số 3576/SCT-QLNL ngày 10/12/2025) |
|
Ngày 20/10/2023 , UBND tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp) đã chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Tiền Giang (công suất 5.294 tấn hydrogen/năm), dự kiến hoạt động vào tháng 9/2028. UBND tỉnh Đồng Tháp sẽ tiếp tục hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, đầu tư dự án. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
29 |
Vĩnh Long (Văn bản số 798/BC-UBND ngày 25/12/2024, số 783/BC-SCT ngày 24/12/2024) |
|
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đang triển khai đầu tư xây dựng một số dự án sản xuất năng lượng hydrogen như: (i) Dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bến Tre (công suất sản xuất hydrogen là 24.000 tấn/năm, amoniac là 182.500 tấn/năm và oxy là 195.000 tấn/năm) và các nguồn điện tự sản tự tiêu (nhà máy điện gió Ba Tri 500 MW, nhà máy điện gió An Thủy 49,5 MW) phục vụ nhà máy sản xuất hydrogen. Hiện nay, dự án Nhà máy hydrogen xanh Bến Tre đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. (ii) Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Trà Vinh (công suất hydrogen 24.000 tấn/năm, amoniac 182.500 tấn/năm, oxy 195.000 tấn/năm) đã được UBND tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long) cấp chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư. Công trình Nhà máy điện phân hydrogen xanh thuộc Dự án đã được Cục Hóa chất - Bộ Công Thương thẩm định Báo cáo NCKT theo quy định của Luật Xây dựng; Dự án đã được cấp phép xây dựng 03 hạng mục (hàng rào, cổng và nhà bảo vệ, đường nội bộ và thoát nước mưa) và đang triển khai xin phép xây dựng 02 hạng mục (Nhà máy điện phân nước kiềm Tổ máy 1 và Nhà máy điện phân nước kiềm Tổ máy 2). |
X |
|
X |
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
30 |
Cần Thơ (Văn bản số 3137/BC-SCT ngày 16/12/2025) |
|
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn thành phố Cần Thơ chưa có dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
31 |
An Giang (Văn bản số 518/BC-UBND ngày 17/12/2025) |
|
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh An Giang chưa phát sinh dự án liên quan đến sản xuất năng lượng có nguồn gốc hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
32 |
Cà Mau (Văn bản số 2130/SCT-NL ngày 15/12/2025) |
|
- Trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện chưa có dự án sản xuất hydrogen đi vào vận hành. - Thời gian qua, đã có 03 đơn vị đề xuất thực hiện dự án sử dụng nguồn năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) để sản xuất hydrogen. Tiềm năng do các nhà đầu tư đề xuất công suất khoảng 110.248 tấn/năm: (i) Công ty Cổ phần đầu tư năng lượng tái tạo Cà Mau đề xuất phát triển dự án Dự án điện gió, điện mặt trời để sản xuất hydrogen xanh Cà Mau tại xã Tân Thuận, tỉnh Cà Mau. (ii) Công ty Cổ phần Điện Gia Lai đề xuất phương án đầu tư điện gió ngoài khơi tự cung cấp để sản xuất hydrogen tại địa bàn xã Tân Ân, Phan Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau (công suất 26.247 tấn/năm và khí oxy thương phẩm bình quân 209.980 tấn/năm). (iii) Công ty Cổ phần Tập đoàn The Green Solutions đề xuất dự án Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bạc Liêu và Nhà máy Điện gió TGS Đông Hải tại xã Gành Hào, tỉnh Cà Mau (công suất 24.000 tấn hydro/năm, 182.500 tấn amoniac/năm; 195.000 tấn oxy/năm. UBND tỉnh Cà Mau sẽ tiếp tục hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, đầu tư dự án. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
|
|
|
|
|
||||
|
1 |
Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Văn bản số 11393/CNNL-CNK&LHD ngày 15/12/2025) |
Xây dựng kế hoạch chuyển đổi, phối trộn nhiên liệu của các nhà máy nhiệt điện than, khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. |
PVN đã và đang phối hợp với các đơn vị tư vấn thực hiện hai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học: (i) Nghiên cứu giải pháp đốt kèm hydrogen trong các nhà máy nhiệt điện khí của PVN; (ii) Nghiên cứu giải pháp đốt kèm nhiên liệu sinh khối hoặc ammonia trong các nhà máy nhiệt điện than của PVN và đánh giá giải pháp kéo dài đời sống kinh tế của các nhà máy nhiệt điện than của PVN. Theo tiến độ dự kiến, Báo cáo tổng kết nhiệm vụ sẽ được hoàn thành trong đầu năm 2026. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, PVN sẽ xây dựng kế hoạch chuyển đổi, phối trộn nhiên liệu của các nhà máy nhiệt điện than, khí. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
Phát huy lợi thế về kinh nghiệm, nguồn nhân lực sẵn có trong thiết kế, chế tạo, vận hành công trình chế biến dầu khí, công trình biển cũng như tận dụng các cơ sở hạ tầng sẵn có triển khai các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu áp dụng các công nghệ lĩnh vực thu giữ/sử dụng các-bon (CCS/CCUS) gắn với quá trình sản xuất hydrogen sạch. - Nghiên cứu tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có (kho chứa, hệ thống đường ống khí tự nhiên,...) có thể được chuyển đổi để ứng dụng cho lĩnh vực năng lượng hydrogen. |
- Trong thời gian qua, PVN đã và đang chủ động phối hợp cùng các đối tác nước ngoài trong việc triển khai các nghiên cứu về CCS/CGUS, cụ thể: (i) Dự án thử nghiệm CCS tại Lô PM3 CAA (Vùng chồng lấn Việt Nam - Malaysia): PVEP và các đối tác đang tích cực chuẩn bị cho dự án thử nghiệm thu hồi và chôn lấp CO2 (CCS) tại Lô PM3 CAA với mục tiêu thực hiện bơm ép dòng khí đầu tiên vào cuối năm 2028. Theo kết quả các hội thảo kỹ thuật gần đây, các bên đã thống nhất lựa chọn vỉa Bunga Seroja H-4 làm khu vực lưu trữ đầu tiên do tính khả thi cao về kỹ thuật và chi phí tối ưu (ước tính khoảng 116,6 triệu USD). Dự án dự kiến đạt công suất xử lý khoảng 30 triệu bộ khối khí/ngày (tương đương 500.000 tấn CO2/năm), sử dụng nguồn CO2 tách trực tiếp từ dòng khí khai thác để bơm ép ngược lại các vỉa khí đã cạn kiệt. Để thực hiện điều này, nhà điều hành sẽ đầu tư lắp đặt máy nén CO2 công suất lớn tại giàn BRE và hệ thống đường ống kết nối sang các giàn vệ tinh lân cận. Hiện tại, dự án đang trong giai đoạn nghiên cứu chi tiết về bể chứa và tính toán vẹn giêng (Giai đoạn 2A), với lộ trình trình Kế hoạch phát triển lưu trữ (SDP) vào quý 3/2026. Đây là dự án CCS then chốt nhằm đảm bảo cam kết giảm phát thải cho giai đoạn gia hạn hợp đồng PSC đến năm 2047 của Lô này. (ii) Hợp tác nghiên cứu chung giữa PVN và JOGMEC (Nhật Bản) Trong khuôn khổ hợp tác quốc tế, PVN đang đẩy mạnh triển khai Thỏa thuận nghiên cứu chung (JSA) Giai đoạn 2 (2024-2025) với JOGMEC nhằm đánh giá chi tiết đặc tính các điểm lưu trữ CO2 tiềm năng. Trọng tâm của giai đoạn này là sàng lọc, lựa chọn các cấu tạo địa chất ngoài khơi tại bể Sông Hồng và Cửu Long, đồng thời hoàn thiện nghiên cứu khả thi cho dự án thử nghiệm trên bờ tại khu vực Tiền Hải - Đông Quan. Đáng chú ý, các nghiên cứu đã xác định khu vực ngoài khơi tỉnh Thanh Hóa là địa điểm lý tưởng để phát triển trung tâm CCS quy mô lớn (Hub), phục vụ cho cụm công nghiệp phát thải lớn tại Nghi Sơn. Hiện các bên đang khẩn trương thực hiện các hạng mục đánh giá địa chất, mô phỏng động thái dòng chảy và thiết kế giếng khoan để sẵn sàng cho các dự án thương mại sau năm 2030. Bên cạnh các hoạt động nghiên cứu về kỹ thuật, PVN và JOGMEC cũng đang phối hợp nghiên cứu đề xuất khung pháp lý và cơ chế tín chỉ carbon, hướng tới việc hoàn thành báo cáo tổng thể vào cuối năm 2025. Hợp tác này không chỉ dừng lại ở nghiên cứu mà còn mở ra cơ hội thu hút đầu tư từ Nhật Bản thông qua mô hình CCS xuyên biên giới trong tương lai. - Tổng Công ty Khí Việt Nam (PVGas) - đơn vị thành viên của PVN đã triển khai nghiên cứu, đánh giá khả năng phối trộn hydrogen với khí tự nhiên và vận chuyển, phân phối bằng đường ống, công trình khí hiện hữu của PVGas. Kết quả mô phỏng công nghệ sơ bộ (giai đoạn 1, đã hoàn thành vào tháng 3/2025) cho thấy hệ thống đường ống/công trình khí của PVGas cơ bản có thể sử dụng cho việc vận chuyển phân phối hydrogen với hàm lượng phối trộn trong khí tự nhiên đến khoảng 5% hoặc cao hơn, tùy thuộc vị trí cụ thể, yêu cầu công nghệ và điều kiện vận hành của hệ thống. Trên cơ sở đó, PVGas đang tiếp tục triển khai thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng quy trình phối trộn hydrogen vào đường ống vận chuyển khí tự nhiên” theo kế hoạch của Bộ Công Thương trong năm 2025 2026, cũng như xây dựng kế hoạch đánh giá chi tiết tiếp theo (giai đoạn 2). Kết quả của các nghiên cứu này sẽ là một trong những cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các tiêu chuẩn/quy chuẩn trong việc tận dụng hạ tầng khí tự nhiên trong việc vận chuyển/phân phối hydrogen. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
Chủ động tìm kiếm, xây dựng quan hệ hợp tác với các đối tác quốc tế có thể mạnh về công nghệ sản xuất hydrogen để hợp tác và nhận chuyển giao công nghệ nhằm triển khai các dự án ở Việt Nam. |
PVN và các đơn vị thành viên đã chủ động tìm kiếm, nghiên cứu cơ hội hợp tác với các tổ chức quốc tế, các nhà cung cấp bản quyền của các nhà máy sản xuất của PVN để xem xét, tích hợp các công nghệ sản xuất hydrogen xanh vào quá trình sản xuất của các nhà máy thuộc PVN. Các dự án hợp tác mới ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm; kết quả của các thử nghiệm này sẽ là cơ sở quan trọng để PVN và các đơn vị thành viên xem xét, quyết định mức độ đầu tư, tích hợp trong dây chuyền sản xuất của các nhà máy Song song, PVN cũng tích cực tham gia các tiểu nhóm thuộc Nhóm Công nghệ và Năng lượng hỗ trợ triển khai thực hiện Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), trong đó có tiểu nhóm Hydrogen để trao đổi, đề xuất các dự án với các đối tác quốc tế trong khuôn khổ JETP theo chỉ đạo của Bộ Công Thương. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
2 |
Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Văn bản số 2217/HCVN-KT ngày 19/12/2024) |
Nghiên cứu áp dụng công nghệ sản xuất hydrogen xanh phục vụ nhu cầu năng lượng và các ngành, lĩnh vực khác. |
Các đơn vị thành viên của Tập đoàn đã tích cực tuyên truyền, phổ biến sự cần thiết và lợi ích của việc phát triển năng lượng sạch nói chung, Chiến lược năng lượng hydrogen nói riêng cùng các chủ trương, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng sạch đến toàn thể cán bộ công nhân viên, người lao động. Bên cạnh đó, Tập đoàn và các đơn vị thành viên tích cực tham gia các hội thảo, hội nghị về tham vấn kỹ thuật, đề tài nghiên cứu và lộ trình phát triển nền kinh tế hydrogen tại Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, tích lũy kinh nghiệm, kiến thức, nhằm tiếp cận với xu hướng phát triển ngành công nghiệp hydrogen xanh khi có điều kiện. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
Đẩy mạnh nghiên cứu chuyển đổi sử dụng các nguồn hydrogen sạch, amoniac sạch,... trong ngành công nghiệp hoá chất. |
Trong năm 2024, Tập đoàn và các đơn vị thành viên đã có các chương trình làm việc với các tổ chức trong nước và quốc tế về hợp tác, nghiên cứu chuyển đổi năng lượng hydrogen xanh. Điển hình, vào tháng 9/2024, Tập đoàn và Công ty TNHH MTV Đạm Ninh Bình đã làm việc với Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) về chương trình Phát triển Dự án - Hydrogen xanh để hỗ trợ tư vấn kỹ thuật cho Công ty TNHH MTV Đạm Ninh Bình hướng đến việc thay thế hydrogen xám (hydrogen xám đang được phục vụ sản xuất) bang hydrogen xanh. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
3 |
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Văn bản số 7237/TKV-KCL ngày 15/122025) |
Xây dựng kế hoạch chuyển đổi, phối trộn nhiên liệu hydrogen với nhiên liệu của các nhà máy nhiệt điện than của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. |
- Ban chấp hành Đảng bộ TKV đã ban hành Nghị quyết số 161-NQ/ĐU ngày 10/4/2024 về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của TKV trong các Quy hoạch quốc gia về năng lượng và khoáng sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. - TKV đã ban hành Kế hoạch số 151/KH-TKV ngày 15/7/2024 trong đó có định hướng, nhiệm vụ và giải pháp về nghiên cứu thực hiện chuyển đổi nhiên liệu theo lộ trình phù hợp đối với các nhà máy điện than đã vận hành sau 20 năm khi giá thành phù hợp và có hành lang pháp lý đầy đủ (chuyển đổi, phối trộn nhiên liệu than với các nguồn năng lượng mới ít phát thải hơn (hydrogen). |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
|
Nghiên cứu áp dụng công nghệ khí hoá than tại các khu vực chứa than phù hợp trong đó sử dụng các công nghệ lĩnh vực thu giữ/sử dụng các-bon (CCS/ CCUS) gắn với quá trình sản xuất hydrogen. |
- TKV đã chủ động triển khai, giao cơ quan tư vấn thực hiện Nhiệm vụ: “Nghiên cứu, xây dựng Chiến lược phát triển hydrogen và amoniac xanh của TKV đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" (thời gian thực hiện từ tháng 5/2025 đến tháng 4/2026) với mục tiêu: (i) Phục vụ việc chuyển đổi, phối trộn nhiên liệu hydrogen, amoniac và các dạng năng lượng mới, năng lượng sạch với nhiên liệu than đầu vào các nhà máy nhiệt điện than/của TKV; nghiên cứu áp dụng công nghệ khí hoá than tại các khu vực chứa than phù hợp trong đó sử dụng các công nghệ lĩnh vực thu giữ/sử dụng các-bon (CCS/CCUS) gắn với quá trình sản xuất hydrogen, đáp ứng mục tiêu chuyển dịch năng lượng công bằng và trung hoà các-bon vào năm 2050, phù hợp với cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP 26 và các kế hoạch hành động tại các Hội nghị COP 27, 28, 29; quy hoạch điện VIII, điện VIII điều chỉnh được Thủ tướng Chính phủ ban hành. (ii) Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; gia tăng chuỗi giá trị sản phẩm để xây dựng và phát triển TKV trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh, kinh doanh bền vững, hiệu quả đáp ứng mục tiêu Chiến lược phát triển TKV đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. (iii) TKV trở thành nhà cung cấp năng lượng hydrogen, amoniac cũng như các dẫn xuất khác từ hydrogen cho thị trường trong và ngoài nước; thực hiện định hướng phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng xanh, sạch phù hợp với xu hướng chung của Việt Nam và thế giới. |
X |
|
|
|
Nhiệm vụ thường xuyên |
||
|
4 |
Tổng công ty Đông Bắc (Văn bản số 10364/ĐB-KTCN ngày 12/12/2025) |
|
Hiện nay, Tổng công ty Đông Bắc chưa có kế hoạch thực hiện sản xuất, sử dụng, tồn trữ, vận chuyển và phân phối, xuất khẩu năng lượng hydrogen. |
|
|
|
|
|
[1] Các Văn bản số 1447/BCT-DKT ngày 07/3/2024, số 4082/BCT-DKT ngày 13/6/2024 và số 10152/BCT-DKT ngày 11/12/2024, số 9109/BCT-DKT ngày 18/11/2025.
[2] Văn bản số 9948/BCT-DKT ngày 06/12/2024.
[3] Một số dự án hydrogen trong danh mục dự án nhận hỗ trợ tài chính từ JETP: Dự án thử nghiệm sản xuất, vận chuyển, phân phối Green Hydrogen (10 triệu USD); Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Trà Vinh (460 triệu USD); Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bạc Liêu (460 triệu USD); Nhà máy sản xuất hydrogen xanh Bến Tre (460 triệu USD); Dự án nâng cấp nhà máy sản xuất thiết bị tồn chứa, vận chuyển, lưu trữ, phân phối hydrogen và các thiết bị phụ trợ (2,8 triệu USD); Dự án đầu tư thí điểm trạm tiếp nhiên liệu hydrogen (6,15 triệu USD); Nghiên cứu triển khai thí điểm Dự án sản xuất hydrogen blue/green từ các cơ sở sản xuất hóa chất của TKV (14 triệu USD).
[4] Theo nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 07/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh