Công văn 133/BHXH-TTKT năm 2022 thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành
| Số hiệu | 133/BHXH-TTKT |
| Ngày ban hành | 14/01/2022 |
| Ngày có hiệu lực | 14/01/2022 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Bảo hiểm xã hội Việt Nam |
| Người ký | Lê Hùng Sơn |
| Lĩnh vực | Bảo hiểm |
|
BẢO HIỂM XÃ HỘI
VIỆT NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 133/BHXH-TTKT |
Hà Nội, ngày 14 tháng 01 năm 2022 |
Kính gửi: Giám đốc Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Thời gian vừa qua, tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên diện rộng tại nhiều tỉnh, thành phố đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình thực hiện nhiệm vụ của Ngành Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra (TTKT) nói riêng; với sự nỗ lực của Giám đốc BHXH các tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là BHXH tỉnh) và công chức, người lao động làm công tác TTKT đã khắc phục khó khăn, xử lý linh hoạt các giải pháp thực hiện, do đó công tác TTKT đã đạt được những kết quả nhất định; công tác tiếp công dân (TCD), giải quyết khiếu nại, tố cáo (KNTC), kiến nghị, phản ánh (KNPA) đã có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả thực hiện của toàn Ngành BHXH Việt Nam cho thấy công tác TTKT, TCD và giải quyết KNTC, KNPA còn một số tồn tại, hạn chế như sau:
- Giám đốc BHXH một số tỉnh chưa thực sự quan tâm đến công tác TTKT; Phòng TTKT còn thiếu về số lượng, nhất là người có nghiệp vụ về công nghệ thông tin, y, dược... làm công tác TTKT đã ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ. Việc chỉ đạo phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ của BHXH tỉnh trong thực hiện công tác TTKT còn hạn chế.
- Việc tổ chức các đoàn TTKT chủ yếu tập trung thực hiện thanh tra chuyên ngành (TTCN) về phương thức đóng nhằm đôn đốc thu hồi nợ, chưa thực hiện các nội dung về đối tượng đóng, mức đóng và chưa chú trọng kiểm tra cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, giải quyết thanh toán, chi trả các chế độ BHXH, BHTN, BHYT dẫn đến hiệu quả công tác TTKT chưa cao.
- BHXH một số tỉnh còn lúng túng trong việc đổi mới phương pháp TTKT để thích ứng linh hoạt theo chỉ đạo của Chính phủ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác TTKT hiệu quả chưa cao; một số tỉnh chưa chỉ đạo phân quyền truy cập, khai thác cơ sở dữ liệu từ các phần mềm nghiệp vụ hoặc có phân quyền nhưng chưa ứng dụng phát huy được hiệu quả.
- Việc theo dõi, đôn đốc thực hiện Kết luận TTKT còn thiếu kiên quyết, tỷ lệ số tiền đã nộp so với số phải truy thu, thu hồi còn thấp. Việc cập nhật số liệu kết quả của Đoàn TTKT vào Phần mềm Quản lý hoạt động TTKT chưa kịp thời.
- BHXH một số tỉnh chưa chú trọng gắn công tác TCD với công tác giải quyết KNTC, KNPA, đặc biệt đối với một số vụ việc có liên quan đến nhiều cấp, ngành, địa phương, chưa chủ động báo cáo, đề xuất hoặc chưa quyết liệt phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để giải quyết dứt điểm, dẫn đến phát sinh KNTC kéo dài, vượt cấp.
Để kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác TTKT, TCD, giải quyết KNTC, KNPA trong thời gian tới, phù hợp với tình hình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 và Thông báo số 4300/TB-BHXH ngày 24/12/2021 của BHXH Việt Nam về phân công triển khai thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 339/TB-VPCP ngày 16/12/2021 của Văn phòng Chính phủ, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam yêu cầu Giám đốc BHXH tỉnh tập trung chỉ đạo, thực hiện một số nội dung như sau:
1.1. Kế hoạch TTKT năm 2022 của toàn Ngành cụ thể như sau: TTCN phải đạt bình quân trên 4,5% tổng số đơn vị sử dụng lao động; kiểm tra các cơ sở KCB phải đạt bình quân trên 15% tổng số cơ sở KCB ký Hợp đồng KCB BHYT.
1.2. Chủ động, linh hoạt các giải pháp để thực hiện kế hoạch kiểm tra, TTCN và TTKT liên ngành năm 2022 đã được Tổng Giám đốc giao, phân bổ kế hoạch chi tiết theo từng quý, không để tình trạng thực hiện kế hoạch TTKT dồn vào các tháng cuối năm. Đồng thời, đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt trong tình hình mới. Cử người tham gia đoàn TTKT của BHXH Việt Nam khi có yêu cầu để nâng cao kỹ năng tiến hành TTKT.
1.3. Giám đốc BHXH tỉnh trực tiếp chỉ đạo công tác TTKT; kiện toàn đủ, kịp thời lãnh đạo phòng TTKT, tổ chức rà soát và bố trí đủ người có năng lực chuyên môn nghiệp vụ nhất là chuyên môn nghiệp vụ về công nghệ thông tin, y, dược làm việc tại Phòng TTKT. Người được bố trí làm công tác TTCN tại các đơn vị thuộc Ngành BHXH Việt Nam thực hiện chế độ công chức theo Công văn số 5339/BNV-CCVC ngày 25/10/2021 của Bộ Nội vụ về việc thực hiện chế độ công chức đối với người làm việc tại BHXH Việt Nam; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ trong thực hiện hoạt động TTKT.
1.4. Thực hiện TTCN đóng kết hợp với công tác kiểm tra cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, giải quyết thanh toán và hưởng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT. Thực hiện kiểm tra chuyên đề, đột xuất đối với các cơ sở KCB BHYT có tỷ lệ chi KCB BHYT cao so với dự toán được giao, gia tăng chi phí KCB BHYT bất hợp lý; Tăng cường kiểm tra thanh toán chi phí KCB BHYT tại các cơ sở KCB mới thành lập, các đơn vị mới đi vào hoạt động (Khu điều trị, Trung tâm...) của các cơ sở y tế công lập, các cơ sở KCB có bổ sung chức năng điều trị Covid-19. Kiểm tra, đối soát thông tin người được cấp Giấy nghỉ việc hưởng BHXH với dữ liệu KCB.
Kiểm tra nội bộ cơ quan BHXH, đại lý thu, đại diện chi trả; kiểm tra thực thi công vụ, nhiệm vụ gắn với hướng dẫn nghiệp vụ, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các tồn tại, hạn chế tại các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.
1.5. Tăng cường thực hiện TTCN đối với các đơn vị có dấu hiệu vi phạm pháp luật, các đơn vị nợ đóng BHXH, BHTN, BHYT, trong đó chú trọng TTCN về mức đóng đối với các đơn vị sử dụng lao động là cơ sở KCB tư nhân, đơn vị có số lao động lớn hoặc quỹ lương tham gia BHXH, BHTN, BHYT thấp...
1.6. Kiên quyết lập biên bản và xử phạt VPHC khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, BHTN, BHYT, nhất là hành vi trốn đóng, bảo đảm theo đúng quy định hiện hành và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý VPHC. Trường hợp đã xử phạt vi phạm hành chính mà sau đó vẫn tiếp tục trốn đóng, có dấu hiệu vi phạm theo Điều 216 Bộ luật Hình sự thì lập hồ sơ kiến nghị khởi tố theo quy định.
1.7. Tăng cường theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Kết luận TTKT; tổ chức kiểm tra việc thực hiện kết luận TTKT theo quy định và kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đối với các đơn vị cố tình chây ỳ, không thực hiện kết luận TTKT.
1.8. Cấp tài khoản và phân quyền khai thác dữ liệu, xuất dữ liệu các phần mềm TST, TCS, tiếp nhận hồ sơ, hệ thống giám sát chi phí KCB BHYT... cho người làm công tác TTKT để phục vụ hoạt động TTKT. Chủ động rà soát, phân tích dữ liệu nghiệp vụ, dữ liệu cơ quan Thuế cung cấp trước khi tiến hành TTKT trực tiếp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TTKT. Khẩn trương cập nhật đầy đủ, đúng tiến độ, đảm bảo chính xác về số liệu vào Phần mềm Quản lý hoạt động TTKT.
1.9. Tiếp tục thực hiện chỉ đạo tại Công văn số 1844/BHXH-TTKT ngày 29/6/2021 của BHXH Việt Nam về tăng cường kiểm tra thanh toán chi phí KCB BHYT và tuân thủ đúng quy trình trong hoạt động kiểm tra KCB BHYT; có các giải pháp chống lạm dụng trục lợi quỹ KCB BHYT khi người tham gia BHYT sử dụng thẻ BHYT trên ứng dụng VssID đi KCB theo hướng dẫn tại Công văn số 1493/BHXH-CSYT ngày 31/5/2021 của BHXH Việt Nam về việc sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID để KCB BHYT.
1.10. Thực hiện việc trao đổi thông tin qua TTKT với cơ quan Thuế theo Quy chế phối hợp số 1999/QCPH-BHXH-TCT ngày 09/7/2021 giữa BHXH Việt Nam và Tổng cục Thuế về chia sẻ dữ liệu và phối hợp công tác. Trong quá trình tiến hành TTKT thực hiện thiết lập đầy đủ các nội dung tại Phụ lục số 06/BHXH-TCT ban hành kèm theo Quy chế phối hợp số 1999/QCPH-BHXH- TCT để có cơ sở tổng hợp, cung cấp số liệu.
2. Về giải quyết TCD, giải quyết KNTC, KNPA:
2.1. Tuân thủ nghiêm túc quy định của Luật TCD, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn bản pháp luật khác có liên quan; tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung chỉ đạo của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về tăng cường công tác TCD, giải quyết KNTC, KNPA tại các Công văn số: 3000/BHXH-TTKT ngày 16/8/2019, 469/BHXH-TTKT ngày 18/02/2020, 3924/BHXH-TTKT ngày 10/12/2020, 3615/BHXH-TTKT ngày 10/11/2021.
2.2. Nghiêm túc thực hiện kiến nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác TCD, giải quyết KNTC năm 2021 theo chỉ đạo của Văn phòng Chính phủ tại Công văn số 8105/VP-VI ngày 05/11/2021; thường xuyên kiểm tra, rà soát các vụ việc KNTC phức tạp, kéo dài, đông người mà chưa được giải quyết do có vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hoặc đã giải quyết nhưng công dân chưa nhất trí thì chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan tại địa phương để báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo, thống nhất phương án giải quyết dứt điểm đối với những vụ việc KNTC phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, ngành, không để phát sinh KNTC kéo dài, vượt cấp.
2.3. Thường xuyên rà soát, chấn chỉnh việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ về công tác quản lý thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, xem xét việc tính thời gian công tác đối với người lao động không còn hồ sơ gốc thể hiện thời gian làm việc trước ngày 01/01/1995, giải quyết chế độ chính sách BHXH, BHYT đảm bảo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của BHXH Việt Nam, tránh làm phát sinh KNTC, KNPA, kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quy trình, trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết KNTC, KNPA. Trường hợp công dân KNTC đúng hoặc đúng một phần, Giám đốc BHXH tỉnh cần xem xét làm rõ nguyên nhân, xác định rõ trách nhiệm của công chức, viên chức để xảy ra sai sót hoặc có sai phạm, nghiêm khắc kiểm điểm, xử lý theo quy định; có tinh thần cầu thị, xin lỗi công dân, không để ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan BHXH.
2.4. Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương để thống nhất quan điểm, phương án giải quyết KNTC, KNPA đảm bảo kịp thời theo quy định; gắn công tác TCD với giải quyết KNTC, KNPA; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, cơ quan, ban, ngành có liên quan trong việc tổ chức đối thoại với người KNTC, KNPA; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của công dân để tìm hiểu nguyên nhân phát sinh KNTC, KNPA và có biện pháp giải quyết phù hợp đối với từng vụ việc; tăng cường kết hợp công tác dân vận với giải thích, tuyên truyền, vận động, thuyết phục để người KNTC, KNPA, người bị KNTC hiểu, thực hiện các quy định, chế độ, chính sách về BHXH, BHTN, BHYT và pháp luật có liên quan.
Yêu cầu Giám đốc BHXH các tỉnh thực hiện nghiêm túc những nội dung trên. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, phản ánh kịp thời về BHXH Việt Nam (qua Vụ TTKT) để hướng dẫn xử lý./.
|
|
KT. TỔNG GIÁM ĐỐC |
|
BẢO HIỂM XÃ HỘI
VIỆT NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 133/BHXH-TTKT |
Hà Nội, ngày 14 tháng 01 năm 2022 |
Kính gửi: Giám đốc Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Thời gian vừa qua, tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên diện rộng tại nhiều tỉnh, thành phố đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình thực hiện nhiệm vụ của Ngành Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra (TTKT) nói riêng; với sự nỗ lực của Giám đốc BHXH các tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là BHXH tỉnh) và công chức, người lao động làm công tác TTKT đã khắc phục khó khăn, xử lý linh hoạt các giải pháp thực hiện, do đó công tác TTKT đã đạt được những kết quả nhất định; công tác tiếp công dân (TCD), giải quyết khiếu nại, tố cáo (KNTC), kiến nghị, phản ánh (KNPA) đã có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả thực hiện của toàn Ngành BHXH Việt Nam cho thấy công tác TTKT, TCD và giải quyết KNTC, KNPA còn một số tồn tại, hạn chế như sau:
- Giám đốc BHXH một số tỉnh chưa thực sự quan tâm đến công tác TTKT; Phòng TTKT còn thiếu về số lượng, nhất là người có nghiệp vụ về công nghệ thông tin, y, dược... làm công tác TTKT đã ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ. Việc chỉ đạo phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ của BHXH tỉnh trong thực hiện công tác TTKT còn hạn chế.
- Việc tổ chức các đoàn TTKT chủ yếu tập trung thực hiện thanh tra chuyên ngành (TTCN) về phương thức đóng nhằm đôn đốc thu hồi nợ, chưa thực hiện các nội dung về đối tượng đóng, mức đóng và chưa chú trọng kiểm tra cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, giải quyết thanh toán, chi trả các chế độ BHXH, BHTN, BHYT dẫn đến hiệu quả công tác TTKT chưa cao.
- BHXH một số tỉnh còn lúng túng trong việc đổi mới phương pháp TTKT để thích ứng linh hoạt theo chỉ đạo của Chính phủ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác TTKT hiệu quả chưa cao; một số tỉnh chưa chỉ đạo phân quyền truy cập, khai thác cơ sở dữ liệu từ các phần mềm nghiệp vụ hoặc có phân quyền nhưng chưa ứng dụng phát huy được hiệu quả.
- Việc theo dõi, đôn đốc thực hiện Kết luận TTKT còn thiếu kiên quyết, tỷ lệ số tiền đã nộp so với số phải truy thu, thu hồi còn thấp. Việc cập nhật số liệu kết quả của Đoàn TTKT vào Phần mềm Quản lý hoạt động TTKT chưa kịp thời.
- BHXH một số tỉnh chưa chú trọng gắn công tác TCD với công tác giải quyết KNTC, KNPA, đặc biệt đối với một số vụ việc có liên quan đến nhiều cấp, ngành, địa phương, chưa chủ động báo cáo, đề xuất hoặc chưa quyết liệt phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để giải quyết dứt điểm, dẫn đến phát sinh KNTC kéo dài, vượt cấp.
Để kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác TTKT, TCD, giải quyết KNTC, KNPA trong thời gian tới, phù hợp với tình hình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 và Thông báo số 4300/TB-BHXH ngày 24/12/2021 của BHXH Việt Nam về phân công triển khai thực hiện Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 339/TB-VPCP ngày 16/12/2021 của Văn phòng Chính phủ, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam yêu cầu Giám đốc BHXH tỉnh tập trung chỉ đạo, thực hiện một số nội dung như sau:
1.1. Kế hoạch TTKT năm 2022 của toàn Ngành cụ thể như sau: TTCN phải đạt bình quân trên 4,5% tổng số đơn vị sử dụng lao động; kiểm tra các cơ sở KCB phải đạt bình quân trên 15% tổng số cơ sở KCB ký Hợp đồng KCB BHYT.
1.2. Chủ động, linh hoạt các giải pháp để thực hiện kế hoạch kiểm tra, TTCN và TTKT liên ngành năm 2022 đã được Tổng Giám đốc giao, phân bổ kế hoạch chi tiết theo từng quý, không để tình trạng thực hiện kế hoạch TTKT dồn vào các tháng cuối năm. Đồng thời, đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt trong tình hình mới. Cử người tham gia đoàn TTKT của BHXH Việt Nam khi có yêu cầu để nâng cao kỹ năng tiến hành TTKT.
1.3. Giám đốc BHXH tỉnh trực tiếp chỉ đạo công tác TTKT; kiện toàn đủ, kịp thời lãnh đạo phòng TTKT, tổ chức rà soát và bố trí đủ người có năng lực chuyên môn nghiệp vụ nhất là chuyên môn nghiệp vụ về công nghệ thông tin, y, dược làm việc tại Phòng TTKT. Người được bố trí làm công tác TTCN tại các đơn vị thuộc Ngành BHXH Việt Nam thực hiện chế độ công chức theo Công văn số 5339/BNV-CCVC ngày 25/10/2021 của Bộ Nội vụ về việc thực hiện chế độ công chức đối với người làm việc tại BHXH Việt Nam; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ trong thực hiện hoạt động TTKT.
1.4. Thực hiện TTCN đóng kết hợp với công tác kiểm tra cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, giải quyết thanh toán và hưởng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT. Thực hiện kiểm tra chuyên đề, đột xuất đối với các cơ sở KCB BHYT có tỷ lệ chi KCB BHYT cao so với dự toán được giao, gia tăng chi phí KCB BHYT bất hợp lý; Tăng cường kiểm tra thanh toán chi phí KCB BHYT tại các cơ sở KCB mới thành lập, các đơn vị mới đi vào hoạt động (Khu điều trị, Trung tâm...) của các cơ sở y tế công lập, các cơ sở KCB có bổ sung chức năng điều trị Covid-19. Kiểm tra, đối soát thông tin người được cấp Giấy nghỉ việc hưởng BHXH với dữ liệu KCB.
Kiểm tra nội bộ cơ quan BHXH, đại lý thu, đại diện chi trả; kiểm tra thực thi công vụ, nhiệm vụ gắn với hướng dẫn nghiệp vụ, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các tồn tại, hạn chế tại các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.
1.5. Tăng cường thực hiện TTCN đối với các đơn vị có dấu hiệu vi phạm pháp luật, các đơn vị nợ đóng BHXH, BHTN, BHYT, trong đó chú trọng TTCN về mức đóng đối với các đơn vị sử dụng lao động là cơ sở KCB tư nhân, đơn vị có số lao động lớn hoặc quỹ lương tham gia BHXH, BHTN, BHYT thấp...
1.6. Kiên quyết lập biên bản và xử phạt VPHC khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, BHTN, BHYT, nhất là hành vi trốn đóng, bảo đảm theo đúng quy định hiện hành và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý VPHC. Trường hợp đã xử phạt vi phạm hành chính mà sau đó vẫn tiếp tục trốn đóng, có dấu hiệu vi phạm theo Điều 216 Bộ luật Hình sự thì lập hồ sơ kiến nghị khởi tố theo quy định.
1.7. Tăng cường theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Kết luận TTKT; tổ chức kiểm tra việc thực hiện kết luận TTKT theo quy định và kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đối với các đơn vị cố tình chây ỳ, không thực hiện kết luận TTKT.
1.8. Cấp tài khoản và phân quyền khai thác dữ liệu, xuất dữ liệu các phần mềm TST, TCS, tiếp nhận hồ sơ, hệ thống giám sát chi phí KCB BHYT... cho người làm công tác TTKT để phục vụ hoạt động TTKT. Chủ động rà soát, phân tích dữ liệu nghiệp vụ, dữ liệu cơ quan Thuế cung cấp trước khi tiến hành TTKT trực tiếp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TTKT. Khẩn trương cập nhật đầy đủ, đúng tiến độ, đảm bảo chính xác về số liệu vào Phần mềm Quản lý hoạt động TTKT.
1.9. Tiếp tục thực hiện chỉ đạo tại Công văn số 1844/BHXH-TTKT ngày 29/6/2021 của BHXH Việt Nam về tăng cường kiểm tra thanh toán chi phí KCB BHYT và tuân thủ đúng quy trình trong hoạt động kiểm tra KCB BHYT; có các giải pháp chống lạm dụng trục lợi quỹ KCB BHYT khi người tham gia BHYT sử dụng thẻ BHYT trên ứng dụng VssID đi KCB theo hướng dẫn tại Công văn số 1493/BHXH-CSYT ngày 31/5/2021 của BHXH Việt Nam về việc sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID để KCB BHYT.
1.10. Thực hiện việc trao đổi thông tin qua TTKT với cơ quan Thuế theo Quy chế phối hợp số 1999/QCPH-BHXH-TCT ngày 09/7/2021 giữa BHXH Việt Nam và Tổng cục Thuế về chia sẻ dữ liệu và phối hợp công tác. Trong quá trình tiến hành TTKT thực hiện thiết lập đầy đủ các nội dung tại Phụ lục số 06/BHXH-TCT ban hành kèm theo Quy chế phối hợp số 1999/QCPH-BHXH- TCT để có cơ sở tổng hợp, cung cấp số liệu.
2. Về giải quyết TCD, giải quyết KNTC, KNPA:
2.1. Tuân thủ nghiêm túc quy định của Luật TCD, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn bản pháp luật khác có liên quan; tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung chỉ đạo của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về tăng cường công tác TCD, giải quyết KNTC, KNPA tại các Công văn số: 3000/BHXH-TTKT ngày 16/8/2019, 469/BHXH-TTKT ngày 18/02/2020, 3924/BHXH-TTKT ngày 10/12/2020, 3615/BHXH-TTKT ngày 10/11/2021.
2.2. Nghiêm túc thực hiện kiến nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác TCD, giải quyết KNTC năm 2021 theo chỉ đạo của Văn phòng Chính phủ tại Công văn số 8105/VP-VI ngày 05/11/2021; thường xuyên kiểm tra, rà soát các vụ việc KNTC phức tạp, kéo dài, đông người mà chưa được giải quyết do có vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hoặc đã giải quyết nhưng công dân chưa nhất trí thì chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan tại địa phương để báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo, thống nhất phương án giải quyết dứt điểm đối với những vụ việc KNTC phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, ngành, không để phát sinh KNTC kéo dài, vượt cấp.
2.3. Thường xuyên rà soát, chấn chỉnh việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ về công tác quản lý thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, xem xét việc tính thời gian công tác đối với người lao động không còn hồ sơ gốc thể hiện thời gian làm việc trước ngày 01/01/1995, giải quyết chế độ chính sách BHXH, BHYT đảm bảo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của BHXH Việt Nam, tránh làm phát sinh KNTC, KNPA, kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quy trình, trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết KNTC, KNPA. Trường hợp công dân KNTC đúng hoặc đúng một phần, Giám đốc BHXH tỉnh cần xem xét làm rõ nguyên nhân, xác định rõ trách nhiệm của công chức, viên chức để xảy ra sai sót hoặc có sai phạm, nghiêm khắc kiểm điểm, xử lý theo quy định; có tinh thần cầu thị, xin lỗi công dân, không để ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan BHXH.
2.4. Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương để thống nhất quan điểm, phương án giải quyết KNTC, KNPA đảm bảo kịp thời theo quy định; gắn công tác TCD với giải quyết KNTC, KNPA; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, cơ quan, ban, ngành có liên quan trong việc tổ chức đối thoại với người KNTC, KNPA; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của công dân để tìm hiểu nguyên nhân phát sinh KNTC, KNPA và có biện pháp giải quyết phù hợp đối với từng vụ việc; tăng cường kết hợp công tác dân vận với giải thích, tuyên truyền, vận động, thuyết phục để người KNTC, KNPA, người bị KNTC hiểu, thực hiện các quy định, chế độ, chính sách về BHXH, BHTN, BHYT và pháp luật có liên quan.
Yêu cầu Giám đốc BHXH các tỉnh thực hiện nghiêm túc những nội dung trên. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, phản ánh kịp thời về BHXH Việt Nam (qua Vụ TTKT) để hướng dẫn xử lý./.
|
|
KT. TỔNG GIÁM ĐỐC |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh