Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Chỉ thị 14/CT-UBND năm 2026 về tăng cường trách nhiệm trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; chủ động nhận diện, phòng ngừa nguy cơ thất thoát, lãng phí trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Số hiệu 14/CT-UBND
Ngày ban hành 29/05/2026
Ngày có hiệu lực 29/05/2026
Loại văn bản Chỉ thị
Cơ quan ban hành Tỉnh Cao Bằng
Người ký Lê Hải Hòa
Lĩnh vực Tài chính nhà nước

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 14/CT-UBND

Cao Bằng, ngày 29 tháng 5 năm 2026

 

CHỈ THỊ

VỀ TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI CHÍNH CÔNG, TÀI SẢN CÔNG; CHỦ ĐỘNG NHẬN DIỆN, PHÒNG NGỪA NGUY CƠ THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG

Trong thời gian qua, công tác thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí tiếp tục được Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan Trung ương đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý và sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực công, tạo dư địa phát triển kinh tế - xã hội, củng cố kỷ luật, kỷ cương hành chính và niềm tin của Nhân dân đối với cơ quan nhà nước.

Thực hiện các quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP- BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật Hình sự; Công văn số 549/UBND-TH ngày 05/3/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật Hình sự; yêu cầu tăng cường trách nhiệm quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực công trên địa bàn tỉnh đặt ra ngày càng cấp thiết. Thông tư liên tịch đã cụ thể hóa các dấu hiệu có khả năng gây lãng phí trong nhiều lĩnh vực, bao gồm lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý, khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên; quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các lĩnh vực khác có liên quan.

Việc quán triệt, triển khai các quy định nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi có nguy cơ gây thất thoát, lãng phí; bảo đảm việc quản lý, sử dụng nguồn lực công đúng mục đích, đúng quy định, tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời không nhằm hình sự hóa các quan hệ hành chính, kinh tế, dân sự hoặc tạo tâm lý e ngại, né tránh, đùn đẩy trong thực thi công vụ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nếu không chủ động nhận diện từ sớm, từ xa các nguy cơ phát sinh thất thoát, lãng phí; không kịp thời kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh và xử lý các tồn tại, bất cập thì các biểu hiện thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, kéo dài thời gian xử lý công việc, xử lý không đúng thẩm quyền hoặc không đúng tính chất, mức độ vụ việc có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước, ảnh hưởng môi trường đầu tư, cơ hội phát triển và niềm tin của Nhân dân.

Qua theo dõi, rà soát tình hình thực tiễn trên địa bàn tỉnh, bên cạnh những kết quả đạt được, một số lĩnh vực vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh thất thoát, lãng phí nếu không được tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát. Các nguy cơ này chưa mặc nhiên được xác định là hành vi vi phạm pháp luật và càng không phải là căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự; tuy nhiên, không thể loại trừ khả năng phát sinh trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan nếu có hành vi cố ý làm trái, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, không xử lý hoặc xử lý không đầy đủ các dấu hiệu sai phạm dẫn đến tài chính công, tài sản công, đất đai, tài nguyên, vốn nhà nước bị sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả, chậm đưa vào khai thác, sử dụng, bị xuống cấp, hao mòn hoặc làm mất cơ hội phát triển.

Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, cần đặc biệt lưu ý nguy cơ phát sinh thất thoát, lãng phí từ việc tham mưu, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương khi chưa bảo đảm đầy đủ căn cứ pháp lý, chưa đánh giá đầy đủ hiệu quả, tính cần thiết, tính khả thi; việc buông lỏng quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp có tài sản, vốn nhà nước thuộc phạm vi trực tiếp quản lý hoặc được phân công phụ trách; việc không xử lý, xử lý không kịp thời, bao che, dung túng cho tổ chức, cá nhân có hành vi gây lãng phí; hoặc xử lý không đúng tính chất, mức độ đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng. Việc người đứng đầu đã phân công nhiệm vụ cho cấp phó hoặc bộ phận chuyên môn không làm thay đổi trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát theo quy định.

Trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, các cơ quan, đơn vị cần chủ động nhận diện nguy cơ lãng phí từ việc lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, giao dự toán không đúng thẩm quyền, trình tự, thời gian, mục đích, đối tượng hoặc vượt tiêu chuẩn, định mức, sai chế độ; việc sử dụng ngân sách không đúng mục đích, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức, sai chế độ; việc trì hoãn hoặc từ chối thực hiện nhiệm vụ chi khi đã bảo đảm điều kiện chi theo quy định; việc quyết toán không đúng thời hạn, không đúng thủ tục, sai nội dung, mục đích, đối tượng; việc quản lý, sử dụng quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước không đúng tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động, cơ chế tài chính; việc vay, cho vay, tạm ứng, góp vốn trái quy định hoặc vượt khả năng cân đối của ngân sách. Các biểu hiện này nếu không được kiểm soát kịp thời có thể làm sai lệch mục tiêu phân bổ nguồn lực, kéo dài thời gian thực hiện nhiệm vụ công và phát sinh trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trong lĩnh vực đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản công, cần tăng cường kiểm soát ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, điều chỉnh dự án, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thi công, nghiệm thu, bàn giao, khai thác, sử dụng và quyết toán dự án. Đặc biệt cần lưu ý các nguy cơ như quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; chưa xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; quyết định đầu tư khi chưa đủ điều kiện hoặc không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; điều chỉnh mục tiêu, địa điểm, quy mô, tổng mức đầu tư thiếu căn cứ; thông đồng với tổ chức tư vấn, thẩm định, định giá, nhà thầu; đầu tư, mua sắm không đúng mục đích, đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức; giao tài sản công cho cơ quan, tổ chức, đơn vị không có nhu cầu sử dụng; xử lý, cho thuê, cho mượn, sử dụng hoặc không sử dụng tài sản công không đúng quy định; cố ý trì hoãn, chậm giải ngân, chậm quyết toán hoặc không quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công. Đây là nhóm nguy cơ có thể dẫn đến tình trạng vốn nhà nước bị “giam giữ”, công trình chậm phát huy hiệu quả, tài sản hình thành từ đầu tư bị xuống cấp, hao mòn hoặc phát sinh chi phí xã hội lớn.

Đối với công tác quy hoạch, cần đặc biệt lưu ý nguy cơ lãng phí từ việc lập, điều chỉnh quy hoạch thiếu tính khả thi, thiếu đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, quy hoạch đô thị và nông thôn; quy hoạch vượt quá nhu cầu thực tế hoặc không phù hợp khả năng huy động nguồn lực thực hiện; tình trạng quy hoạch treo kéo dài dẫn đến đất đai không được khai thác hiệu quả, dự án chậm triển khai, phát sinh khiếu nại, kiến nghị và làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực phát triển.

Trong quản lý đầu tư công cần nhận diện rõ nguy cơ “lãng phí do chậm trễ”. Thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp vốn đã được bố trí nhưng chậm hoàn thiện thủ tục đầu tư, chậm đấu thầu, chậm giải phóng mặt bằng, chậm thi công, chậm nghiệm thu, chậm quyết toán hoặc chậm đưa công trình vào sử dụng. Các biểu hiện này không chỉ ảnh hưởng tiến độ giải ngân mà còn làm tăng chi phí đầu tư, kéo dài thời gian phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, phát sinh hao mòn tài sản và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Đối với các công trình đã hoàn thành nhưng chưa thể vận hành hoặc vận hành cầm chừng do thiếu hạ tầng kết nối, thiếu thủ tục pháp lý, thiếu phương án quản lý khai thác hoặc thiếu phối hợp giữa các cơ quan liên quan thì phải xem xét đầy đủ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong từng khâu chuẩn bị và tổ chức thực hiện.

Trong công tác mua sắm công, mua sắm tập trung, chuyển đổi số, đầu tư trang thiết bị và hệ thống công nghệ thông tin, cần lưu ý nguy cơ đầu tư dàn trải, đầu tư theo phong trào, mua sắm vượt nhu cầu thực tế, thiếu khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu, thiếu phương án vận hành, khai thác hoặc không phù hợp điều kiện sử dụng thực tế. Phải tránh tình trạng đầu tư hệ thống nhưng không khai thác hiệu quả, đầu tư trùng lặp giữa các cơ quan, đầu tư phần mềm nhưng không sử dụng thường xuyên, không phát sinh dữ liệu thực chất hoặc không thể tích hợp, liên thông. Đây là nhóm nguy cơ đã được Trung ương nhiều lần cảnh báo trong quá trình triển khai chuyển đổi số và đầu tư hạ tầng số.

Trong quản lý tài sản công, cần nhận diện nguy cơ phát sinh lãng phí từ việc giao tài sản cho đơn vị không có nhu cầu thực tế; sử dụng tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức; để tài sản nhàn rỗi, xuống cấp nhưng chậm xử lý; chậm sắp xếp, xử lý nhà, đất dôi dư; chậm xác lập sở hữu toàn dân; chậm điều chuyển tài sản giữa các cơ quan, đơn vị; không cập nhật đầy đủ dữ liệu tài sản công hoặc để xảy ra tình trạng sử dụng tài sản công sai mục đích, cho mượn, cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng quy định.

Trong quản lý, khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, cần nhận diện đầy đủ các biểu hiện có thể gây thất thoát, lãng phí như quy hoạch đất đai, quy hoạch tài nguyên không đúng quy định; giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền, không phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp pháp luật quy định phải thực hiện; chậm xác định giá đất, chậm thực hiện thủ tục pháp lý dẫn đến chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; sử dụng đất không đúng mục đích, không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn theo quy định hoặc chậm tiến độ sử dụng đất; chậm giải phóng mặt bằng, chậm triển khai dự án; cấp phép, thăm dò, khai thác tài nguyên không đúng quy định hoặc khai thác, chế biến tài nguyên gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thất thoát tài nguyên. Đây là nhóm nguy cơ phải được nhận diện, kiểm soát chặt chẽ vì đất đai, tài nguyên là nguồn lực đặc biệt quan trọng, nếu bị quản lý lỏng lẻo hoặc chậm đưa vào sử dụng hiệu quả sẽ gây thiệt hại lớn và khó khắc phục.

Trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, vốn nhà nước trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và vốn nhà nước đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, cần nhận diện nguy cơ lãng phí từ việc quyết định chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án không phù hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, không xác định rõ phần vốn nhà nước tham gia hoặc không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; đầu tư vốn nhà nước không đúng phạm vi, không đúng mục đích, hiệu quả thấp; đầu tư dàn trải, đầu tư ngoài ngành; thiếu cơ chế giám sát phần vốn nhà nước; quản lý công nợ thiếu chặt chẽ; không kịp thời xử lý các khoản đầu tư thua lỗ, dự án kém hiệu quả hoặc tài sản không còn nhu cầu sử dụng. Người đại diện phần vốn nhà nước phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao; trường hợp thiếu kiểm tra, giám sát, không kịp thời báo cáo hoặc không xử lý các nguy cơ gây thất thoát, lãng phí thì phải xem xét trách nhiệm theo quy định.

Trong thực hiện nhiệm vụ công vụ, cần tiếp tục nhận diện và khắc phục tình trạng né tránh trách nhiệm, đùn đẩy công việc, sợ sai, sợ trách nhiệm dẫn đến trì hoãn xử lý hồ sơ, kéo dài thời gian giải quyết công việc, không dám tham mưu, không dám quyết định thuộc thẩm quyền hoặc đẩy toàn bộ trách nhiệm lên cấp trên. Trung ương đã nhiều lần nhấn mạnh đây không chỉ là vấn đề về kỷ luật, kỷ cương hành chính mà trong nhiều trường hợp còn có thể dẫn đến lãng phí thời gian, nguồn lực xã hội, cơ hội phát triển, ảnh hưởng môi trường đầu tư và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Để chủ động phòng ngừa các nguy cơ nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh yêu cầu:

1. Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các xã, phường và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị có liên quan

Tiếp tục quán triệt nghiêm các chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tổ chức rà soát toàn diện các nhiệm vụ, chương trình, dự án, công trình, tài sản, quỹ đất, nguồn vốn thuộc phạm vi quản lý; đánh giá đầy đủ nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nguy cơ phát sinh thất thoát, lãng phí và giải pháp xử lý phù hợp theo quy định.

Chịu trách nhiệm toàn diện trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh về việc lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý. Việc phân công cấp phó hoặc bộ phận chuyên môn thực hiện nhiệm vụ không làm thay đổi trách nhiệm của người đứng đầu trong việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các nguy cơ gây thất thoát, lãng phí. Trường hợp để xảy ra tồn tại kéo dài mà không kiểm tra, không chỉ đạo khắc phục, không báo cáo cấp có thẩm quyền hoặc xử lý không đúng tính chất, mức độ vụ việc thì phải xem xét trách nhiệm theo quy định.

2. Sở Tài chính

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, vốn đầu tư công, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các quỹ tài chính có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; kịp thời nhận diện, xử lý hoặc tham mưu xử lý các nguy cơ gây thất thoát, lãng phí, sử dụng nguồn lực công chưa đúng mục đích, chưa đúng đối tượng, chưa bảo đảm tiêu chuẩn, định mức, chế độ hoặc chưa phát huy hiệu quả.

Tập trung kiểm soát các nguy cơ trong lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, giao dự toán; sử dụng ngân sách không đúng mục đích, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức, sai chế độ; chậm quyết toán, quyết toán không đúng nội dung; vay, cho vay, tạm ứng, góp vốn không đúng quy định; quản lý, sử dụng quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước không đúng quy định.

Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn việc quản lý, sử dụng tài sản công; kịp thời nhận diện, xử lý hoặc tham mưu xử lý các trường hợp giao tài sản cho đơn vị không có nhu cầu thực tế, sử dụng tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức, để tài sản nhàn rỗi, xuống cấp nhưng chậm xử lý, chậm sắp xếp, xử lý nhà, đất dôi dư, chậm điều chuyển tài sản giữa các cơ quan, đơn vị, không cập nhật đầy đủ dữ liệu tài sản công hoặc sử dụng tài sản công sai mục đích, cho mượn, cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng quy định.

Tăng cường theo dõi, đôn đốc tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; kịp thời nhận diện các dự án, nhiệm vụ có nguy cơ chậm giải ngân, chậm quyết toán dự án hoàn thành, chậm đưa tài sản vào sử dụng, sử dụng vốn không đúng mục tiêu hoặc hiệu quả thấp.

Đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, vốn nhà nước trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và vốn nhà nước đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát việc quản lý, giám sát phần vốn nhà nước, hiệu quả đầu tư, quản lý công nợ, tình trạng đầu tư ngoài ngành, đầu tư dàn trải, dự án thua lỗ, kém hiệu quả hoặc tài sản không còn nhu cầu sử dụng.

Trên cơ sở kết quả rà soát, kiểm tra, kịp thời tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo chấn chỉnh, điều chuyển, thu hồi, xử lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định; không để kéo dài tình trạng nguồn lực công bị sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả, chậm đưa vào khai thác, sử dụng hoặc bị “giam giữ” không cần thiết.

3. Sở Nông nghiệp và Môi trường

Chủ trì, phối hợp với các địa phương, cơ quan liên quan rà soát, kiểm tra việc quản lý, khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, rừng và các nguồn lực tự nhiên khác; kịp thời nhận diện, xử lý hoặc tham mưu xử lý các nguy cơ gây thất thoát, lãng phí, sử dụng không hiệu quả, chậm đưa vào khai thác, sử dụng hoặc làm phát sinh điểm nghẽn trong phát triển kinh tế - xã hội.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...