Báo cáo 611/BC-BTC về tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 7 tháng năm 2026; các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 do Bộ Tài chính ban hành
| Số hiệu | 611/BC-BTC |
| Ngày ban hành | 02/08/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 02/08/2026 |
| Loại văn bản | Báo cáo |
| Cơ quan ban hành | Bộ Tài chính |
| Người ký | Tạ Anh Tuấn |
| Lĩnh vực | Đầu tư |
|
BỘ TÀI CHÍNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM |
|
Số: 611/BC-BTC |
Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2026 |
Kính gửi: Chính phủ
Thực hiện quy định về chế độ báo cáo tình hình giải ngân tại Luật Đầu tư công và Nghị định số 85/2025/NĐ-CP ngày 08/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công (sửa đổi tại Nghị định số 275/2025/NĐ-CP ngày 18/10/2025);
Căn cứ chương trình Phiên họp thường kỳ tháng 7 năm 2026 của Chính phủ, trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương, Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 7 tháng năm 2026; Các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; Giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 như sau:
I. TÌNH HÌNH PHÂN BỐ, GIẢI NGÂN VỐN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG 7 THÁNG NĂM 2026
1. Kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2026
a) Số vốn đã được Quốc hội phân bổ và Thủ tướng Chính phủ đã giao cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương là 1.014.234,2 tỷ đồng[1]; bao gồm: vốn ngân sách trung ương (NSTW) là 364.007,6 tỷ đồng[2] (vốn trong nước là 346.343,5 tỷ đồng và vốn nước ngoài là 17.664,1 tỷ đồng) và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 650.226,6 tỷ đồng[3].
Tổng số vốn còn lại chưa phân bổ (so với số vốn Quốc hội giao) thuộc thẩm quyền của Chính phủ là 83.216,4 tỷ đồng, bao gồm:
(1) 44.810,55 tỷ đồng sẽ bố trí cho các dự án khởi công mới sau khi đã đánh giá được hiệu quả đầu tư và được giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030.
(2) 9.900 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG)[4].
(3) 9.877,95 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo tổng hợp của Bộ Khoa học và Công nghệ.
(4) 18.627,9 tỷ đồng từ nguồn điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2026 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương để đưa về số vốn chưa phân bổ chi tiết thuộc thẩm quyền Chính phủ.
b) Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2026 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo) là 14.709,6 tỷ đồng.
c) Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến thời điểm báo cáo[5] là 137.661,1 tỷ đồng; trong đó: NSTW là 87.862,1 tỷ đồng, NSĐP là 49.799 tỷ đồng.
Tổng hợp chung, tổng kế hoạch giao năm 2026 đến thời điểm báo cáo (gồm: kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.166.604,9 tỷ đồng.
2. Tình hình phân bổ chi tiết kế hoạch vốn năm 2026 cho các nhiệm vụ, dự án
- Đến hết tháng 7, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm vụ, dự án là 1.006.583 tỷ đồng (bao gồm: vốn NSTW là 341.646,8 tỷ đồng, vốn NSĐP là 664.936,2 tỷ đồng). Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng (14.709,6 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 991.873,4 tỷ đồng, đạt 97,8% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao (bao gồm 5% tiết kiệm NSĐP cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng).
- Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 22.360,8 tỷ đồng vốn NSTW (chiếm 2,3% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao) của 08 bộ, cơ quan trung ương và 28 địa phương, chủ yếu mới được giao bổ sung kế hoạch vốn từ đầu tháng 6, tháng 7 năm 2026 cần thời gian hoàn thiện các thủ tục đầu tư (trong đó có: 13.883,7 tỷ đồng/15.100 tỷ đồng giao vốn thực hiện các CTMTQG[6]; 3.448,2 tỷ đồng bổ sung cho một số bộ, địa phương từ nguồn điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2026 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương[7]). Ngoài ra, một số đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn do không còn nhu cầu để điều chuyển cho bộ, cơ quan trung ương và địa phương có nhu cầu sử dụng.
(Nguyên nhân chi tiết chưa phân bổ của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tại Phụ lục II kèm theo)
3. Tình hình giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2026
a) Về giải ngân vốn kế hoạch năm trước kéo dài sang năm 2026
Giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 31/7/2026 là 41.011,9 tỷ đồng, đạt 29,8% kế hoạch kéo dài năm trước chuyển sang tính đến thời điểm báo cáo (137.661,1 tỷ đồng).
b) Về giải ngân vốn kế hoạch năm 2026
- - Giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 31/7/2026 là 425.312 tỷ đồng, đạt 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó: vốn NSTW là 117.554,1 tỷ đồng, đạt 32,3%, vốn NSĐP là 307.757,9 tỷ đồng, đạt 47,3%. So với cùng kỳ năm 2025[8], kết quả giải ngân cao hơn 3,6% về tỷ lệ và 86.813,2 tỷ đồng về số tuyệt đối. So với mức giải ngân đột biến trong tháng 6, tốc độ giải ngân trong tháng 7 chậm hơn do cần tiếp tục tích lũy khối lượng sau khi đã tập trung giải ngân cao trong cuối tháng 6. Ngoài ra, tiến độ thi công các dự án tại một số địa bàn tạm thời bị gián đoạn do diễn biến thời tiết không thuận lợi với các đợt mưa lớn kéo dài trên diện rộng, song cơ bản vẫn duy trì ở mức ổn định so với diễn biến giải ngân những tháng đầu năm[9].
Tỷ lệ giải ngân đến hết ngày 31/7/2026 của cả nước là 43,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (972.074,7 tỷ đồng) nếu không tính 5% kế hoạch vốn đầu tư công NSĐP (tương đương 32.5113 tỷ đồng) thực hiện tiết kiệm để dự kiến đầu tư cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và số kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ mới giao bổ sung trong tháng (9.6483 tỷ đồng).
- Kết quả tính đến hết ngày 31/7/2026[10], so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 09 bộ, cơ quan trung ương và 23 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên bình quân chung cả nước (bao gồm: Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam; Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Bộ Công Thương; Bộ Ngoại Giao; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Hà Tĩnh; Thành phố Hà Nội; Điện Biên; Thái Nguyên; Tây Ninh; Bắc Ninh; Thành phố Đồng Nai; Nghệ An; Lạng Sơn; Thành phố Đà Nẵng; Khánh Hòa; Quảng Ninh; Lào Cai; Thành phố Hải Phòng; Tuyên Quang; Cà Mau; Thanh Hóa; Quảng Trị; Sơn La; Đồng Tháp; Thành phố Hồ Chí Minh; Phú Thọ; Lai Châu).
Trong đó, một số bộ và địa phương đạt tỷ lệ giải ngân tốt với khối lượng vốn lớn (lũy kế giải ngân 7 tháng trên 15 nghìn tỷ đồng) như: Bộ Quốc phòng (26,5 nghìn tỷ đồng), Bộ Công an (22,7 nghìn tỷ đồng), Thành phố Hà Nội (76,2 nghìn tỷ đồng), Thành phố Hồ Chí Minh (63,7 nghìn tỷ đồng), Thành phố Hải Phòng (19 nghìn tỷ đồng), Tây Ninh (17 nghìn tỷ đồng), Hưng Yên (16 nghìn tỷ đồng).
|
BỘ TÀI CHÍNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM |
|
Số: 611/BC-BTC |
Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2026 |
Kính gửi: Chính phủ
Thực hiện quy định về chế độ báo cáo tình hình giải ngân tại Luật Đầu tư công và Nghị định số 85/2025/NĐ-CP ngày 08/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công (sửa đổi tại Nghị định số 275/2025/NĐ-CP ngày 18/10/2025);
Căn cứ chương trình Phiên họp thường kỳ tháng 7 năm 2026 của Chính phủ, trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương, Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 7 tháng năm 2026; Các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; Giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 như sau:
I. TÌNH HÌNH PHÂN BỐ, GIẢI NGÂN VỐN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG 7 THÁNG NĂM 2026
1. Kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2026
a) Số vốn đã được Quốc hội phân bổ và Thủ tướng Chính phủ đã giao cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương là 1.014.234,2 tỷ đồng[1]; bao gồm: vốn ngân sách trung ương (NSTW) là 364.007,6 tỷ đồng[2] (vốn trong nước là 346.343,5 tỷ đồng và vốn nước ngoài là 17.664,1 tỷ đồng) và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 650.226,6 tỷ đồng[3].
Tổng số vốn còn lại chưa phân bổ (so với số vốn Quốc hội giao) thuộc thẩm quyền của Chính phủ là 83.216,4 tỷ đồng, bao gồm:
(1) 44.810,55 tỷ đồng sẽ bố trí cho các dự án khởi công mới sau khi đã đánh giá được hiệu quả đầu tư và được giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030.
(2) 9.900 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG)[4].
(3) 9.877,95 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo tổng hợp của Bộ Khoa học và Công nghệ.
(4) 18.627,9 tỷ đồng từ nguồn điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2026 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương để đưa về số vốn chưa phân bổ chi tiết thuộc thẩm quyền Chính phủ.
b) Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2026 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo) là 14.709,6 tỷ đồng.
c) Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến thời điểm báo cáo[5] là 137.661,1 tỷ đồng; trong đó: NSTW là 87.862,1 tỷ đồng, NSĐP là 49.799 tỷ đồng.
Tổng hợp chung, tổng kế hoạch giao năm 2026 đến thời điểm báo cáo (gồm: kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.166.604,9 tỷ đồng.
2. Tình hình phân bổ chi tiết kế hoạch vốn năm 2026 cho các nhiệm vụ, dự án
- Đến hết tháng 7, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm vụ, dự án là 1.006.583 tỷ đồng (bao gồm: vốn NSTW là 341.646,8 tỷ đồng, vốn NSĐP là 664.936,2 tỷ đồng). Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng (14.709,6 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 991.873,4 tỷ đồng, đạt 97,8% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao (bao gồm 5% tiết kiệm NSĐP cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng).
- Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 22.360,8 tỷ đồng vốn NSTW (chiếm 2,3% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao) của 08 bộ, cơ quan trung ương và 28 địa phương, chủ yếu mới được giao bổ sung kế hoạch vốn từ đầu tháng 6, tháng 7 năm 2026 cần thời gian hoàn thiện các thủ tục đầu tư (trong đó có: 13.883,7 tỷ đồng/15.100 tỷ đồng giao vốn thực hiện các CTMTQG[6]; 3.448,2 tỷ đồng bổ sung cho một số bộ, địa phương từ nguồn điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2026 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương[7]). Ngoài ra, một số đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn do không còn nhu cầu để điều chuyển cho bộ, cơ quan trung ương và địa phương có nhu cầu sử dụng.
(Nguyên nhân chi tiết chưa phân bổ của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tại Phụ lục II kèm theo)
3. Tình hình giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2026
a) Về giải ngân vốn kế hoạch năm trước kéo dài sang năm 2026
Giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 31/7/2026 là 41.011,9 tỷ đồng, đạt 29,8% kế hoạch kéo dài năm trước chuyển sang tính đến thời điểm báo cáo (137.661,1 tỷ đồng).
b) Về giải ngân vốn kế hoạch năm 2026
- - Giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 31/7/2026 là 425.312 tỷ đồng, đạt 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó: vốn NSTW là 117.554,1 tỷ đồng, đạt 32,3%, vốn NSĐP là 307.757,9 tỷ đồng, đạt 47,3%. So với cùng kỳ năm 2025[8], kết quả giải ngân cao hơn 3,6% về tỷ lệ và 86.813,2 tỷ đồng về số tuyệt đối. So với mức giải ngân đột biến trong tháng 6, tốc độ giải ngân trong tháng 7 chậm hơn do cần tiếp tục tích lũy khối lượng sau khi đã tập trung giải ngân cao trong cuối tháng 6. Ngoài ra, tiến độ thi công các dự án tại một số địa bàn tạm thời bị gián đoạn do diễn biến thời tiết không thuận lợi với các đợt mưa lớn kéo dài trên diện rộng, song cơ bản vẫn duy trì ở mức ổn định so với diễn biến giải ngân những tháng đầu năm[9].
Tỷ lệ giải ngân đến hết ngày 31/7/2026 của cả nước là 43,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (972.074,7 tỷ đồng) nếu không tính 5% kế hoạch vốn đầu tư công NSĐP (tương đương 32.5113 tỷ đồng) thực hiện tiết kiệm để dự kiến đầu tư cho đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và số kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ mới giao bổ sung trong tháng (9.6483 tỷ đồng).
- Kết quả tính đến hết ngày 31/7/2026[10], so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 09 bộ, cơ quan trung ương và 23 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên bình quân chung cả nước (bao gồm: Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam; Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Bộ Công Thương; Bộ Ngoại Giao; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Hà Tĩnh; Thành phố Hà Nội; Điện Biên; Thái Nguyên; Tây Ninh; Bắc Ninh; Thành phố Đồng Nai; Nghệ An; Lạng Sơn; Thành phố Đà Nẵng; Khánh Hòa; Quảng Ninh; Lào Cai; Thành phố Hải Phòng; Tuyên Quang; Cà Mau; Thanh Hóa; Quảng Trị; Sơn La; Đồng Tháp; Thành phố Hồ Chí Minh; Phú Thọ; Lai Châu).
Trong đó, một số bộ và địa phương đạt tỷ lệ giải ngân tốt với khối lượng vốn lớn (lũy kế giải ngân 7 tháng trên 15 nghìn tỷ đồng) như: Bộ Quốc phòng (26,5 nghìn tỷ đồng), Bộ Công an (22,7 nghìn tỷ đồng), Thành phố Hà Nội (76,2 nghìn tỷ đồng), Thành phố Hồ Chí Minh (63,7 nghìn tỷ đồng), Thành phố Hải Phòng (19 nghìn tỷ đồng), Tây Ninh (17 nghìn tỷ đồng), Hưng Yên (16 nghìn tỷ đồng).
Còn 24 bộ, cơ quan trung ương và 11 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình quân chung cả nước (trong đó, 10 bộ, cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới 10% và chưa giải ngân (gồm: Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Kiểm toán Nhà nước; Bộ Khoa học và Công nghệ; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Tòa án nhân dân tối cao; Đài Truyền hình Việt Nam)).
(Chi tiết tình hình phân bổ và giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn NSNN 7 tháng năm 2026 tại các Phụ lục kèm theo)
II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG VIỆC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ CÔNG 7 THÁNG NĂM 2026
- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các nhiệm vụ, giải pháp điều hành về công tác giải ngân quyết liệt, đồng bộ thông qua: (1) Các Phiên họp Chính phủ thường kỳ; Hội nghị toàn quốc đẩy mạnh phân bổ và giải ngân; Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia (tổ chức ngày 9/7/2026); (2) Ban hành các Nghị quyết, Công điện, Chỉ thị[11] và nhiều văn bản chỉ đạo liên quan khác về đôn đốc, đẩy mạnh tiến độ các dự án và giải ngân vốn đầu tư công. Bám sát chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, tại Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 6/7/2026 Chính phủ đã chỉ đạo các nhiệm vụ cụ thể giao các bộ, ngành, địa phương để cụ thể hóa phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm theo tiến độ từng tháng, quý, xác định rõ cơ quan chủ trì, người chịu trách nhiệm và công khai kết quả thực hiện.
- Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt phương án chấm điểm các bộ, cơ quan trung ương và địa phương về thực hiện giải ngân kế hoạch đầu tư công; nhằm lượng hóa, so sánh những nỗ lực trong công tác chỉ đạo, điều hành của từng bộ, địa phương đối với công tác giải ngân vốn đầu tư công. Kết quả chấm điểm là một trong các tiêu chí để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, nhận diện, cảnh báo công tác giải ngân hằng tháng, quý; biểu dương các bộ, cơ quan trung ương và địa phương giải ngân tốt và đôn đốc, nhắc nhở các bộ, cơ quan trung ương và địa phương giải ngân chưa tốt; thông qua đó để thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công.
- Chính phủ tiếp tục hoàn thiện thể chế về đầu tư công và đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đã ban hành Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026), trong đó đã bổ sung nhiêu cơ chế mới góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuẩn bị đầu tư, triển khai các dự án chuyển đổi số, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án.
- Bên cạnh những tác động của tình hình xung đột kéo dài tại Trung Đông đến giá năng lượng, nguyên vật liệu và chuỗi cung ứng toàn cầu, trong tháng 7/2026, nhiều địa phương tiếp tục chịu ảnh hưởng của mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, gây khó khăn cho công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức thi công và tiến độ thực hiện một số dự án đầu tư công. Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ, các Phó thủ tướng Chính phủ đã tổ chức nhiều đoàn công tác để kịp thời chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương và địa phương chủ động theo dõi sát diễn biến tình hình, triển khai các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm nguồn cung nguyên, nhiên, vật liệu, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026.
Cơ bản thực hiện nghiêm các chế độ báo cáo hiện hành về giải ngân đầu tư công định kỳ hằng tuần, tháng, thường xuyên cập nhật tình hình thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, kịp thời tổng hợp các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để có giải pháp tháo gỡ, đẩy nhanh tiến độ giải ngân; thành lập các Tổ công tác của đơn vị ngay từ đầu năm để tháo gỡ khó khăn vướng mắc, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; đôn đốc, yêu cầu chủ đầu tư triển khai quyết liệt các nhiệm vụ đảm bảo thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 ngay sau khi bố trí vốn cho các nhiệm vụ, dự án; đề cao trách nhiệm người đứng đầu, phân công lãnh đạo đơn vị chỉ đạo xây dựng Kế hoạch giải ngân chi tiết, tổ chức theo dõi tiến độ thực hiện dự án ngay từ đầu năm. Duy trì kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công, hằng tuần, hằng tháng tổ chức đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan, trách nhiệm của các cá nhân có liên quan và người đứng đầu, rút ra bài học kinh nghiệm để triển khai kế hoạch được tốt hơn.
- Chủ động thực hiện các biện pháp điều hành để đáp ứng nhu cầu vốn theo kế hoạch năm 2026 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương; đảm bảo ưu tiên nguồn vốn cho các dự án hạ tầng chiến lược, liên vùng, có khả năng giải ngân lớn và tác động lan tỏa mạnh. Tổng hợp nhu cầu điều chỉnh kế hoạch vốn của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương để báo cáo cấp có thẩm quyền phương án xử lý đối với kế hoạch vốn chưa phân bổ chi tiết, điều chuyển cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương có nhu cầu sử dụng.
- Ban hành văn Bản đôn đốc các cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương nhập, phân bổ và giải ngân kế hoạch vốn[12]; kiểm tra ngay phương án phân bổ chi tiết, điều chỉnh kế hoạch vốn năm 2026 của các cơ quan trung ương và địa phương để kịp thời phê duyệt dự toán cho các dự án đủ điều kiện; chủ động có ý kiến, đề nghị điều chỉnh lại phương án phân bổ cho phù hợp đối với các dự án chưa đủ điều kiện thực hiện hoặc có vướng mắc.
- Về triển khai phương án chấm điểm giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công:
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026, Bộ Tài chính đã tích cực nghiên cứu và hoàn thành xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công; đồng thời có văn bản số 10950/BTC-PTHT ngày 24/7/2026 hướng dẫn cách thức chấm điểm để các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai thực hiện.
Căn cứ kết quả giải ngân tháng 7/2026, Bộ Tài chính sẽ chạy thử phương án chấm điểm của kỳ tháng 7, gửi các bộ, cơ quan trung ương và địa phương kết quả chấm điểm để phối hợp rà soát và tiếp tục hoàn thiện hệ thống, kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc trong quá trình sử dụng hệ thống hoặc báo cáo cấp thẩm quyền trong trường hợp vượt thẩm quyền. Kết quả chấm điểm thử của kỳ báo cáo tháng 7 và tháng 8 sẽ được Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong kỳ họp Chính phủ tháng 8.
- Thực hiện việc công khai tình hình giải ngân vốn đầu tư công của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương hằng tuần, hằng tháng trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và một số các phương tiện thông tin đại chúng (như Thời báo Tài chính, Báo điện tử Chính phủ). Việc công khai kết quả giải ngân là cơ sở để các cơ quan trung ương và địa phương thường xuyên nắm bắt được tiến độ giải ngân chung của cả nước, các đơn vị giải ngân tốt, các đơn vị giải ngân chưa tốt, từ đó để triển khai các giải pháp đôn đốc, chỉ đạo, điều hành.
- Chỉ đạo Kho bạc Nhà nước thực hiện giải ngân ngay sau khi có đủ điều kiện để bảo đảm tiến độ thực hiện dự án; đảm bảo phân cấp, phân quyền triệt để đến chủ đầu tư trong đề xuất giải ngân vốn theo đúng quy định tại Nghị định số 254/2025/NĐ-CP ngày 26/9/2025 của Chính phủ về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công.
III. CÁC KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾN ĐỘ GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG TRONG NĂM 2026
Trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, Bộ Tài chính tổng hợp các khó khăn, vướng mắc chính còn tồn tại ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong 7 tháng đầu năm 2026, cụ thể như sau:
1. Về tình hình nguồn cung và biến động giá nguyên vật liệu[13]
- Đối với các vật liệu xây dựng chủ yếu (như xi măng, gạch ốp lát, vật liệu xây,...) năng lực sản xuất trong nước cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường; một số lĩnh vực còn dư địa công suất khá lớn.
Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng khan hiếm một số loại vật liệu xây dựng chủ yếu như đất đắp, cát, đá..., trong khi nhu cầu thi công tăng cao do đồng loạt triển khai nhiều dự án nên ảnh hưởng lớn đến tính chủ động trong tổ chức thực hiện và đẩy nhanh tiến độ thi công của các nhà thầu xây lắp.
- Giá cả nhiều loại nguyên vật liệu xây dựng, giá xăng dầu trong nước tăng mạnh, trong nhiều trường hợp chủ đầu tư phải thực hiện điều chỉnh, đàm phán lại hợp đồng, làm phát sinh thêm thủ tục, kéo dài thời gian và ảnh hưởng đến tiến độ chung. Bên cạnh đó, còn ảnh hưởng đến tâm lý và năng lực tài chính của nhà thầu khi chi phí đầu vào tăng cao nhưng giá trị hợp đồng không được điều chỉnh kịp thời, một số thi công cầm chừng do càng làm càng lỗ, kéo dài tiến độ để chờ giá vật liệu giảm.
2. Về công tác giải phóng mặt bằng (GPMB)[14]
Khó khăn trong công tác GPMB vẫn nút thắt trong việc triển khai các dự án tại một số địa phương, chủ yếu liên quan đến:
(i) Một số dự án gặp khó khăn do điều chỉnh quy hoạch, phát sinh bổ sung diện tích giải phóng mặt bằng, phải di dời đường dây điện trung thế 35kV; vướng mắc về quy hoạch cục bộ tỷ lệ 1/2000 (bản đồ quy hoạch chung, quy hoạch phân khu chưa được phê duyệt), dẫn đến chưa đủ cơ sở pháp lý để triển khai các bước chuẩn bị đầu tư; vướng mắc do một số hộ dân chưa đồng thuận bàn giao mặt bằng; công tác bố trí tái định cư còn chậm, một số khu tái định cư chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cần thiết nên các hộ dân chưa đồng ý di dời, ảnh hưởng đến tiến độ bàn giao mặt bằng sạch cho dự án; dự án chưa được địa phương giao đất để đầu tư;
(ii) Một số địa phương chưa hoàn thiện việc xác định giá đất cụ thể tính tiền bồi thường nên chưa thể hoàn tất thủ tục bồi thường giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện công trình.
3. Về điều kiện thời tiết[15]: Trong tháng 7/2026, điều kiện thời tiết tại nhiều địa phương không thuận lợi đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai một số dự án đầu tư công. Tại một số địa phương thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, các đợt mưa lớn kéo dài làm gián đoạn thi công, nước lũ dâng cao gây ngập và sạt lở khiến giao thông bị chia cắt, hạn chế khả năng huy động nhân lực, máy móc, vận chuyển vật liệu, đồng thời làm chậm công tác nghiệm thu khối lượng hoàn thành và thanh toán vốn.
4. Về công tác cán bộ, nguồn nhân lực[16]
- Nhu cầu nhân công tăng lên theo số lượng và quy mô công trình dự án đầu tư công hiện nay, dẫn tới tình trạng thiếu hụt cục bộ và cạnh tranh lao động tại một số ngành lĩnh vực, địa bàn, nhất là nhân công xây dựng trực tiếp thi công hiện trường; chi phí thuê nhân công tăng; mất cân bằng giữa nhân công khu vực công với khu vực tư nhân do mức lương chi trả tại khu vực tư thường cao hơn.
- Một số xã, phường, nhất là địa bàn miền núi, biên giới vẫn còn tình trạng thiếu cán bộ phụ trách đầu tư công do đã chuyển công tác hoặc nghỉ theo chủ trương tinh giản biên chế, cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ.
- Một số ban quản lý dự án, chủ đầu tư và nhà thầu chưa chủ động, thiếu quyết liệt trong tổ chức thi công, năng lực hạn chế.
5. Về công tác xây dựng, phân bổ kế hoạch và triển khai các thủ tục đầu tư dự án (bao gồm cả các dự án ODA)[17]
- Việc lập kế hoạch của một số bộ ngành, địa phương chưa sát với nhu cầu và khả năng thực hiện, cùng với chất lượng chuẩn bị đầu tư các dự án chưa tốt, dẫn tới phải điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các dự án nhiều lần hoặc đề xuất hoàn trả kế hoạch vốn, làm chậm tiến độ triển khai và giải ngân vốn.
- Đối với các dự án khởi công mới, những tháng đầu năm tập trung lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ, tổ chức lựa chọn nhà thầu nên nguồn vốn này giải ngân chậm; đồng thời, một số địa phương chậm hoàn thiện các thủ tục đầu tư liên quan, còn lúng túng trong việc phân bổ vốn, hoàn thiện thủ tục đầu tư trong năm đầu của kỳ trung hạn 2026-2030. Một số dự án lớn, có kế hoạch vốn 2026 nhiều, lại gặp khó khăn trong quá trình thực hiện vì dự án có nhiều vướng mắc, phức tạp, khó, cần phải có sự tham vấn từ trung ương, các cấp, các ngành của tỉnh nên mất nhiều thời gian, vốn chưa thể giải ngân ngay.
- Đối với dự án ODA: (i) Thời gian giải ngân từ khi Nhà tài trợ nhận được hồ sơ kéo dài ảnh hưởng đến dòng tiền về nhà thầu; (ii) Dự án sử dụng vốn World Bank quy trình giải ngân, hạch toán, quyết toán phức tạp, phải làm việc đồng thời với Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (IDA); công tác lựa chọn nhà thầu phải tuân thủ Quy chế đấu thầu của WB và xin cấp thư không phản đối nên kéo dài thời gian thực hiện; (iii) Quy định hiện hành yêu cầu dự án sử dụng vốn vay ODA phải có tài sản đảm bảo, đơn vị sự nghiệp công lập gặp khó khăn trong việc bố trí tài sản đảm bảo cho khoản vay, ảnh hưởng đến tiến độ đàm phán, ký kết Hiệp định vay; (iv) Biến động tỷ giá USD/VND ảnh hưởng gián tiếp đến tiến độ giải ngân do phát sinh chi phí điều chỉnh hợp đồng.
6. Về các dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi số[18]
Dự án ngành khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số có tính chất đặc thù, sử dụng công nghệ tiên tiến mà trong nước chưa làm chủ được công nghệ (ví dụ như dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Công nghệ hạt nhân) nên chưa chủ động được về tiến độ, dẫn đến việc triển khai một số nội dung còn chậm. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, lựa chọn giải pháp công nghệ, đồng bộ các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của Việt Nam và hoàn thiện báo báo nghiên cứu khả thi của dự án cần nhiều thời gian để đề xuất giải pháp công nghệ phù hợp nhất, đảm bảo dự án đầu tư có hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực NSNN.
1. Tình hình phân bổ và giải ngân
- Tổng kế hoạch vốn NSNN năm 2026 được Bộ Xây dựng và các địa phương phân bổ chi tiết cho các dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông Vận tải; các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt (gọi tắt là các dự án giao thông trọng điểm) là 244.9573 tỷ đồng, trong đó vốn NSTW là 195.356,7 tỷ đồng và vốn NSĐP là 49.665,8 tỷ đồng, số vốn NSTW còn lại chưa phân bổ chi tiết là 913,375 tỷ đồng do chưa hoàn thiện thủ tục đầu tư theo quy định (dự án Cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng).
- Giải ngân các dự án giao thông trọng điểm đến hết ngày 31/7/2026 là 77.069,1 tỷ đồng, đạt 31,5% kế hoạch đã phân bổ, trong đó NSTW là 52.685,5 tỷ đồng, đạt 27,0% kế hoạch đã phân bổ và NSĐP là 24.631,3 tỷ đồng, đạt 49,6% kế hoạch đã phân bổ.
Riêng đối với 02 dự án quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực đường sắt được giao kế hoạch vốn lớn (khoảng 92 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,3% kế hoạch vốn năm 2026 của Bộ Xây dựng), việc giải ngân 02 dự án này tác động quan trọng đến tỷ lệ giải ngân của Bộ Xây dựng và giải ngân các dự án trọng điểm quốc gia song tiến độ giải ngân chậm. Cụ thể: Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam (gọi tắt là dự án đường sắt tốc độ cao) giải ngân khoảng 1.068,8 tỷ đồng, đạt 2,3% kế hoạch của dự án (56.846,1 tỷ đồng); Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (gọi tắt là dự án Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng) đã giải ngân 1.353,4 tỷ đồng, đạt 3,8% kế hoạch của dự án (35.825,4 tỷ đồng).
Nếu không tính kế hoạch vốn và giải ngân của 02 dự án đường sắt thì kết quả ước giải ngân của các dự án giao thông trọng điểm đạt khoảng 48,9% kế hoạch, cao hơn bình quân chung của cả nước (41,9%). Tuy nhiên, vẫn còn nhiều dự án giải ngân rất thấp (22 dự án, dự án thành phần có tỷ lệ giải ngân dưới 5% kế hoạch (trong đó, có 13 dự án/dự án thành phần chưa giải ngân kế hoạch vốn)).
2. Khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng tiến độ giải ngân
- Dự án cao tốc Cao Bằng - Bắc Kạn chưa hoàn thành phê duyệt đầu tư dự án nên chưa giao được kế hoạch vốn để khởi công dự án.
- Do công tác GPMB tại một số dự án còn chậm, nguồn vật liệu gặp nhiều khó khăn cũng như biến động tăng giá nhiên liệu trong tháng 2, tháng 3/2026 làm tăng chi phí sản xuất đã ảnh hưởng đến công tác huy động nguồn lực và tổ chức thi công của các nhà thầu, dẫn đến tiến độ thực hiện một số gói thầu chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.
+ Các dự án (có kế hoạch hoàn thành trong năm 2025) đã thông xe kỹ thuật dịp 19/12/2025 (Tuyên Quang - Hà Giang, DATP 3, 5 Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh) và các dự án có kế hoạch hoàn thành năm 2026 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (Hữu Nghị - Chi Lăng, Đồng Đăng - Trà Lĩnh, DATP 2, 3, 4 Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Cao Lãnh - An Hữu), hiện nay khối lượng còn lại lớn nhưng tiến độ thi công còn chậm, trong khi thời tiết đã vào mùa mưa; cần quyết liệt chỉ đạo các nhà thầu tăng cường máy móc thiết bị, bổ sung mũi thi công, tăng ca thi công cũng như chủ động về nguồn vật liệu,... mới có thể hoàn thành theo kế hoạch.
+ Một số dự án khởi công trong năm 2025, công tác triển khai thi công còn chậm như: DATP 1, 3 Quy Nhơn - Pleiku, Tân Phú - Bảo Lộc, Bảo Lộc - Liên Khương, Dầu Giây - Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành, DATP3 Vành đai 4 vùng Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành, Gia Nghĩa - Chơn Thành, Ninh Bình - Hải Phòng (triển khai theo phương thức PPP), Chợ Mới - Bắc Kạn.
- Đối với 02 dự án đường sắt: Trên cơ sở nhu cầu vốn và khả năng giải ngân thực tế, Bộ Xây dựng đề nghị giảm 72.092 tỷ đồng kế hoạch vốn năm 2026 của Bộ Xây dựng (bao gồm: 63.217 tỷ đồng điều chỉnh giảm do chưa có nhu cầu sử dụng và không có khả năng giải ngân của 02 dự án đường sắt[19] và điều chuyển 8.875 tỷ đồng cho 12 địa phương để thực hiện các dự án độc lập bồi thường, hỗ trợ tái định cư của dự án đường sắt tốc độ cao), làm giảm quy mô vốn đầu tư công đưa vào nền kinh tế, qua đó ảnh hưởng tới mục tiêu giải ngân đầu tư công và mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 nếu không có các giải pháp điều chuyển, bổ sung kịp thời sang các dự án có khả năng giải ngân cao.
V. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN, GIẢI NGÂN CÁC DỰ ÁN PHỤC VỤ HỘI NGHỊ APEC 2027
Tổng số dự án triển khai thực hiện phục vụ Hội nghị APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang theo Quyết định số 948/QĐ-TTg ngày 17/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ là 21 dự án, trong đó 10 dự án có sử dụng vốn đầu tư công (gồm 09 dự án có hỗ trợ vốn ngân sách trung ương (NSTW); 01 dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương (NSĐP)) và 11 dự án thực hiện theo phương thức đối tác công tư và đầu tư kinh doanh. Tình hình triển khai thực hiện các dự án như sau:
1. Đối với 9 dự án đầu tư công có hỗ trợ vốn NSTW:
Theo báo cáo của tỉnh An Giang[20], nhu cầu vốn NSTW cho 09 dự án khoảng 11.050 tỷ đồng, đến nay NSTW đã bố trí 11.045,996 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 99,9%), trong đó kế hoạch 2025[21] bố trí 2.751 tỷ đồng, kế hoạch 2026[22] bố trí 8.294,996 tỷ đồng.
Lũy kế giải ngân nguồn vốn NSTW đến ngày 27/7/2026 từ 4.956,98/ 11.045,996 tỷ đồng đạt tỷ lệ 44,88%.
2. Đối với nhóm các dự án tái định cư trên địa bàn thành phố Phú Quốc tại Mục I.2 Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 948/QĐ-TTg: gồm 04 dự án thành phần: (1) Khu tái định cư An Thới; (2) Khu tái định cư Hồ Cửa Cạn: (3) Khu tái định cư Hồ Suối lớn; (4) Khu tái định cư Hàm Ninh.
Vốn ngân sách địa phương bố trí cho các dự án đến hết kế hoạch năm 2026 là 3.354,44 tỷ đồng, lũy kế giải ngân đến hết ngày 27/7/2026 là 2.320,53 tỷ đồng, đạt 69,18% kế hoạch.
3. Đối với 11 dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) và đầu tư kinh doanh: UBND tỉnh An Giang đã hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư thực hiện 11/11 dự án; đã hoàn thành trình tự, thủ tục theo quy định của Luật PPP, Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn, hiện đang triển khai thực hiện theo tiến độ.
4. Nhận xét, đánh giá:
Với sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước; sự xem xét, tháo gỡ về cơ chế, chính sách của Quốc hội; sự chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng Chính phủ; cùng sự phối hợp tích cực của các bộ, ngành Trung ương, nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuẩn bị phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc đã được kịp thời định hướng, xử lý.
21 dự án thuộc Quyết định số 948/QĐ-TTg, gồm 10 dự án đầu tư công và 11 dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, đầu tư kinh doanh, các thủ tục lựa chọn chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu đã được triển khai theo từng hình thức đầu tư; các dự án đang được tổ chức thực hiện, nhiều công trình, hạng mục đã thi công trên thực địa và có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tiến độ giữa các dự án chưa đồng đều; một số dự án chưa triển khai xây lắp hoặc có khối lượng thực hiện còn thấp, nhất là các dự án xử lý rác, chất thải rắn, nước thải, một số hạng mục ngầm hóa hạ tầng kỹ thuật và khu tái định cư. Tỉnh An Giang đang tập trung kiểm soát đường găng, yêu cầu các chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu huy động đầy đủ vốn, nhân lực, thiết bị, vật liệu và mặt bằng; tổ chức bù tiến độ, đồng thời bảo đảm đủ thời gian vận hành thử nghiệm, kiểm tra công suất, độ ổn định, an toàn và tính đồng bộ của công trình trước khi nghiệm thu, đưa vào khai thác.
Để tháo gỡ các khó khăn cho các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cơ chế tháo gỡ vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng các dự án. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã trình Quốc hội dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang[23].
VI. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY GIẢI NGÂN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG 7 THÁNG CUỐI NĂM 2026
Để phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” theo Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, khắc phục các tồn tại, hạn chế đã được nhận diện trong quá trình thực hiện các dự án, áp dụng bài học kinh nghiệm của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương giải ngân tốt trong 6 tháng đầu năm; bám sát chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đã được Chính phủ chỉ đạo tại Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 6/7/2026 của Chính phủ, một số các nhiệm vụ cụ thể cần tiếp tục khẩn trương thực hiện như sau:
(1) Về công tác quản lý nguyên vật liệu:
- Các địa phương có mỏ vật liệu xây dựng tiếp tục rà soát, nâng công suất khai thác các mỏ đang hoạt động, chủ động tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục, đẩy nhanh thủ tục cấp phép các mỏ mới và thủ tục gia hạn các mỏ còn trữ lượng nhưng hết thời hạn khai thác; ưu tiên nguồn vật liệu cho các dự án trọng điểm quốc gia, đặc biệt là các dự án khu vực phía Nam.
- Bộ Xây dựng: (i) chủ động đôn đốc, phối hợp với địa phương theo dõi sát diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh ngay việc chấp hành pháp luật về giá vật liệu xây dựng và chỉ số giá xây dựng, kịp thời có giải pháp bình ổn thị trường, bảo đảm nguồn cung vật liệu phục vụ thi công; (ii) tiếp tục nghiên cứu cơ chế điều phối liên vùng trong việc cung cấp vật liệu xây dựng, các giải pháp sử dụng vật liệu thay thế vật liệu truyền thống, nhằm giảm áp lực lên các tài nguyên thiếu hụt, vừa tạo thêm nguồn cung cho các dự án ở những vùng thiếu vật liệu tại chỗ, đặc biệt là các dự án trọng điểm.
- Triển khai đầy đủ quy định của pháp luật về xây dựng (như quy định về hợp đồng, quản lý chi phí xây dựng tại Luật Xây dựng và các Nghị định hướng dẫn chi tiết; quy định về phương pháp xác định giá vật liệu xây dựng, giá nhân công,...). Chủ đầu tư chủ động làm việc với nhà thầu để phân tích, đánh giá tác động của biến động giá nhiên liệu, vật liệu xây dựng đối với từng hợp đồng; thực hiện điều chỉnh hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm hiệu quả đầu tư của dự án, tránh thất thoát, lãng phí, đồng thời hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro giữa các bên tham gia hợp đồng, không để việc biến động giá ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án.
(2) Về công tác GPMB:
- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tháo gỡ nút thắt trong công tác GPMB, đảm bảo mặt bằng sạch khi triển khai thi công dự án, không được để tình trạng dự án chờ mặt bằng; Chỉ đạo các tổ chức chính trị xã hội tăng cường tham gia tuyên truyền vận động nhân dân trong công tác bồi thường, GPMB.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương hoàn thiện các thủ tục trình Chính phủ để trình Quốc hội sửa đổi Luật Đất đai trong năm 2026; trong thời gian chưa sửa đổi Luật Đất đai, trường hợp có nội dung vướng mắc cần xử lý, tháo gỡ ngay thì chủ động báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
(3) Về các dự án giao thông trọng điểm:
- Bộ Xây dựng và các địa phương nghiêm túc thực hiện theo các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại Thông báo số 343/TB-VPCP ngày 01/7/2026 của Văn phòng Chính phủ[24] và Công điện số 25/CĐ-TTg ngày 21/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ[25]; đẩy nhanh tiến độ, tăng sản lượng thực hiện và giải ngân trong quý III/2026 với mục tiêu đạt tỷ lệ giải ngân các công trình, dự án trọng điểm phải cao hơn mức trung bình cả nước; công khai các dự án, công trình chậm tiến độ.
- Đối với 02 dự án đường sắt: Bộ Xây dựng khẩn trương bàn giao mốc giới cho các địa phương để thực hiện công tác GPMB; tích cực kiểm tra, đôn đốc quyết liệt các địa phương liên quan trong việc triển khai công tác GPMB; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc. Trên cơ sở đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn 2026 của Bộ Xây dựng và nhu cầu bổ sung vốn các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khác, Bộ Tài chính đang tổng hợp, rà soát, cân đối để báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền việc điều chuyển kế hoạch vốn năm 2026.
(4) Về tổ chức thực hiện dự án:
- Đối với kế hoạch vốn năm 2026 mới được Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đảm bảo điều kiện phân bổ chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án. Triển khai ngay việc nhập dữ liệu phân bổ hoặc điều chỉnh kế hoạch vốn (nếu có) trên Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công theo đúng quy định pháp luật về đầu tư công.
- Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, cơ quan cấp trên của chủ đầu tư và chủ đầu tư tăng cường kiểm tra hiện trường, đôn đốc nhà thầu huy động đầy đủ nhân lực, máy móc, thiết bị; chủ động điều chỉnh kế hoạch thi công để ứng phó với diễn biến thời tiết phức tạp, tổ chức thi công bù ngay khi điều kiện thời tiết thuận lợi nhằm đảm bảo tiến độ thi công.
- Chủ động rà soát tiến độ thực hiện từng dự án; kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn; rà soát từng dự án chậm giải ngân để xác định rõ nguyên nhân, phân định rõ thẩm quyền để đôn đốc, xử lý theo quy định.
- Đối với các dự án trọng điểm quốc gia, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tập trung thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; công khai tiến độ thực hiện các dự án chậm tiến độ để kịp thời có giải pháp xử lý.
- Tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 23/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư và đẩy nhanh tiến độ xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; rà soát các dự án đã chuẩn bị đầu tư trong giai đoạn 2021-2025 nhưng chưa khởi công để kiên quyết loại bỏ các dự án kém hiệu quả, không còn cần thiết, cấp bách hoặc không còn khả thi.
- Đối với các dự án phục vụ Hội nghị APEC: Sau khi các cơ chế, chính sách để tháo gỡ khó khăn cho các dự án được Quốc hội, Chính phủ ban hành, đề nghị UBND tỉnh An Giang: (i) Đẩy nhanh tiến độ giải ngân số vốn NSTW đã được phân bổ năm 2026 và nguồn vốn NSTW kéo dài của kế hoạch năm 2025 sang năm 2026. (ii) Hoàn thiện nội dung đề xuất điều chỉnh Quyết định số 948/QĐ-TTg ngày 17/5/2025, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
(5) Về công tác nghiệm thu, thanh toán:
- Triển khai thực hiện theo Nghị định số 254/2025/NĐ-CP ngày 26/9/2025 của Chính phủ, phát huy tối đa những quy định mới về phân cấp, phân quyền, rút gọn thủ tục, đơn giản hồ sơ thanh toán để giải ngân vốn đầu tư công đúng quy định; lập hồ sơ thanh toán ngay đối với khối lượng hoàn thành đã được nghiệm thu, tránh dồn vào thời điểm cuối tháng và những tháng cuối năm. Trong đó, lưu ý đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án đã được cấp thẩm quyền cho phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn năm 2025 sang năm 2026 để đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn.
- Đối với số vốn đã đủ điều kiện phân bổ chi tiết, khẩn trương thực hiện nhập dự toán trên hệ thống TABMIS theo thời hạn theo quy định tại Điều 9, Chương II Thông tư số 132/TT-BTC ngày 24/12/2025 của Bộ Tài chính về hướng dẫn tổ chức, vận hành, khai thác hệ thống thông quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), đảm bảo dự toán để giải ngân cho dự án.
(6) Về chấp hành chế độ báo cáo:
- Nghiêm túc chấp hành chế độ báo cáo tình hình thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 theo Thông tư số 37/2025/TT-BTC ngày 12/6/2025 của Bộ Tài chính; trong đó, lưu ý nội dung báo cáo phải phản ánh cụ thể, đầy đủ về các khó khăn, vướng mắc còn tồn tại làm ảnh hưởng đến giải ngân vốn đầu tư công các dự án, nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục (đặc biệt là bộ, cơ quan trung ương và địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp hoặc đến nay chưa giải ngân). Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước khu vực để cập nhật kịp thời số liệu giải ngân theo các chế độ báo cáo hiện hành (bao gồm giải ngân thực tế hàng tuần, ước giải ngân và giải ngân thực tế hằng tháng), đảm bảo chính xác, chịu trách nhiệm toàn diện về số liệu giải ngân báo cáo Bộ Tài chính; tránh trường hợp ước tính lũy kế giải ngân đến hết tháng báo cáo chênh lệch quá lớn so với khả năng thực hiện thực tế trong tháng, làm ảnh hưởng đến công tác điều hành.
- Để thực hiện chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và đảm bảo kết quả chấm điểm phản ánh đúng tình hình thực hiện giải ngân vốn đầu tư công, đề nghị người đứng đầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương chỉ đạo cơ quan chức năng chủ động nhập đầy đủ dữ liệu đầu vào trên hệ thống công nghệ thông tin của Bộ Tài chính, đảm bảo tính chính xác, khách quan và thống nhất theo quy định tại công văn số 10950/BTC-PTHT ngày 24/7/2026 của Bộ Tài chính; kịp thời có ý kiến phản hồi gửi Bộ Tài chính để Bộ Tài chính nghiên cứu, hoàn thiện và tổng hợp báo cáo cấp thẩm quyền trong trường, hợp vượt thẩm quyền.
Trên đây là báo cáo tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 7 tháng năm 2026; Các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; Giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.
Bộ Tài chính kính báo cáo Chính phủ./.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
[1] So với báo cáo 6 tháng, tăng thêm 9.648,2 tỷ đồng gồm: (i) 3.448,2 tỷ đồng bổ sung kế hoạch vốn năm 2026 từ nguồn điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2026 chưa phân bố của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương tại Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 21/7/2026; (ii) 6.200 tỷ đồng bổ sung kế hoạch vốn năm 2026 cho các địa phương thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia tại Quyết định số 1278/QĐ-TTg ngày 14/7/2026.
[2] Trong đó có (i) 22.203,8 tỷ đồng bổ sung cho các địa phương để xây dựng trường học cho các xã biên giới theo Thông báo kết luận số 81-TB/TW của Bộ Chính trị; (ii) 210,2 tỷ đồng bổ sung lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số từ nguồn tăng thu NSTW năm 2024 được chuyển nguồn sang năm 2026; (iii) 15.100 tỷ đồng bổ sung thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia.
[3] Đối với kế hoạch vốn NSĐP, các địa phương chi thực hiện phân bổ 95% số vốn được Thủ tướng Chính phủ giao, tương đương 617.7153 tỷ đồng. Số vốn còn lại là 32.5113 tỷ đồng (tương đương 5% kế hoạch đầu tư công vốn NSĐP được Thủ tướng Chính phủ giao), các địa phương thực hiện tiết kiệm để đầu tư công trình đường sắt Lào Cai- Hà Nội – Hải Phòng theo quy định tại Nghị quyết số 245/2025/QH15 của Quốc hội và Quyết định số 2691/QĐ-TTg ngày 10/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ.
[4] Dự kiến thời gian tới, trên cơ sở đề xuất phương án phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 và vốn ngân sách trung ương năm 2026 của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính sẽ trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định giao đủ số vốn NSTW năm 2026 thực hiện các CTMTQG đã được Quốc hội quyết nghị là 25.000 tỷ đồng.
[5] Số vốn được phép kéo dài theo thẩm quyền của địa phương và vốn CTMTQG (được Quốc hội cho phép kéo dài đến hết năm 2026) đã làm thủ tục chuyển nguồn, ghi nhận tại Kho bạc Nhà nước tính đến hết ngày 31/7/2026.
[6] Các Quyết định số: 1039/QĐ-TTg ngày 11/6/2026; số 1278/QĐ-TTg ngày 14/7/2026.
[7] Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 21/7/2026.
[8] Giải ngân 7 tháng năm 2025 là 338.498,8 tỷ đồng, đạt 38,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ.
[9] Giá trị giải ngân trong tháng 7 là 68,4 nghìn tỷ đồng (tăng 6,7% so với lũy kế giải ngân đến hết tháng 6); trong tháng 6 là 137,6 nghìn tỷ đồng (tăng 13,9% so với lũy kế giải ngân đến hết tháng 5); trong tháng 5 là 75 nghìn tỷ đồng (tăng 7,4% so với lũy kế giải ngân đến hết tháng 4); trong tháng 4 là 34 nghìn tỷ đồng (tăng 3,2% so với lũy kế giải ngân đến hết tháng 3).
[10] Đánh giá kết quả của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trên kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao không bao gồm 5% tiết kiệm NSĐP và số kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ mới giao bổ sung trong tháng.
[11] Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 16/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
[12] Gần đây nhất, Bộ Tài chính đã ban hành công văn số 10724/BTC-NSNN ngày 22/7/2026 đôn đốc các bộ, cơ quan trung ương và địa phương giải ngân vốn đầu tư công năm 2026
[13] Ninh Bình; Nghệ An; Quảng Ngãi; Liên minh HTX; Bộ Xây dựng; Hưng Yên; Bộ KHCN; Bộ Nội vụ; Bộ Tài chính.
[14] Ninh Bình; Quảng Ngãi; Liên minh HTX; UBTW Mặt trận Tổ quốc VN; Bộ Xây dựng; Bộ Nội vụ; Đại học QGHN; Hưng Yên; Nghệ An; Đắc Lắc; Gia Lai; Bộ Tài chính.
[15] Lai Châu; Sơn La; Phú Thọ...
[16] Nghệ An, Phú Thọ, Thanh Hóa, Ninh Bình.
[17] Ninh Bình; Nghệ An, Quảng Ngãi; Liên minh HTX; Đại học QGHN; Đắc Lắc; Gia Lai.
[18] Bộ Khoa học và Công nghệ; Kiểm toán nhà nước.
[19] Tại Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 21/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành đã cho phép điều chỉnh giảm kế hoạch đầu tư công 2026 của Bộ Xây dựng là 12.443,55 tỷ đồng (so với tổng đề xuất điều chỉnh giảm của Bộ Xây dựng tại văn bản số 11395/BXD-KHTC ngày 22/7/2026 là 75.661 tỷ đồng).
[20] Báo cáo số 262/BC-UBND ngày 10/4/2026, số 368/BC-UBND ngày 15/5/2026 của UBND tỉnh An Giang.
[21] Quyết định số 1566/QĐ-TTg ngày 19/7/2025 về việc giao bổ sung dự toán chi đầu tư phát triển và kế hoạch đầu tư công vốn NSTW năm 2025 từ nguồn tăng thu năm 2024 cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương.
[22] Trên cơ sở Nghị quyết số 27/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1060/QĐ-TTg ngày 12/6/2026 phân bổ kế hoạch vốn đầu tư trung hạn nguồn NSTW giai đoạn 2026-2030 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương.
[23] Bộ Tài chính đã hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị quyết và báo cáo Chính phủ trình Quốc hội tại Tờ trình số 436/TTr-CP ngày 24/7/2026, Tờ trình tóm tắt số 437/TTr-CP ngày 24/7/2026 và Báo cáo số 438/BC-CP ngày 24/7/2026 về việc tiếp thu, ý kiến thẩm tra của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Ủy ban Kinh tế và Tài chính về Dự thảo Nghị quyết. Dự kiến Quốc hội thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất (tháng 8/2026).
[24] Về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng - Trưởng Ban Chỉ đạo tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải.
[25] Về việc tăng cường các giải pháp quản lý, bình ổn giá nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu xây dựng; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, thi công các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành Giao thông vận tải.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh
